|
Khâm Sai Gia Định Thành
Tổng Trấn Chưởng Tả Quân
Quận Công Lê Văn Duyệt
(1764 -
1832)
GS Nguyễn Thanh Liêm
|
[Dưới thời Gia Long- Minh Mệnh, Gia Định bao gồm tất cả các
tỉnh Miền Nam từ Phan Thiết đến Cà Mau, tức là Nam Kỳ Lục
Tỉnh sau nầy. Gia Đnh thời đó là cả vùng Đồng Nai Cửu Long
ngày nay. Làm Tổng Trấn Gia Định thời đó cũng chẳng khác nào
làm Thống Đốc Nam Kỳ thời Pháp thuộc hay Thủ Hiến Nam Việt
thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Năm 1832 sau khi Dức Tả Quân Lê
Văn Duyệt từ trần, chế độ Tổng Trấn Gia Định mới bị băi bỏ.
Minh Mạng chia trấn Gia Định thành nhiều tỉnh.]
Khâm sai ChưởngTả Quân Lê
Văn Duyệt sinh năm Giáp Thân (1764) tại Cù Lao Hổ, cạnh Vàm
Trà Lọt nay thuộc làng Ḥa Khánh, tĩnh Định Tường. Nội tổ là
Lê Văn Hiếu từ Quảng Nghĩa thiên cư vào Nam. Thân phụ là Lê
Văn Toại và thân mẫu là Phúc Thị Hào, sau này rời Vàm Trà
Lọt đến cư trú bên Rạch Ông Hổ (vùng Rạch Gầm) nay thuộc
làng Long Hưng Tây tỉnh Định Tường.
Ngài
sinh ra đă mang tật kín (ái nam) nên tính khí cũng khác
người thường. Thuở nhỏ thường không chịu đi học mà chỉ thích
làm bẩy, làm giỏ, bắt chim, đánh cá, nhất là đá gà và tụ tập
các trẻ trong làng, chia phe tập trận đánh giặc. Rất khỏe
mạnh, rất thông minh, giỏi vơ thuật, tuy không có đi học
nhiều, nhưng biết rất nhiều về truyện Tàu cùng các anh hùng
hảo hán cũng như tư cách, tài năng và cách xử sự của họ ở
trong đời. Ngài có chí lớn, mới 15 tuổi đă có câu nói "sinh
ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công
danh vào sử sách không phải là trượng phu."
Năm 17
tuổi Ngài đă có dịp cứu Chúa Nguyễn Ánh cùng vài người tùy
tùng khỏi tử thần. Đêm hôm đó Nguyễn Ánh bị quân Nguyễn Lữ
đuổi gắp. Nhờ mưa to gió lớn thuyền của quân Nguyễn Lữ không
đuổi theo được thuyền Nguyễn Ánh. Nhưng khi đến Vàm Trà Lọt
th́ thuyền chở Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng bị sóng lớn làm
cho suưt bị ch́m. Ngài xuất hiện kịp lúc, đỡ thuyền Nguyễn
Ánh đưa vào bờ, giúp Nguyễn Ánh thoát nạn. Biết Nguyễn Ánh
là ḍng dơi chúa Nguyễn, cụ Lê Văn Toại hết sức cung kính,
lo lắng cho Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng cho họ tạm trú ở đây
mấy hôm. Sau đó Nguyễn Ánh lại phải tiếp tục t́m đường lẩn
trốn đoàn quân Nguyễn Lữ đang lục soát các nơi lùng bắt. Lúc
chia tay Nguyễn Ánh cám ơn ông bà Lê Văn Toại với lời hứa là
sau này sẽ trở lại đem Lê Văn Duyệt theo.
Giữ
đúng lời hứa, năm 1786 sau khi lên ngôi Chúa ở Gia Định,
Nguyễn Ánh trở lại Vàm Trà Lọt cám ơn vợ chồng ông Lê Văn
Toại đă giúp ông trong cơn hoạn nạn, và tuyển dụng Lê Văn
Duyệt làm thái giám. Từ đó Ngài xả thân pḥ Chúa Nguyễn Ánh,
cùng với Nguyễn Văn Thành đánh Nam dẹp Bắc, lập nhiều công
trận lớn
lao, được phong đến tước Quận Công. Khi vua Gia Long
thống nhất giang san, lên ngôi Hoàng Đế, Đức Tả Quân Lê Văn
Duyệt được liệt vào hàng Đệ Nhất Khai Quốc Công Thần, với
đặc ân được vào chầu vua không phải lạy và được đặc quyền
"tiền trảm hậu tấu" nơi biên thùy. Gia Long thăng hà, Ngài
tiếp tục pḥ vua Minh Mạng cho đến hết cuộc đời mặc dù Ngài
không kính phục thương mến ông vua này chút nào cả. Minh
Mạng cũng không ưa ǵ Ngài nhưng phải dùng đến Ngài cho đến
hết cuộc đời. Tuy vậy năm 1823 Ngài cũng được Minh Mạng ân
thưởng ngọc đái với lời dụ: "Từ xưa hoàng tử, chư công chưa
ai được ân tứ ngọc đái, nay khanh đă nhiều văng tích, lại
kiến tân
lao nên đặc biệt ân tứ vậy."
Năm
1831 người bạn thân nhất của Ngài là Lê Chất, Tổng Trấn Bắc
thành ĺa đời khiến Ngài vô cùng thương xót. Sau cái chết
của Lê Chất, Minh Mạng băi bỏ chế độ tổng trấn ở Bắc Việt,
đổi làm tỉnh, cử những chức vụ mới như Tổng Đốc, Tuần Phủ,..
Năm sau Đức Tả Quân xin từ chức Tổng Trấn Gia Định nhưng nhà
vua không cho, bắt buộc Ngài phải ở lại. Nhưng chỉ mấy tháng
sau thôi th́ Ngài lâm trọng bệnh và mất ngày 30 tháng 7 năm
Mậu Th́n (nhằm ngày 15 tháng 8 năm 1832) hưởng thọ 69 tuổi.
Miếu mộ của Ngài được xây cất tại B́nh Ḥa Xả (Gia Định),
nơi người dân Đồng Nai kính cẩn gọi là "Lăng Ông," "Lăng Ông
Thượng," hay đền thờ Đức Thượng Công, và các thiện nam tín
nữ Trung Hoa tôn xưng là "Pḥ Mă Da Da Miếu."
|
NHỮNG
ĐỨC TÍNH CAO QUƯ CỦA ĐỨC THƯỢNG CÔNG
|
Thanh
liêm, ngay thẳng, trong sạch
Ngài là
một vị quan rất mực thanh liêm, trong sạch. Dù có quyền hành
thật lớn trong tay, Ngài không hề hiếp đáp kẻ dưới, không hề
lấy của ai bất cứ tiền bạc hay của cải ǵ. Nhiều khi Ngài
c̣n bỏ tiền túi ra để làm việc hữu ích cho dân. Ngài đi tới
đâu là làm sạch sẽ tới đó. Tất cả những quan viên lớn nhỏ
dưới quyền kiểm soát của Ngài cũng đều phải trong sạch,
thanh liêm như Ngài. Quân lính của Ngài rất có kỷ luật,
không hề phá phách, cướp bốc của dân. Ngài cai trị đến đâu
là những kẻ nhũng lạm, hại dân đều phải rơi đầu đến đó, bất
kỳ người đó là ai.
Khi
được triều đ́nh cử đi dẹp loạn ở nơi nào, Ngài cũng cho điều
tra kỹ để biết rơ nguyên nhân tại sao dân nổi loạn. Khi biết
chắc nguyên nhân của cuộc nổi loạn là do nơi đám quan lại sở
tại tham nhũng, bức hiếp dân chúng, làm cho dân chúng quá
khổ sở, không thể nào sống được nên phải nổi loạn, th́ Ngài
thẳng tay trừng trị bọn quan lại tham nhũng trước rồi kêu
gọi những kẻ làm loạn trở về đầu thú với triều đ́nh, sống
lại cuộc đời lương thiện. Nhờ chính sách sáng suốt và rộng
răi đó mà Ngài đă dẹp loạn ở nhiều nơi một cách nhanh chóng,
hữu hiệu, mà không tốn kém tiền bạc và nhân mạng. Chính sách
này đă được Ngài cho áp dụng trong chiến dịch chiêu hồi Mọi
Vách Đá vào những năm 1807 và 1808. Trong chiến dịch này
Ngài đă cho xử trảm Chưởng Cơ Lê Quốc Huy, một tên đại tham
nhũng, để đem b́nh yên an cư lạc nghiệp lại cho dân chúng.
Năm 1819 Ngài được cử đi kinh lược hai trấn Thanh, Nghệ. Ở
đây Ngài cũng áp dụng chính sách nói trên, thẳng tay trừng
trị bọn quan lại tham ô rồi chiêu dụ những kẻ làm loạn trở
về với triều đ́nh. Đặc biệt là Ngài cho lập ra ba đội lính
"Hồi Lương" (An Thuận, Thanh Thuận, và Bắc Thuận) gồm những
thành phần nổi loạn đă trở về với triều đ́nh.
Việc
làm nổi tiếng nhất của Ngài là xử tử Huỳnh Công Lư, Phó Tổng
Trấn Gia Định. Huỳng Công Lư là cha của một bà thứ phi rất
được vua Minh Mạng sủng ái. Ỷ thế cha vợ vua, Huỳng Công Lư
vơ vét tiền của của dân chúng, hà hiếp kẻ yếu, hối lộ ngang
nhiên trắng trợn. Tiếng kêu ca thấu đến tai Ngài Tổng Trấn,
Ngài cho điều tra tận gốc. Có đủ bằng chứng Ngài dâng sớ lên
triều đ́nh hài rơ tội trạng của Huỳnh Công Lư. Sợ triều đ́nh
vị nể cha vợ của vua, không dám thẳng tay trừng trị, Ngài
bèn ra lệnh xử trảm Huỳnh Công Lư trước khi có lệnh giải tội
phạm về kinh của vua Minh Mạng. Từ thời Gia Long, Ngài đă
được triều đ́nh ban cho cái quyền "tiền trảm hậu tấu" (xử
trảm trước rồi sẽ tâu lại với triều đ́nh sau) để sử dụng ở
biên cương hầu kịp thời đáp ứng với t́nh thế.
Về đức
tính thanh liêm trong sạch của bậc cha mẹ dân, Ngài là một
tấm gương vô cùng sáng chói cho người làm quan cũng như
nhiều công chức ở Miền Nam sau này.
Dũng cảm,
quả quyết, trọng nhân ái
Đức
thanh liêm của Ngài gắn liền với ḷng dũng cảm. Ngài có cái
dũng của đấng nam nhi, của bậc trượng phu, anh hùng. Ngài
không rụt rè, e ngại hay sợ sệt khi phải hành động đúng lẽ
phải và công lư. Hoàn cảnh có khó khăn nguy hiểm đến đâu
Ngài cũng mạnh dạn dấn thân v́ ḷng trung quân ái quốc, v́
dân v́ nước. V́ sự thanh liêm trong sạch, v́ lẽ phải Ngài
không bao giờ hèn yếu khuất phục trước bất cứ kẻ quyền thế
nào dù người đó là nhà vua đi nữa. Trường hợp Huỳnh Công Lư
trên kia là một thí dụ điển h́nh. Ngoài ra khi vua Minh
Mạng, v́ tư thù và v́ sợ bị mất ngôi, đem xử tội Tống Thị
Quyên, vợ của Hoàng Tử Cảnh, một cách oan uổng, th́ chỉ một
ḿnh Ngài can đảm dâng sớ lên vua xin tha tội cho người này.
Việc làm của Ngài không khỏi làm cho Minh Mạng bực tức, giận
ghét Ngài thêm, nhưng v́ lẽ phải Ngài vẫn cứ làm. Hai lần
Minh Mạng cử người vào Nam giữ chức vụ quan trọng đều bị
Ngài gởi trả lại triều đ́nh v́ những người này chỉ là những
kẻ tham tàn, hại dân hại nước mà thôi. Một trong những người
đó là Bạch Xuân Nguyên mà sau này sẽ là đầu mối của cuộc nổi
loạn ở trong Nam do Lê Văn Khôi chủ xướng. Minh Mạng không
ưa thái độ xem như ương ngạnh của Ngài nhưng vẫn rất nể sợ
tài năng, đức độ của Ngài nên không dám làm ǵ trong lúc
Ngài c̣n sống, mà lại ôm ấp ḷng giận ghét để sau này t́m cơ
hội báo thù. Quan trọng nhất là việc Ngài không chịu thi
hành lệnh cấm đạo hết sức gắt gao của Minh Mạng. Ngài cho
rằng việc cấm đạo, bắt bớ giết chóc các nhà truyền giáo và
các giáo dân, bế môn tỏa cảng không cho người Tây phương vào
giao dịch, buôn bán, là một chính sách hết sức sai lầm.
Trong Gia Định trấn (từ Phan Thiết đến Cà Mau), dưới sự cai
trị của Ngài, không có sự cấm đạo và cũng không có sự bế môn
tỏa cảng. Ngài không phản bội nhà Nguyễn, luôn luôn bảo vệ
nhà Nguyễn, rất mực trung thành với nhà Nuuyễn, nhưng Ngài
luôn luôn can đảm làm trái lệnh nhà vua nếu việc làm của
Ngài có lợi cho quốc gia, cho triều đ́nh, và cho người dân
Nam Việt.
Trung
quân, ái quốc
Ngài
luôn luôn trung thành với các vua nhà Nguyễn. Thuở thiếu
thời Ngài đă theo pḥ vua Gia Long, vào sinh ra tử với nhà
vua. Khi Gia Long mất, Ngài tiếp tục pḥ vua Minh Mạng, mặc
dù Ngài không có thiện cảm với vị vua này. Ngài kính nể
thương yêu hoàng tử Đán, con trai của hoàng tử Cảnh hơn. Cho
nên khi Gia Long hỏi ư Ngài và Nguyễn Văn Thành về việc chọn
người nối ngôi, th́ Ngài và Nguyễn Văn Thành đều nói nên
chọn hoàng tử Đán v́ hoàng tử Đán là con trai lớn của hoàng
tử Cảnh, là cháu đích tôn của nhà vua, và hơn nữa, theo Ngài
th́ hoàng tử Đán rất khôn ngoan nhân từ, những đức tính
không t́m thấy ở nơi hoàng tử Đảm. Vua Gia Long chỉ hỏi cho
có hỏi vậy thôi, chớ thật sự nhà vua đă có quyết định rồi.
Nhà vua đă chọn thái tử Đảm làm người nối ngôi, v́ theo nhà
vua th́ hoàng tử Đán c̣n quá trẻ (mới 12 tuổi) lại có tính
khí hiền ḥa giống như hoàng tử Cảnh, và như vậy sợ không
gánh vác nổi việc lớn của triều đ́nh. Thái tử Đảm, theo ư
Ngài, là người không có ḷng đại lượng vị tha, ngược lại,
ông ta là kẻ có trái tim vị kỷ, nhỏ nhen, tàn bạo, ông ta
rất thông minh nhưng cũng vô cùng nham hiểm. Biết vậy nhưng
Ngài vẫn giữ một dạ trung quân ái quốc cho đến hơi thở cuối
cùng.
Uy
Nghiêm, cứng rắn, nhưng rộng răi, anh hùng
Ngài
rất nghiêm nghị, rất uy nghi, ít có người dám nh́n thẳng vào
mặt Ngài, kể cả những huân cựu đại thần ở trong triều. Chính
vua Gia Long cũng công nhận rằng Ngài là bậc khai quốc công
thần tính nghiêm mà thẳng, trị quân theo quân pháp, không nể
nang bất kỳ ai. Nhất là đối với vua quan Xiêm và Chân Lạp.
Họ rất nể sợ Ngài. Nhưng với dân chúng th́ Ngài rất mực
thương yêu, nhất là đối với những người biết hối cải th́
Ngài lại rất bao dung rộng lượng. Nhiều kẻ nổi loạn, chống
lại triều đ́nh, đáng tội chết, vậy mà khi họ biết hối cải,
trở về với triều đ́nh th́ Ngài lại dung tha và c̣n cấp ruộng
đất cho họ để họ làm ăn sinh sống. Ngài chủ trương rằng khi
ḿnh đă dùng chính sách chiêu dụ họ về hàng, th́ khi họ về
với ḿnh ḿnh phải giữ đúng lời hứa, nếu không ḿnh không
phải là kẻ trượng phu, không c̣n xứng đáng với ḷng tin của
kẻ khác. Mất ḷng tin th́ những kẻ phiến loạn sẽ không cải
tà quy chánh nữa, và loạn lạc sẽ kéo dài không biết đến bao
giời mới hết.
Rất sáng suốt, thấy xa,
hiểu rộng, có chính sách cai trị vô cùng khôn ngoan
Ngài là
một người thấy xa, hiểu rộng, và rất sáng suốt trong việc
cai trị. Ở địa vị Tổng Trấn Gia Định (xem như như một Phó
Vương cai quản cả Miền Nam nước Việt), với tất cả quyền hành
trong tay, Ngài đă đem lại cho người dân Miền Nam một nền
ḥa b́nh thịnh vượng chưa từng có trong lịch sử nước nhà.
Đối ngoại Ngài đă thần phục Cao Miên và làm cho Xiêm La nể
sợ không c̣n dám ḍm ngó phá phách Việt Nam. Ngài chấp nhận
giao thương với các nước Tây phương cũng như Trung Hoa, Miến
điện chớ không nhắm mắt theo lệnh triều đ́nh đóng cửa rút
cầu không cho người ngoại quốc vào nước ḿnh buôn bán. Ngài
không thi hành lệnh cấm đạo của Minh Mạng, làm ngơ để cho
các giáo sĩ được tự do truyền giáo ở trong Nam. Ngài chủ
trương tôn giáo nào cũng tốt, cũng có nền đạo đức luân lư
giúp con người sống lành mạnh tốt đẹp. Ngài bảo: "Đạo Thiên
Chúa nước nào không có. Người ta đâu có ngăn cấm, sao nước
ḿnh lại đặt ra cái chỉ dụ kỳ cục vậy. Gây cảnh nồi da xáo
thịt lại mang tội với đời sau". Thay v́ bế môn tỏa cảng theo
lệnh của triều đ́nh th́ Ngài lại sẵn sàng đón nhận các phái
bộ ngoại quốc đến xin tiếp xúc giao thương. Thay v́ xem nhẹ
việc buôn bán th́ Ngài lại khuyến khích thương mại để đem
nhiều quyền lợi về cho quốc gia dân tộc. Đối nội Ngài làm
cho dân chúng được yên ổn làm ăn, lại tạo ra cơ hội để người
dân góp phần phát triển kinh tế trong vùng. Ngài cho đào
kinh, làm đường sá để cho sự giao thông trong nước cũng như
giữa Việt Nam và Cao Miên được dễ dàng. Ngài khuyến khích
người dân khẩn hoang lập ấp, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp.
Ngài tạo điều kiện tốt cho các giống dân (Trung Hoa, Miên,
và người ngoại quốc khác) sống ở đây hội nhập vào xă hội
Việt Nam mới này để cùng chung sức làm cho đất nước được
phồn thịnh. Về xă hội, nghĩ đến những người đă hy sinh v́
nước để vợ con bơ vơ thiếu thốn, Ngài cho thiết lập hai cơ
quan từ thiện là "Anh hài" và "Giáo dưỡng" để lo cho vợ con
các chiến sĩ vị quốc vong thân. Tuy xuất thân là một vơ
quan, Ngài vẫn chú trọng đến việc phát triển văn hóa. Ngài
dùng tiền do triều đ́nh ban thưởng cho cá nhân Ngài để xây
Văn Thánh Miếu khích lệ việc học của các sĩ tử.
Công lao
to tát đối với dân Đồng Nai Cửu Long
Công
lao của Ngài đối với người dân vùng Đồng Nai Cửu Long
thật vô cùng to tát. Đó là công phát triển Miền Nam, làm cho
vùng này trở nên vô cùng trù phú với một nền an ninh hết sức
vững chắc (bởi chiến lược bảo vệ và pḥng thủ phía Nam và
phía Tây rất hữu hiệu của Ngài), làm cho dân Miền Nam được
an hưởng ḥa b́nh thịnh vượng, trong một xă hội trật tự
nhưng cởi mở, tiến bộ. Trong lần hội kiến với Ngài tại Gia
Định thành, Phan Thanh Giản đă hết sức kính phục thố lộ:
"Gia
Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng Trấn như đại
quan. Tôi ở Kinh Thành, ở Bắc Thành vào Gia Định thấy như đi
qua một nước khác. Ở dọc sông th́ trên bến, dưới thuyền, ghe
thuyền san sát, lúa gạo ngh́n nghịt. Vải vóc, đồ thau, đồ
đồng, đồ sứ, đồ gốm, thảo mộc quư, quế, trầm, hồi thật là
không thiếu thứ ǵ. Trên đất liền, nhà cửa phố xá san sát,
khang trang. Đường đi lại lát gạch, lát đá sạch sẽ mát mắt.
Cảnh
dân theo đạo Thiên Chúa trốn chui, trốn nhủi như ở ngoài Bắc
Thành, Kinh Thành, ngoài Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định,
vào đây không thấy. Cha truyền giáo vẫn đi lại b́nh thường
trên đường phố. Tôi thật mừng. Ḿnh làm quan thấy dân vui là
ḿnh vui. Làm quan chỉ biết vui phần ḿnh thật đáng trách."
Năm
1822 một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu có đến yết
kiến Ngài Tổng Trấn. Trong dịp này Crawfurd thú nhận: "Đây
là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài G̣n) và Pingeh (Bến
Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua ǵ kinh đô
nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó c̣n sầm uất hơn, không khí
mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lư hơn và an
ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đă đi
qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lư tưởng."
Sau đó ông c̣n ghi lại trong quyển nhật kư của ông về những
sinh hoạt của thành phố Sài G̣n lúc đó và tiếng tăm của Ngài
Tổng trấn như sau:
"Thành
phố Saigun không xa biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành phố
Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun độ 3 dặm.
Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành tŕ nằm ở
bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán
tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đă
trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung
Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có
nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí
an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng
trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn
năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố t́nh không chịu
quy phục triều đ́nh. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn
trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị
cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ Tổng trấn biết
được cũng bị phạt rất nặng.
Ở đây
chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác,
các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền
theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nh́n dân chúng hân
hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính
trọng vị Tổng trấn của họ.
Con
người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nh́n cởi
mở hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu kinh
sử của Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất
Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng biển
Đông."
Ngài vô
cùng linh hiển đối với người dân Đồng Nai Cửu Long
Tương
truyền rằng tướng tinh của Ngài là con cọp bạch. Người ta
thấy lúc Ngài ngủ ban đêm con cọp bạch thường hiện ra chập
chờn bên cạnh Ngài. Lúc chưa theo pḥ Nguyễn Ánh, Ngài
thường dùng thần lực oai nghiêm của ḿnh làm cho những con
cọp hay về bên Rạch Ông Hổ phải khiếp sợ bỏ đi. Người ta
cũng truyền tụng rằng những con hổ mà Ngài cho nuôi để giao
đấu rất sợ Ngài, luôn luôn nghe lệnh chỉ bảo của Ngài. Con
voi (đặt tên Ba Sao) của Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất tặng
Ngài là con voi rất dữ dằn không ai trị nổi. Mỗi khi nổi cơn
giận lên là nó phá phách, dày xéo một cách khủng khiếp,
không ai có thể làm ǵ được nó. Chỉ một ḿnh Ngài đến trước
con vật khổng lồ, gọi tên nó, là Ngài làm cho nó dịu lại và
tuân theo lệnh Ngài ngay.
Rồi một
hôm nghe đồn ở Tây Ninh có một cô gái tên là Lư Thị Thiên
Hương rất là linh hiển, Ngài bèn đến tận nơi để biết thực
hư. Lúc Ngài đến th́ cô Lư Thị Thiên Hương nhập vào xác một
cô gái đến nói với Ngài như sau: "Tôi xin mách bảo trước cho
Thượng Quan được biết là hồn của Thượng Quan sau này sẽ được
phong thần và sẽ rất là linh hiển, nhưng xác của Thượng Quan
th́ sẽ bị hành hạ, mả bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét
trong 12 năm, sau đó Thượng Quan sẽ được minh oan và sẽ được
phục hồi danh vị cũ."
Sau khi
Ngài mất rồi th́ Minh Mạng băi bỏ tổng trấn Gia Định, chia
ra thành tỉnh, cử Bạch Xuân Nguyên làm Bố chánh sứ tại thành
Phiên An (tức là Sài G̣n). Bạch Xuân Nguyên là kẻ tham tàn
gian ác, trước đây đă được Minh Mạng đưa vào làm Phó Tổng
Trấn Gia Định và đă bị Đức Tả Quân gởi trả lại triều đ́nh.
Vào làm bố chánh lần này, Bạch Xuân Nguyên quyết định trả
mối thù xưa. Biết Minh Mạng không ưa Đức Tả Quân, Bạch Xuân
Nguyên muốn lập công với nhà vua nên kiếm chuyện điều tra,
bới móc, hạch hỏi những tay chân bộ hạ của Đức Tả Quân với
thái độ hách dịch với lời lẽ xúc phạm đến Ngài Tổng Trấn mặc
dù Ngài đă là người thiên cổ. Con nuôi của Đức Tả Quân là Lê
Văn Khôi không chịu được thái độ trịch thượng và hành động
lưu manh thù vặt của Bạch Xuân Nguyên nên tỏ ra bất b́nh
chống đối. Bạch Xuân Nguyên đem nhối Lê Văn Khôi và nhiều
người trong đạo lính Hồi Lương của Đức Tả Quân. Nhờ có người
giúp Lê Văn Khôi và 27 người khác trong số người Hồi Lương
thoát khỏi ngục bèn nổi lên giết chết Bạch Xuân Nguyên rồi
tổ chức làm loạn chống lại triều đ́nh. Việc làm của Bạch
Xuân Nguyên gây sự công phẫn lớn
lao trong đám quân nhân cũng như dân chúng Miền Nam
v́ ở đây ai ai cũng mến thương kính nể Đức Tả Quân xem Ngài
như vị thần bảo hộ cho người dân vùng này. Cho nên chỉ trong
ṿng một tháng tất cả 6 tỉnh Miền Nam đều theo Lê Văn Khôi.
Thanh thế của Lê Văn Khôi rất lớn làm cho Minh Mạng hết sức
lo sợ phải cử một đoàn binh hùng tướng mạnh vào Nam dẹp
loạn. Cuối năm này (1833) Lê Văn Khôi bị bệnh chết nhưng đám
người theo ông vẫn cố thủ trong thành. Quân triều đ́nh bao
vây bên ngoài nhưng không làm ǵ được. Măi đến năm 1835
lương thực cạn khô thành Phiên An mới bị hạ. Có 6 tội phạm
bị đóng cũi gởi về Kinh, c̣n tất cả binh sĩ và nam phụ lăo
ấu trong thành (cả thảy 1831 người) đều bị chém hết và chôn
chung trong một hầm gọi là "Mă Ngụy". Đối với Đức Tả Quân,
Minh Mạng cố dằn cơn giận, dụ rằng: "Lê Văn Duyệt tội nhiều
đếm không xuể, càng nói càng đau ḷng, bổ quan tài mà chém
xác cũng không quá đáng. Nhưng nghĩ rằng nó chết đă lâu, c̣n
cái xương khô trong mă cũng chẳng cần gia h́nh. Nay sai Tổng
Đốc Gia Định đến chỗ mă Duyệt cào bằng, đánh 100 trượng,
khắc to 8 chữ "Quyền Yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ." Từ đó
trên ngôi mộ bị cào bằng của Ngài có một sợi xiềng sắt và
một bia đá có khắc 8 chữ nói trên.
Người
ta kể lại rằng ít lâu sau trong một giấc mơ Minh Mạng gặp
Đức Tả Quân. Minh Mạng hỏi Duyệt đi đâu đó? Đức Tả Quân, mắt
đỏ như hai ḥn than, trả lời: "Không c̣n nhà, đi lang thang
chơi, không ngờ lại bước vào Tử Cấm Thành." Nói xong Ngài
biến mất. Minh Mạng sợ quá cho dẹp bia đá và sợi xích và để
cho con cháu Đức Tả Quân sau này tự sửa đắp mả lại. Dân
trong vùng Gia Định xưa đă đến dựng lên ngôi đền thờ bề thế
gọi là "Lăng Ông." Lăng Ông linh thiêng vô cùng đối với
người dân Gia Định cũng như cả dân chúng Miền Nam nói chung.
Sau này vua Tự Đức nghĩ đến công lao của Dức Tả Quân mới
truy phục nguyên hàm cho Ngài là: "VỌNG CÁC CÔNG THẦN CHƯỞNG
TẢ QUÂN B̀NH TÂY TƯỚNG QUÂN QUẬN CÔNG."
(Đây là
một vụ án hết sức phi lư và phi nhân cho thấy tất cả cái thù
hận nhỏ nhen, cũng như cái tàn bạo nham hiểm của vua Minh
Mạng cùng những tay chân bộ hạ của nhà vua. Không cần biết
nguyên do của sự nổi loạn, không hề nghĩ tới nguyện vọng và
sự an sinh của dân chúng Miền Nam, nhà vua chỉ thấy có tự ái
của nhà vua, chỉ biết mạnh tay sát phạt để thỏa măn ḷng tự
ái của ḿnh. Người ta thường cho Minh Mạng là người học rộng
biết nhiều, thấm nhuần đạo lư Nho giáo. Nhưng trong vụ án
này, người ta không thấy ḷng nhân, chữ nghĩa, cũng như chữ
trí của nhà vua. Người ta thấy ông là một kẻ tiểu nhân hơn
là người quân tử. Đem 1831 người, kể cả đàn bà và trẻ con,
ra chém và chôn chung trong một cái hầm lớn rồi gọi là "Mă
Ngụy" th́ thật là một hành động hết sức phi nhân. Đức Tả
Quân là ân nhân của Nguyễn Ánh và gia đ́nh Chúa Nguyễn, là
đệ nhất khai quốc công thần của Nhà Nguyễn, là một vị Tổng
Trấn giỏi nhất. được dân chúng thương yêu nhất, đáng lẽ Minh
Mạng phải xem Đức Tả Quân như một người cha, phải hănh diện
có được một người bề tôi giỏi giắn trung thành, phải kính nể
một công thần quá cố, đằng này Minh Mạng lại dùng lời lẽ
khiếm nhả, kém nhân từ, hài tội và trừng phạt Đức Tả Quân
một cách nhỏ nhen hèn mọn.)
Cũng từ
đó những người dân từ mọi nơi của Gia Định xưa (từ Phan
Thiết đến Cà Mau) đă đến nơi đây dâng hoa, đốt hương cho Đức
Thượng Công. Không ngày nào hương khói ở đây không nghi
ngút. Rồi khi đêm xuống không khí ở đây âm u rùng rợn, người
ta nghe thấy tiếng ma khóc, tiếng người ngựa rầm rộ đi. Dân
cư ở quanh vùng ban đêm không ai dám đến gần, người đi qua
đường phải lánh xa chỗ ấy. Người ta đồn Ngài rất linh hiển.
Một lần nọ có một đoàn rước sắc thần đi ngang qua lăng miếu
Đức Thượng Công, chiêng trống ầm ĩ mà không cử người vào bái
yết Đức Ông, thế là cả người lẫn kiệu của đám rước tự nhiên
bị quật ngă giữa đường. Sau đó có người chợt nhớ ra vội
hướng vào lăng Ông khấn vái tạ lỗi rồi th́ đoàn rước mới
được đi qua b́nh an. Những người làm việc cho chính quyền,
có đầu óc vô thần, tỏ vẻ xấc láo với thần linh trước miếu
thờ Đức Thượng Công đều bị Ngài trừng phạt nặng nề. Ngày nay
trong dân gian ai cũng nghe nói đến sự hiển linh của Ngài.
Ngài luôn luôn trừng phạt những kẻ gian, kẻ trộm cướp, kẻ
xấc láo vô lễ, kẻ thề thốt man trá trước lăng miếu của Ngài.
Người ta hay nói đến những trường hợp bị "Ông vật", "Ông bẻ
cổ" hay "Ông bắt hộc máu," để chỉ những trừng phạt đó. Trước
đây các cơ quan hay hăng sở có vụ án bí ẩn không t́m ra manh
mối th́ người ta thường đưa các đương sự đến "Lăng Ông" cho
thề trước đền thờ Ngài. Ngược lại nhiều người thường dân làm
ăn lương thiện hay đến cầu xin Ngài giúp cho họ sự b́nh yên,
thành công trong việc làm, thi cử đổ đạt, thành tựu trong
việc cưới xin, bệnh hoạn chống khỏi, vv hầu hết đều được
Ngài chứng tri giúp đỡ. Tiếng đồn về việc Đức Thượng Công
hiển linh thường hay thi ân, giáng họa được truyền tụng mỗi
lúc một lan xa trong dân chúng từ xưa đến giờ và măi măi về
sau này.
Nếu
người dân Đồng Nai Cửu Long xưa kia may mắn có được một nhà
cai trị khôn ngoan, nhân đức, sáng suốt, biết thương dân
thương nước như Đức Thượng Công khi Ngài c̣n tại thế và làm
Tổng Trấn Gia Định thành, th́ ngày nay dân chúng Miền Nam
cũng vô cùng hănh diện và may mắn có một vị thần bảo hộ hết
sức hiển linh như Đức Tả Quân. Tiếc rằng dân Việt Nam nói
chung không được cái may mắn đó v́ triều đ́nh Minh Mạng cũng
như đa số các đại thần của triều đ́nh này không có được cái
khôn ngoan nhân đức và ḷng thương nước thương dân của Ngài
"Chưởng Tả Quân B́nh Tây Tướng Quân Quận Công". Nếu như
triều đ́nh và các đại thần của triều đ́nh này cũng khôn
ngoan, thấy xa, hết ḷng v́ dân v́ nước, áp dụng chính sách
cai trị khôn khéo, cởi mở của Đức Thượng Công đă áp dụng
trong Miền Nam th́ cả nước Việt Nam đă sớm trở thành một
nước tiến bộ hùng cường như Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ XX
rồi, và người dân Việt Nam đă được ấm no hạnh phúc như những
người dân trong các xă hội tiến bộ khác từ lâu. Người đời
sau nếu thật ḷng thương dân thương nước, nếu thật ḷng muốn
cho xă hội tiến bộ, dân chúng ấm no hạnh phúc, th́ nên học
hỏi chính sách cai trị khôn ngoan sáng suốt cởi mở của Đức
Thượng Công. Ngài thật vô cùng xứng đáng làm tấm gương cho
người làm chính trị sau này, xứng đáng được sự nhớ ơn đời
đời cũng như sự tin tưởng phụng thờ và sùng bái ngàn năm của
người dân Nam Việt vậy.
Nguyễn Thanh Liêm
|