SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TƯ TƯỞNG BÁT NHĂ TẠI TRUNG QUỐC
Cư Sĩ Định Huệ
Sau ngài Long
Thọ xuất thế hoằng hóa không bao lâu, bộ phận kinh điển Bát-nhă được
truyền đến Trung Quốc. Bộ Kinh Bát-nhă đầu tiên do vị tăng người Ấn
tên Trúc Phật Sóc dịch tại Lạc Dương vào năm 172 với nhan đề Đạo
Hành Kinh (1 quyển); sau đó ít lâu có ngài Chi-lâu-ca-sấm, người
nước Nguyệt Thị dịch Kinh Đạo Hành Bát-nhă (10 quyển). Năm 260,
Tỳ-kheo Chu Sĩ Hành nhận thấy văn nghĩa Kinh Đạo Hành Bát-nhă tối
tăm khó hiểu, bất tiện cho việc nghiên cứu giảng giải, Ngài phát tâm
đi Ấn Độ để t́m bản gốc tiếng Phạn.
Ngài đến
nước Vu Điền, sao chép được 90 chương khoảng 60 vạn lời (hơn 2 vạn
bài tụng). Đương thời, người trong nước Vu Điền không cho Ngài mang
về Trung Quốc, măi đến năm 282, đệ tử của Ngài là Phất-như-đàn (dịch
ư là Pháp Nhiêu) mới mang được kinh này về Lạc Dương. Năm 291, Sa-môn
Vô-xoa-la và Trúc Thúc Lan cộng tác dịch thành bộ kinh mang tên
Phóng Quang Bát-nhă (20 quyển). Kinh Bát-nhă Hán dịch phải trải qua
31 năm nỗ lực kể từ ngài Chu Sĩ Hành, mới có được một bản dịch khá
hoàn chỉnh, điều này cho thấy, Phật giáo đồ Trung Quốc từ xưa đă xem
trọng kinh điển hệ Bát-nhă.
Từ lúc
Kinh Đạo Hành Bát-nhă được dịch đến Kinh Phật Thuyết Khai Giác Tự
Tánh được dịch vào đời Tống, trước sau hơn 800 năm, tổng cộng số
lượng kinh điển Bát-nhă đă được dịch lên đến bảy tám trăm quyển,
nhưng vẫn lấy Kinh Đại Bát-nhă do ngài Huyền Trang dịch vào đời
Đường làm tổng tập. Toàn bộ lư luận của Kinh Đại Bát-nhă vô cùng
phong phú, nhưng đều xuất phát từ một nguyên lư căn bản “Duyên khởi
tánh không”. Duyên khởi nghĩa là phải nhờ vào nhiều yếu tố mới sanh
khởi. Tất cả mọi sự vật đều nhờ vào các duyên khác mà tồn tại, th́
không chắc thật, không tự tại, chúng ta không thể nào t́m được cái
thật thể bản nhiên (tự thể) chắc thật bất biến, thường tồn bất hoại
qua mọi sự vật, v́ thế mới gọi đó là KHÔNG. Chữ KHÔNG này kỳ thật là
dụng ngữ thay thế cho “Vô tự tánh”. Tất cả sự vật vô tự tánh chẳng
phải tự nó sanh, chẳng từ vật khác sanh, cũng chẳng phải không có
nhân mà sanh, cho nên gọi là bất sanh (hoặc phi sanh). Diệt cũng như
vậy, cho nên gọi là bất diệt (hoặc phi diệt). Từ khái niệm bất sanh
bất diệt (hoặc phi sanh phi diệt) này có thể tŕnh bày thành phi
thường phi đoạn, phi hữu phi vô, phi trụ phi trước, vô hành vô đắc…
Nói “ly tứ cú tuyệt bách phi” thật ra không ngoài việc nói đến sự
biến dịch trong tất cả mọi sự vật không có một chút ǵ tồn tại bền
chắc, cả trên tư tưởng của chúng ta cũng không nên có một thiên chấp
nào, như vậy mới có thể hiểu đúng về hiện tượng duyên khởi. V́ thế
không nên hiểu dụng ngữ “già thuyên” hoặc “phủ định từ” trong Kinh
Bát-nhă là hư vô chủ nghĩa hoặc phủ nhận sự tồn tại của thế giới
khách quan.
“Già
thuyên” trong Kinh Bát-nhă có mục đích làm cho chúng ta hiểu được
hiện tượng duyên khởi; đồng thời cũng hiển thị đúng tính chất của
hiện tượng duyên khởi. Nhân đó, các khái niệm bất sanh bất diệt, phi
thường phi đoạn trở thành tánh vô tánh của hiện tượng duyên khởi.
Tánh của vô tánh cũng chính là KHÔNG. Từ Sự duyên khởi mà Lư thông
suốt, chứ không phải thật có một vật làm thành thật tánh của hiện
tượng duyên khởi, cho nên nói là vô tánh. Nhưng v́ tánh chất xác
thật của hiện tượng duyên khởi như thế, cho nên mới có thể gọi nó là
Tánh. Từ đó ta có 5 nghĩa :
1. Tánh
của vô tánh chân thật, không hư dối, xa ĺa điên đảo, cũng không
biến dị, gọi là Chân như.
2. Tánh
của vô tánh trùm khắp tất cả chỗ của loài hữu t́nh trong hư không
giới, tất cả b́nh đẳng, không sai không khác, gọi là Pháp tánh.
3. Pháp
tánh b́nh đẳng, không phải là đối tượng phan duyên của tâm ư thức,
xa ĺa tà niệm, vô minh không sanh, gọi là Bản tánh thanh tịnh.
4. Chân
như và tất cả pháp không hai không khác, cho nên các phiền năo tham
sân si và Vô thượng Bồ-đề của chư Phật đồng thuộc về thanh tịnh.
5. Tuy nói
thanh tịnh, nhưng tất cả đều vô sở đắc, gọi đó là Trung.
Hạnh
Bồ-tát phù hợp với lư này là tất cả pháp đều vô sở chấp, vô trụ vô
trước, hành vô sở hành, cũng không có một chút pháp thật nào để nói
là năng tu năng chứng. Lư này so với nghĩa lư trong Kinh A-hàm rơ
ràng là có sự phát triển sâu rộng hơn. Ngài Long Thọ là người có
công rất lớn trong việc khai thác và xiển dương về phương diện này.
Trứ tác
của ngài Long Thọ được dịch sang Hán văn khoảng 25 bộ, nhưng vẫn lấy
Luận Đại Trí Độ và Trung Luận làm trọng yếu. Sau đây xin nêu ba
nghĩa chính trong toàn bộ lư luận của ngài Long Thọ :
1. Phân
định phạm vi của Thanh văn thừa Không và Đại thừa Không. Như LUẬN
ĐẠI TRÍ ĐỘ quyển 35 ghi : “Trí huệ Thanh văn, Bích-chi Phật chỉ quán
các pháp không, chứ không thể quán thế gian và Niết-bàn là một”.
Quyển 38 ghi : “Niết-bàn là chân, thế gian cũng chân; Niết-bàn, thế
gian không có chút ǵ sai khác, ấy là thật tướng cứu cánh (tức Đại
thừa Không).
2. Phật
không phá thế gian. Như LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ quyển 70 ghi : “Chỉ phá kiến
chấp thế gian khởi thường, vô thường kiến, chứ không phá thế gian.
Như người mù cho con rắn là xâu chuỗi anh lạc, người mắt sáng nói đó
là rắn chứ không phải chuỗi anh lạc. Phật phá kiến chấp điên đảo
thường, vô thường của thế gian, chứ không phá thế gian”.
3. Có thể
chuyển thế gian thành đạo quả Niết-bàn. Như LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ quyển 19
ghi : “Bồ-tát nhờ sức Bát-nhă có thể chuyển thế gian thành đạo quả
Niết-bàn. … Do Bồ-tát thấy được thật tướng này, nên không chán ghét
thế gian, ưa thích Niết-bàn”.
Các trứ
tác trọng yếu của ngài Long Thọ đại đa số đều được ngài La-thập dịch
sang chữ Hán. Từ ngài La-thập trở về trước, Phật giáo truyền vào
Trung Quốc tuy đă hơn 400 năm lịch sử, nhưng do chưa dịch hết toàn
bộ kinh hệ Bát-nhă và trứ tác của ngài Long Thọ cũng chưa được dịch,
cho nên dù Phật giáo đồ Trung Quốc có duyên với Bát-nhă th́ cũng chỉ
có thể tự vận dụng trí huệ của ḿnh đă tiếp thu được từ huyền học
thanh đàm (của Lăo Trang) rồi dựa vào kinh văn Bát-nhă chưa được
dịch đầy đủ mà suy đoán nghĩa lư, cho nên khó tránh khỏi kiến giải
lệch lạc. Thí dụ như trong Lục gia thất tông(*) xuất hiện thời Đông
Tấn (318 - 419) , có nhà cho rằng Vô (tức là Không) có trước muôn
vật và sinh ra muôn vật, đủ thấy có nhiều Phật giáo đồ có học vấn
thời bấy giờ c̣n chưa hiểu rơ ư nghĩa duyên sanh tánh không. Nhưng
ngài Đạo An th́ đă có sự thể hội chính xác hơn, trong TRUNG LUẬN SỚ
, ngài Cát Tạng đă từng ngợi khen sự hiểu biết của ngài Đạo An về
mặt tư tưởng Bát-nhă là lập nghĩa đồng với ngài La-thập, Tăng Triệu.
Tuy vậy, qua cái nh́n hiện nay th́ ngài Đạo An hăy c̣n bị hạn chế
bởi thời đại, trên lư giải đại khái không sai nhưng về chiều sâu th́
chưa đủ. Dù sao, ngài Đạo An vẫn được đánh giá là một học giả ưu tú
của tư tưởng Bát-nhă ở giai đoạn đầu.
Từ ngài
La-thập, Tăng Triệu đến ngài Cát Tạng, người tập đại thành tông Tam
Luận hơn 200 năm (401 - 623), là giai đoạn kiến lập tư tưởng Bát-nhă
tại Trung Quốc. Trứ tác của chính ngài La-thập lưu truyền không
nhiều, hiện tại chỉ có bốn, năm mươi điều vấn đáp liên quan đến giáo
nghĩa, không đủ để thấy toàn thể diện mạo tư tưởng Bát-nhă của Ngài.
Tăng Triệu, đệ tử đắc ư của Ngài, viết Bát-nhă Vô Tri Luận, Vật Bất
Thiên Luận, Bất Chân Không Luận, dùng các lư luận “động tĩnh bất
dị”, “dụng tịch thể nhất”, “bất tận hữu vi, bất trụ vô vi” để giải
thích nghĩa Kinh Bát-nhă. Từ đó, tư tưởng Bát-nhă tại Trung Quốc mới
nghiêm túc tách rời tư tưởng huyền học thanh đàm và nhờ đó mà kiến
lập một diện mạo riêng. Ngài Cát Tạng tự xưng là được truyền thừa từ
ngài La-thập, Tăng Triệu, nhưng thời gian lại cách quá xa, và đứng
về phương diện lịch sử truyền thừa cũng không có chứng cứ, mà Ngài
dám nói như thế không phải là không có lư do. Nhân v́ sau khi ngài
La-thập, Tăng Triệu viên tịch, có nhiều học giả hoằng dương Thành
Thật Luận, tuy họ có nói đến mối quan hệ tương đối của pháp Không và
Nhị đế, nhưng vẫn c̣n chấp có thật pháp, nên không phù hợp với ư
Kinh Bát-nhă. Ngài Cát Tạng cực lực đả phá thiên chấp ấy của họ để
hiển bày tông chỉ Kinh Bát-nhă, trên ư nghĩa này, có thể nói ngài
Cát Tạng là người kế thừa học thống của ngài La-thập, Tăng Triệu.
Trứ tác của
ngài Cát Tạng giải thích rất nhiều loại kinh điển, song vẫn lấy Tam
Luận Sớ và các tác phẩm có quan hệ với Tam Luận như Đại Thừa Huyền
Luận làm trọng yếu. ĐẠI THỪA HUYỀN LUẬN quyển 4 ghi : “Không hoại
giả danh mà nói thật tướng, tuy nói giả danh mà rơ ràng thật tướng.
Chẳng động chân tế mà kiến lập các pháp, tuy nói chân tế mà rơ ràng
các pháp. V́ chân tế mà rơ ràng các pháp nên không kẹt vào VÔ, v́
thật tướng các pháp rơ ràng nên không bị trói buộc vào HỮU. Không bị
trói buộc vào HỮU nên không phải Thường, v́ không kẹt vào VÔ nên
không phải Đoạn, đó chính là Trung đạo”. Đây là phát huy ư nghĩa
Chân như và tất cả pháp không hai không khác trong Kinh Bát-nhă. Và
nói : “Bậc Thánh dùng diệu huệ của vô tâm khế hợp với hư tông của vô
tướng, tức là trong ngoài đều thầm hợp, duyên (cảnh) trí đều tịch
lặng, không biết gọi nó là ǵ, tạm gọi là trí huệ, tuy lập danh từ
trí huệ, mà thật ra cũng chưa xứng với cái Thể của Bát-nhă”. Đoạn
này giải thích rất xác đáng chỗ của đoạn văn trên nói là “vô đắc”.
Hệ thống tư tưởng của ngài Cát Tạng chẳng qua h́nh thành từ trong sự
tranh luận với các Luận sư Thành Thật đương thới, trên lư luận tuy
kế thừa truyền thống La-thập, Tăng Triệu, song về phương thức lập
luận không khỏi chịu ảnh hưởng của các Luận sư Thành Thật. Do đó,
ngài Cát Tạng chỉ luận bàn xung quanh vấn đề quan hệ tương đối của
Nhị đế, mà không hiển bày được tinh thần hài ḥa dung nhiếp của Nhị
đế và sự thể nghiệm thực tiễn tông chỉ vô đắc vô ngại. Đây là khuyết
điểm không thể tránh khỏi trong giai đoạn kiến lập tư tưởng Bát-nhă.
Tư tưởng
Bát-nhă phát triển tại Trung Quốc hiển thị được tinh thần hài ḥa
dung nhiếp của Nhị đế và thể nghiệm thực tiễn tông chỉ vô đắc vô
ngại th́ có tông Thiên Thai, Thiền tông và tông Hoa Nghiêm. Từ ngài
Trí Khải của tông Thiên Thai đến ngài Trừng Quán của tông Hoa
Nghiêm, thời gian 300 năm (538 - 838) là giai đoạn tư tưởng Bát-nhă
tại Trung Quốc phát triển rực rỡ. Trong đó, ngài Trí Khải của tông
Thiên Thai và Lục tổ Huệ Năng của Thiền tông có cống hiến lớn lao
nhất.
Vị Tổ đầu
tiên của tông Thiên Thai là ngài Huệ Văn, sống vào thời Bắc Tề (550
- 577), Ngài thấu triệt đạo lư “nhất tâm đắc tam trí” trong Luận Đại
Trí Độ, rồi từ bài kệ “Pháp do nhân duyên sanh, ta nói tức là Không,
cũng tức là giả danh, cũng là nghĩa Trung đạo” trong Trung Luận mà
ngộ được “nhất tâm tam quán”. Đạo lư này truyền đến đệ tử là Huệ Tư
càng được mở rộng và đầy đủ hơn. Trứ tác của ngài Huệ Tư hiện chỉ
c̣n hai tác phẩm đáng tin cậy là Chư Pháp Vô Tránh Tam-muội Pháp Môn
và Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa.
PHÁP HOA
KINH AN LẠC HẠNH NGHĨA ghi : “Năm ấm, mười tám giới, mười hai nhân
duyên đều là thật tánh chân như, không có gốc ngọn, không có sanh
diệt, không có phiền năo, không có giải thoát, cũng không có tu
hành, không có phân biệt, sanh tử và Niết-bàn không một không khác,
phàm phu và Phật không có hai pháp giới, cho nên không thể phân
biệt, cũng không thấy không hai, v́ thế nói không tu hành, không
phân biệt, v́ tướng không phân biệt bất khả đắc”. Điều này hoàn toàn
phù hợp với nghĩa Kinh Bát-nhă. Và nói : “Như nhăn thức có khả năng
thấy, thức không có tự thể mà nhờ vào các duyên, từ duyên tánh
không, không có hợp tan, quán sát kỹ từng phần, sẽ thấy nhăn bất khả
đắc … không đoạn không thường, lúc nhăn đối sắc th́ không tham ái.
V́ sao ? V́ hư không chẳng thể tham ái, hư không chẳng đoạn vô minh,
chẳng sanh vô minh, lúc ấy phiền năo tức là Bồ-đề, vô minh duyên
hành tức là Niết-bàn, cho đến lăo tử cũng vậy”.
Đây là quán
hạnh được h́nh thành từ tư tưởng Bát-nhă “duyên sanh tánh không”, và
cũng cho thấy giữa huệ giải và định cảnh có liên quan mật thiết. Do
đó Ngài rất chú trọng đến Thiền quán và lấy Kinh Pháp Hoa làm tông
thú tu học. V́ Kinh Pháp Hoa chủ trương Nhất thừa, Niết-bàn chẳng
phải thật diệt độ, tướng thế gian thường trụ, nên có thể làm đại
biểu cho pháp môn Viên đốn. Đến ngài Trí Khải, đệ tử của ngài Huệ
Tư, hệ thống tư tưởng này được phát huy đầy đủ và tông Thiên Thai
mới được h́nh thành.
Trí Khải
là vị Đại sư có trí tuệ kiệt xuất trong lịch sử Phật giáo Trung
Quốc, trong ba đại bộ (Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú, Ma-ha
Chỉ Quán) của Ngài trứ tác biểu hiện đầy đủ sự ngộ giải sâu sắc đối
với tư tưởng Bát-nhă. Ngài đă đem kinh điển Hán dịch chia làm bốn
giáo : Tạng, Thông, Biệt, Viên, kỳ thật là nói về quá tŕnh huệ
giải. Trong đó, Viên giáo tức là một cách nói khéo léo và sâu sắc về
“Đại thừa Không”. Tam đế viên dung của Viên giáo lấy “tam thị” trong
bài kệ của Trung Luận làm cơ sở, tiến đến sự hài ḥa dung nhiếp của
nguyên lư “Không, Giả, Trung” để nói chúng tương “tức”. Như khi nói
“Giả” nói “Trung” th́ đă bao hàm nghĩa “Không”, v́ “Giả” là do duyên
sanh, thành “Trung” cũng không ĺa duyên sanh, mà duyên sanh tức
“Không”. V́ thế không những trên “Không” thấy được “Không” mà trên
“Giả” và “Trung” cũng thấy được “Không”, cho nên nói một “Không” th́
tất cả “Không”, chẳng có “Giả”, “Trung” nào mà chẳng “Không”. Từ
trên “Giả” nh́n “Trung” và “Không” hoặc từ trên “Trung” nh́n “Giả”
và “Không” cũng vậy, cho nên nói một “Giả” th́ tất cả “Giả”, chẳng
có “Không”, “Trung” nào chẳng “Giả”; một “Trung” th́ tất cả “Trung”,
chẳng có “Không”, “Giả” nào mà chẳng “Trung”. Lư luận này của Viên
giáo phát huy đến tận cùng giáo lư “tất cả pháp b́nh đẳng không hai
không khác” trong Kinh Bát-nhă.
Ngoài ra,
trong MA-HA CHỈ QUÁN quyển 5, Đại sư Trí Khải c̣n nói trong 1 tâm có
đủ 10 pháp giới : Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu-la, người, trời,
Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật (tức là một tâm có khả năng đưa
con người vào địa ngục cho đến thành Phật). Mỗi pháp giới lại đủ 10
Như (tướng, tánh, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu
cánh) cấu thành 100 pháp giới (bách giới). Một trăm pháp giới này,
mỗi pháp giới lại có 30 thứ thế gian (chúng sanh thế gian, quốc độ
thế gian, ngũ ấm thế gian, mỗi thứ đủ 10 Như, cộng thành 30) h́nh
thành 3000 thế gian. Đây là nói về sự phức tạp của toàn thể pháp
giới, nhưng mỗi mỗi lại viên dung với nhau, hàm nhiếp trong một niệm
tâm, cho nên nói “Phạm vi của tâm là đầy đủ ba ngàn (tam thiên)”.
Một tâm đă như thế, th́ tất cả pháp đương nhiên cũng vậy, v́ thế nói
“trong một hạt bụi có quyển kinh lớn bằng đại thiên thế giới”, “một
sắc một hương, không thứ nào không phải Trung đạo”. Cách nói này tuy
c̣n mang tính huyền học, nhưng tư tưởng Bát-nhă đến đây đă thật sự
được triển khai và diện mục của Phật giáo Đại thừa càng được xác lập
rơ ràng.
Xuất phát
từ lư luận trên, cũng trong MA-HA CHỈ QUÁN, ngài Trí Khải nói :
“Người tạo
nghiệp thập ác nếu biết được Như Lai nói pháp nhân duyên, vô ngă,
nhân, chúng sanh, thọ mạng, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô trước,
bản tánh thanh tịnh, và đối với tất cả pháp, biết bản tánh thanh
tịnh, người hiểu biết như thế rồi tín nhập, tôi không nói người này
bị đọa địa ngục và các đường ác. Sao vậy ? V́ pháp không tích tụ,
pháp không chứa nhóm phiền năo, tất cả pháp bất sanh bất trụ, do
nhân duyên ḥa hợp mà được sanh khởi, khởi rồi lại diệt. Nếu tâm
sanh rồi diệt, th́ tất cả kiết sử (phiền năo) cũng sanh rồi diệt.
Hiểu như vậy th́ không phạm, nếu có phạm có trụ th́ thật là vô lư !
Như căn nhà tối trăm năm, một khi đốt đèn lên, bóng tối không nói ta
là chủ nhà này, ở đây đă lâu nên không chịu đi. Đèn đốt lên th́ bóng
tối liền mất, nghĩa nói trên cũng như thế. … Nếu thông đạt các ác
phi ác, đều là thật tướng, tức là hành phi đạo mà thông đạt Phật
đạo. … Nếu người ở trong ác cho là ác, không được tu đạo, người như
vậy măi măi làm kẻ phàm. V́ trong ác có đạo, cho nên tuy làm điều tệ
ác mà được thành Phật, cho nên ác chẳng chướng đạo, đạo cũng chẳng
ngại ác”.
“Ác chẳng
chướng đạo, đạo chẳng ngại ác”, đây là một cách phát biểu gan dạ, là
lư luận được triển khai từ lư luận “Sanh tử tức Niết-bàn”, “Phiền
năo tức Bồ-đề” trong tư tưởng Bát-nhă. Tư tưởng Bát-nhă trải qua quá
tŕnh triển khai như vậy, hạnh Bồ-tát mới có khả năng kết hợp với
cuộc sống hiện thực của nhân quần xă hội. Nhưng đáng tiếc là do sự
hạn chế của thời đại, luận thuyết của ngài Trí Khải vẫn c̣n dừng lại
ở trạng thái huyền học.
Sau ngài
Trí Khải viên tịch 80 năm, vị Tổ thứ 6 của Thiền tông là Huệ Năng
xuất thế hoằng pháp. Theo ĐÀN KINH, Ngài được khai ngộ từ câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Về sau, Ngài khuyên tăng tục phụng tŕ
Kinh Kim Cang Bát-nhă theo đường lối của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, đủ thấy
Ngài rất tâm đắc với tư tưởng Bát-nhă. Trong phẩm Bát-nhă của ĐÀN
KINH, Ngài dạy :
“Phải
biết, kẻ ngu người trí, Phật tánh vốn không sai biệt, chỉ do mê ngộ
không đồng mới có ngu trí. … Phàm phu tức Phật, phiền năo tức bồ-đề.
Niệm trước mê tức phàm phu. Niệm sau ngộ tức Phật. Niệm trước chấp
cảnh tức phiền năo, niệm sau ĺa cảnh tức bồ-đề. … Ngộ pháp này tức
là vô niệm, vô ức, vô trước, không sanh hư dối. Dùng tánh chân như
của chính ḿnh, đem trí huệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không
thủ không xả, tức là kiến tánh thành Phật. … Vô niệm là ǵ ? Nếu
thấy tất cả pháp, tâm không nhiễm trước, đó là vô niệm. Dùng th́
khắp tất cả chỗ, cũng không chấp tất cả chỗ. Chỉ cần làm thanh tịnh
bản tâm, khiến cho sáu thức chạy ra sáu cửa tiếp xúc với sáu trần
không nhiễm không tạp, đến đi tự do, thông suốt vô ngại, tức là
Bát-nhă tam-muội tự tại giải thoát, gọi là hạnh vô niệm. Nếu trăm
vật không nghĩ, làm cho niệm bặt hết, tức là pháp phược, cũng gọi là
biên kiến. Này thiện tri thức ! Người ngộ pháp vô niệm, muôn pháp
đều thông; người ngộ pháp vô niệm thấy cảnh giới chư Phật; người ngộ
pháp vô niệm đến địa vị Phật”.
Đoạn văn
này không khác chút nào với các đoạn văn được diễn trong Kinh
Bát-nhă và Luận Đại Trí Độ ở phần trước, nhưng Lục Tổ đặc biệt nhấn
mạnh “bất thủ bất xả”, “muôn pháp đều thông” của hạnh vô niệm, và
phản đối kiến chấp lệch lạc “trăm vật không nghĩ”. Đó là đem giáo lư
Bát-nhă “vô đắc vô ngại” dung quán với sinh hoạt thực tiễn hằng
ngày. Nh́n theo tinh thần này, tất cả sự vật tuy biến ảo vô thường,
nhưng Chân như pháp tánh rơ ràng rất gần gũi với con người, dở chân
hạ chân đều là đạo tràng, đúng là chỗ tột cùng của cái “sẵn có”. Duy
từ cái “sẵn có” này mới có thể đốn ngộ, và có một quan điểm riêng về
pháp môn tu tŕ của Thiền tông. Như khi luận về công đức tạo chùa độ
tăng bố thí cúng dường của vua Lương Vơ Đế, Lục tổ Huệ Năng nói :
“Thật không có công đức, đừng nghi lời của Sơ Tổ. Lương Vơ Đế tâm
tà, không biết chánh pháp, tạo chùa độ tăng, bố thí cúng dường gọi
là cầu phước, không thể đem phước cho là công đức. Công đức ở tại
trong Pháp thân, chứ không tại tu phước”.
Ngài luận
về cầu sanh Tây phương : “Người mê niệm Phật cầu sanh Tây phương,
người ngộ tự tịnh tâm ḿnh. … Người Đông phương tạo tội niệm Phật
cầu sanh Tây phương, người Tây phương tạo tội cầu sanh về nước nào ?
Kẻ phàm ngu không rơ tự tánh, không biết tịnh độ trong thân, nguyện
Đông nguyện Tây, người ngộ chỉ ở tại nơi đây. V́ thế Phật dạy : Tùy
theo chỗ đang ở mà thường an lạc”.
Và luận về sự
tu hành tại gia và xuất gia : “Nếu muốn tu hành, tại gia cũng được,
không cần phải ở chùa. … Ta nói bài tụng Vô Tướng cho mọi người
nghe, nếu y theo đây tu hành th́ không khác ǵ thường ở với ta. Nếu
không y theo đây tu hành th́ dù cạo tóc xuất gia cũng không ích ǵ
đối với đạo. Tụng rằng :
Tâm
b́nh chẳng nhọc tŕ giới
Hạnh thẳng
đâu cần tu thiền
Báo ân
nuôi dưỡng cha mẹ
Nhân nghĩa
già trẻ thương nhau
Khiêm
nhường sang hèn ḥa thuận
Nhẫn nhịn
điều dữ không sanh
Nếu hay
siêng gắng hành tŕ
Nhất định
có ngày kiến tánh”.
Những lời
dạy trên đây đều thoát khỏi giáo điều, siêu việt kiến giải tầm
thường, phải nói đây là một sự biểu hiện từ huyền đàm hướng đến chất
phác b́nh dị trong quá tŕnh phát triển tư tưởng Phật giáo tại Trung
Quốc. Sau Lục Tổ, kiến giải này được các Thiền sư tiếp tục phát
triển, như Mă Tổ Đạo Nhất nói : “Tự tánh xưa nay sẵn đủ, chỉ cần ở
trong thiện ác mà không trệ ngại th́ được gọi là người tu đạo. Lấy
thiện, bỏ ác, quán không, nhập định đều thuộc về tạo tác”. Và dạy :
“Đạo chẳng cần tu, chỉ cần đừng nhiễm ô. Thế nào là nhiễm ô ? Hễ có
tâm sanh tử tạo tác, muốn đạt đến, đều là nhiễm ô. Nếu muốn lănh hội
ngay ư này, th́ tâm b́nh thường là Đạo”. Ngài Hoàng Bá Hy Vận dạy :
“Nói nín, động tĩnh, tất cả thanh sắc đều là Phật sự th́ t́m Phật ở
đâu ? Không nên trên đầu chồng thêm đầu, trên miệng đặt thêm miệng”.
Kiến giải
của các Thiền sư Trung Quốc chất phác b́nh dị, phát ngộ giống như
tiếng chuông giữa đêm khuya hoặc tiếng sét giữa trời trong mây tạnh,
chỗ nào cũng có thể làm cho người ta ngộ. Các ngài vận dụng lời nói,
động tác một cách linh hoạt để hiển thị tư tưởng Bát-nhă phù hợp sâu
sắc với yêu cầu từ bác học đến b́nh dị của đa số Phật giáo đồ Trung
Quốc. Do đó, Thiền tông từ Lục Tổ về sau dần dần che trùm hết các
tông phài khác của Phật giáo Trung Quốc.
Người tập
đại thành của tông Hoa Nghiêm là Pháp Tạng. Ngài sửa đổi 4 giáo của
tông Thiên Thai thành 5 giáo : Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên. Nhưng
cống hiến trác việt của Ngài chính là học thuyết “Vô tận duyên khởi”
hay “Pháp giới duyên khởi” nhằm thuyết minh về Pháp tánh (Lư) đối
với Pháp (Sự). Qua 4 pháp giới(1) và 10 huyền môn(2) , Ngài dùng
Pháp (Sự) và Pháp tánh (Lư) “dung” “tức” vô ngại để giỉai thích tư
tưởng Bát-nhă hết sức cụ thể. Về sau, tuy có ngài Trừng Quán thừa
kế, nhưng các trứ tác của Ngài chỉ bổ sung phần nào học thuyết của
ngài Pháp Tạng chứ không có kiến giải nào mới. Có thể nói học thuyết
này cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển tư tưởng Bát-nhă, nhưng đại
đa số Phật giáo đồ Trung Quốc đều lấy pháp môn của Thiền tông làm
chuẩn.
Tư tưởng
Bát-nhă truyền vào Trung Quốc dần dần phát triển cấu thành h́nh thức
huyền học, c̣n tư tưởng Bát-nhă tại Ấn Độ phát triển cấu thành h́nh
thức Mật giáo. Sự bất đồng này do truyền thống văn ḥa của hai nước
khác nhau. Các học giả Phật giáo Trung Quốc hiện nay cho rằng tư
tưởng Bát-nhă là chân lư mà Đức Phật đă khai sáng cho nhân loại,
chẳng những không có ǵ phá hoại được mà vẫn c̣n soi sáng một cách
sinh động tại Trung Quốc. Ngày nay, chúng ta hăy vận dụng lư luận
khoa học và phương pháp thực nghiệm mới để khắc phục các khuyết điểm
như tính huyền học (của tông Thiên Thai, Thiền tông, tông Hoa
Nghiêm) và tính thần bí (của Mật giáo) th́ tư tưởng Bát-nhă sẽ là
phương thuốc hữu hiệu mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
Cự Tán -
Cs. Định Huệ (dịch)
(Trích trong
CỰ TÁN TẬP)
Chú
thích :
(1) Bốn
pháp giới :
Sự pháp
giới.
Lư pháp
giới.
Lư sự pháp
giới.
Sự sự pháp
giới.
(2) Mười
huyền môn :
Đồng thời
cụ túc tương ưng môn.
Quảng hiệp
tự tại vô ngại môn.
Nhất đa
tương dung bất đồng môn.
Chư pháp
tương tức tự tại môn.
Bí mật ẩn
hiển câu thành môn.
Vi tế
tương dung an lập môn.
Nhân-đà-la
vơng cảnh giới môn.
Thác sự
hiển pháp sanh giải môn.
Thập thế
cách pháp dị thành môn.
Chủ bạn
viên minh cụ đức môn.
(Nội
san Suối nguồn 06 Huệ Quang)