
ĐƯA VÀO MẬT
TÔNG
Nguyên tác:
Introduction to Tantra
Tác giả:
Lama Thubten Yeshe -
Biên tập:
Jonathan Landaw
Chuyển ngữ:
Thích nữ Trí Hải
---o0o---
2
- HAM MUỐN VÀ HẠNH PHÚC>
DỤC VỌNG, BẤT MĂN VÀ TỰ CHẾ
Chúng ta sống trong cơi dục nghĩa là thế giới của những ham muốn. Từ khi thức
dậy cho đến lúc đi ngủ, và cả trong những giấc mơ, chúng ta đều bị dục vọng lôi
kéo. Mỗi giác quan ta khao khát món ăn riêng của nó: Mắt ta ham nh́n những dáng
màu hấp dẫn, tai ta ham nghe những âm thanh dễ chịu; mũi ta hăng hái đánh hơi
những mùi thơm và vội vàng quay đi trước những mùi khó chịu; lưỡi ta t́m kiếm
những vị ngon mới lạ, và xúc giác ta th́ luôn luôn khát khao gặp gỡ những loại
xúc khác nhau. Ḷng ham muốn đối với sự kích thích giác quan ấy đă ăn sâu gốc rễ
trong ta đến nỗi nếu bị cô lập khỏi sắc thanh hương vị xúc trong một thời gian
dài, ta sẽ khởi sự có những ảo giác về chúng.
Nhưng ham muốn không chỉ cuộc vào những ǵ ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ.
Tâm ta cũng theo đuổi tư tưởng một cách hăm hở không kém lưỡi chạy theo vị ngon.
Những thứ trừu tượng như tri thức, danh tiếng, sự an ninh bảo đảm, sự hài ḷng...
cũng được theo đuổi một cách nồng nhiệt như thể đấy là những vật có thể cầm nắm
trong tay hay thấy được bằng con mắt. Quả thế, dục vọng lan tràn khắp nơi, đến
nỗi ta không chắc có một thứ ǵ ta làm mà lại không bị điều động bởi dục vọng.
Bất kể ta hoạt động trong lănh vực nào- thương mại, thể thao hay tâm linh- chính
ḷng ham muốn dưới một h́nh thức này hay khác, đă thúc đẩy ta thành công trong
lănh vực ấy. Ḷng ham muốn là một phần bất khả phân trong đời sống, đến nỗi
người ta coi cuộc đời mà không có ham muốn th́ chẳng khác ǵ một cái chết đang
sống.
Đằng sau tất cả ham muốn của chúng ta là sự mong mỏi được hạnh phúc. Về phương
diện này, quả thực mọi người đều b́nh đẳng, v́ tất cả chúng ta đều muốn được
hạnh phúc, mặc dù có thể mỗi người định nghĩa hạnh phúc một cách. Không ai trong
chúng ta lại mong muốn dù một chút xíu khổ đau hay thất vọng. Nếu xét kỹ, ta có
thể thấy rằng mọi hành vi của ta đều được khởi động bởi ḷng ham muốn có được
kinh nghiệm dễ chịu, hoặc muốn tránh những sự khó chịu.
Nhưng mặc dù ta chỉ mong muốn thuần hạnh phúc, cuộc đời ta lại dẫy đầy khổ đau
bất măn. Những sở hữu ta yêu quư và làm lụng nhọc nhằn để có được, bỗng tan vỡ,
mất mát hoặc bị trộm mang đi. Hoặc nếu có c̣n, th́ nó cũng hết đem lại cho ta
niềm lạc thú. Người chồng hay vợ yêu quư chẳng bao lâu lại hóa thành kẻ thù số
một của ta, hoặc bỗng lăn ra chết giữa lúc hương lửa đang nồng, để ta ở lại bơ
vơ trơ trọi. Chúng ta khao khát có được một việc làm, nhưng khi t́m được việc
th́ nó trở thành một gánh nặng đốt cháy hết th́ giờ và năng lực của ta. Danh
tiếng ta bị bôi nhọ, làn da óng ả của ta bắt đầu có nếp nhăn, trí thông minh của
ta bắt đầu tàn lụn. Bằng những kiểu cách như thế, cái hạnh phúc mà ta khao khát
vuột khỏi tầm tay ta. Đôi khi dường như thể rằng, càng cố được hạnh phúc bao
nhiêu, ta lại càng đâm ra khổ sở bấy nhiêu. Về phương diện này, cuộc đời dường
như là một cuộc chạy đua vô nghĩa; những nỗ lực của ta để t́m hạnh phúc chỉ có
đưa chúng ta đi ḷng ṿng cho đến cuối cùng ta phải kiệt sức, tuyệt vọng.
Nhiều triết gia và đạo sư đă mô tả cái ṿng lẩn quẩn của sự bất măn triền miên
ấy, và đưa ra những khuyến cáo làm cách nào để thoát ly khỏi nó, hay ít nhất làm
cách nào để chịu đựng nổi nó. Đức Thích Ca Mâu Ni chẳng hạn, gọi t́nh trạng bất
măn triền miên này là samsara, một từ Phạn ngữ có nghĩa là quay ṿng tṛn, và
đưa ra nhiều phương pháp thoát ly. Trong giáo lư nổi tiếng nhất của ngài, ngài
dạy nguồn gốc mọi rắc rối và tuyệt vọng chính là ham muốn do ngu si thúc đẩy.
Giải thoát hay niết bàn được thành đạt nhờ nhổ tận gốc rễ tất cả những ham muốn
như vậy từ trong tâm ta.
V́ mắt tai mũi lưỡi chúng ta chính là những cửa ngơ của ham muốn, nên những ai
mong giải thoát khỏi ṿng đau khổ, cần nhất đừng tin cậy vào năm giác quan.
Chúng phải được xem là đang kềm chế tâm thức ta một cách thiếu lành mạnh, và ta
phải đối xử với chúng hết sức thận trọng. Bởi thế, người nào theo đường lối tu
tập này để tự giải thoát, th́ đặc biệt chế ngự năm giác quan. Hành giả canh
chừng cẩn mật cửa ngơ năm giác quan, và triệt để hoài nghi bất cứ ǵ muốn xâm
nhập chúng. Chẳng hạn, khi một nhan sắc khả ái xuất hiện - như h́nh dáng một
người nam hay nữ - th́ hành giả phải bén nhạy xem chừng mối nguy hiểm có thể xảy
ra là bị nó hớp hồn. Trong khi tu theo lối này, chúng ta phải phấn đấu với cái
khuynh hướng mù quáng đâm đầu theo những đối tượng hấp dẫn, để từ đó trở thành
nạn nhân của khổ đau tuyệt vọng - phấn đấu bằng cách luyện ḿnh tập trung vào
những khía cạnh xấu nơi đối tượng, để giảm bớt ḷng ham muốn của ta đối với nó.
Ví dụ, ta có thể hóa giải ḷng đam mê đối với một người đẹp bằng cách tập trung
vào những bộ phận dơ uế nơi người ấy. Mục đích của cách tu tập này là để làm cho
dục vọng khỏi quấy động tâm ta, kết quả nhắm đến là đạt được sự thanh b́nh an
tĩnh không bị giao động trước những thăng trầm của cuộc sống.
Lối tu thận trọng này được xem là thua xa con đường mật tông, một pháp tu sử
dụng chính năng lượng của dục vọng. Nhưng nói thế không có nghĩa rằng pháp tu
nói trên không có giá trị ǵ. Ngược lại, điều thiết cốt là phải biết thời điểm
thích nghi để rút sự chú ư ra khỏi những đối tượng quấy nhiễu tâm ḿnh. Nhưng
nếu chúng ta chỉ có biết một cách đối phó duy nhất là tránh né những đối tượng
gợi ham muốn, th́ ta sẽ bị giới hạn gắt gao, không tiến xa mấy trên đường tu tâm
luyện tính.
Phương pháp mật tông khác hẳn. Thay v́ xem lạc thú và ham muốn như thể là chuyện
mà ta cần né tránh bằng mọi giá, mật tông nhận chân rằng cái năng lượng hùng
mănh trong ta, được dục vọng đánh thức, chính là một nguồn năng lượng thiết yếu
trên đường tu tập. Chính v́ mục đích duy nhất là thực chứng tiềm năng cao nhất
nơi con người chúng ta, mà mật tông t́m cách chuyển hóa tất cả mọi kinh nghiệm -
kể cả kinh nghiệm không có vẻ ǵ là tôn giáo - biến nó thành con đường thành tựu
đạo quả. Chính v́ cuộc đời hiện tại của chúng ta gắn liền một cách mật thiết với
dục vọng, mà ta cần phải xử dụng năng lượng hùng mănh của ham muốn, nếu ta mong
chuyển hóa đời ḿnh thành một cái ǵ siêu việt.
Như vậy cái lư của mật tông kỳ thực rất đơn giản: kinh nghiệm lạc thú thông
thường của ta có thể được xử dụng làm tài nguyên để đạt đến cái kinh nghiệm hỉ
lạc tuyệt đối về tính toàn vẹn, hay giác ngộ. Điều tự nhiên là : những tính chất
của tâm thức khi được đào luyện, sẽ sản sinh ra một cái ǵ tương tự, chứ không
chống trái với nó. Điều này đúng cho những tâm trạng tốt cũng như xấu. Như bất
măn không bao giờ có thể trở thành thỏa măn, khổ đau cũng vậy, không thể tự
nhiên mà chuyển thành an vui hạnh phúc. Theo mật tông, ta không hi vọng đạt đến
mục tiêu là hạnh phúc viên măn phổ quát trong khi tự làm cho ḿnh càng ngày càng
khổ sở một cách có bài bản, hệ thống. Điều này trái với lối vận hành tự nhiên
của mọi sự trong thực tế. Chỉ nhờ trong hiện tại, ta đào luyện những kinh nghiệm
nhỏ về an tịnh và toại ư, mà ta có thể thành tựu mục tiêu b́nh an thanh tịnh
trong tương lai. Tương tự như thế, nhờ khéo sử dụng năng lượng của ham muốn và
nhờ tích lũy thói quen thưởng thức cái mà ta có thể gọi là lạc thú chân thực, ta
mới hi vọng đạt thành niềm phúc lạc vĩnh cửu của toàn giác.
TÔN GIÁO VÀ SỰ CHỐI BỎ LẠC THÚ
Thế nhưng dường như có một trái ngược lớn lao giữa sự thưởng thức khoái lạc và
sự theo đuổi một đường lối tu hành. Quả thế, với nhiều người, tôn giáo chỉ có
nghĩa là từ bỏ những tiết mục vui thú của cuộc đời. Tôn giáo được người ta xem
như là lắc đầu trước dục vọng, từ chối tính tự nhiên, không được tự do phát biểu.
Thảo nào mà tổ chức tôn giáo thường bị mang tiếng không tốt. Thay v́ là một
phương pháp giúp ta vượt qua những giới hạn của ḿnh, tôn giáo lại được xem như
h́nh thái đàn áp nặng nề nhất. Tôn giáo mà như thế th́ chẳng khác ǵ một kiểu mê
tín dị đoan cần được bác bỏ nếu ta thực sự muốn giải thoát, tự do. Một điều bất
hạnh là, nhiều xă hội đă dùng tôn giáo làm phương tiện đàn áp và kiểm soát về
mặt chính trị, nên lối phê phán khắt khe này thành ra có lư.
Không những các nhà chỉ trích tổ chức tôn giáo cho rằng tôn giáo đàn áp hay hạn
chế bản chất căn để của con người, mà chính những người thực hành tôn giáo cũng
có quan niệm như thế. Không thiếu ǵ người cho rằng cái cách thích đáng để tuân
giữ giới luật là phải từ khước bản chất con người giản đơn của ḿnh. Họ đâm ra
hoài nghi về lạc thú đến nỗi nghĩ rằng đau khổ thực sự có giá trị: "V́ là người
có tôn giáo, tôi không được phép hưởng lạc thú." Mặc dù mục đích họ là đạt đến
một h́nh thức an b́nh hạnh phúc vĩnh cửu nào đó, họ nhất quyết từ khước không
cho phép ḿnh thưởng thức những lạc thú trong cuộc sống hàng ngày. Họ xem lạc
thú là chướng ngại cho sự tu hành, và nếu t́nh cờ cảm thấy chút thú vui, họ đâm
ra vô cùng áy náy. Thậm chí họ không thể thưởng thức một thỏi sô cô la mà không
nghĩ ḿnh thực tội lỗi, tham ăn. Thay v́ chấp nhận và thưởng thức cái ǵ đang
xảy đến đúng như thực trạng, họ lại tự tạo ra gút mắc của mặc cảm phạm tội và tự
thống trách: "Trong khi bao nhiêu người trên thế giới đang chết đói, khổ sở, sao
ta dám buông thả ḿnh!"
Tất cả những thái độ ấy thực hoàn toàn sai lạc. Không có lư do ǵ để cảm thấy
phạm tội về khoái lạc; điều ấy cũng lầm không kém sự bám lấy những lạc thú
thoáng qua và mong chúng đem lại thỏa măn tuyệt đối. Kỳ thực đấy cũng là một
dạng chấp thủ khác, một kiểu giam hăm ḿnh vào quan điểm hạn cuộc về tự ngă,
không biết đến tiềm năng vô hạn của ḿnh. Mặc cảm phạm tội ấy chỉ là một quái
thai của đời sống tâm linh, tuyệt đối không phải là thái độ tâm linh đích thực.
Nếu ta thực sự hài ḷng với hoàn cảnh - vẫn an nhiên tự tại cho dù gặp khổ hay
vui - th́ thực hành khổ hạnh có thể có lư phần nào. Khổ hạnh có thể lợi lạc khi
ta sử dụng nó để thêm ư thức về giải thoát, hoặc để hiểu được cái ǵ là thực sự
quan trọng trong đời. Nhưng hiếm khi ta từ khước một điều ǵ v́ những lư do
chính đáng. Chúng ta ép ḿnh vào một trạng huống đau khổ v́ tưởng rằng khổ đau
tự nó đă đáng đồng tiền bát gạo. Nhưng thực sự không phải thế. Nếu cứ ngụp lặn
trong khổ đau th́ hậu quả duy nhất là, chúng ta càng thêm đau khổ. Mặt khác, nếu
biết cách nếm trải hạnh phúc mà không có bám víu và mặc cảm phạm tội, th́ ta có
thể đào luyện những mức độ kinh nghiệm ngày càng sâu xa, và cuối cùng đạt đến
tiềm năng toàn vẹn của ḿnh, nguồn hạnh phúc không thể tưởng.
Nếu phương pháp sợ hăi, ức chế mà tôi đă chỉ trích trên kia là sai lầm, th́ cái
ǵ mới là đường lối thiện xảo của một người quả t́nh mong thực chứng tiềm năng
cao cả nhất? Nói đơn giản, đó là: giữ tâm liên tục trong trạng thái càng an vui
hạnh phúc càng tốt. Thay v́ sống bám víu, bất măn, rối ren, khổ sở với mặc cảm
phạm tội, ta nên cố cải tiến tâm ḿnh bằng cách phát triển những mức độ hiểu
biết ngày càng sâu xa, khéo kiểm soát những năng lượng tâm vật lư trong ḿnh, để
đạt đến một đời sống cao đẹp với những h́nh thái phúc lạc càng ngày càng cao.
Một phương pháp như thế có ư nghĩa vô vàn hơn là cố t́nh từ khước những kinh
nghiệm lạc thú hàng ngày. Đấy là cái lư của mật tông.
ĐỨC
PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG HƯỞNG LẠC
Trong cuộc đời đức phật Thích ca Mâu ni, có những giai đoạn chứng minh sự thù
thắng của phương pháp sử dụng ham muốn, hơn là phương pháp ép xác, đè nén dục
vọng. Lúc từ bỏ đời sống đam mê khoái lạc và khởi sự đi t́m phương pháp diệt khổ
vào năm 29 tuổi, thái tử Tất đạt đa đă tu ép xác khổ hạnh gắt gao. Như nhiều
người ở Ấn nay vẫn c̣n làm, thái tử đă t́m cách nhổ tận gốc rễ những nguyên nhân
của khổ đau bất măn bằng cách hành hạ các giác quan ḿnh, nhiếp phục chúng. Ngài
nhịn ăn, từ bỏ các tiện nghi đến nỗi cuối cùng thân thể ngài chỉ c̣n là một bộ
xương. Sau sáu năm khổ hạnh, ngài thấy phương pháp ấy vô hiệu. Thay v́ đưa ngài
tiến gần mục tiêu giải thoát, nó chỉ làm ngài kiệt sức, không thể sáng suốt suy
nghĩ và thiền định. Ngài quyết định từ bỏ phương pháp ấy và theo một phương pháp
tu tâm thích hợp hơn. Theo truyền thuyết, ngài đă chấm dứt tuyệt thực và nhận
một bát cháo do tín nữ Sujata dâng cúng. Thực phẩm này đă đem lại một hiệu quả
thần t́nh cho cơ thể và tâm trí, khiến ngài ngập tràn dũng mănh, sáng suốt và
phúc lạc. Sự bừng dậy của năng lực tâm vật lư không những giúp ngài thêm cương
quyết mà c̣n gia tăng khả năng đạt đến toàn giác, mục tiêu chính yếu của ngài.
Sự kiện ngài chỉ ngồi thiền có một đêm dưới cội Bồ đề rồi đạt toàn giác, chứng
tỏ đă đúng lúc Ngài nên từ bỏ lối tu khổ hạnh. Theo lối nh́n của mật tông, những
sự cố này cho thấy rằng biết xử dụng lạc thú là một phương pháp sâu xa và hiệu
quả hơn ép xác khổ hạnh rất nhiều.
Về sau, khi Phật đă nổi tiếng là một bậc đạo sư có thể hướng dẫn nhiều hạng
người đạt đến giác ngộ, có lần một ông vua đă xin ngài chỉ dạy một phương pháp
tu hành thích hợp cho một người bận nhiều phận sự đa đoan. Vua nói: "Con có phận
sự chăm lo cho thần dân, con thực không nên bỏ bê quần chúng. Con không thể làm
như ngài, từ bỏ mọi sự để vào rừng tu khổ hạnh. Con cần biết cách làm sao có thể
dùng ngay sinh hoạt của một vương gia làm đường lối tu hành. Bởi thế, xin đức
Thế tôn dạy cho con cách chuyển hóa những hành vi thường nhật của một vị vua
thành pháp tu." Đức Phật trả lời quả thực ngài có một phương pháp như vậy, đó là
pháp thực hành mật tông. "Với phương pháp này nhà vua có thể tiếp tục thi hành
phận sự của ḿnh, mà lại không cần phải từ bỏ một thứ lạc thú vương giả nào hết
trọi." Phật c̣n nói với vua rằng quả thế, vua có thể vui thú hết ga mà đồng thời
vẫn tiến dần đến giác ngộ.
Giáo lư mà Phật dạy cho ông vua ấy chính là Mật điển Bánh xe Thời gian (Kalachakra,
Thời luân), và hệ truyền thừa của phái này cùng tất cả giáo lư mật tông khác cho
đến ngày nay vẫn tồn tại đầy năng lực, chưa bao giờ gián đoạn. Vô số người Ấn và
Tây tạng đă đạt ngộ nhờ theo những phương pháp này, bởi thế không lư do ǵ người
ngày nay lại không được lợi lạc nhờ áp dụng pháp tu ấy.
SỰ TU TẬP MẬT TÔNG NGÀY NAY
Mật tông đặc biệt thích hợp với tinh thần thời nay, v́ đấy là con đường nhanh
nhất, dễ lôi cuốn những người vốn khoái có hiệu lực tức th́. Hơn nữa, cốt tủy
đường lối mật tông là phương pháp chuyển hóa, mà nguyên lư chuyển hóa năng lượng-
ít nhất trên b́nh diện vật chất- ngày nay đă khá quen thuộc. Cuối cùng, trong
khi sự bùng nổ lớn của sức mạnh ham muốn trong thế kỷ này được xem như một
chướng ngại trầm trọng cho phần lớn các tôn giáo, th́ nó lại rất tốt cho sự thực
hành mật tông, v́ tông này xem ham muốn là chất liệu thúc đẩy ta tiến đến mục
đích cao nhất. Chỉ có một con đường duy nhất là mật tông- một phương pháp chú
trọng kinh nghiệm trực tiếp hơn ḷng tin mù quáng- mới có thể đánh thức chúng ta
tỉnh dậy từ những kiểu sống tự hủy diệt, và đem lại cho ta cơ hội thành tựu bản
thân một cách viên măn.
Tuy nhiên, muốn được lợi lạc thực thụ trong lối tu hành này, chúng ta cần ư thức
rơ vài điểm quan trọng. Trước hết là động lực thúc đẩy ta tu mật tông phải thực
trong sáng. Điều này sẽ nói rơ hơn ở chương 6, ở đây chỉ cần nói rằng, chúng ta
không thể nào gặt hái lợi lạc vô biên từ pháp tu này nếu động lực tu hành của ta
chỉ tập trung vào an lạc cho tự ngă. Hạng người duy nhất tu mật tông có hiệu quả
là người quan tâm trước hết đến lợi ích cho người khác, và thấy con đường mật
tông là lối tu nhanh nhất, hữu hiệu nhất để thành đạt mục tiêu vị tha ấy.
Thứ đến, ta phải có đủ kiên tŕ và kỷ luật tự giác để khởi sự tu hành có thứ lớp.
Nhiều người nghĩ: "Mật tông là lối tu cao nhất, nên tôi không cần quan tâm đến
những tập luyện dẫn nhập" rồi họ nhảy bổ vào những giáo lư cao cấp; việc ấy vừa
điên rồ vừa ngạo mạn, và lại khá nguy hiểm. Kẻ nào có thái độ nóng nảy thiếu
thực tế như vậy th́ hoàn toàn không đủ tư cách thụ giáo mật tông.
Cuối cùng, thực vô cùng quan trọng để phân biệt tinh yếu của mật tông với những
sắc thái văn hóa của mật tông hiện thời. Điều tôi muốn nói là, không ích ǵ cho
một người xứ khác phải giống người Tây tạng, hay bất cứ người đông phương nào.
Ví dụ, tập tụng kinh bằng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ, th́ không phải là
cách để ta đạt đến tiềm năng cao nhất của ḿnh. Không có ǵ siêu việt khi thay
thế những quy ước của một nền văn hóa này với một nền văn hóa khác. Những người
tu kiểu hời hợt này cuối cùng chỉ rước lấy hoang mang lẫn lộn không biết ḿnh là
ai, hay ḿnh phải làm ǵ. Dĩ nhiên trong giai đoạn chuyển tiếp của mật giáo từ
đông sang tây, sẽ rất lợi ích nếu người ta học được Tạng ngữ vân vân. Nhưng ta
nên nhớ mật tông là cái ǵ c̣n sâu xa hơn vô vàn. Cái điều mà mật tông dạy cho
ta là một phương pháp để thoát ly tất cả những giới hạn ràng buộc tri kiến của
ta về ta là ai, ta có thể trở thành ǵ. Nếu đến với mật tông bằng một tâm trí
minh mẫn và quyết tâm rút được tinh hoa của giáo lư, th́ chắc chắn ta có thể
mang lại cho đời ḿnh sự toàn vẹn và hạnh phúc tâm linh mà tất cả chúng ta đang
t́m.
Thích
nữ Trí Hải |