|
SUỐI
NGUỒN TAM BẢO
Pháp Hiền
Ngày hôm nay, ngành công nghệ thông tin đă đưa thế giới này xích lại gần nhau
hơn. Sự quen thuộc ấy, như buổi sáng thức dậy, người ta vội vàng chuẩn bị cho
một ngày mới. Một ngày được lặp lại với những gia tốc của cuộc đua nhằm giành
được một cái ǵ đó h́nh như là cuộc sống với những yêu cầu thường trực: tiền bạc,
công danh và các tích lũy khi gặp cơn hoạn nạn. Vâng! Ta đă quá quen với những
dữ liệu hầu như đă tràn ngập khắp hành tinh này trên bàn tay công nghệ xiết chặt
lại, hệt như cái bắt tay của một thoáng rất quen, nhưng lạnh lùng và, không có
ǵ để chờ đợi, hoài mong.
Cũng vậy, tôn giáo có vẻ sắp như phải “đầu hàng” và trắng tay trước “khoa học
vạn năng” và nó đă được phát triển đến mức độ càng lúc càng được ủng hộ nhiều
hơn, và càng nhiều hơn trong các quốc gia mà, t́nh trạng nghèo nàn, lạc hậu vốn
dĩ đă pha trộn chất liệu “khói hương” tôn giáo và pha trộn luôn cả những quỳ luỵ
khẩn cầu. Hăy nh́n một cách tinh tế và thảm kịch, ở đâu càng nghèo nàn, th́ ở đó,
chùa đ́nh miếu mạo càng thi nhau đua mọc và người ta càng siêng năng lễ bái khẩn
cầu. Thần linh luôn ngự trị trong những vùng khổ đau và túng thiếu. Họ luôn ban
phước trong bóng tối. Ở đâu càng nghèo nàn, th́ ở đó “khoa học” dễ dàng thống
trị con người cũng tương tự như là sự ngự trị của “bóng tối của thần linh”.
“Khoa học” ban phước và “thần linh” ban phước, cả hai là nhất thể. Chúng ta được
ăn đồ đóng hộp và hậu bị là “phước báo”.
Nh́n lại, số phận của Phật giáo không khác ǵ hơn số phận của một người con bị
bỏ rơi. Nó “đ̣i hỏi” một nền đạo đức nào đó trước sự tấn công vũ băo của “khoa
học” và “nó” lễ lạy mong cầu với một cuộc đời đă quá quen vội vă - vội vă và
khập khễnh kiếm cái ăn trên “công nghệ thông tin” và, vội vă “kiếm chút phước”
trong nghi thức khói hương tôn giáo.
Suối nguồn tam bảo đi vào diệu viễn, c̣n ta th́ hoài vọng về cái “đơn sơ” tự
tưởng từ những quá khứ xa mờ, huyễn ảnh; mà thật sự, ta chưa từng một lần tiếp
cận với cái huyễn ảnh đơn sơ ấy bao giờ. Niềm hoài vọng đă trở thành “thiên t́nh
sử” trong Phật giáo.
Tôn
giáo riết rồi, trở thành thi ca trên những hoài tưởng xa huyền. Y như cách hoài
niệm về quá khứ xa xôi của các nhà thơ Âu-Mỹ vậy. Khi tuyệt vọng trên con đường
tồn tại, người ta hay mơ về quá khứ với những thần linh, người ta mơ đến những
“bi kịch” mang tính trí tuệ, hơn là nhận chân được Cảm thọ, chỉ là tṛ chơi của
Xúc.
Nghèo, sợ hăi, kém tri thức là mặt trái của đời sống xa hoa và kiêu mạn và chúng
biến thể thành những giá trị độc tôn – măi rồi người ta trú trong sự “kiêu hănh”
của “đạo học” và gạt phăng tri thức toàn cầu, xét như là tục đế, bởi v́ nó, cái
tục đế ấy vốn vô thường và, không có ǵ “đáng để học” cả.
Nếu
và chỉ nếu, ta thừa nhận rằng, lịch sử của Phật giáo là lịch tŕnh “sử thoại”
của trí tuệ, bao gồm cả hai phương diện: thế gian và ngoài thế gian. Thế th́,
những ǵ được cho là quy ước, ta cần phải hiểu và hiểu một cách triệt để, trước
khi bước ra ngoài sự quy ước ấy mà ta tự hào là xuất thế gian pháp. Một thứ xuất
thế gian được sắp thành chữ mà thôi. Đây là lư do v́ sao đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
hoàn toàn thành công trên khắp châu Âu và Mỹ qua phương diện truyền pháp, khi
ngay từ ban đầu Ngài đặt bước chân của ḿnh lên đất Mỹ, Ngài đă tiếp xúc hầu hết
những chuyên gia về, cái mà ta gọi là tục đế ấy. Những nhà Thần kinh học, Tâm lư
học, Vật lư và Vũ trụ học, v.v… và nghiễm nhiên Ngài đă là một bậc Đạo sư bằng
xương bằng thịt của cả thế giới này. C̣n riêng ta, th́ chỉ tiếp cận với khói
hương và các giá trị thần quyền độc tôn. Tại sao vậy? Bởi v́, trong Phật giáo
chưa có ai là chuyên gia hàng đầu về Vật lư và các ngành khoa học khác cả. Do
vậy, ta “đành để” lănh vực này qua một bên, thậm chí, ngay cả khoa Toán, Đại học
Phật giáo, cũng “phớt lờ” và các Giáo sư ở đây, có thể cho rằng Toán học là phân
biệt vọng chấp. Ta học Phật trên cở sở Hoa học, c̣n Tây phương th́ học Phật trên
cơ sở Phạn học hay Ấn Độ học. Do vậy, “định bản” của Phật giáo nằm tận ở trời
Tây giàu có và c̣n rất mơ hồ trong Tam tạng thánh điển Hoa dịch. Do vậy, khuynh
hướng học Phật giờ đây mà cán cân của nó nghiêng hẳn về Tây. Chí đến, truyền
thống Hoa học mà ta vốn bẩm thụ nhiều thế kỷ qua hàng loạt những bản Kinh, đôi
khi ta phải tham khảo chéo bằng Tây ngữ, th́ mới mong hiểu được cái mà ta vốn
được dạy trải qua hàng thế kỷ.
Ở
đâu c̣n xem tục đế là vô thường và bám lấy nó - cái chữ vô thường đó - như sự
yếu kém của ḿnh, th́ ở đó có “cái ngă“ bị chi phối bởi các thế lực nằm bên sau
nó, cộng hưởng với nó.
Muốn biết tục đế là ǵ, th́ ta hăy đi ra ngoài nó, bằng bất cứ phương tiện ǵ -
mọi phương tiện vốn hằng hữu trong Phật giáo -mà ta đă quá quen, để rồi lạnh
lùng ghé thăm phi cảm - “một năm Phật tại tiền, nhiều năm Phật ngoại biên” -
Thói quen với những gia tốc của động cơ tồn tại hay dục vọng làm ta quên mất Tam
bảo trong chính chúng ta; cho dù thật sự ta đă quy y. Một chủng tính, một dấu ấn
càng lúc càng khô kiệt, teo ṃn v́, chẳng có môi trường nào để nó tăng trưởng
cả; nó chỉ tăng trưởng theo hương khói mà thôi. Phật chủng hay Phật tuệ cũng
trôi lăn cùng phong ba băo tố của dục vọng tự tồn.
Hăy
giả định rằng, đất nước ta có mười triệu cư sỹ và khoảng hai triệu Tăng lữ. Nếu,
thử giả định rằng, chỉ cần một phần trăm trong tổng số đó, chuyên ṛng là những
nhà nghiên cứu về mọi lănh vực của Tục đế, thử hỏi có thế lực nào chi phối chúng
ta chăng? Có động cơ “tài chánh danh lợi” nào quyến rũ ta chăng? Các cống hiến
tri thức triệt để về thế giới tục sẽ là b́nh minh của Pháp thân Phật. Chùa to
chưa hẳn là một môi trường ưu việt để Phật giáo tăng thịnh, đôi khi ngược lại là
khác.
Một
con người dành cả đời ḿnh cống hiến cho sự an lạc của chúng sinh, cho dù họ
chưa quy y đi nữa, theo đức Đạt-lai Lạt-ma, th́ vị ấy vẫn được xem là Bồ-tát.
Bởi v́ giới chỉ tồn tại ở Dục giới mà thôi và nhờ đó người ta Giải thoát. Bất kể
ai đang đi trên lộ tŕnh tư duy cống hiến, th́ người đó đang bay bằng đôi cánh
của Trí Bi.
Nói
đến Đế, th́ đầu tiên phải nói đến Khổ đế.
Nói
đến Khổ th́ ai cũng phải thừa nhận (bởi v́ hệ di truyền của chúng sinh ở địa cầu
này là hệ di truyền của Xúc và Thọ…và tư duy h́nh cánh cung…). Tuy nhiên, cái
khổ của người, chẳng hạn, nghèo túng, cái khổ của người bệnh tật thiếu thuốc men
y liệu, khác hẳn với cái khổ của nhà kinh tế và cái khổ của nhà Vi trùng học.
Cái khổ của một người chưa mua được cái máy tính xách tay hiện đại, khác với cái
khổ của nhà chế tạo máy tính và các nhà ngôn ngữ lập tŕnh…Cũng vậy, cái khổ của
phàm phu khác hẳn với cái khổ của bậc Thánh khi họ Thiền chứng ở giai đoạn cao
tầng - Khổ trí nhẫn - Sự thừa nhận trên mặt trí tuệ về khổ này có giống cái khổ
kham nhẫn của chúng ta không? Tôi tin là chẳng giống chút nào. Trên thực tế tác
dụng của cái Khổ phàm phu là động cơ đưa đến “chiến tranh ư thức hệ”, chiến
tranh tôn giáo. C̣n cái khổ của bậc trí cũng y như cái khổ của nhà Vi trùng học,
đôi khi họ “chết” v́ chính loại vi trùng mà họ c̣n đang nghiên cứu để hàng phục
loại trừ nó và họ tái sinh bằng chính những thực nghiệm của ḿnh. Nghĩa rằng,
khi thực nghiệm được chân lư về Khổ, th́, bậc Thánh giả ấy hoàn toàn được đảm
bảo viên chứng Phật quả, cho dù ở một thời kỳ tương lai nào đó. Cũng Khổ, nhưng
Khổ đế, khác với Khổ tục, và tôi tin là cái Khổ Thánh Đế, là chất liệu làm nên
thanh b́nh cho ba cơi, và ngược lại.
Nên
nhớ rằng, khi Phật giáo truyền vào Hoa lục, th́ bản thân của Phật giáo đă làm
phong phú thêm kho từ vựng của Trung Hoa, ít nhất ra có đến vài ngàn thuật ngữ
(xem
中華五千年文化經典
/
楊力著).
Tuy nhiên, v́ là một đất nước nền tảng là Nho học và Nông nghiệp, nên Phật giáo
ở đây chảy theo hướng triết học và huyền học với những suy diễn mơ hồ. Trong khi
đó, tự thân của Phật giáo là một tôn giáo “khoa học phổ quát” và không phải là
“khoa học nhánh”, chẳng hạn, triết học chỉ là một nhánh của Phật giáo mà thôi.
Cũng nên nhớ rằng, Phật giáo sanh ra trên mảnh đất của tư duy Toán học và Vật
lư; trên mảnh đất của Thiên văn và Vũ trụ học (xem Astrologie In Buddhisccher
Sicht von Helmuth Hecker; Die Psychologie Der Befreiung / Der Buddha und die
Triebe; Das Zeitlose Wort Vom Dasein von Helmuth Hecker). Theo chương tŕnh
Discovery, th́ chữ Không (śūnya) được cho là giấc mơ của đấng Phạm thiên. Trong
mơ, ông đă hoá sanh vạn hữu, có nghĩa rằng, vạn hữu chỉ tồn tại như là một giấc
mơ mà thôi. Giấc mơ là không thực, nhưng có thực do không và từ đó, nhân loại
này có con số Không. Con số ấy là “hạt cơ bản” làm nên vạn pháp. Đến Phật giáo
śūnya đă là śūnyatā (Tánh không), chỉ cho trí Bát-nhă và chỉ cho tính liên hệ
của vũ trụ này, trong đó có cả đại bi, chớ không độc nhất là sự sáng tạo của
đấng Phạm thiên, dù chỉ là sự sáng tạo trong giấc ngủ trưa của ông, khoảng 13 tỷ
năm. Từ chữ Không này, người Ấn đă chế tạo các trục tṛn, các ngành hoá học
luyện kim. Chẳng hạn, thuật ngữ phiền năo (như Hoa dịch - √kliś – kleśa ), trên
thực tế, chỉ là chất nhuộm. Điều này cho biết rằng, phiền năo, theo Ấn Độ, th́
chỉ là chất liệu mà thôi. Nếu đi theo hướng tâm lực, th́ phiền năo có thể được
tẩy trừ bằng một chất liệu nào khác, bằng chính khả tính của tâm, chẳng hạn,
Thiền định. Do vậy, thiền định được xem như là năng lượng thuộc về Sắc và, bởi
v́ Sắc, nên nó là Không – phương tiện đưa đến cứu cánh Niết-bàn. Phiền năo, nếu
đi theo hướng Công nghệ hoá học, th́ chắc chắn, ta sẽ có những ngành sinh hoá
tuyệt vời hơn và từ đó ngành Y sẽ có cơ hội phát triển theo hướng liệu pháp,
nhằm phục vụ cho thế giới này. Tận đến ngày hôm nay, châu Âu cũng chưa hiểu v́
sao mà người Ấn lại có thể rèn nên những thanh gươm tuyệt bén như thế trong
chiến tranh chống lại sự xâm lược của Tây phương và Hồi giáo.
Như
vậy, hơn năm ngàn năm về trước, Ấn Độ đă khám phá ra các chất hoá học rồi. Thêm
nữa, Âm thanh học và Ngôn ngữ học, là một phát hiện vĩ đại của người Ấn. Và các
khám phá này, đă là kim chỉ nam cho toàn nhân loại. Chưa có, ở ngay bây giờ,
nhà ngôn ngữ học nào vượt qua được Pāṇini cả. Trong khi đó, như ta biết, ngôn
ngữ Trung Hoa là “ngôn ngữ nói theo cảm thọ” và mới được hệ thống hóa khoảng vài
thập kỷ gần đây. Thế th́, Tam Tạng Thánh Điển Hoa dịch cũng cần nên đánh giá lại.
Chí đến cách chấm câu trong bản Đạo đức kinh, đến giờ người nói bản ngữ tiếng
Hoa vẫn c̣n đang tranh căi. Nói như thế, không có nghĩa là ta cho rằng, các đại
dịch sư như Huyền Tráng, La Thập… đă làm sai ư Phật. Song, đối với một nhà
“nghiên cứu”, th́ “lịch sử văn bản” vẫn là một vấn đề cần được “tách lớp”. Tôn
giáo, tồn tại ở phần hậu diện, trước khi sự nghiên cứu tới hạn của họ. Hệ di
truyền ngôn ngữ của dân tộc này khác hẳn với hệ di truyền ngôn ngữ của dân tộc
kia. Do vậy, học Phật Hoa học mà không học Phật Phạn học là một sai lầm nghiêm
trọng. Luận án “Tiến sỹ” Phật học phải viết bằng Phạn văn, chớ không bằng bất cứ
loại ngôn ngữ nào khác, và đây là một yêu cầu, thiết nghĩ không có ǵ là quá
đáng, cho một sinh viên Phật khoa.
Uống nước nên uống tận nguồn, mới biết ngọt, đắng ra sao.
Hăy
lấy ngay văn kệ đầu tiên của Câu-xá th́ sẽ biết:
yaḥ
sarvathā sarvahatānghkāraḥ
saṃsārapkāj jagadujjahāra |
Tasmainamaskṛtya yathārthaśāstre
śāstraṃpravakṣyabhidharmakośam
【玄】諸一切種諸冥滅
拔眾生出生死泥
敬禮如是如理師
對法藏論我當說
【真】一切種智滅諸冥
拔出眾生生死泥
頂禮大師如理教
法俱舍我當說
(Vị
mà mọi bóng tối bị tận diệt, đă kéo chúng sinh ra khỏi vũng lầy sinh tử.
Do
vậy, tôi đảnh lễ Ngài và sẽ thuyết thành Tạng đối pháp y trên chân giáo nghĩa
[của thầy ḿnh].)
Yaḥ, là đại từ liên hệ số ít, chỉ cho đức Phật, song, đức Phật nào? Chính là đức
Bổn sư của chúng ta, chớ không là vị Phật nào khác, đúng như ngay từ đầu của
Luận bản – Oṃ namo Buddhāya – và, theo Yasomitra giải thích, th́ Yaḥ, chỉ cho
đức Phật Thế Tôn (ya iti Buddhaṃ bhagavantam adhikṛtyām aha). Đức Phật có nghĩa
là bậc có phương pháp chặt dứt triệt để (mọi bóng tối) (Buddha iti kartari kta
vidhānam), đức Phật là bậc có phẩm chất khai sáng trí tuệ, đưa đến sự thành tựu
Chánh đẳng giác (buddher vikasanām Buddhaḥ, vibuddha ityarthaḥ).
Ở
đây, ta thấy có sự khác biệt giữa dịch bản của Huyền Tráng và Chân Đế: chư (諸)
và trí (智).
Cả hai đều làm chủ ngữ trong câu. Với Chân Đế, câu trên có nghĩa là: bậc trí là
bậc tiêu diệt bóng tối một cách toàn diện. C̣n chư của Huyền Tráng đă được các
nhà chú giải, giải như sau: “chư, theo nghĩa phổ thông là số nhiều, tức nhiên
không phải là một; chư, xưa nay đối với các học giả Phật học, thường dùng để chỉ
cho Phật, thế nhưng, tại sao không trực tiếp nêu tên Phật ra, mà lại dùng chữ
chư? Đây là một vấn đề dụng ngôn cực kỳ tinh tế, bởi v́, các triết gia tôn giáo
khác đều cho rằng tông sư của ḿnh là bậc nhất thiết trí, cho nên luận chủ (tức
Thế Thân) muốn tránh lời dèm pha của ngoại đạo, là ḿnh thiện vị, lập bè phái mà
ca ngợi đức độ của thầy ḿnh, chớ không phải thiết tha chân lư. Do vậy nói chư,
mà không gọi đích danh Phật. Tức là, luận chủ cho rằng, bất luận là ai, nếu đủ
cả Tam đức, th́ vị ấy đều là thầy ḿnh.” Và theo Quang kư, hiểu yaḥ là số nhiều.
Ta
thấy, ở đây, người Hoa, đang lư giải chữ Chư của đại sư Huyền Tráng, chớ không
là yaḥ (số ít) của Thế Thân.
C̣n
nữa, theo Pháp sư Diễn Bồi, chư, chỉ cho chư Phật, tức là chỉ chung cho Phật.
Xa
hơn, đối với kệ tụng: sarvathā sarvahatānghkāraḥ, th́ Quang Kư cho rằng:
“[nhất thiết chủng minh diệt], là chỉ diệt trừ vô tri không nhiễm ô, và [chư
minh diệt], chỉ diệt trừ vô tri c̣n nhiễm ô. Cách đọc này hiểu sarvathā là h́nh
dung từ; trong khi ở tiếng Phạn, nó là bất biến từ hay phó từ, do vậy, nó có
nghĩa là: [một cách toàn diện] hay tuyệt đối.”
Thậm chí sự diễn luận của Quang Kư, Diễn Bồi pháp sư và sớ giải của Viên Huy
pháp sư đă phát triển một cách quá xa, và phát triển theo cách loại suy trên
dịch bản của Huyền Tráng. H́nh như khi loại suy như thế, các luận sư của ta có
lẽ không đối chiếu tiếng Phạn. Do vậy, thầy Tuệ Sỹ dạy rằng: “Cách lư giải như
thế, có thể là hay hơn cả Thế Thân, nhưng không trúng với bản ư của Thế Thân.”
(Tuệ Sỹ, Khóa giảng Câu-xá tại Tu viện Già Lam)
Một
vài điểm vừa nêu, nằm bên ngoài sự khen chê, mà qua đó, bản văn muốn nói rằng,
khi làm công việc học Phật hay trầm tư về Thánh ngôn của chư tổ sư ḿnh - suối
nguồn Tam bảo - ta nên cẩn trọng để khỏi bị cảm thọ kéo lôi theo hướng phân tích
triết học. Các lư giải của chư tổ, chư luận sư Trung Hoa, rơ ràng là đă cống
hiến cho văn minh nhân loại này bằng những khối lượng văn bản khổng lồ và nhờ
thế, mà ta có thể hiểu thêm Phật pháp theo cách mở rộng có chọn lọc nhiều như
thế.
Ta
nói, “Phật pháp mở rộng có chọn lọc nhiều hơn thế”, có nghĩa rằng, Phạn ngữ là
một ngôn ngữ biến cách (vibhakti) đa dạng - biểu thị tư duy có phân tích theo
hướng khoa học phổ quát – c̣n Hán văn là một ngôn ngữ không có biến cách và,
thường được tư duy bằng h́nh, theo hướng tổng thể hóa (âm vị, nghĩa thể…). Do
vậy, một sự kiện nào đó được thể hiện qua các CÁCH của tiếng Phạn – khi dịch
sang các loại ngôn ngữ phi biến cách – th́. Ví như Hoa ngữ (hay các ngôn ngữ
không có biến cách) thường các dịch giả phải chèn vào các hư từ cho đúng với hệ
di truyền của ḿnh, tức là (từ ngôn bản hay ngữ nguồn chuyển sang bản ngữ), (các
từ đó thường là hư từ, không chỉ cho bất cứ ư nghĩa nào cả) và, như vậy, các
dịch giả, chẳng hạn các dịch giả Việt dịch, đă dịch “nguyên xi” cái ngôn ngữ đă
được chuyển dịch ấy, chẳng hạn, (Hoa dịch) thành bản ngữ của ḿnh, thế th́,
trong cái “hư từ - syncategorematic word”, khi được chuyển dịch, nó lại thành ra
“thực từ - lexical, notional word”, cho nên suối nguồn Tam bảo lại một lần nữa
“chảy trôi” vào những những miền vô định và các diễn cảm theo đó được “thổi
phồng” lên, cái thực của Tam bảo không c̣n biết đâu là chân, không biết biết đâu
là giả. Chẳng hạn, hầu hết (chớ không là tất cả) đoạn mở đầu nào của Phật điển:
“Như thế tôi nghe… câu hội.” Từ vựng câu hội này, thực tế chỉ là một hư từ trong
tiếng Hán và là BIẾN CÁCH CÔNG CỤ trong tiếng Phạn, đơn giản là nó chỉ cho cái
phụ thuộc (accompaniment) hay cái bổ sung. Nghĩa là, 1.250 vị Tỳ-kheo “phụ thuộc”
hay “cùng với” - Đức Phật trú tại… cùng với 1.250 vị Tỳ-kheo – cũng có nghĩa
rằng, 1.250 vị Tỳ-kheo phụ thuộc vào đức Phật – và chỉ có vậy. Trong nhiều
trường hợp Hán dịch muốn diễn nghĩa rơ hơn về BIẾN CÁCH CÔNG CỤ này, các dịch
giả Hán văn cho thêm các từ (có vẻ như là vị từ): CÂU HỮU, CÂU SINH, nhằm chỉ
cho sự phụ thuộc hay liên hệ đến một sự kiện trọng yếu nào đó, mà chủ yếu vẫn là
Phật và Pháp hay giáo thuyết của Ngài. Thế th́, khi chuyển dịch sang tiếng Việt,
hư từ của Hán văn (câu hữu, câu sinh…) lại biến thành thực từ, thậm chí, chúng
biến thành “động” từ là đằng khác. Tuy vậy, CÂU HỮU, CÂU SINH, lại cho ta một ít
khái niệm triết học rất đặc biệt về sự tháp tùng, về sự cộng sinh.
Hăy
trở lại một chút với (một) thi kệ nổi tiếng đầu tiên của Câu-xá:
Vasubandhu (V):
Ātmadharmopacāro hi vividho yaḥ pravartate |
Huyền Tráng (H.T) :
由假說我法,有種種相轉
(Do
giả thuyết Ngă Pháp, hữu chủng chủng tướng chuyển).
Ở
đây, trên tiếng Phạn của Thế Thân, hi là một phó từ (bất biến), hàm nghĩa xác
định, đôi khi chỉ cho lư do. Tùy theo ngôn cảnh mà ta dịch. Trong trường hợp
này, hi chỉ cho sự xác định. V́ là kệ tụng, nên đại sư Huyền Tráng dịch là do,
hoàn toàn không chỉ cho mệnh đề chỉ lư do: “V́…nên”, mà câu kệ trên phải hiểu
là: “Thật thế, sự giả thuyết về Ngă và Pháp (bản thể và hiện tượng) mà tính đa
dạng của nó được tập hợp trong sự vận động (tính đa dạng được xuất sinh) của Ngă
và Pháp.”
Thêm nữa, upacāra theo ngữ nguyên là một danh từ phái sinh từ căn tố upa √car.
Theo W. Monier, upacāra có nghĩa là: cách tiếp cận, cách xử lư, thái độ ứng xử…
(mode of proceeding towards, treatement…) C̣n theo Otto Böhtlinck, upacāra có
nghĩa là: tổng thể hóa, sự quy thuộc hóa (Betragen), khoa học về quy luật nối
kết hay phương pháp, thủ tục, tiến tŕnh xử lư (Verfahren), sự tự phát, sự nội
dẫn (Verhalten) và upa- theo Kurgefasstes etymologisches Wörtebuch des
Altidischen, th́ upa- c̣n có nghĩa là: bên dưới (unten an), hạ tầng (unter). Và,
với L. Renou th́ upacāra có nghĩa là xu hướng ủng hộ (office courtisan), phép ẩn
dụ (métaphore), cung cách ứng xử (révérence). Thậm chí ngay cả Phạn-Ḥa từ điển
cũng giải thích upacāra rằng: “Chikaduku (sự tiếp cận), shifu (phụng sự, phục
vụ), jisu (phục dịch), sonkeisu (kính trọng, tôn thờ), suuhaisu (sùng bái, bái
trợ), sewasu (quan sát, chăm sóc), teiresu (thụ dụng, xử lư), utsusu (phác thảo,
soạn thảo) …”.
Sự
truy cứu qua hàng loạt từ điển như thế, ta thấy upacāra không liên quan ǵ đến
“thuyết -
說”
cả. Có nghĩa rằng, không có vấn đề “ngôn ngữ” hay “học thuyết” ǵ trong chuỗi
upacāra. Giả định rằng, upacāra là “giả thuyết” theo cách dịch của đại sư Huyền
Tráng, th́ hệ quả tất nhiên sẽ là “học thuyết” về cách loại trừ “hai trọng
chướng” và chỉ giới hạn trong “hai trọng chướng” mà thôi. Hăy giả định rằng,
upacāra, có nghĩa là “nội sinh – Verhalten”; thế th́ vấn đề sẽ không chỉ giới
hạn trong cách loại trừ “hai trọng chướng” theo khuynh hướng “ngôn ngữ”, mà nó
c̣n là “hệ di truyền” của chính ba cơi này. Bởi v́, “thức biến” là yếu tố làm
nên “hệ di truyền” của ba cơi, trong đó đường dẫn là tính đa dạng của chúng đan
xen và minh hiện thành vạn hữu (vividha). Nếu và chỉ nếu, upacāra là sự nội sinh
(endogenous); vậy, “Ngă và Pháp” phải là “tính di truyền” của chúng sinh. Thêm
nữa, ba phạm trù “căn, cảnh và thức”, không chỉ giới hạn trong “ngôn ngữ” hay
“học thuyết mô tả” mà chúng c̣n liên hệ đến “h́nh” và “tính”, tức là tṛ chơi
Game mà upacàra c̣n có nghĩa là “hành vi lang chạ hay hàm cộng khởi - office
courtisan” như L. Renou đă hiểu; và đặc biệt là chúng c̣n liên hệ đến vấn đề
“ngoại sinh – epigenetics” trong khoa Di truyền học (genetics) nữa.
Thức biến được quy thuộc vào miền vô nghiệm bằng ba phạm trù khối vuông hay các
khoang lư tính.
V́
sao mà “Ngă và Pháp” được cho là liên quan đến “Hệ di truyền” của chúng sinh
trong ba cơi? Và v́ sao mà upacāra lại liên quan đến vikalpa, xét như là lư
thuyết game?
Trước khi trả lời câu hỏi nghiêm trọng này, ta thử khảo sát về chữ “Duy” trong
DUY THỨC. Duy Thức là thuật ngữ của ngài Huyền Tráng và nó hoàn toàn đúng với
văn pháp tiếng Phạn. Tuy nhiên, trên mặt ngữ nguyên, hạn từ màtrà, lại có nghĩa
là MA TRẬN (matrix). Khi giả lập màtrà là Ma Trận, th́ vấn đề sẽ liên quan đến
Toán học và “học thuyết TÁCH LỚP” về Thức, mà như tự thân ta được quan sát từ
văn bản đă cho của Thế Thân Bồ-tát – MA TRẬN THỨC (vijñaptimàtra) – như vậy th́,
khuynh hướng của ta không chỉ sở y trên lập thuyết của đại sư Huyền Tráng, mà ta
c̣n sở y trên học thuyết Di truyền và Ma trận thức băng qua cách “Tách lớp” về
thức của đại Bồ-tát Thế Thân, mà văn bản ấy đă nói lên tính logic như thế nào
trong trí tuệ của Ngài.
Ma
trận và Di truyền là một cái ǵ hoàn toàn cụ thể, cho dù, chúng là thế giới của
Duyên sinh và cộng thể.
Ma
trận là ǵ?
Những hệ thống về các phương tŕnh và Ma trận tuyến tính (Systems of Linear
Equations and Matrics).
Một
ma trận là một bảng vuông (rectangular array) của những con số và được thể hiện
bằng biểu tượng A hay [a ij]:
a
11 a 12 … a 1n
a
21 a 22 … a 2n
A
= … … … = [a ij]
a
m1 a m2 … a mn
Những con số đi theo aij được cho là các yếu tố Ma trận và các chữ bên dưới (i )
và (j) là đồng nhất yếu tố, v́ con số này nằm ở dăy i và cột j, hệt như upacàra
và tính đa dạng của nó. Chính cái cú “xúc’ đầu tiên trong chu kỳ thành trụ hoại
không, mà người ta “tạo ra” vũ trụ và chính “cú xúc” tối hậu trong chu kỳ ấy đă
đưa vũ trụ vào tăm tối - bằng cách nh́n lâu, nguội hay nóng dần - cái đó Phật
giáo gọi là vikalpa (tṛ chơi h́nh) hay cấu tính tṛ chơi h́nh và hệ quả của nó
là tṛ chơi ngôn ngữ hay cấu trúc ngữ ngôn và quan niệm này được hiểu một cách
sai lầm là: khởi thủy là lời, hoặc, Thức chỉ là tṛ chơi ngôn ngữ. Trên thực tế,
“những cú va chạm” chính là những cú vật lư, xét như là tổng “thể” của một bộ
tập hợp rỗng (Ø) với các liên hệ mà nó chứa đựng theo quán tính duyên khởi di
truyền (S: pravṛkta. L: parametium) của ba cơi này. Thuật ngữ (vị từ - pra√vṛt)
mà Thế thân đă cho đồng nghĩa với thuật ngữ toán và di truyền (parametium): Tham
số về Di truyền học và Tham số Ngoại sinh. Nghĩa rằng, con người với sự tích lũy
của vật và tâm phải được “đồ thị” bằng h́nh cánh cung với các “nút cấu và ứng
giao” để “thích hợp – upcàra” cùng quỹ đạo địa cầu này, nếu nó “bất động” hay
“nghịch hành”, hoặc “bất tương ưng”, th́ nó sẽ nổ tung ra, hoặc là thời điểm của
những “phút giây cận tử”. Trừ phi ta là Phật hay đă là chư Bồ-tát. Thế nên, bản
kinh Thập Địa, cho rằng, ba cơi vốn bất động, bất động - chỉ cho Phật tính của
chúng ta, khi được “chuyển pháp luân”. Đôi khi upacàra, được hiểu như là
Simulation – phép tính vay mượn có giá trị thực tại mạng- Net Present Value
calculation of a loan (NPV).
Qua
trường hợp này, ta hăy dừng lại một chút để khảo sát bản văn Bát-nhă Tâm kinh.
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc…” Trên thực tế, “trợ từ” [tức là], không
có giá trị hoặc chưa có giá trị chính xác trong Phạn bản, tuy rằng, chuỗi [sắc
không không sắc] của Phạn bản, ở phương diện Danh cách cho phép người ta dịch:
tức là, thuộc về… Song, đối với Phạn văn, trợ từ “tức là” khi dịch, đă làm giới
hạn cái giới hạn của dữ liệu đă cho từ tuệ giác của Quán Tự Tại Bồ-tát. Bởi v́
Ngài quan sát các pháp trên bộ tập hợp rỗng, chớ không phải trên cơ sở “tức là”
hay “bất dị”. Và “bất dị” là chuỗi tập hợp được tách lớp sau đó, nhằm cụ thể hóa
cho chúng sinh hiểu được. Cái mà Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta chính là Ø,
trong đó hàm khả thể của sắc không. Như vậy, khi tư duy về bộ tổng “sắc không”
th́ người ta phải tư duy trên bộ tập hợp rỗng, mà tới hạn của tiến tŕnh này, là
loại bỏ cái [tổng - tức là] của 12 chi nhân duyên. Tuy nhiên, đây chỉ là tư kiến
của người viết, nhưng ta tin rằng: “tư duy của người Ấn là tư duy số và vật lư
với kiểu dáng h́nh học siêu h́nh, hơn là tư duy nhánh triết học.”
Có
lẽ, để tiếp cận với Phạn văn - hệ thống ngôn ngữ chuỗi – mà vai tṛ của tác thể
hay gọi nôm na là động từ - th́ một vài hệ thống ngôn ngữ như Ai-Cập, Do Thái,
Hy-Lạp, Latin, Đức ngữ, Pháp ngữ và sau đó là Liên Xô, Anh ngữ, mới khả dĩ mà
thôi.
Chẳng hạn, với tiếng Ai-cập, khi nói đến hành, th́ biểu tượng ban đầu hay tiền
tố của nó được tượng h́nh hoá bằng h́nh thái: (un, uni, unt = yw, nmt, ck…), tức
là họ phát họa (hai chân đi) hướng về phía trước - tiền tấn. Khi chỉ cho sự quy
hồi, th́ họ phát họa thành hai chân trở lui
( - pry. E: to go back, chiều hoàn diệt). Và, từ un, uni, unt hay pry này,
họ phát triển sâu vào các hoạt động mang tính trừu tượng. Chẳng hạn, unun: thiết
lập, cấu trúc, gieo hạt; unn-unn: siêu việt, chạy tổng lực... Tất cả được quy
vào một chuỗi tập hợp. C̣n Trung Hoa, th́ thuyết bao gồm ngôn (lời nói) và
duyệt (hài thanh), trở thành thuyết. Tiếng Hoa không thể viết thành bộ tập hợp
chuỗi như ở những ngôn ngữ biến cách, theo một vài đặc trưng vừa nêu. Thế nên,
đối với Phật giáo th́ không vấn đề ǵ gọi là “thách thức’ cả. Nói cách khác, trí
tuệ mà Phật-đà viên chứng mới đúng là “một thách thức” đối với nhân loại này. Do
vậy, sẽ thật không cần thiết, khi đặt ra những câu hỏi như: kinh tế Phật giáo,
khoa học Phật giáo, chấn hưng Phật giáo, cải tiến Phật giáo, Phật giáo và vấn đề
dân tộc… Bởi v́, những câu hỏi như thế, nói lên sự kém yếu của ta về giáo thuyết
vi diệu ấy. Cũng bởi v́ ta chưa được “đào tạo” một cách có suối nguồn. Giáo dục
Phật giáo phải bắt đầu từ Phạn văn, ngay từ sơ cấp Phật học và ít ra, tại lúc
ban đầu này, các Phật tử (như Sa-di, Sa-di ni, có cả các [tiều] cư sỹ; họ phải
được vừa học tiếng Phạn và c̣n phải học thêm ba hay bốn loại ngoại ngữ nữa: Đức
ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ và Hoa ngữ - một môi trường Phật học không chỉ dành riêng
cho giới xuất gia mà c̣n cho cả giới tại gia, như cách làm của chùa Già-lam,
khoảng 10 năm nay vậy) và tất nhiên là những ngành khoa học như Toán, Vật lư,
Hóa học… cũng phải được “làm quen” một cách nghiêm túc. Tất cả như là những vệ
tinh của tiếng Phạn, bởi v́ đây là những ngôn ngữ có BIẾN CÁCH. Có đào tạo ngay
từ đầu như thế, th́ khi lên Trung Cấp Phật học, người ta mới tiếp cận được ngôn
ngữ Phệ-đà, Thắng luận, Số luận, tức là sáu phái triết học cổ đại Ấn-Độ. Và như
thế khi vào Cao cấp Phật học, th́ vấn đề xử lư Kinh Luận của Phật giáo mới có
thể được chuẩn xác. Và, những “lỗ hỗng” như hiện tại ở Phật giáo Việt Nam mới
được lấp đầy, mở đầu cho những sáng tạo trong hầu hết các lănh vực – tránh bớt
“khói hương” và “phước báo” - ngầm chỉ cho nhược tiểu và tự kiêu như giờ đây ta
đang phải cưu mang.
Muốn được như vậy, th́ ngay từ bây giờ các vị được gọi là “tôn đức” nên trầm tư
và dồn sức mạnh để thực hiện hoài bảo đó, th́ bấy giờ ta mới mong có ngày được
đối diện với toàn bộ thế giới này bằng các chuyên gia hàng đầu về mọi lănh vực,
những lănh vực được cho là thế pháp hay ngoại đạo này. Chẳng hạn, những công
tŕnh nghiên cứu về Số Luận hay Thắng luận, thực tế, ta chưa có bất cứ công
tŕnh cụ thể nào. Ta phê luận hai nền Khoa học ấy theo cách của ngài Huyền Trang
mà thôi, có nghĩa là ta vạch cho ta một lối ṃn, trong khi đó ngài Huyền Trang
đă đi xa diệu viễn với những vết in đứt khoảng, không hệ thống. Thế th́, ta sẽ
lạc đường và chỉ làm một kẻ lữ hành “cô độc” mà thôi.
Cái
ǵ đă làm cho thức biến, th́ cái đó chính là bản chất của hệ di truyền của tất
cả chúng sinh, khi qua quá tŕnh từ Quan Âm thiên tái sinh về đây, khi mà THÂN
và TÂM ÁNH SÁNG của ta mờ dần nhường chỗ cho THAM DỤC PHÁT SINH; hệt như sự
nguội dần của các thiên hà làm vỏ bọc của chúng trở nên lồi lơm; hệt như sự nóng
dần lên khi nh́n lâu khiến cho sóng thức phát sinh. Từ đó A (tâm ánh sáng) chứa
ij. Nghĩa là ij h́nh thành các yếu tố, xét như là dăy i và cột j. Trật tự của Ma
trận.
Bát
chánh đạo đối trị Bát phong và Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là tổng – Σ - của tiếng
tŕnh phục hồi ánh sáng, khi hành giả hàng phục được THỨC BIẾN và MA TRẬN, th́
lúc này THỨC BIẾN và MA TRẬN THỨC sẽ là Pháp thân, Ứng hóa thân của họ, thiên
tính gốc của QUAN ÂM THIÊN ḥa nhập cùng THỂ TÍNH GỐC của ĐÂU XUẤT THIÊN. Nghĩa
rằng, trong ba cơi sinh tử mà TẾ BÀO GỐC của ta luôn có liên hệ cùng hai cơi
QUAN ÂM và ĐÂU XUẤT. Có sự tương tác như thế, ta mới có khả năng Thiền định và
nghiệm chứng Niết-bàn y như Phật. Và Phật giáo phải được học và hiểu bằng những
nền tảng như thế. Thế giới hiện tượng là thế giới có thật, nhưng khi nó đập vào
vùng thị quan th́ nó trở thành những miền ảo giác do nh́n lâu, do nóng và nguội
dần y như thuật ngữ Dị thục (vipàka) được Thế Thân dùng và rồi, thế giới đă trở
nên bất thực do sự va chạm – xúc (sparaśa) - biến thái thành Thọ, trên cả hai
mặt: thân và tâm, kéo theo các bộ tập hợp trong sự vận hành của thế giới nội tại
theo hai chiều: nóng lên và nguội dần, được hiểu như là tư lương và liễu biệt
cảnh… dựa trên các ám ảnh của sự va chạm ban đầu. Do vậy, tŕnh tự của Ma trận
là m × n (“m=n”). Khi nào m=n, th́ khi đó Ma trận là “khối” vuông và được cho là
tŕnh tự của n. Như vậy, đối với một Ma trận có trật tự vuông n, th́ các yếu tố
như a11 và a22 … amn cấu thành đường chéo chủ yếu và nó băng qua Ma trận với
các phép nhân vô hướng (scalar multiplication). Chẳng hạn:
(sơ
đồ minh họa)
Cách thao tác của Ma trận thức (vijñaptimàtra).
Cái
đường chéo như vừa cho trong đồ thị, chính là vipàka của Thế thân. Và, như vậy
trật tự Ma trận A và B có thể được bổ sung bằng cách thêm vào các yếu tố tương
ưng, chẳng hạn: A + B = [aij + bij].
Phép nhân vô hướng (scalar multiplication – phép nhân có đường chéo vô hướng).
Nếu
A = [aij] và c th́ nó là một hằng số (scalar), vậy, cA = [ca ij], tức là, từng
yếu tố của A được nhân bằng c. Nhất là, (- 1)A = -A = [-aij] và A + (-A) = 0,
vậy th́ mọi yếu tố Ma trận đều bằng zero (0).[1]
Những hệ thống về các phương tŕnh tuyến tính và Ma trận
Phép nhân của những Ma trận
Những Ma trận, chẳng hạn, ma trận A và B, chúng chỉ có thể áp dụng được phép
nhân, có nghĩa rằng, chúng vi phân theo chúng đồng phần của chúng, khi nào số
các cột A bằng với số của hàng B. Do vậy, nếu A là m × k và B là k × n, vậy,
tích phân (product) C = Ab tồn tại xét như là một Ma trận m × n với yếu tố cij
tương đương cùng tổng (Sum / Σ) các tích phân ở hàng i của A và tương ứng với
các yếu tố ở cột j của B, ta có hệ thức:
k
cij
= ∑ a il blj [2]
i=1
Các
phương tŕnh tuyến tính trong hai vô nghiệm
Giả
định rằng, bạn chỉ có ba đồng (3 đVN), bạn cần ăn một loại bánh và uống một cái
ǵ đó (sức thúc đẩy của dục, được hiểu như là chất nước thấm vào hay liên hệ
[như là chất keo] làm dính đến các khoang ư và khái niệm trong ba phạm trù: Dị
thực, Tư lương và Liễu biệt cảnh). Nếu x biểu trưng cho lượng (amount) tiền mà
bạn phải trả cho bánh và y là lượng tiền mà bạn phải chi cho thức uống. Như thế,
bạn có thể cho là, x + y = 3. Nói cách khác, v́ một lư do nào đó, bạn muốn tiêu
một đồng cho bánh hơn là tiêu cho thức uống, bạn cũng có thể cho rằng: x – y =
1. Sự kiện này đều biểu thị đơn thuần cái gọi là các phương tŕnh tuyến tính
trong hai vô nghiệm và, được Thế Thân cho là, quá tŕnh dị thục là cái bất khả
tri trong bài kệ số 3 của ḿnh:
3.
Asaṃviditakopādisthānavijñāptikaṃ ca tat /
Sadā sparśamanaskāravitsamjñācetanāmvitam //
(Thế
giới cộng sinh và phát triển ư thức hệ và, thế giới môi trường, nghĩa là ‘căn
thân thế giới’ hay định vị tướng thế giới là những phương tŕnh vô nghiệm (Asaṃviditaka)
và người ta không thể hiểu được những ǵ mà cái Tàng thức ấy duy tŕ và biểu
hiện,
Và
cái thức đó luôn tương tục cùng năm biến hành: xúc, tác ư, thọ, tưởng và tư [ư
chí], tức là các ô vuông Ma trận luôn trong trạng thái cùng nhau thao tác).
H.Tr:
不可知執受
處了常與觸
作意受想思
相應唯捨受
Phương tŕnh tuyến tính trong hai vô nghiệm
Một
Phương tŕnh tuyến tính trong hai vô nghiệm là một phương tŕnh mà ta có thể
viết với h́nh thái hay công thức như sau:
ax
+ by = c
Ta
thấy, a, b và c là những con số thực. Số a được gọi là hệ số (coefficient) của x
và b được cho là hệ số của y. Giải đáp cho một phương tŕnh là một giải đáp cho
một cặp số: một trị số đối với x và một trị số đối với y nhằm thoả măn phương
tŕnh này.
Trong phương tŕnh tuyến tính 3x – y = 15 này, các hệ số đều là a = 3 và b = -
1. Điểm (x , y) = (5, 0) là một giải đáp, bởi v́, 3(5) – (0) = 15.
Ta
có một đồ thị Ma trận như sau:
(sơ
đồ minh họa)[3]
Nên
nhớ rằng suối nguồn Tam bảo là suối nguồn không bao giờ cạn kiệt bởi bất cứ Phạm
trù nào, mỗi một phút giây mà ta trầm tư về chúng, là mỗi một phút giây ta được
đón nhận những ánh sáng phi thường phát sinh từ chính tâm thức ta. Chúng không
bị hạn cục từ bất cứ nền văn minh nào. Nhớ lại, các khai sáng từ luận án tiến sỹ
của học giả Lê Mạnh Thát về tiềm năng điện toán của tâm thức ta (khoảng bốn thập
kỷ qua), đă gây nên những phản ứng và các thán phục bất ngờ. Tuy nhiên, công
tŕnh ấy, được xem như là một trong những dẫn đạo đưa ta đi về phía trước, chớ
không làm cản ngại bước đi của ḿnh dành cho những khám phá đương đại: Di truyền
học, Game, Photon, Sóng ánh sáng… Nghĩa rằng, Triết học Thế Thân không chỉ hạn
chế trong lănh vực ngôn ngữ học rồi thôi. Do vậy, một khám phá là một cống hiến,
một vấn đề được nêu ra sẽ kéo theo một chuỗi trầm tư, cho đến khi Phật giáo
không c̣n là nghi thức khói hương và, toàn bộ Phật tử phải là những nhà nghiên
cứu và cống hiến cụ thể bằng các sáng tạo của ḿnh cho thế gian này – Pháp giờ
đây sẽ là công cụ và người ta sẽ “thuyết” ít hơn trên những công cụ ấy. Thế th́,
sẽ không có ǵ được gọi là đỉnh Thái sơn và không có ǵ chận lại được những tư
duy hữu ích cho tự thân ḿnh và cho số đông nhân loại này. Không có cái ǵ là
nhược tiểu hay cam phận qua chút khói hương của các thời kỳ tăm tối đă qua và,
cá nhân tôi hy vọng rằng, những ǵ vừa nêu, tuy c̣n trong hạn chế thô thiển,
nhưng tôi tin là, những người đă được trưởng dưỡng từ chương tŕnh giáo dục Phạn
ngữ vừa qua – chí ít là bốn năm ṛng - do chính thầy Nguyên Giác hướng dẫn (trong
đó có tôi) ở Viện Nghiên Cứu Phật Học, sẽ t́m thấy cái ǵ là sâu xa hơn để nguồn
Tam bảo măi trong lành như tự thân của ba viên ngọc ấy. Đây là một hoài vọng về
nền giáo dục Phật giáo của quê hương ḿnh với bản thể sáng tạo của chính người
dân Việt, vốn đă bị thống trị quá nhiều (nhất là sự thống trị của Hán học) trong
quá khứ sử tính của nó.
V́
nội dung bài viết cần dàn trải nhiều hơn so với sự hạn chế của trang báo, nên
vấn đề Di truyền học và Học thuyết Tách lớp sẽ được đề cập ở một điều kiện gần
nào đó trong các số báo tới (nếu có thể). Do vậy, tôi xin đề nghị các bạn hăy
tham khảo những danh mục sách như sau[4], nhằm t́m hiểu cặn kẻ những vấn đề vừa
nêu, mà thật sự, như ta đă nói, chúng liên hệ như thế nào với Phật giáo và thật
sự là của Phật giáo, nhưng vốn đă bị chôn vùi theo cái gọi là Tâm lư học Phật
giáo hay Triết học Phật giáo. Thậm chí, chúng đă bị chôn vùi theo cái gọi là
kiến tính, khi mà tính cũng có nghĩa là tướng trong tất cả các pháp, nhất là thế
gian pháp chưa được tách lớp một cách trọn vẹn trong tướng của nó.
Dù
các khái niệm sở y đă bị bê-tông hóa, th́ hăy biến chúng thành nền tảng dưới
chân ta trong chuyến viễn hành về lại suối nguồn Tam bảo.
[1]. Những đồ thị chỉ có tính tương đối, đôi khi sai lệch; v́ người viết không
biết “đồ hoạ vi tính”. C̣n những sách được trích dẫn dùng cho bản văn, sẽ tŕnh
bày khi bài viết kết thúc ở mục tham khảo. Xin đọc giả thông cảm. P.H.
[2]. cf: Intergals and Mathematical Formulas by Ronald J. Tallarida.
[3]. cf: Finite Mathematics by S. Waner và Steven R. Costenoble (Hofstra
University).
[4]. cf: Intergals and Mathematical Formulas by Ronald J. Tallarida.
|