|
Phóng sự của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Lời Ṭa Soạn:
Việc nhà cầm quyền Bắc Kinh ra lệnh cấm đánh cá ở biển Đông ngay
trong mùa cá của ngư dân Việt Nam đồng thời với việc tàu tuần
duyên của Trung Quốc liên tục bắt ngư dân đ̣i tiền chuộc, cố
t́nh đâm ch́m tàu của ngư dân ngay trên vùng biển mà Việt Nam có
chủ quyền đă làm cho ngư dân ở các tỉnh miền Trung không dám ra
khơi. Trong bối cảnh đó, nhà báo Trần Tiến Dũng, cộng tác viên
của Người Việt, đă có chuyến đi đến Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận,
một tỉnh ven biển miền Trung, để ghi nhận sự ảnh hưởng bởi lệnh
cấm đánh cá của Trung Quốc đến hàng ngàn ngư dân và gia đ́nh của
họ.
Bài 1: Đêm áp thấp ở duyên hải Trung Phần
Một giờ khuya của một ngày Tháng Bảy, chiếc xe đ̣ hiệu Liên
Thành dừng lại cho khách ăn khuya ở một quán bên đường thuộc địa
phận Phan Thiết. Tôi vào quán, gió khuya vùng biển thổi áp người.
Một vùng áp thấp mới vừa h́nh thành ở biển Đông.
* Trong quán cơm khuya
Theo thông lệ, cánh tài xế là những người có bữa ăn khuya thịnh
soạn nhất. Từ ngoài có thể nh́n thấy bữa ăn họ gồm đủ ba món
canh, xào, mặn dành cho người khá giả. Những món như mực xào,
lẩu cá bóng biển, tôm rim... với dân miền biển và du khách,
không phải là đặc sản cao cấp ǵ.
Nếu ai dám tiên đoán vào một ngày không xa những món hải sản
b́nh thường nhất sẽ trở nên đắt giá đều sẽ bị cho là người dựng
chuyện nói láo hoặc điên khùng. Bây giờ mà nói với họ về bữa ăn
trong một ngày nào đó của các gia đ́nh b́nh thường người Việt
Nam sẽ chỉ toàn là những đồ hải sản vụn th́ có lẽ họ sẽ cho là
đồn nhảm, dù qua các phương tiện thông tin nhiều người có biết
việc Trung Quốc cấm biển xa, việc ngư dân bị bắt đ̣i tiền chuộc,
tin xấu lan truyền rằng “tàu lạ” liên tục đâm ch́m các tàu cá
đánh bắt xa bờ của ngư dân Việt Nam.
Gió vẫn cứ áp vào mặt những người khách đường dài. Tôi ngồi ở
một góc quán và nghe bên tai vang tiếng đấu hót của nhóm sinh
viên trường Đại Học Hồng Bàng đang đi nghỉ Hè. Một nam sinh viên
đang nói đến viễn cảnh đi du lịch nước ngoài của ḿnh, cô gái
bạn của anh hỏi rằng anh lấy tiền đâu mà đua đ̣i với con cái các
đại gia. Cô không tin, nhưng một chàng trai khác trong nhóm nói
“Mày mơ lên đời để được đi chớ ǵ, quên đi con, kiếp trâu ḅ
cười với mày th́ có.”
Anh chàng sinh viên mơ đi du lịch nước ngoài lại nói. “Tại sao
mày chắc tao không cưới được con đại gia .Tao c̣n tính mua du
thuyền đi du lịch nữa là.” Một cô gái khác trong nhóm nói với vẻ
mặt suy tư. “Đừng nói xạo nữa đi, dám ló mặt ra biển Trung Quốc
nó bắt hết, có tiền chuộc mạng không mà tía lia cái miệng.” Câu
nói phát xuất từ thực tế trên làm cả nhóm im lặng.
Rơ ràng là trong tâm tư những người trẻ này có lo lắng về số
phận biển Đông. Nhưng tâm lư công dân về chuyện này có một điểm
tiêu cực chung là: Biết Trung Quốc đang cướp biển của dân tộc,
biết th́ ai cũng biết nhưng không được phép nghĩ, không được
phép bàn bàn, lâu ngày sinh tâm lư chỉ chờ coi giống như coi
phim cướp biển hay giống như nghe người già kể chuyện ma chuyện
quỉ.
* Viễn cảnh biển tối
Tôi kêu tính tiền, dĩa cơm khuya của tôi với món mực xào dưa leo
được tính giá 45 ngàn đồng. Ở Việt Nam, nếu nhà xe tấp vào quán
nào là người đi xe bắt buộc phải ăn, không ai có quyền chọn lựa
và rất lạ là ít ai thắc mắc chuyện mắc hay rẻ, mọi người cứ ngơ
ngơ mở túi tiền ra cho chủ quán tha hồ móc, na ná như chuyện một
phần biển Đông của tổ tiên bị Trung Quốc ngang nhiên chiếm rồi,
ngư dân Việt Nam nào dám vào sẽ bị bắt đ̣i tiền chuộc. Chuyện vô
lư đến mức tưởng như có thể gây căm phẫn nhưng ai ngờ chỉ tạo
được hiệu ứng tâm lư là: Miễn chính ḿnh không bị “chém đứt đầu”
là mừng.
Từ dĩa cơm với vài miếng mực xào, tôi bỗng nhớ đến chuyện truyền
h́nh quốc gia VTV, trong mục thời sự, có đưa tin việc mực đông
lạnh đă thúi śnh được nhập khẩu, tất nhiên truyền thông nhà
nước không nói rơ quốc gia xuất xứ, nhưng mọi người dân đều đoan
chắc là từ Trung Quốc. Những container mực thúi śnh này sau khi
vượt qua biên giới được dân kinh doanh bất lương ở Hà Nội cho
tắm tẩy bằng oxy già, loại dùng để rửa vết thương rồi tung ra
thị trường trở thành hàng hải sản cao cấp.
Ở một quốc gia có gần hai ngàn cây số bờ biển, hiện nay có hàng
triệu ngư dân ngày ngày bám biển mà phải chịu ăn mực đông lạnh
đến thúi śnh th́ đau xót quá. Tôi đoán chừng mấy lát mực tôi đă
ăn với giá cắt cổ không chừng cũng nằm trong diện được nhập khẩu
rồi chế biến bằng thuốc rửa ghẻ. Tôi có một cậu em, cậu em này
kể, từ vùng biển Phan Rang người anh bà con điện vào nói đă gởi
theo xe đ̣ vô cho mấy kư mực tươi và vài con cá mặt quỉ. Sau khi
cậu em tôi ra bến xe đ̣ miền Đông nhận về một cái thùng xốp nhỏ,
khui thùng ra, số mực và cá c̣n tươi rói, bữa cơm ngày đó của
gia đ́nh của cậu em được ăn món biển tươi chính hiệu.
Cậu em nói, “Mấy đứa con em sau khi thè lưỡi nhe răng ăn thử món
mực hấp gừng, tưởng nó khen mực tươi Phan Rang ngon, ai dè nó
nói. Mực ǵ mà nhai ghê miệng quá, chắc là mực tẩy oxy giống
trên tin truyền h́nh. Sau đó không đứa nào thèm đụng đũa nữa.”
Nhiều người, nhất là tuổi trẻ ngày nay, có khi không c̣n phân
biệt được đâu là thực phẩm độc hại, đâu là thực phẩm tươi sạch.
Nhưng đó không phải là lỗi ở họ, bởi đất nước đang phải đối diện
với một sự thật kinh người là cả vùng biển bao la bát ngát của
tổ quốc, những vùng biển giàu tài nguyên hải sản nhất, những
vùng biển xa quanh các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa đă và sẽ tiếp
tục bị Trung Quốc cấm khai thác.
Chủ nghĩa Đại Hán mà nhà cầm quyền độc tài Trung Quốc đang theo
đuổi một khi ra lệnh cấm biển đối với ngư dân Việt Nam, điều đó
có nghĩa là các bữa ăn b́nh thường của từng gia đ́nh nghèo người
Việt, trước mắt và tương lai chỉ c̣n lại những mớ hải sản vụn,
loại trước đây chỉ để làm nước mắm loại rẻ tiền và làm thức ăn
gia súc.
Việc thay đổi thực phẩm trong từng bữa ăn của người Việt Nam có
thể là hiệu quả của việc hội nhập kinh tế toàn cầu, những mác
hàng có xuất xứ đa quốc gia đang ngày càng nhiều đă cho phép
người tiêu dùng thêm quyền chọn lựa. Chuyện củ cà rốt, bắp cải,
su hào... nhập cảng từ Trung Quốc
giết chết hàng trong nước th́ dù đau ḷng nhưng phần nào đó cũng
là lẽ thường của sự cạnh tranh. Vấn đề ở đây chính là tài
nguyên từ biển Việt Nam lại bị Trung Quốc độc chiếm, cấm người
Việt Nam khai thác và từ đó những thực phẩm có nguồn gốc xuất xứ
từ tài nguyên biển của tổ tiên trớ trêu thay lại chính là lợi
nhuận của “tàu lạ”.
Ngoài trời mưa từng đợt bởi ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới vẫn tiếp
tục ập tới. Chuyến xe đêm đi qua những đoạn quốc lộ xốc dằn như
một con thuyền tṛng trành trong gió băo.
|
Về miền Trung những ngày biển Đông “dậy sóng” - Kỳ 2:
Rồi sẽ đến ngày biển cạn kiệt
Wednesday, July 22, 2009 |
|
|
| |
|
|
|
Phóng sự của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Chúng tôi đến thành phố Phan Rang-Tháp Chàm vào lúc tờ
mờ sáng cùng ngày. Ở bến xe, tôi ngồi uống cà phê quán
cóc với một người chạy xe ôm. Trong câu chuyện xă giao
với người khách lạ, người chạy xe ôm với gương mặt có
vết sẹo dài ở xương hàm này không cần dấu, anh ta nói,
“Tôi không phải là dân giang hồ, đi giùm một cuốc đi,
gần sáng rồi mà chưa kiếm được đủ tiền chợ ông anh ơi!”
Anh cho biết thêm anh bỏ nghề đi biển gần cả năm nay. Ôm
bến xe coi vậy mà toàn mạng hơn ôm biển.
Ninh Thuận là một tỉnh nghèo nhất vùng duyên hải miền
Trung. Tuy nhiên lượng khách đi xe đ̣, nhất là ra vào
Sài G̣n bằng những chuyến xe đêm th́ không thua kém bất
cứ đâu. Sài G̣n-Phan Rang ngày nay không phải được thu
ngắn về địa lư mà chính ra được thu ngắn bằng việc dân
nghèo, kẻ giàu cùng đổ về Nam để làm ăn kiếm sống.
Câu chuyện tivi buổi sáng
Sau khi chào hỏi cả nhà cậu em bà con, tôi được mời nằm
vơng nghỉ lưng. Gia đ́nh cậu em đang mở tivi, tôi bỗng
nhiên giật ḿnh khi phát hiện cả nhà người em họ đang
coi một bộ phim t́m hiểu lịch sử Trung Quốc. Ở Việt Nam,
phim Trung Quốc dă sử và hiện đại luôn chiếm vị trí hàng
đầu về thời lượng của hàng chục đài truyền h́nh là không
lạ. Nhưng trước mắt tôi là cảnh phim kể về chuyện hai
người trẻ yêu nhau rồi cùng đưa nhau vượt bức tường thời
gian để trở lại thăm viếng địa danh, những sự kiện trọng
đại của lịch sử Trung Hoa.
Trong phim lúc này là cảnh hai người trẻ thời hiện đại
đang rơi vào giữa vùng chiến trận của xứ Đông Ngô vào
khoảng năm 200 sau Công Nguyên. Tôi nghĩ đến việc ở Sài
G̣n các doanh nghiệp thay v́ tốn tiền quảng cáo, họ kết
hợp với chính quyền phát động phong trào “Dân Ta Học Sử
Ta”, sau đó những cờ phướn, áp phích, ghi tên cách danh
nhân và những sử liệu treo đầy cây xanh, cột đèn trong
sự hờ hững của người đi đường, trong gió mưa nắng cháy.
Ngược lại, hàng ngày, hàng giờ từ tivi của mỗi gia đ́nh
Việt Nam, các bộ phim Trung Quốc cứ ngang nghiên quảng
bá h́nh ảnh chủ nghĩa Đại Hán từ cổ xưa đến hiện đại
trong sự ṭ ṃ thích thú.
Cảng cá trong buổi sáng không nắng
Cậu em họ chở tôi đi cảng cá Đông Hải. Trước mắt tôi cái
cảng cá vào loại lớn nhất của tỉnh Ninh Thuận này vẫn
tràn ngập sắc màu của tàu thuyền. Sự tấp nập của cảng cá
là nét b́nh thường của dân vùng biển. Cậu em họ nói, “Để
em kiếm vài con cá ḅ ḥm về trưa anh em ḿnh nhậu. Hôm
gởi vào anh mấy con cá tắc kè, nhưng loại đó không ngon
bằng cá ḅ ḥm đâu. Dân biển lưới được cá ḅ ḥm là để
lại ăn không bán.”
Cậu em họ tôi làm nghề mộc, nhưng sinh ra ở vùng này
chắc là sành những thứ đặc sản riêng của dân biển. Hôm
cậu ấy gởi vào mấy con cá mặt quỉ, thật ra đó không phải
tên đúng của loài cá đó, nhưng trên mâm nhậu chúng tôi
nh́n thấy con cá có mặt xấu quá nên tự gọi là cá mặt
quỉ, lúc ra đây rồi mới biết đó là cá tắc kè. Các loại
hải sản cao cấp ở các nhà hàng sang trọng Sài G̣n lúc
này đều có giá rất đắt, nhưng giá đắt không phải là do
quí hiếm mà là do phải nhập cảng.
Ở Sài G̣n người ta có thể ăn đồ hải sản từ Úc, Châu Phi
hay cả các vùng biển lạnh cực Bắc, nhưng khó có cá ḅ
ḥm, cá tắc kè, ốc vôi... những loại này có lẽ đă trở
thành phần thưởng của biển dành riêng cho dân đi biển
của mỗi địa phương.
Sau khi đi cả khu chợ không kiếm được con cá ḅ ḥm nào,
chúng tôi phát hiện một bà bán cá có bán mỗi một con cá
tắc kè. Khi hỏi thăm bà để mua thêm, bà nói, “Có một con
thôi, về nướng nhậu đỡ đi. Đời bây giờ ở đâu mà có
nhiều.”
Những vùng biển ven bờ ngày càng cạn kiệt c̣n biển xa
th́ đă thuộc quyền của Trung Quốc. Và một điều đáng suy
nghĩ là phải chăng đến một con cá ngon, cá lạ “ truyền
thống” của ngư dân Việt Nam mà c̣n bị tước đoạt, bị thay
đổi xuất xứ chủ quyền th́ huống ǵ số phận các chiếc tàu
cá và các ngư dân.
Một bà bán cá gần đó thấy chúng tôi lăng xăng t́m cá đặc
sản, bà chỉ vào mấy bao cá nhỏ, mời chúng tôi mua. Bà
nói nửa đùa nửa thật, “ Tập ăn đặc sản này đi. Chiên xù
hay nấu ngót đều ngon. Mai mốt Trung Quốc nó ăn hết có
đâu mà kén chọn.” Loại cá mà bà bán không một xứ giàu
tài nguyên biển nào lại nỡ khai thác, loại cá mà ngay cả
bà cũng không biết tên, chúng nằm chồng chất trong mấy
cái túi ni-lông, những con nằm sát bao, mở to những đôi
mắt viền đỏ như oán trách.
Từ những đôi mắt các con cá đă chết trong bao nhựa trắng
đục khiến người ta không thể không nghĩ rằng, ngay từ
hôm nay, để đủ thực phẩm nuôi sống cho số dân trên 80
triệu, và số sinh mỗi năm tăng hơn cả triệu người, th́
chắc rằng trong vùng biển ít ỏi c̣n lại của chủ quyền
Việt Nam, những đàn cá nhỏ vô tư bơi lội để trang điểm
cho cho vẻ đẹp của biển cũng đến hồi vắng bóng.
|
Friday, July 24, 2009 |
|
Về miền Trung những ngày biển Đông 'dậy sóng' –
Kỳ cuối: Bữa ăn của một gia đ́nh ngư dân
|
| |
|
|
|
Phóng sự của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Vịnh
biển Ninh Chữ ngày nay đang cố theo vết của tỉnh B́nh Thuận phát triển
các khu resort. Cảnh các resort đắt tiền rào hàng rào ngang dọc chắn hầu
hết các vị trí đẹp nhất của băi biển đẹp nổi tiếng này khiến ngay cả dân
địa phương cũng phải bực bội.
Anh H,
một người đàn ông trung niên nói, “Trước năm 1975, mỗi dịp nghỉ lễ là
nhà trường từ tiểu học đến trung học kêu gọi học sinh ra bờ biển trồng
dương chắn gió tạo cảnh. Trước đây rừng dương đẹp biết bao nhiêu, bây
giờ th́ đốn gần hết để xây resort, làm du lịch mà nghĩ cạn như vậy cũng
có ngày gió băo thổi trụi hết cho coi.”
Chúng
tôi đi về hướng làng chài nằm cạnh băi Ninh Chữ, cái làng chài lâu đời
này không may dính sát các khu du lịch cao cấp nên có lẽ đang sống nốt
những ngày cuối cùng. Đi theo một con đường đất cát quanh co chúng tôi
vừa đi vừa hỏi thăm nhà người bà con xa. Trước mắt chúng tôi là những
ngôi nhà nhỏ xây, che bằng đủ loại vật dụng và cùng tụm nhau lại trên
một vùng đất biển để cùng đùm bọc nhau và phơi ra cái nghèo.
Người
mà chúng tôi t́m là một ông dượng, gọi là ông dượng nhưng thực ra tuổi
ông chỉ ngoài ba mươi. Ông kế thừa nghề gia đ́nh làm biển, người vợ trẻ
ở nhà bày ít hàng tạp hóa bán cho người cùng xóm, ông có hai cô con gái,
đứa lớn chỉ mới vào lớp Một. Lúc vui miệng ông nói, “Con gái đời giờ
không phải là nữ sanh ngoại tộc mà là nữ sanh ngoại tệ.”
Ông
dượng dẫn chúng tôi ra biển, từ xóm chài có những bờ đất nhỏ hướng về
các ụ đê neo tàu. Cặp theo bờ đi là những vuông ruộng nuôi tôm bỏ hoang,
nghề nuôi tôm từng một thời làm nên lợi nhuận đến điên đảo đời sống dân
cư ven biển miền Trung th́ nay coi như đă chết. Có những vùng người dân
trở lại làm nghề muối, nhưng đa phần là phải bỏ hoang v́ ruộng c̣n đó
nhưng sổ đỏ th́ thế chấp ở ngân hàng, c̣n những ai có chút vốn thoi thóp
th́ không dám mạo hiểm nữa.
Chúng
tôi đi trên những bờ đê biển trong không gian nặng mùi tanh của cá và
của phân người phóng uế bừa băi. Ông dượng nói, “Đất từng một thời nuôi
tôm tiền tỉ nay bỏ cho thiên hạ ị chơi vậy đó, sướng chưa!”
Ra đến
đê biển, chúng tôi bỏ giầy, xăn quần bước xuống cái thuyền thúng, ông
dượng chèo đưa chúng tôi ra cái tàu lưới cá cũ của ông. Theo ông dượng
th́ cái tàu nhỏ này chưa bao giờ trúng cá để có mà chở hết trọng tải.
Biển gần bờ ngày nay giống như mấy cái ruộng nuôi tôm, dù chưa đến mức
bỏ hoang nhưng chỉ c̣n ít cá, mực loi choi vậy thôi.
Chiếc
tàu cá nhỏ có trọng tải chừng bảy tám tấn đưa chúng tôi đi về phía cửa
biển Ninh Chữ. Hôm nay biển động nên ông dượng sẵn ḷng lấy tiền dầu chở
chúng tôi đi một ṿng. Đường ra cửa biển những tàu có trọng tải lớn
chuyên đánh bắt xa bờ neo đậu san sát. Chỉ cần theo dơi thời sự ai cũng
đoán biết v́ sao loại tàu đủ sức chống chọi với những đợt áp thấp, những
cơn băo nhỏ này lại phải chịu cảnh nằm trơ trong vịnh.
Biển
ngoài cửa vịnh sóng êm đến bất ngờ, chúng tôi ngồi trong khoang hết nh́n
cảnh biển lại nh́n vào cái gian bếp nơi có vài cái hộp nhựa đựng tiêu,
muối và cái ḷ lạnh tanh của ông dượng. Tôi chỉ vào cái microphone treo
trên nóc tàu hỏi, “Máy bộ đàm phải không? Tàu ḿnh có máy ḍ cá không?”
Ông dượng cười cười nói, “Có chớ, nhưng ngày nghỉ gỡ cất rồi, mà có khi
đi đánh, đi câu ven bờ làm ǵ có cá luồng mà ḍ. C̣n cái bộ đàm để nghe
đài trong bờ báo tin băo, c̣n chuyện bị bắt, bị đâm bể tàu là chuyện hên
xui phải chịu ai báo trước được.”
Trong
vùng nước ở cửa vịnh, ngay khi vào ngày biển động cũng có những con
thuyền nhỏ chỉ bằng chiếc xuồng ba lá đang giăng lưới. Tiếng sào đập
nước từ các thuyền lưới này liên tục vang lên cùng với tiếng sóng đập
vào các đê biển. Được biết người ta phải dùng sào đập xuống mặt nước
nhằm phát ra tiếng động để những đàn cá nhỏ cuống cuồng mắc vào lưới.
Chúng tôi dừng lại gần một chiếc thuyền lưới, trên thuyền hai cha con
ngư dân nghèo thay nhau người đập người kéo lưới, nhưng suốt những tay
lưới dài được kéo lên không thấy bóng dáng con cá nào mắc lưới. Người
bạn cùng đi với chúng tôi lớn tiếng hỏi, “Có cá không ông anh?” Cha con
người thả lưới đều lắc đầu. Ông dượng nói, “Họ thả lưới từ tờ mờ sáng,
vậy là bữa nay cha con ông này treo nồi rồi.” Chúng tôi nh́n xuống đồng
hồ, bây giờ đă hơn mười một giờ trưa.
Bữa cơm
của một gia đ́nh ngư dân
Lúc
quay trở lại nhà, ông dượng mời chúng tôi ở lại ăn cơm. Với người Sài
G̣n được ngư dân xóm biển mời một bữa cơm th́ lập tức h́nh dung ra những
món hải sản tươi ngon. Dù bà cô có nhanh miệng nói trước là có ǵ ăn nấy,
nhưng chúng tôi vẫn nghĩ dân miền biển dễ ǵ thiếu món đặc sản để mời
khách.
Nhưng
sự thật đúng như lời bà cô nói. Bữa cơm được dọn ra, cả nhà người ngư
dân gồm bốn miệng ăn và ba người khách phương xa cùng nhau ăn một bữa
cơm gồm có 2 con cá hanh lớn bằng bàn tay và một mớ cá nhỏ chỉ bằng hai
ngón tay. Hai con cá hanh lớn được chiên xù c̣n mớ cá nhỏ th́ nấu canh
ngót. Thoáng một chút ngượng ngùng ông dượng nói khéo, “Bữa nay vợ tôi
không rảnh đi chợ.”
Cơm
nóng, canh nóng và gió biển, cả gia đ́nh người ngư dân và chúng tôi cùng
quay quần bên mâm cơm. Gắp một con cá nhỏ từ tô canh, tôi hỏi ông dượng
về tên loại cá này. Ông dượng nói, “Ở đây người ta kêu là cá liệt. Coi
nhỏ vậy mà ngọt thịt lắm.” Chúng tôi không dám dùng đũa rẽ cá sợ ră hết
thịt, cứ theo kiểu ông dượng gắp nguyên con cá nhún vô nước mắm tỏi ớt
rồi bỏ nguyên con vô miệng mà nhai. Hai đứa con ông dượng sợ xương nên
dùng đũa rẽ từng miếng cá nhỏ và ít khi chúng rẽ được miếng cá nguyên để
ăn trọn miếng cơm. Đó là lần đầu tiên chúng tôi ăn con cá liệt. Ông
dượng nói, “Mấy chiếc tàu nhỏ đập sào, thả lưới ở cửa biển mà ḿnh thấy
lúc năy là để dí mấy đàn cá này.”
Chúng
tôi có một bữa ăn ngon miệng, và thật lạ, chính những con cá liệt nhỏ
xíu, những con cá mà một thời chỉ những người dân biển nghèo đến cạn
kiệt mới đụng đũa đă tạo nên vị ngon ngậm ngùi của bữa ăn.
Đời
sống thường nhật của những ngư dân b́nh thường ở một quốc gia giàu tài
nguyên biển vào loại bậc nhất ngày nay đă khác.
Trần Tiến Dũng |
|
|