
Khía cạnh thực tế của đạo Phật
Viên Minh - Trần Minh Tài
Nhiều người khi
t́m hiểu Phật Giáo đă đặt ra những câu hỏi xa vời như: Niết Bàn là ǵ? Làm sao
biết có kiếp sau? Vũ trụ do đâu mà hiện hữu? Con người từ đâu đến và sau khi
chết họ sẽ đi về đâu? v.v.
Nhưng ít khi họ
nghĩ đến những vấn đề thiết thực như: Đạo Phật có đáp ứng được những nguyện vọng
của chúng ta trong hiện tại không? Đối với Đạo Phật, làm thế nào để sống một đời
sống hạnh phúc? Đạo Phật có chủ trương xây dựng một xă hội lành mạnh hay không?
Thực tế hơn nữa,
câu hỏi mà chúng ta nên đặt ra nhất là: nhân loại đang đau khổ v́ tranh dành lẫn
nhau ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quyền lợi, danh dự v.v. Vậy Đạo Phật có giải
pháp nào giúp con người thoát khỏi những khổ đau ấy không?
Không phải vấn
đề "Niết Bàn hay kiếp sau" hoàn toàn không nên đặt ra để bàn căi, suy luận,
nhưng có những vấn đề thiết thực và cấp bách hơn cần được giải quyết ngay trong
chính đời sống hằng ngày của chúng ta.
Trong một cuốn
sách viết về Phật Giáo, Đại Đức Ananda nhấn mạnh: "Bí
quyết của đời sống thành công và hạnh phúc là luôn luôn làm những việc cần phải
làm trong hiện tại, không thắc mắc cho tương lai, không hối tiếc quá khứ."
Nguyện vọng của
con người là làm sao để sống một đời sống hạnh phúc, mà bí quyết để tạo nên hạnh
phúc phải được thực hiện ngay trong hiện tại.
Chính Đức Phật
cũng chỉ muốn giải đáp những vấn đề thiết thực như hạnh phúc của con người chẳng
hạn, khi Ngài dạy trong kinh Samyutta Nikàya (Tương Ưng) rằng: "Không
nên phiền muộn, hối tiếc những ǵ đă qua, không nên ṭ ṃ t́m hiểu những ǵ chưa
đến. Hăy sống trong hiện tại".
Nhiều lần Đức
Phật từ chối trả lời những vấn đề nguồn gốc vũ trụ và con người. Ngài dạy rằng,
một người đi rừng bị trúng tên độc, nên để cho thầy thuốc nhổ tên và băng bó,
cứu chữa hơn là khư khư hỏi cho bằng được kẻ nào bắn tên, thân thế y ra sao, anh
ta sinh trưởng ở đâu v.v. Vị thầy thuốc cũng có thể trả lời cho nạn nhân thoả
măn, nhưng ông ta nhận thấy rằng việc chữa trị vết thương cho nạn nhân mới thiết
thực và cấp bách hơn.
Đó là chúng ta
chưa nói, nếu Niết bàn là tuyệt đối, siêu việt th́ chúng ta làm sao dùng những
lời lẽ, những danh từ tương đối, chủ quan để bàn căi được? Nhiều cuốn sách viết
về Niết bàn, Phật tánh v.v. đă cho chúng ta thấy càng bàn luận, vấn đề càng bị
hạn hẹp, khô cứng trong rừng ngôn từ ước định. Có khi c̣n làm vấn đề sai lạc
khiến cho độc giả hiểu lầm nữa là khác.
Cũng có khi
chúng ta không nên đặt những vấn đề quá cao siêu vượt khỏi tŕnh độ hiểu biết
của ḿnh. Như một em bé học tiểu học hỏi toán giải tích hay những vấn đề siêu
h́nh học th́ thật là vô ích, v́ nếu có giảng giải cho các em th́ vấn đề càng rắc
rối thêm, càng khó hiểu thêm. Do đó các em nên tập làm tính cộng, trừ, nhân,
chia mới hữu ích hơn.
Mục đích của Đạo
Phật không phải nhằm thỏa măn tính ṭ ṃ của con người, mà làm thế nào để "chuyển
mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc"
cho nhân loại. Và người muốn được chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc không thể
chỉ t́m hiểu hay bàn căi suông mà phải hành theo lời giáo huấn của Chư Phật.
Đức Phật dạy
nguyên nhân của mọi đau khổ là vô minh và ái dục, hay nói một cách khác chính
ḷng tham lam, sân hận, si mê là nguồn gốc của mọi tranh chấp, oan trái để rồi
đem lại những lo âu sầu muộn, bất măn. Đó chính là những yếu tố làm cho đời sống
thoái hóa và khổ đau.
Ngày nọ, có một
vị tỳ khưu đang thực hành đời sống xuất gia phạm hạnh trong rừng bỗng nhiên phát
tâm hoan hỷ tự bảo ḿnh rằng: "Hạnh
phúc thay! Hạnh phúc thay!".
Rủi vô ư nói lớn
quá làm cho những người bạn của ngài nghe được và đem thuật lại với Đức Phật.
Đức Thế Tôn muốn nhân cơ hội này thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, nên cho gọi vị
Đại Đức ấy đến hỏi nguyên nhân.
Vị Đại Đức trả
lời rằng: "Quả
thật con có thốt ra những lời như thế, v́ trước kia con là một vị vua có đủ ngọc
ngà châu báu, cung phi mỹ nữ, quân binh tướng sĩ... nhưng không ngày nào con cảm
thấy yên tâm, luôn luôn con lo sợ bị ngoại xâm, bị nổi loạn và bị cướp ngôi nên
phải lo điều binh khiển tướng, trấn giữ biên thùy. Thế mà vẫn phải lo ngại, khổ
tâm. Trái lại, từ khi xuất gia, tuy chỉ có Tam Y, Nhất Bát nhưng lại không có
điều ǵ lo sợ, tâm con nhờ thế được an vui tự tại."
Đức Phật bèn dạy
các thầy tỳ khưu rằng nếu các thầy sống đúng theo đời sống phạm hạnh, không bị
dục lạc chi phối th́ đời sống sẽ được an vui hạnh phúc.
Kinh
Sàmannaphala trong D́gha Nikàya (Trường Bộ) thuật rằng một hôm Đức Thế Tôn ngự
tại Ràjàgha (Vương xá), vua Ajatasastu (A xà thế) đến hỏi Đức Phật về những lợi
ích hiện tại của đời sống tu hành.
Ngài dẫn chứng
những quả báo thiết thực và dậy rằng các vị Sa môn đă xuất gia chân chính, nếu
biết giữ ḿnh theo Giới, Định, Huệ, cố gắng diệt trừ tham, sân, si th́ đời sống
tự tại, giải thoát sẽ đến với họ ngay trong kiếp hiện tại chứ không cần t́m đâu
xa cả.
Mặc dù mục đích
tối hậụ của Đạo Phật là chứng ngộ Niết Bàn, nhưng như chúng ta đă thấy mục đích
thực tế nhất vẫn là "đem vui, cứu khổ". Bởi v́ nếu trong hiện tại ta được an vui
tự tại th́ kiếp sau dĩ nhiên cũng được an vui tự tại. Nếu hiện tại ta được thanh
tịnh, không c̣n phiền năo khổ đau th́ chính là Niết Bàn ở đó vậy.
Chúng ta đồng ư
với một số người cho rằng điều kiện của một đời sống hạnh phúc là có sức khoẻ,
có tiền tài và có địa vị trong xă hội. Nhưng đời sống hạnh phúc thật ra chưa hẳn
đă hoàn toàn tùy thuộc vào những điều kiện vật chất như thế... V́ nếu một người
khỏe mạnh, đem sức khỏe của ḿnh làm những điều tội lỗi th́ chẳng được ích lợi
ǵ. Người giàu sang sống bỏn sẻn, không tri túc, tham lam vô độ th́ đă chẳng t́m
được hạnh phúc cho chính ḿnh mà lại c̣n làm hại đến kẻ khác. Người có địa vị
nhưng lại lạm dụng quyền hành th́ chỉ rước thêm oan trái oán thù.
Như thế, tiền
tài danh vọng chưa phải là yếu tố tiên quyết cho một đời sống hạnh phúc. Trái
lại điều kiện đem lại an vui là có tinh thần lành mạnh. Và một tinh thần chỉ có
thể gọi là lành mạnh khi không bị dục lạc, oán thù hay mê loạn chi phối.
Trong kinh
Dhammapada (Pháp Cú) Đức Phật dạy :
Giữ thân trong
sạch, hạnh phúc biết bao.
Giữ khẩu trong sạch, hạnh phúc biết bao.
Giữ tâm trong sạch, hạnh phúc biết bao.
Thật vậy, nếu
tất cả đều trong sạch th́ quả là hạnh phúc cao thượng.
Qua đoạn kinh
trên, ta thấy Đạo Phật chủ trương bí quyết cho đời sống hạnh phúc là phải sống
trong sạch, thanh khiết từ lời nói, việc làm, cho đến những ư nghĩ thầm kín. Đức
Khổng Tử cũng đồng một quan điểm đó khi Ngài dạy trong Tứ Thư rằng mọi người
phải biết: "Tu kỳ thân, chánh kỳ tâm, thành kỳ ư" th́ thiên hạ mới thái b́nh.
Trong
Pháp Cú
kinh, Đức Phật dạy rằng muốn giữ cho hành động, lời nói, ư nghĩ được trong sạch,
chân chính th́ phải "tránh xa các điều ác, làm các điều lành và giữ tâm trong
sạch" (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ư, thị chư Phật giáo).
1. Tránh các
điều ác:
Đức Phật dạy giới luật với mục đích giúp chúng ta tránh các điều ác; nghĩa là
giữ thân, khẩu trong sạch. Đối với hàng cư sĩ Ngài dạy ngũ giới:
Không sát sinh:
là để rèn luyện đức tánh từ bi. Người không giết hại sanh linh, dù là sinh mạng
của người khác hay loài càm thú như thế họ sẽ không gây thêm oan trái, oán thù.
Một trong những điều kiện tạo nên đời sống an lành là không có kẻ thù nghịch.
Không trộm cắp:
Người trộm cắp luôn luôn lo sợ bị truy tố trước pháp luật và chính ḷng họ cũng
thường bị ray rứt, ân hận. Trái lại, người biết tri túc, biết nuôi mạng chân
chính không bao giờ phải lo sợ như thế. Không lo sợ th́ đời sống sẽ được vui
tươi.
Không tà hạnh:
Trong một gia đ́nh nếu vợ chồng ḥa thuận, tin yêu, v́ chồng giữ đúng bổn phận
làm chồng, vợ biết lo tṛn phận sự làm vợ, không đứng núi này trông núi nọ và
chung lo xây dựng gia đ́nh th́ đó chính là một gia đ́nh đầm ấm.
Ba điều trên
giúp cho thân trong sạch hay nói một cách khác là để kiểm soát hành động hằng
ngày của ḿnh. Và hai điều sau đây có mục đích giữ khẩu thanh tịnh:
Không nói dối:
là để rèn luyện đức thành tín chân thực. Người chân thực và thành tín được mọi
người tín nhiệm, tin tưởng. Dĩ nhiên trong công việc giao tế hằng ngày ai cũng
muốn được tín nhiệm v́ đó là yếu tố thành công trên đường đời.
Không uống rượu:
Không phải chỉ Phật Giáo mà nhiều Tôn giáo khác cũng dạy tín đồ không nên uống
rượu. V́ người say sưa tự hạ phẩm cách của ḿnh. Hơn nữa, theo y học, rượu làm
cho mạch máu không co giản được, dễ bị chứng lưu huyết, thần kinh ở năo cũng bị
ảnh hưởng làm giảm trí nhớ.
Vậy người Phật
tử giữ giới chính là để xây dựng một cuộc sống lành mạnh từ thể chất đến tinh
thần, chứ không phải v́ yếm thế, chán đời.
2. Làm các điều
lành:
để phát triển đức tính vị tha, nghĩa là sẵn sàng giúp đỡ kẻ khác, Đức Phật dạy
phương pháp bố thí. Bố thí cũng c̣n giúp cho chúng ta loại bỏ dần ḷng tham lam
keo kiệt và diệt vọng chấp ở ngă sở. Có ba cách bố thí :
Tài thí:
là tùy phương tiện, tùy khả năng của ḿnh để giúp đỡ kẻ khác trong lúc họ túng
thiếu về vật chất.
Pháp thí:
là tùy cơ hội hướng dẫn kẻ khác sống đúng theo lẽ đạo.
Vô úy thí:
tức là giữ giới hạnh như chúng ta vừa nói ở phần trên. V́ khi giữ giới chúng ta
không hại kẻ khác, không làm cho kẻ khác sợ hăi.
Một người sống
không bỏn xẻn, tâm vị tha, quảng đại và bao dung th́ chắc chắn được mọi người
quí mến. Sống trong một cộng đồng được mọi người kính yêu và khi lâm nguy được
mọi người giúp đỡ th́ không c̣n ǵ hạnh phúc hơn.
Bí quyết cuối
cùng giúp chúng ta sống an vui thư thái là:
3. Giữ tâm hồn
trong sạch:
Đức Phật dạy: không có ǵ hạnh phúc bằng tâm hồn yên tịnh. Và danh ngôn Pháp
cũng nói rằng: "Sự
yên lặng và b́nh an của tâm hồn ngọt ngào hơn các lạc thú".
Thật vậy, khi tâm hồn không bị tham lam, sân hận, si mê, chi phối th́ ta sẽ sống
vô cùng b́nh tĩnh và sáng suốt. Đó cũng chính là hạnh phúc cao thượng nhất.
Phương pháp hoàn
hảo nhất để giữ tâm hồn trong sạch là tham thiền. V́ theo nguyên nghĩa của chữ
Jhana (Thiền na) là đốt cháy phiền năo. Chính những phiền năo như tham, sân, si,
phiền muộn, bức rức, luyến tiếc... làm cho đời sống chúng ta đau khổ. Khi những
phiền năo này đă bị đốt cháy th́ hiển nhiên chúng ta được an vui tự tại.
Chúng ta hăy
nghe Paul Adam, một học giả uyên thâm giáo lư Đức Phật đă viết trong bài thơ sau
đây :
"Bao
kẻ đi t́m trong quá khứ,
Vạn pháp huyền vi của cuộc đời
Bao kẻ t́m trong ngày sẽ lại
Cành hoa chớm nở đượm màu tươi
Nhưng ngươi nên hăy hóa ḷng ngươi
Thành đỉnh trầm trong cảnh lặng thôi".
Nói tóm lại, Đạo
Phật tuy cao siêu nhưng không quá xa vời thực tế, đúng như một học giả Tây
phương đă nói: "Đạo
Phật là một phương pháp sống thực".
http://phattuvietnam.net/tuhoc/hocphat/5918.html
Ư nghĩa thực
chứng của Đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni
Viên Minh - Trần Minh Tài
Sau khi Thái tử
Sĩ-Đạt-Ta rời bỏ cung điện nguy nga giă từ vợ đẹp con thơ đi t́m chân lư, Ngài
đă trải qua không biết bao nhiêu thử thách nguy khó. Nhưng mục đích chuyến đi
của Ngài là t́m cho bằng được một lối thoát để giải phóng cho ḿnh và chúng sinh
ra khỏi ṿng sinh tử luân hồi, nên Ngài không quản khó khăn hiểm trở.
Không t́m được
Chân Thiện Mỹ nơi các thầy Bà La Môn, Ngài cương quyết thực hành phương pháp khổ
hạnh. Chưa một ai trong lịch sử nhân loại kiên tŕ khổ hạnh như Ngài. Ngay cả
tuyệt thực, tiết chế hơi thở cho đến khi thân thể hao ṃn, thịt khô máu cạn, chỉ
c̣n da bọc xương cũng không lay chuyển được ư chí sắt đá của Ngài.
Mặc dù ư chí
kiên cường nhưng xác thân đă quá kiệt quệ. Một hôm Ngài ngă quị bên ḍng sông Ni
Liên Thiền (Neranjarà). Khi tỉnh dậy, Ngài mới nhận ra rằng con đường khổ hạnh
đến tột cũng chỉ là hành hạ thân xác, mà trí tuệ lại càng thêm thoái hóa.
Mặc dù không lợi
dưỡng, nhưng cần phải có một xác thân tráng kiện th́ tâm hồn mới lành mạnh, trí
tuệ mới minh mẫn. Như một nhạc công sử dụng đàn, nếu dây lên quá căng th́ sẽ
đứt, nhưng nếu quá chùng th́ đàn sẽ không thành tiếng, chỉ có dây lên vừa phải
th́ tiếng đàn mới thanh tao. Cũng vậy, chỉ có con đường trung đạo, không lợi
dưỡng, không khổ hạnh ép xác mới đưa đến cứu cánh giải thoát.
Nghĩ như thế,
Ngài liền xuống sông Ni Liên tắm rửa và bắt đầu tŕ trai khất thực. Sau khi thọ
thực, sức khoẻ được phục hồi; Ngài ngồi tĩnh tọa dưới cội cây Bồ đề trên một nắm
cỏ khô và tham thiền nhập định.
Nhờ năng lực an
trụ của chỉ thiền, như một b́nh nước đă được lắng trong không c̣n một chút bợn
nhơ, Ngài cảm thấy tâm hồn khinh an thư thái và sáng suốt lạ thường. Với tâm trí
minh mẫn đó, dần dần Ngài hồi tưởng đến những kiếp sống quá khứ của ḿnh.
Ngài nhớ rơ
trong những kiếp xa xưa ấy Ngài đă sống ở đâu, thuộc giai cấp nào, vui khổ ra
sao và sinh sinh tử tử trong những cảnh giới nào. Tất cả chi tiết trong các kiếp
sống trầm luân của Ngài đă hiện lên trong kư ức rơ ràng như một cuốn phim chiếu
trên màn ảnh. Vào canh một, khi đang chú tâm quan sát những hiện tượng sinh diệt
của kiếp sống, bỗng nhiên Ngài chứng ngộ được tuệ giác đầu tiên tức là
Túc Mạng Minh
(Pubbe nivàsànussàti Nàna).
Kế đến Ngài suy
xét đến kiếp sống thăng trầm của chúng sinh trong ṿng sanh tử luân hồi để t́m
ra nguyên nhân nào khiến cho người th́ sang giàu, kẻ khốn khổ, người thông minh,
kẻ ngu dốt và v́ sao chúng sinh vẫn măi đắm ch́m trong bể sinh tử không thể
thoát ra khỏi định luật vô thường, khổ năo.
Nhờ trí tuệ sáng
suốt, trong canh hai Ngài đă t́m ra giải đáp và chứng ngộ tuệ giác thứ nh́ là
Thiên
Nhăn Minh
(Cutùpapàta Nàna), tức là trí tuệ thấu triệt nguyên nhân sanh tử luân hồi của
tất cả chúng sanh. Ngài biết rằng do nơi nghiệp thiện và bất thiện phát xuất từ
thân, khẩu, ư mà chúng sanh sinh trưởng trong những cảnh giới khác nhau, tŕnh
độ khác nhau.
Đến canh ba,
Ngài lại dùng trí tuệ soi xét và t́m kiếm phương pháp nào khả dĩ chấm dứt ḍng
trầm luân sinh tử. Ngài nhận thức rằng:
"Đây là khổ, là
phiền năo và ô nhiễm. Đây là nguyên nhân đau khổ, phiền năo và ô nhiễm. Đây là
sự diệt tận mọi khổ đau, ô nhiễm. Và đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt mọi
phiền năo khổ đau."
Nhận thức như
thế, tâm Ngài đă được giải thoát ra khỏi dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh
lậu. Từ đó ḍng sinh tử luân hồi đă hoàn toàn chấm dứt đối với Ngài. Đó chính là
tuệ giác thứ ba mà Ngài đă chứng ngộ tức là
Lậu Tận Minh
(savakkhaya Nàna) vậy.
Khi cuộc chiến
thắng vinh quang vừa viên măn, cả tam thiên đại thiên đều rúng động, hào quang
ngũ sắc từ thân Ngài chiếu khắp tam giới. Chư thiên trong mười muôn triệu thế
giới ta bà đều đồng thanh tung hô Ngài là bậc
Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật và Thế Tôn.
Quả thật cuộc
chiến thắng vẻ vang của Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta có một ảnh hưởng sâu xa đối với nhân
loại. Chúng ta không lấy làm lạ khi nhiều người tôn Ngài là bậc vĩ nhân, hoặc
xem Ngài như một nhà đại cách-mạng, giải phóng con người ra khỏi hai thứ xiềng
xích nô lệ: tinh thần nô lệ thần linh, thể chất nô lệ giai cấp xă hội.
Chúng ta thử đưa
ra vài nhận xét về ư nghĩa bài học chiến thắng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
1. Bài học Hy
Sinh và Kiên Tŕ:
Sức chịu đựng gian khổ, Đức tính nhẫn nại bất thối chuyển và ư chí tinh tấn vô
tiền khoáng hậu của Ngài quả là một bài học vô giá đối với những ai muốn noi
gương Ngài đi t́m chân lư. Mặt khác, đức tính hy sinh của Ngài quả thật vô bờ
bến. Mấy ai dám từ bỏ tiền tài danh vọng để đổi lấy đời sống tu hành khắc khổ,
thế mà Thái Tử đă ĺa bỏ cung điện nguy nga và khước từ quyền uy của một vị
Chuyển Luân Thánh Vương để dấn thân vào con đường chông gai hiểm trở, miễn là
thực hiện được lư tưởng tự giác giác tha.
2. Bài học Trung
Đạo:
Thời bấy giờ ai cũng tin tưởng rằng thờ phụng thần linh hoặc khổ hạnh ép xác mới
được cứu rỗi. Có người tương đối sáng suốt hơn cho rằng thân xác là nơi phát
xuất những tội lỗi, những ham muốn nhục dục. Bao lâu không c̣n nô lệ ở thân xác
th́ tâm hồn mới được thanh thoát, do đó họ hành hạ xác thân cho đến khi sức cùng
lực tận để mong thoát khỏi ái dục. Nhưng Đức Phật đă chứng nghiệm rằng khổ hạnh
quá đáng là vô ích, v́ tâm hồn chỉ minh mẫn trong thân thể lành mạnh.
Như vậy chỉ có
con đường Trung đạo, không thái quá, không buông lung, mới đưa ta đến cứu cánh
giải thoát. Con đường Trung đạo đó là phương pháp duy nhất để chế ngự thân,
khẩu, ư hầu hướng dẫn hành động, lời nói và tư tưởng theo lẽ chánh.
3. Bài học Thực
Chứng:
Hầu hết các tôn giáo thời bấy giờ đều dạy phải thờ cúng thần linh và con người
phải quy phục trước uy quyền thưởng phạt của Thượng đế. Sự thực chứng của Ngài
chứng minh rằng tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Bất cứ ai kiên
tŕ, nhẫn nại, tinh tấn bất thối chuyển như Ngài cũng có thể tự ḿnh giải thoát,
giác ngộ và trở thành bậc siêu phàm. Mỗi cá nhân có quyền tự do lựa chọn cho
ḿnh một hướng đi và chịu trách nhiệm về mọi hành động của ḿnh. Trong sạch hay
ô nhiễm, hạnh phúc hay khổ đau, trầm luân hay giải thoát đều do ḿnh tạo ra.
Đây quả là một
cuộc cách mạng giải phóng tư tưởng nô lệ mà trong đó con người phải phục tùng
Thượng đế chứ không thể trở thành Thượng đế của chính ḿnh. Có nô lệ chăng là
con ngừời nô lệ nơi chấp ngă v́ đă tự tạo và tự trói buộc ḿnh trong một thứ
xiềng xích Vô Minh, Ái Dục. Từ sự nô lệ đó con người trở thành phàm phu, thấp
hèn. Chừng nào giải phóng ra khỏi những thằng thúc ấy con người mới được giải
thoát và trở thành thánh nhân, chứ không cần đến một đấng quyền uy cứu rỗi.
Đức Phật cũng là
một nhà đại cách mạng, chủ trương san bằng giai cấp khi Ngài dạy rằng:
"Không có
giai cấp trong nước mắt cùng mặn. Không có giai cấp trong ḍng máu cùng đỏ".
Ngài chứng tỏ rằng một người trong giai cấp hạ liệt có thể tự giác và trở thành
toàn thiện. Trái lại, một người trong giai cấp vua chúa hay Bà La Môn nếu hành
động đê tiện, không sáng suốt th́ vẫn là kẻ hạ liệt.
Chúng ta c̣n học
được ở sự thực chứng của Ngài bài học
"Chiến thắng
được ḿnh là một chiến công oanh liệt".
Bên trong mỗi người đều có một đạo quân rất hùng hậu đang ngự trị đời sống của
họ. Muốn đánh đuổi thứ ngoại xâm đó không phải là dễ, v́ giặc phiền năo đă nằm
ngay trong những phần sâu kín nhất của tâm hồn chúng ta và đă trở thành một thứ
nội tuyến nguy hiểm mà Albert Camus gọi là "Kẻ lạ mặt".
Hành động của
chúng ta hằng ngày bị chúng chi phối mà không hề hay biết. Khi tĩnh tọa dưới cội
cây Bồ Đề, chính Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta đă đối diện với những đạo binh ma này và đă
hàng phục chúng trước khi trở thành bậc Chánh đẳng Chánh Giác. Bất cứ ai muốn
hoàn thành sứ mạng tự giác giác tha phải rèn luyện ư chí quật cường và tinh thần
dũng cảm để phấn đấu v́
"Chiến thắng vạn
quân không bằng tự chiến thắng ḿnh".
Cuối cùng, chúng
tôi xin trích dẫn lời ca ngợi Đức Phật của học giả H. G Wells sau đây: "Nơi
Đức Phật ta thấy rơ ràng là một con người giản dị, có ḷng nhiệt thành; một ḿnh
tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống thực, một con người như mọi
người, chứ không phải một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyện hoang
đường. Ngài cũng ban cho nhân loại lời khuyên bảo có tính cách phổ thông. Nhiều
quan niệm tân tiến và đạo đức của thế hệ tân thời đều tương hợp với giáo lư ấy".
Và Sri
Radhakrishman cũng nói rằng: "Nơi
Đức Phật Cồ Đàm ta nhận thấy một tinh hoa toàn thiện của người Đông Phương, ảnh
hưởng Ngài trong tư tưởng và đời sống nhân loại là một kỳ công hy hữu cho đến
nay không thua kém ảnh hưởng của bất cứ một vị giáo chủ nào trong lịch sử. Mọi
người đều sùng kính, tôn Ngài là người đă dựng nên một hệ thống tôn giáo vô cùng
thâm cao huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh
của người thiện trí. Đứng về phương diện trí thức thuần túy, đạo đức trang
nghiêm và tinh thần minh mẫn, chắc chắn Ngài là một trong những bậc vĩ nhân cao
thượng nhất của lịch sử".
Trích từ sách
Con
đường hạnh phúc |