NỘI DUNG
CỦA TRUNG ĐẠO
Đại Sư Ấn
Thuận
Phật Pháp,
một phương pháp thực tiễn nhằm vào việc phát triển và hoàn thành con
đường hướng thượng của nhân sanh.Sự tồn tại sanh tử tử sanh không
dứt của chúng sanh từ vô thủy là vấn đề căn bản, rất hiện thực và
bức thiết, vấn đề này chỉ có Phật giáo mới giải quyết một cách triệt
để được. Phật giáo nhằm vào nhân sanh mà chỉ bày chân tướng của cái
tồn tại ấy, khiến cho chúng ta từ chánh kiến thực tướng mà biết được
phải làm thế nào để tiến hóa, để trong sạch cho đến siêu việt nhân
sanh, đạt đến thành tựu viên măn. Điều cốt tủy nầy trong các kinh
điển gọi là Đạo.
Đức Thế
tôn sau khi thành đạo, đầu tiên chuyển pháp luân độ 5 anh em Tỳ-
Kheo, ngài đă đề ra việc lấy”Trung” làm đặt của “Đạo”. Như kinh
Chuyển Pháp Luân(bản pà li): “Tham đắm dục lạc trong cơi dục này là
việc vô nghĩa, chẳng phải bậc thánh: nhưng cho rằng khổ do tự thân
tạo ra là khổi đạo chính là ĺa hai bên này, nương vào Như Lai mà
chứng ngộ. Đó tức là đạo khai nhăn, khai trí, đạt đến tịch tịnh,
ngộ chứng, chánh giác, niết- bàn. Này các Tỳ- kheo! thế nào gọi là
Trung đạo nương vào Như Lai mà được chứng ngộ? Đó là Bát chánh đạo”.
Khi thuyế pháp lần đầu tiên, để khai Tông chỉ làm sáng tỏ ư nghĩa,
Đức Phật đă nêu lên Trung Đạo bất khổ bất lạc nảy. Trung đạo tức bát
chánh đạo, đây là nghĩa căn bản. V́ sao gọi là Trung?
Có thuyết
cho rằng Phật pháp sở dĩ được gọi là trung v́ chẳng nghiêng về phóng
túng dục lạc, cũng chẳng nghiêng về khổ hạnh mà giữ thái độ chiết
trung giữa khổ và lạc. Nhưng đó chỉ là theo từ mà giải nghĩa, chưa
thể hiểu chính xác được v́ sao bát chánh đạo gọi là trung đạo. Nên
biết có người cho rằng nhân sinh quan là đường hướng trên lịch tŕnh
nhân sanh, chẳng phăi là thú vui phóng túng mà phải khổ hạnh, khắc
kỷ. Khảo sát động cơ của hai mặt này th́ biết đó điều là qua niệm
được kiết lập trên h́nh thức, pháp môn của h́nh thức.
Khi cảm
giác của con người nghiêng về lạc hạnh phóng túng đă không thuận lợi
th́ họ sẽ chuyễn hướng về khổ hạnh khắc kỷ. Như thế th́ hành vi của
con người điều không ngoài hai cực đoan này. Họ không hiểu rằng dục
lạc phóng túng cũng như têm dầu vào lửa, ḷng vị kỷ phát triển mạnh
th́ xă hội tấc nhiên sẽ khó cải thiện. hoặc có người cảm thấy con
đường này không thuận lợi liền chuyển hướng về khổ hạnh mà không
biết khổ hạnh là biện pháp lấy đá đè cỏ, dùng khổ hạnh để chế ngự
t́nh dục, không thể thành công được. Tư tưởng yếm thế bi quan của
Arthur Schopenhauer người Đức, thậm chí dùng tự sát làm biện pháp
giải thoát tự ngă, tức là lấy t́nh thức làm gốc để giải quyết vấn đề.
Theo Phật pháp th́ dục lạc hay khổ hạnh điều phát sanh từ vọng chấp
của t́nh thức. Đức Thế Tôn phủ định cả hai. Đây là Tân nhân sinh
quan dùng trí làm gốc. Tự ngă cho đến thế gian chỉ có thể dùng trí
chỉ đạo mới cải tạo và thành tựu lư tưởng của nhân sanh. Do đó Tân
nhân sinh quan chẳng khổ chẳng vui- dùng trí làm gốc, là đặc chất
duy nhất của Phật pháp.
Phật dạy
ĺa nhị biên mà hướng về trung đạo. Trung đạo tức Bát chánh đạo. Mấu
chốt của Bát chánh đạo là chánh kiến. Tấc cả hành vi của thân tâm
điều lấy chánh kiến để soi rọi, như Kinh A- Hàm đă dùng chánh kiến
lam tiên phong của các hạnh. Kinh Bát- nhă lấy Bát nhă làm tiền đạo
cho vạn hạnh. Ví thế hạnh Trung đạo chẳng khổ chẳng vui, chẳng phải
chiết trung, mà là thực tiễn lấy chánh kiến làm gốc. Do đó nguyên
tắc của Phật pháp là “dùng trí huệ để cải biên t́nh thức”, “dùng trí
huệ để dẫn dắt hành vi”. Hạnh Trung đạo lấy trí làm gốc bao gồm quá
tŕnh từ sơ phát tâm cho đến đạt được cứu cánh viên măn.
Chánh kiến
là tiên phong của Trung đạo, tức là từ Thật tướng chánh kiến nhân
sanh mà tiến hóa, trong sạch cho đến giải thoát và thành tựu nhân
sanh. Thật tướng chành kiến nhân sanh trong các kinh đều có nói đến,
đó tức là trung đạo hoặc pháp trung. Như kinh Tạp A- hàm: “Thế gian
điên đảo, chấp vào Nhị biên, hoặc chấp có hoặc chấp không… Này Ca-
Chiên- diên! Có người như thật chánh quán. Tập đế của thế gian, th́
chẳng chấp sanh, chấp không với thế gian th́ không sanh chấp có đối
với thế gian. Này Ca- Chiên- diên! Như Lai ĺa Nhị biên, thuyết
Trung đạo, gọi đây có nên kia có, cái này snah nên cái kia sanh…”.
Đó chính là điều mà Đức Thích tôn đă khai thị chánh kiến, chỉ rơ cho
chúng ta biết rằng, người thế gian nếu không chấp có th́ chấp không,
Phật lài cả hai mà nói Trung đạo. Nhưng nếu cho Trung đạo ĺa có ĺa
không là chiết trung của hữu vô, rồi cho là cũng có cũng không hoặc
nữa có nữa không là thật sai lầm vậy. Diếu mà Đức Thích Tôn nêu ra
chính pháp là duyên khởi, nương vào chánh kiến duyên khởi có hte643
đạt được Trung đạo chẳng rơi vào hai bên.
Trung đạo
c̣n được Thích Tôn chỉ bày c̣n là Trung đạo chẳng phải một chẳng
phải khác. “Tạp A- hàm” (Kinh thứ 297): “Nếu cho rằng mạng tức thân
th́ người phạm hạnh kia cũng không có. Nhị biên như thế, tâm chẳng
chấp trước, mà hướng vào Trung đaọ. Bậc Hiền thánh xuất thế có chánh
kiến như thật, không điên đảo, đó gọi là duyên sanh lăo tử… duyên vô
minh, hành”.
C̣n Trung
đạo chẳng thường chẳng đoạn, Kinh Tạp- A-hàm(đaị 2,85 hạ): “tự làm
tự biết(thọ) th́ đọa thường kiến; người khác làm người khác biết là
Đoạn kiến, nghĩa thuyết, pháp thuyết. Nên ĺa hai bên, ở nơi Trung
đọa mà thuyết pháp, đó gọi là cái này có nên cái kia có, cái này
khởi nên cái kia khởi…”
Chẳng một
chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, cũng đồng với chẳng có chẳng
không, đều là Trung đạo chẳng rơi vào nhị biên do y cứ vào duyên
khởi mà khai thị. Trung đạo chánh kiến duyên khởi là Tông chỉ trong
giáo nghĩa Thích Tôn. Chẳng lạc, chẳng khổ là Trung đạo hành, chẳng
có chẳng không là trung đạo lư, đây chỉ là tạm thời phân biệt một
cách tương đối mà thôi. Thực ra trong Trung đạo hành đă có chánh
kiến làm tiên phong, tức bao hàm chánh kiến Trung đạo ngộ lư rồi,
như thế mới không rơi vào T́nh bản luận khổ. Đồng thời ngộ lư tức là
một hạn mục của chánh hạnh; c̣n chánh kiến duyên khởi th́ quán không
tấc cả chánh hạnh tự lợi lợi tha. Cả hai đối đăi nhau, nương nhau
không thể thiếu được. Nương vào chánh kiến duyên khởi, th́ xa ĺa
được các lư luân nhị biên đoạn trường, có không, hiển pháp được thực
tại của nhân sanh, tự nhiên đạt được trung đạo ĺa nhị biên.
Ngoài ra,
Đức Thế tôn c̣n khai thị về duyên khởi, duyên khởi sở dĩ được gọi là
Trung đạo, th́ chẳng thể bỏ quên duyne6 khởi tương ứng với không,
Điếu này torng các kinh cũng có đề cập đến- như kinh A- Hàm (kinh
293): “Nói cho các Tỳ- Kheo kia nghe về pháp tùy thuận “Không”,
tương ứng với duyên khởi của các bậc hiền Thánh xuất thế”. Duyên
khởi là pháp tương ứng với “không”, là đại dụng độc đáo của “không”,
tận trừ tấ cả kiến chấp lí luận. Duyên khởi tương ứng với “không”,
cho nên duyên khởi ,mà lại là Trung đạo chánh kiến chẳng lọt nhị
biên.
(Trích
dịch từ Diệu Vân Tập của Ấn Thuận Đại Sư)