Định nghĩa và thành phần của chất thải y tế
Chất thải y tế c̣n gọi là chất thải bịnh viện là những
chất phế thải từ bịnh viện qua những dịch vụ y tế như chửa
trị, mổ xẻ, và thử nghiệm. Đại để đó là những quần áo bịnh
nhân và y công, bác sĩ sau khi chửa trị có dính máu và chất
thải của người bịnh, cũng như vi khuẩn, các bộ phận bị tách
rời, hóa chất, thuốc men cùng dụng cụ dùng trong các sinh
hoạt trên. Do đó, phế thải y tế rất dễ bị lây nhiễm và có
nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe con người sống trong môi
trướng bịnh viện, nếu không được xử lư thích đáng. Thông
thường theo ước tính trong 4 Kg phế thải y tế có 1 Kg phế
thải đă bị nhiễm vi khuẩn nguy hiểm.
So với các loại chất thải khác như chất thải rắn trong kỹ
nghệ và phế thải gia cư, đây là một loại phế thải độc hại
hơn cả v́ phế thải y tế có thể trực tiếp ảnh hưởng tức khắc
lên sức khỏe của con người, và hơn nữa có thể có nguy cơ tạo
ra bịnh dịch qua sự lây nhiễm qua một vùng dân cư rộng lớn.
C̣n tính độc hại của hai loại phế thải gia cư và kỹ nghệ có
tính cách lâu dài hơn và khó nhận diện trước mắt.
Cung cách xử lư loại phế thải y tế trên thế giới
Hiện tại, trên thế giới ở hầu hết các quốc gia kỹ nghệ,
trong các bịnh viện, cơ sở săn sóc sức khỏe, hay những công
ty đặc biệt xử lư phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lư
loại phế thải nầy. Đó là các ḷ đốt (incinerators) ở nhiệt
độ cao tùy theo loại phế thải từ 1.000oC đến trên 4.000oC.
Tuy nhiên phương pháp nầy hiện nay vẫn c̣n đang tranh căi về
việc xử lư khí và bụi sau khi đốt đă được thải hồi vào không
khí.
Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí
nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh ra do
quá tŕnh thiêu đốt như: acid cloridric, dioxin/furan, và
một số kim loại độc hại như thủy ngân, ch́, hoặc arsenic,
cadmium. Do đó, tại Hoa Kỳ vào năm 1996, đă bắt đầu các điều
luật về khí thải của ḷ đốt nghiêm khắc hơn và lượng khí
thải hồi phải được giảm thiểu bằng những hệ thống lọc hóa
học và cơ học tùy theo loại phế thải. Cũng như các hạt bụi
phóng thích sau khi đốt phải nhỏ hơn 10 um.
Ngoài ra c̣n có phương pháp khác để giải quyết vấn đề nầy
đă được các quốc gia lưu tâm đến v́ phương pháp đốt đă gây
ra nhiều bất lợi v́ lượng khí độc hại phát sinh thải vào
không khí; do đó các nhà khoa học hiện đang áp dụng một
phương pháp mới. Đó là phương pháp nghiền nát chất phế
thải và xử lư dưới nhiệt
đang phát triển
Đối với các quốc gia đang phát triển, việc quản lư môi
trường chung vẫn c̣n rất lơ là, nhất là đối với phế thải
bịnh viện. Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây, các
quốc gia như Ấn Độ và Trung Quốc đă bắt đầu chú ư đến việc
bảo vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng
các ḷ đốt ở bịnh viện. Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính
ohủ đă ban hành Luật về "Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản
lư". Trong bộ luật nầy có ghi rơ ràng phương pháp tiếp nhận
phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lư và di dời đến
các băi rác. . Do đó, vấn đề phế phải độc hại của quốc gia
nầy đă được cải thiện rất nhiều.
Trong lúc đó Việt Nam hiện nay chưa đặt mối quan tâm đúng
mức về vấn đề nầy, ngay cả đối với rác gia cư và rác kỹ
nghệ. Hà Nội có 36 bịnh viện mà chỉ có một bịnh viện có ḷ
đốt. Tp HCM cũng chẳng khá ǵ hơn, chỉ có 3 ḷ đốt cho trên
100 bịnh viện trong thành phố. Đối với các tỉnh, thị xă c̣n
lại, chúng tôi thiết nghĩ cũng không có bịnh viện nào có
trang bị ḷ đốt cả.
Cho đến hiện nay, chưa thấy có chỉ dấu nào của Việt Nam
về việc cải thiện t́nh trạng quản lư các nguồn rác nói
chung, và phế thải y tế nói riêng. Các loại phế thải rắn và
lỏng là hai vấn nạn môi trường quan trọng nhất hiện tại mà
Việt Nam phải đối mặt và giải quyết một cách rốt ráo. Nếu
Việt Nam không chịu thay đổi cung cách hành xử chúng tôi e
rằng Việt Nam sẽ phải chịu một cơn khủng hoảng môi trường
nghiêm trọng trong một tương lai rất gần.
Mới đây, vào ngày 30-8-2007, TS Nguyễn Thị Xuyên, Thứ
trưởng Bộ Y tế CS Việt Nam cho biết Bộ Y tế yêu cầu các đơn
vị y tế trong cả nước cần thúc đẩy gấp việc kiểm tra, kiểm
soát cũng như thắt chặt việc quản lư, kiểm soát và xử lư rác
thải theo Quy chế quản lư chầt thải y tế. Bộ c̣n yêu cầu cho
đến ngaỳ 30-9 tất cả các bịnh viện, sở y tế, các trung tâm y
tế phải rà soát và báo cáo đầy đủ công tác thu gom, xử lư,
và tiêu hủy chất thải bịnh viện theo đúng quy định, tuân thủ
Luật Bảo vệ Môi trường.
Qua công văn vừa phát ra, chúng ta thấy rơ ràng là Việt
Nam chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của phế thải y tế.
Một vấn đề cấp bách như trên đă tồn tại hàng hai chục năm
qua, mà Bộ Y tế cỉi ra công văn "yêu cầu" giải quyết rác y
tế?
Chính v́ vậy, cho nên t́nh trạnh chung trên 64 tỉnh toàn
quốc vẫn xảy ra nhiều trường hợp cảnh trống đánh xuôi kèn
thổi ngược. T́nh trạng nầy càng tệ haị hơn nữa ở hai nơi cần
phải giữ ǵn hơn cả là ở Hà Nội và Sài G̣n, v́ hai nơi nầy
là hai trung tâm tiếp cận với ngoại quốc nhiều nhất và đông
dân nhất so với các tỉnh khác.
Tại Sàig̣n, hầu hết các bịnh viện trong thành phố chỉ có
trách nhiệm thu gom, phân loại, kiểm soát và chuyển tải rác
y tế về nhà rác; c̣n vấn đề vận chuyển rác đi đâu, xử lư như
thế nào th́ giao cho cơ quan quản lư môi trường. Chính v́ sự
quản lư c̣n lơng lẽo mà t́nh trạng rác y tế ngày càng tê hại
hơn.
Đối với Tp Sài g̣n, đây là thành phố có số lượng bịnh
nhân lớn nhất, trung b́nh hàng tháng có thể thải ra hơn 7
tấn rác y tế gồm kim và ống chích, bông băng, dao mỗ, các
ống plactic chuyền nước biển hay thuốc men v.v.. .Tất cả
được thu gom vào các thùng nhưạ, có ghi mă số riêng và được
chuyển xuống nhà rác. Sau đó là việc của Cty Quản lư Môi
trường, và bịnh viện hoàn ṭan không c̣n chịu trách nhiệm
việc xử lư! Do đó, Cty Môi trường chuyển rác đi đâu, xử lư
như thế nào th́ không ai được rơ cả! Cũng không quên nói
thêm là thành phố c̣n có hàng ngàn văn pḥng khám bịnh và
chữa trị do các bác sĩ hành nghề, và vấn đề thu gom rác y tế
hoàn ṭan không được nêu lên. Đây cũng là một số lượng rác
không nhỏ, gây thêm nguy cơ cho rất nhiều mầm bịnh.
Riêng tại thủ đô Hà Nội, vấn đề quản lư c̣n tồi tệ hơn
nữa, và nhiều tệ trạng mới vùa được nêu ra trên baó chí và
truyền thanh gần đây nói lên sự bất lực của những nhà chịu
trách nhiệm trong lănh vực nầy. Điển h́nh là trường hợp bịnh
viện Việt Đức. Trong nhiều năm qua, bịnh viện đă kư hợp đồng
với Xí nghiệp Xử lư chất thải công nghiệp Y tế thuộc Cty Môi
trường Hà Nội vận chuyển và xử lư rác y tế. Tuy nhiên v́
không ai quản lư khâu xử lư, cho nên Cty trên đă bán lại các
laọi rác có thể tái sinh thay v́ phải xử lư. Điều nầy cũng
xảy r a cho bịnh viện Bạch Mai và một số bịnh viện khác tuy
chưa được khám phá ra. Ngay chính Đài Radio ABC ở Úc châu
trong buổi phát thanh ngaỳ 29/8 vừa qua nêu tin tức gần 300
tấn rác y tế ở Việt Nam ở các bịnh viện Hà Nội đă được tái
sản xuất thành các dụng cụ dùng trong kỹ nghệ ăn uống như
muỗng nĩa, dao nhựa, các loại ly chén nhựa, các thùng chứa
bằng nhựa v.v…
Phế thải y tế lơng
Ngoài phế thải rắn vừa kể trên, chúng ta cũng không quên
một lượng nước thải y tế. Từ trên 1.000 bịnh viện trên ṭan
quốc hiện tại, theo thống kê của VN hiện chỉ có 1/3 có hệ
thống xử lư nước thải, đặc biệt là ở trung ương và các thành
thị lớn. Tuy nhiên trong số trên chỉ có một phần nhỏ đạt
được tiêu chuẩn môi trường. Nhiều nơi có cũng như không v́
hệ thống không được bảo hành sau đó bỏ không với lư do là
không có kinh phí cho tiến điện và hóa chất cùng nhân viên
điều hành…Ở nhiều bịnh viện lớn ở thành phố, nước thải chỉ
qua bồn chứa rồi chải thẳng vào sông rạch.. Thí dụ như bịnh
viện Việt Đức, cơ sở ngoại khoa lớn nhất nước, thực hiện
hàng chục ngàn ca mổ mỗi năm mà vẫn chưa có nhà máy xử lư
nước thải đúng tiêu chuẩn. Sài g̣n c̣n trên 35 bịnh viện
chưa có hệ thống xử lư nước thải và 40 bịnh viện hệ thống
không đạt tiêu chuẩn.
Theo Sở Tài nguyên & Môi trường Hà Nội, trong số 400 ngàn
m3 nước thải đổ vào sông Nhuệ, sông Đáy mỗi ngày, có độ
khoảng phân nửa là nước thải bịnh viện. Từ đây cho thấy mầm
bịnh trên các sông rạch chằn chịt ở Việt Nam đang bị ô nhiễm
như thế nào v́ các mầm bịnh sinh học, thậm chí cả phóng xạ,
virus đừơng tiêu hóa, bại liệt, kư sinh trùng, liên cầu, tụ
cầu, Salmonella v.v… Thêm nữa, những mầm bịnh nầy chu du
khắp nơi, xâm nhập vào các loại thủy sản, cây trồng, nhất là
thủy canh như rau muống chẳng hạn. Từ đó, con người sau khi
tiếp nhiễm với các mầm bịnh trên, nguy cơ ung thư và các
bịnh hiễm nghèo khác sẽ tăng rất nhanh. Đối lại, Sài G̣n
cũng không khá gí hơn với trên 17 ngàn m3 nước thải y tế
lơng thải vào sông rạch hàng ngày.
Từ những thông tin nêu trên đây, chúng ta nhận thức được
t́nh trạng rác y tế ở Việt Nam đă được quản lư tồi tệ cũng
như các viễn kiến để giải quyết vấn đề hầu như không được
những người đang nắm quyền lực lưu ư đến.
Đề nghị hướng giải quyết
Đứng trước t́nh trạng cấp bách về việc xử lư phế thải y
tế, cũng như khả năng tài chính của các bịnh viện không thể
nào trang trải cho chi phí thiết lập một ḷ đốt, một số
phương cách giải quyết trước mắt để có thể điều chỉnh và hạn
chế được chất thải nầy. Tuy nhiên, vấn đề chỉ có thể giải
quyết từng bước một khi có sự tham gia của nhà cầm quyền.
Đối với các bịnh viện có bịnh nhân dễ bị nhiễm trùng và
truyền nhiễm cao như các bịnh viện nhiệt đới, nhà bảo sinh,
nhà nước bắt buộc bằng giá nào cũng phải xây ḷ đốt càng sớm
càng tốt. Thêm nữa cần phải tăng cường kiểm soát việc quản
lư các ḷ đốt của bịnh viện. Và việc làm cấp yếu tức thời
đối với những bịnh viện c̣n lại là phải hạn chế chất thải y
tế tối đa.
Ở các quốc gia kỹ nghệ, song hành với việc xử lư phế
thải, Cơ quan Bảo vệ môi trường sở tại thường thiết lập
chính sách khen thưởng bằng cách giảm thuế cho cơ sở sản
xuất nào áp dụng chương tŕnh giảm thiểu phế thải. Mức độ
khen thưởng tùy theo điều kiện và mức độ độc hại cho mỗi quy
tŕnh. Trong trường hợp chất thải y tế, sau đây là một số
gợi ư về phương cách để làm giảm thiểu chất thải:
- Trước hết, trong bịnh viện không nên xử dụng bao tay,
áo choàng, khăn trải v.v..bằng chất dẽo nhân tạo như PVC,
mà được thay thế các dụng cụ trên bằng cao su thiên nhiên
(latex).
- Thủy ngân trong các hổn hợp kim loại dùng trong việc
trám răng, trồng răng, cũng như Ch́ (Pb) dùng làm điện cực
của pin trong các hệ thống theo dơi nạn nhân bị bịnh tim
v.v… sẽ được tái xử dụng bằng phương pháp tái sinh hóa
học.
- Một số trang phục và hệ thống hô hấp trong pḥng mổ có
thể được tiệt trùng và dùng lại nhiều lần.
- Các dung môi thông thường trong bịnh viện như benzen,
toluene, xylen có thể được xử dụng lại qua hệ thống chưng
cất phân đoạn.
Tóm lại, bịnh viện có thể xử dụng lại tất cả những dụng
cụ, hóa chất nào có thể tái sinh được và làm dúng theo quy
định về an toàn y tế.
Ngoài ra, c̣n rất nhiều phương cách để giảm thiểu phế
thải y tế cho từng bịnh viện chuyên ngành khác.
Nếu làm được một số việc căn bản đan cử trên đây, chúng
ta đă hạn chế được một phần nào t́nh trạng ô nhiễm, giảm
thiểu lượng chất thải và mức độ độc hại của chúng, và nhất
là giảm thiểu được chi phí điều hành.
Sau hết, với sự tham gia đúng mức của các thành phần nhân
sự trong bịnh viện từ nhân viên quản lư đến nhân viên y tế,
cùng bịnh nhân sẽ chứng minh mức độ thành công của chương
tŕnh giảm thiểu chất thải nói chung.
Mai Thanh Truyết (West
Covina, 9/2007)