|
Môi Trường
Động và Thực
Vật tại Đồng
Bằng Sông
Cửu Long
Nguyễn Đức Hiệp
Môi
trường sinh học ở Việt Nam là môi trường đa dạng với nhiều
động và thực vật quư, từ vùng núi phía Bắc, Trung và Tây
Nguyên cho đến các vùng dọc biển và đồng bằng đến các rừng
ngập nước tiếp nối giữa đất và nước. Đồng bằng sông Cửu Long
là nơi có hệ sinh thái phong phú và đa dạng, chủ yếu là hệ
sinh thái nước (sông và biển) và rừng ngập nước ở vùng trũng
và ven biển.
Đồng
bằng sông Cửu Long được tạo ra bởi phù sa sông Cửu Long ít
nhất là từ 6000 năm trước đây. Con người định cư ở đồng bằng
sông Cửu Long từ lâu đời, bắt đầu được biết đến từ thời Phù
Nam cách đây khoảng hai ngàn năm qua di chỉ Óc Eo ở Long Xuyên
và Kiên Giang. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, th́ hiện nay
(2007) mật độ dân cư ở đồng bằng là 435 người/km2, cao thứ hai
sau đồng bằng sông Hồng (5). Khoảng 17 triêu (20% dân số cả
nước) sống ở đồng bằng sông Cửu Long và tăng trưởng 2.5% mỗi
năm.
I - Tổng quan về
môi trường đồng bằng sông Cửu Long
Diện
tích đồng bằng sông Cửu Long 39000km2 trong đó hiện nay đất
canh tác và định cư là 24000km2 c̣n lại là 5000km2 rừng (đa số
là ngập nước). Ba vấn đề môi trường quan tâm chính mà con
người tác động đến là: nước, đất ruộng, rừng.
(1) Nước
Lưu
lượng sông Cửu Long tuỳ vào khí hậu do gió mùa nhiệt đới mang
đến qua hai mùa mưa và khô ở Đông Nam Á. Mặc dù có biển hồ
Tonle Sap là hồ chứa thiên nhiên điều ḥa một phần lưu lượng
chảy của sông Cửu Long nhưng vũ lượng mưa trong mùa mưa nhiệt
đới ở khắp lưu vực sông Cửu Long từ thượng nguồn ở các phụ lưu
và sông chính đến hạ nguồn rất lớn so với mùa khô, v́ thế thủy
văn của sông Cửu Long có thể được mô tả như sau:
- Mùa
nước nổi (lũ) chiếm khối lượng 85% lượng nước đổ ra biển mỗi
năm, mà đỉnh cao là từ tháng 8 đến tháng 10 (4). Đây là lúc
nước ngập gây khó khăn trong hoạt động dân sinh và ô nhiễm từ
thành phố chảy thoát ra sông nước. Ở những vùng có đê ngăn
nước lụt một phần, nước ô nhiểm không thoát được v́ bị đê ngăn
nước chảy thoát ra, nước ô nhiểm bị tù hảm làm nguy hại đến vệ
sinh y tế công cộng. Nước lũ lụt đa số (85% đến 90%) là từ
sông Tiền và sông Hậu, phần c̣n lại là nước lũ từ đồng bằng ở
Cambodia chảy vào. Đồng Tháp Mười là nơi nước lũ từ Cambodia
tràn vào nhiều nhất so với từ sông Cửu Long (sông Tiền). Trong
hai thập niên của cuối thế kỷ 20, hệ thống kinh rạch, đê đập,
cửa ngăn nước đă được phát triển ở nhiều nơi. Một số kênh ở An
Giang nối với các kênh Rạch Giá, Kiên Giang đổ ra biển ở vịnh
Thái Lan trong mùa nước nổi. Sự thay đổi thủy văn ở một số nơi
dẫn tới vấn đề quản lư lưu lượng nước ở địa phương và giữa
chính quyền các tỉnh trong mùa lũ và mùa khô.
- Mùa
khô, từ tháng 12 đến tháng 5, nước mặn xâm lấn từ biển - đất
phèn (acid sulphate). Rừng tràm dọc biển ngập nước biển do
thủy triều và sản lượng thủy sản thâu nhập ít so với mùa nước
nổi. Với lưu lượng giảm, nước mặn từ biển có nơi vào đến 40km
sâu trong đất liền (7). Hơn 40% đất phía đồng bằng gần biển ở
bán đảo Cà Mau, Tứ giác Long Xuyên, và Đồng Tháp Mười là bị
acid phèn do đó chỉ có thể canh tác 1 vụ mùa lúa mỗi năm.
Nhiều công tŕnh với sự trợ giúp quốc tế như Mekong River
Commission (Ủy hội sông Mekong), UNESCO của Liên Hiệp Quốc...
thiết lập và quản lư tối ưu có hiệu quả các cửa ngăn nước mặn
ở các kênh rạch và giải quyết vấn đề đất phèn, acid sulphate.
Tổng cộng có 12 cửa ngăn nước đă được xây bắt đầu từ năm 1992
và hoàn tất năm 2001 (10). Nhiều vùng v́ thế đă tăng sản xuất
lúa với 2 vụ mùa một năm. Tuy nhiên ở một số vùng khác gần
biển, sản lượng cá tôm thuỷ sản ít đi và v́ thế các vùng ở
đồng bằng gần biển nhất là bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu đă có sự
tranh chấp trong kế hoạch quản lư các cửa ngăn nước mặn. Ngoài
ra vào mùa khô có sự khó khăn là thiếu nước cung cấp trong đời
sống dân chúng ở một số nơi đông dân cư. Nước ngầm được coi là
nguồn tài nguyên quan trọng. Giải quyết vấn đề cung cấp nước
cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Với mực độ dân tăng trưởng
cao, giếng nước cung cấp hiện nay cung ứng không đủ.
Ô
nhiễm môi trường nước chưa phải là vấn đề đáng quan tâm (trừ
một số vùng dân cư, khu công nghiệp mới và gần các công tŕnh
xây dựng như cầu Cần Thơ), nhưng đang có chiều hướng tăng
trưởng trong tương lai gần. Sự phát triển kinh tế, cơ sở hạ
tầng, quản lư nước thải, chất thải rắn chưa tốt đă và đang ảnh
hưởng đến chất lượng môi trường nước.
-
Dùng phân bón nhiều, thuốc trừ sâu ảnh hưởng đến môi trường
nước và thuỷ sản (nhất là tôm)
- Phá
rừng làm đất canh tác ảnh hưởng đến lượng phù sa và do đó ảnh
hưởng đến thu hoạch thuỷ sản
- Đào
kênh, nước ngập để xả acid trong những vùng đất bị acid gây
acid ở môi trường thoát nước ảnh hưởng đến tôm, cá và rừng
ngập nước. Đă có nhiều bài báo cáo khoa học về vấn đề này. Do
đó cần quản lư, quan tâm tổng thể vào tác động vào môi trường
khi thực hành dự án chống acid phèn. Hết sức thận trọng cân
bằng phát triển tăng thêm đất canh tác và tăng thu hoạch với
bảo vệ hệ sinh thái rừng nước ngập.
-
Dùng nhiều nước cho hai vụ lúa, nhất là vào mùa khô, và phát
triển nhiều kênh rạch. Hậu quả là làm giảm lưu lượng chảy của
sông vào mùa khô, dẫn đến nước mặn lấn sâu vào đồng bằng.
(2) Đất và tài nguyên rừng
Từ
những năm đầu khẩn hoang, khai thác ĐBSCL, lưu dân đă biến đất
rừng thiên nhiên giữa các sông rạch thành đất định cư và canh
tác. Với vùng đất ph́ nhiêu, màu mỡ ở đây, đân số lần lần tăng
nhanh kéo theo sự nới rộng đất ruộng canh tác. Dân phát triển
định cư lấn rừng tràm, vùng nước ngập (wetlands). Trong lịch
sử phát triển th́ đa số thành phố gần sông và từ đó đến nay
phát triển ra các vùng khác c̣n hoang sơ.
Vào
những năm cuối thế kỷ 19, miền Nam c̣n nhiều rừng rậm, dân cư
vẫn c̣n thưa thớt. Các thú vật như hổ, ḅ tót, nai... c̣n
nhiều và hiện diện từ Đồng Nai, Gia Định đến Sóc Trăng, Bạc
Liêu (cù lao Dung ở Sóc Trăng xưa c̣n được gọi là cù lao Hổ).
Như ta biết th́ nay chúng đă biến mất.
Trong những năm vừa qua, sự phát triển kỷ
nghệ nuôi tôm ở các vùng đất ngập gần biển đă biến các rừng
tràm, đước thành đất nuôi tôm, làm ô nhiểm môi trường nước và
đất. Tốc độ phá rừng tăng nhanh, huỷ hại sinh học c̣n có nguy
cơ làm đất sói ṃn, biển lấn v́ lợi ích kinh tế ngắn hạn là
giá quá đắt mà kinh nghiệm vừa qua cho thấy. Để bảo vệ những
vùng thiên nhiên đa dạng sinh học c̣n sót lại, Việt Nam gần
đây đă thiết lập ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) các vườn
quốc gia và khu dự trữ sinh quyển (biospheres). Vườn quốc gia
Chàm Chim ở Đồng Tháp, rừng nước ngập Trà Sư ở An Giang, rừng
quốc gia nước ngập mặn Cà Mau U Minh Thượng, rừng nước ngập
Kiên Lương gần Ḥn Chông ở Kiên Giang là khu dự trữ sinh quyển
(UNESCO Biosphere Reserve). Tất cả có nhiều sinh vật quư hiếm
như chim sếu, cá rái có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Giải
quyết quản lư đất xử dụng là quan tâm hàng đầu để bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, sinh vật, bảo tồn đa dạng sinh học.
(3) Tài nguyên rừng
(a) Rừng tràm Kiên Lương (tỉnh Kiên Giang)
Khu
dự trữ sinh quyển Kiên Giang, rộng 11 triệu hecta, gồm khu
rừng tràm Kiên Lương-Kiên Hải, Vườn quốc gia U Minh Thượng,
Vườn quốc gia Phú Quốc được công nhận bởi UNESCO vào năm 2006.
Đây là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Đông Nam Á và là một
trong năm khu dự trữ sinh quyển quan trọng ở Việt Nam, rất đa
dạng về môi trường như san hô, cỏ biển, ḅ biển (dugong), rùa
biển (ở các ḥn và đảo Phú Quốc), tràm, rái cá, sếu đầu đỏ.
Cách đây vài năm (khoảng thời gian từ 2001 đến 2005), khi khu
rừng pḥng hộ Ḥn Chông được cho phép phá để làm đất nuôi tôm,
số lượng sếu đầu đó đến vùng đất rừng tràm ngập nước thuộc
huyện Kiên Lương đă bị giảm đi. Ngày nay nuôi tôm đă bị cấm
trong khu rừng tràm ngập nước c̣n lại ở Kiên Lương thuộc khu
dự trữ sinh quyển Kiên Giang.

Sếu đầu đỏ
Sếu
đầu đỏ (Grus antigone sharpii, eastern sarus crane), một loài
chim quí hiếm, nằm trong sách đỏ Việt Nam, có nguy cơ tuyệt
chủng. Vào mỗi đầu mùa khô, sếu đầu đỏ bay đến từ bắc Cambodia
và các khu rừng khộp Tây nguyên xuống các rừng ngập nước ở
phía nam như Tràm Chim, Ḥn Chông (Kiên Lương) và biển Hồ
Tonle Sap. Hiện nay c̣n khoảng 300 sếu đầu đỏ thường lui tới
mỗi năm các vùng ngập nước ở Tràm Chim, Kiên Lương. Năm 2004,
các nhà khoa học đă t́m được các tổ sếu ở khu rừng khộp trong
Vườn quốc gia Yokdon thuộc tỉnh DakLak, cho thấy sếu vẫn c̣n
sinh sản ở Tây Nguyên.
(b)
Vườn quốc gia U
Minh Thượng
Hệ
sinh thái rừng U Minh ở bán đảo Cà Mau với con sông Trẹm chảy
giữa rừng, chia rừng thành hai khu vực U Minh Thượng (thuộc
tỉnh Kiên Giang) và U Minh Hạ (thuộc tỉnh Cà Mau). Rừng nguyên
sinh chủ yếu tập trung ở U Minh Thượng, có hàng trăm loại thực
vật, chủ yếu là tràm, móp, mật cật, nhiều loài dương xỉ, tảo
.. nhiều loài ḅ sát và lưỡng thê (trăn, kỳ đà, cá sấu, rùa,
rắn...), các loài chim (như c̣, chim trích..) và côn trùng...
Năm 2001, các nhà khoa học phát hiện ra rừng U Minh có loài cá
lông mũi (rái cá, Lutra sumatrana) quư hiếm nằm trong
sách Đỏ Việt Nam và sách Đỏ thế giới. Cá lông mũi trước đây
c̣n có phân bố ở Thừa Thiên, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau nay
th́ chỉ c̣n ở rừng U Minh. Kế hoạch bảo tồn loài rái cá quư
hiếm này, cũng là một lư do để rừng U Minh trở thành vườn quốc
gia.
Diện
tích rừng vào những năm trước 1950 là khoảng 400000 hecta, đến
năm 1970 c̣n gần 200000 hecta và ở thời điểm 1990 c̣n khoảng
100000 hecta. Số liệu điều tra kiểm kê rừng năm 1995 cho biết
rừng có giá trị bảo tồn thiên nhiên ở U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà
Mau là 4200 hecta (tập trung ở khu vực Vồ Dơi), và Khu bảo tồn
thiên nhiên U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang có diện tích
rừng là 8053 hecta. Rừng U Minh Thượng được chính thức trở
thành Vườn quốc gia vào đầu năm 2002.
Vụ
cháy rừng U Minh năm 2002 vừa qua trong ṿng 21 ngày đêm là
một thảm họa môi sinh. Dưới lớp đất ở rừng U Minh là lớp than
bùn nên sức cháy rất dai dẳng và khó dập tắt. Khoảng 2460
hecta rừng tự nhiên đă bị thiêu trụi. Diện tích rừng ở U Minh
Thượng chỉ c̣n lại hơn 5 ngàn hecta, trong đó rừng tự nhiên
chỉ c̣n khoảng 1 ngàn hecta. Hiện nay một phần rừng tràm đă
tái sinh qua quá tŕnh tự nhiên và tái trồng nhưng vẫn c̣n cần
một thời gian dài để phục hồi. Nguyên nhân cháy rừng là do dân
sống chung quanh rừng U Minh Thượng, chủ yếu là người dân ba
huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, lén vào vào rừng săn thú,
bắt cá, đốt ong, đó là tác nhân gây lửa. Theo các nhà nghiên
cứu, sau vụ cháy rừng năm 2002, số lượng cá giảm, nên rái cá
muốn tồn tại được buộc phải ra ngoài ăn cá nuôi trong ao ruộng
của dân. Nhiều con rái cá đă bị dân đặt bẫy bắt, bị chết và bị
thương, làm công tác bảo tồn loài cá rái hiếm này càng khó
khăn.
(c)
Rừng đặc dụng Trà
Sư
Giữa
những cánh đồng lúa bát ngát thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An
Giang, là rừng tràm ngập nước Trà Sư, được trồng thêm và tái
tạo lại rừng từ những năm đầu thập niên 1980. Rừng Trà Sư được
xếp loại là rừng đặc dụng (special-use forest) được bảo vệ.
Rừng có diện tích 845ha và vùng đệm 645 ha. Đây là vùng đất
acid phèn, ngập nước quanh năm trong khu vực Tây sông Hậu, quy
tụ nhiều loài cây cỏ, các loài chim, thú quư hiếm như c̣
trắng, c̣ đen, điên điển, le le, dơi.. và đôi khi sếu đầu đỏ
đến trong vài năm gần đây. Chưa phải là rừng quốc gia, nhưng
rừng thuộc loại được bảo vệ. Đây là khu du lịch sinh thái mới
đặc sắc vừa được khuyến khích mở để du khách học hỏi về cảnh
quan môi trường rừng tràm ngập nước ở hạ lưu sông Cửu Long
trước khi con người đến khai hoang lập nghiệp. Tuy nhi ên,
hiện nay tỉnh vẫn chưa có kế hoạch quản lư du lich sinh thái
một cách chặc chẻ để giảm tác động vào hệ sinh thái rừng nước
ngập Trà Sư.
(d) Vườn
quốc gia Tràm Chim - Đồng Tháp Mười
Rừng
ngập nước Tràm Chim, cách thị xă Cao Lănh 40km, là khu rừng
duy nhất c̣n lại của vùng trũng ngập nước rộng lớn Đồng Tháp
Mười. Qua các hệ thống kênh rạch, và dân đến lập nghiệp, từ
năm 1975 đến 1995, khoảng 700000 hecta đă được chuyển thành
đất canh tác. Năm 1998, Tràm Chim, rộng khoảng 7600 hecta,
được công nhận là vườn quốc gia để bảo vệ hệ sinh thái đặc
trưng của vùng trũng Đồng Tháp Mười. Đây là vùng đất quan
trọng cho nhiều loài chim hiếm như sếu đầu đỏ đến trú ẩn, kiếm
ăn và nghĩ trong mùa khô. Thủy văn của vườn quốc gia Tràm Chim
đă thay đổi nhiều so với t́nh trạng thiên nhiên do sự thay đổi
đất canh tác chung quanh và h ệ thống kênh đào, rạch do con
người xây dựng. Cháy rừng hiện nay vào mùa khô thường xảy ra
do sự bất cẩn và dân xâm nhập vào rừng là hệ quả của sự thay
đổi thủy văn qua các hệ thống đập, rạch, kênh
Tỉnh
Đồng Tháp là tỉnh phát triển với dân số tăng nhanh. Vừa rồi
nhiều hộ dân đă lấn đ̣i trả lại đất ở khu vực rừng quốc gia
Tràm Chim. Với hơn 40000 dân sống chung quanh mà đa số chưa ư
thức được tầm quan trọng của hệ sinh thái vùng trũng Đồng Tháp
Mười và đội ngủ chỉ có 50 nhân viên kiểm lâm th́ vấn đề quản
lư và bảo vệ Tràm Chim là vấn đề đáng quan tâm hiện nay ở Vườn
quốc gia Tràm Chim.
Nói tóm lại vấn đề môi trường ở đồng bằng
sông Cửu Long tập trung vào chính vào các vấn đề sau
-
Quản lư hoạt động cửa ngăn nước mặn một cách tối ưu để giảm hệ
quả qua sự tăng acid, phèn và sự giảm sút lượng hải sản ở một
số vùng
- Ô
nhiễm do chất thải, phân bón, thuốc trừ sâu và biện pháp xă
chất acid ra môi trường nước qua kênh rạch, làm ảnh hưởng đến
lượng thủy sản và hệ sinh thái
-
Rừng nước ngập và hệ sinh thái bị lấn chiếm, gây nguy cơ cho
sự bảo tồn đa dạng sinh học. Quản lư bảo vệ rừng chưa được
chặc chẻ gây ra cháy rừng, lấn rừng, bắt sinh vật trái phép...
II- Thay đổi khí hậu và đồng bằng sông Cửu
Long
Một
vấn đề lớn về môi trường có ảnh hưởng lớn lao sau này mà Việt
Nam sẽ đối diện là hệ quả của sự thay đổi khí hậu do con người
gây ra trên trái đất. Khoa học cho ta biết ǵ về tác động môi
trường do sự thay đổi khí hậu gây ra?. Trong các bản tường
tŕnh mới nhất của Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change, IPCC) trong năm
2007 về sự thay đổi khí hậu, hệ quả và biện pháp để giảm sự
tăng trưởng nhanh chóng của khí nhà nóng do con người tác động
đến môi trường thiên nhiên cho thấy sự khẩn trương của nguy cơ
thay đổi môi trường lớn lao ảnh hưởng trực tiếp vào xă hội,
kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Một trong những nước bị
ảnh hưởng với tác hại nhiều nhất là Việt Nam. Biến cố và cường
độ thiên tai băo sẽ tăng lên gây thiệt hại nhất ở Trung Việt
Nam và mực nước biển dâng sẽ phá hoại môi trường sống, đất ở
hai vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu
Long ở phía Nam.
Đồng
bằng sông Cửu Long là vựa lúa của Việt Nam và là nơi hơn 40%
dân số tập trung, v́ thế ảnh hưởng khí hậu qua mực nước biển
dâng lên vào nơi đây sẽ có hệ quả xă hội và kinh tế lớn lao
cho cả nước Việt Nam.
Qua
bản tường tŕnh của Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Kỷ nghệ của
Úc (Commonwealth Scientific and Industrial Research
Organisation, CSIRO) ở hội nghị Hobart cuối năm 2006 (3) (9),
cho thấy là tỉ lệ khí CO2 thải ra là mỗi năm tăng
gấp đôi so với những năm trước đây. Trong 4 năm vừa qua, tỉ lệ
tăng mỗi năm là 2.5%, trong khi tỉ lệ trung b́nh từ thập niên
70 ở thế kỷ trước đến nay là 1% tăng trưởng. 4 năm liên tục
trên mức trung b́nh là điều chưa từng thấy từ các dữ kiện đo
được từ trạm quan trắc Cape Grimm ở Tasmania (một tiểu bang ở
cực nam nước Úc) trong 30 năm từ khi khi CO2 được
đo ở đấy, do cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ nghệ CSIRO của
Úc quản lư
Khó
có thể nói là hậu quả trước mắt đă xảy ra trong các năm vừa
qua là do sự tăng tỉ lệ gấp đôi khí CO2 trong các
năm vừa quạ. Nhưng ta chắc rằng khí hậu trên trái đất sẽ có
những thay đổi lớn và có ảnh hưởng trực tiếp vào xă hội con
người do khí CO2 tích tụ trong bầu khí quyển gây
ra. Nhiều hiện tượng xảy ra gần đây là do sự thay đổi khí hậu
của hiện tượng khí nhà nóng lồng kính gây ra từ khi CO2
có quá nhiều trong bầu khí quyển. Ở Nam cực, các băng lớn đă
tan ră ở một số nơi và băng (glacier) biến dần trên các thượng
nguồn của các sông trên thế giới (như vùng Hi Mă Lạp Sơn), là
hệ quả của sự thay đổi khí hậu.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu vào các vùng
duyên hải Việt Nam đă bắt đầu từ năm 1994 (6). Tuy nhiên sự
khẩn trương và kế hoạch quản lư đối phó chưa được quan tâm
đúng mức cho đến khi gần đây, sau khi bản tường tŕnh mới nhất
của IPCC và bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về
hệ quả đến các nước đặc biệt là các nước ở Đông Á (8).
Qua
các nghiên cứu về ảnh hưởng thay đổi khí hậu cho ta thấy viễn
tượng như sau: hạn hán thường xảy ra và kéo dài trong nội địa
trong khi ở vùng duyên hải th́ mực nước biển sẽ tăng cao dần.
Mực nước biển dâng 1m sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến 11% dân số và
3m sẽ ngập 12% diện tích, ảnh hưởng đến 25% dân số, 17% sản
xuất nông nghiệp và 25% sản lượng kinh tế GDP (8). Đồng bằng
sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng nặng nề về kinh tế và xă hội.
Qua các số liệu về nhiệt độ và vũ lượng từ các trạm đo thời
tiết ở Việt Nam, th́ nhiệt độ trung b́nh hàng năm đă tăng từ
24oC đến 24.65oC (1901-1998) nhưng vũ
lượng trung b́nh hàng năm th́ giảm đi 180mm (1901-1998). Riêng
ở đồng bằng sông Cửu Long, th́ nhiệt độ trung b́nh mổi năm
tăng 0.5oC và 0.2oC ở hai trạm Cà Mau và
Sóc Trăng từ năm 1976 đến 2000, và vũ lượng trung b́nh mổi năm
cũng tăng khắp các trạm ở đồng bằng sông Cửu Long (với Sóc
Trăng tăng 340mm, Bạc Liêu 365mm, Mỹ Tho 410mm) (1). Điều này
cho thấy, với mực nước biển dự đoán tăng và vũ lượng hiện đang
tăng ở đồng bằng sông Cửu Long th́ ảnh hưởng của thuỷ văn đến
môi trường và xă hội sẽ lớn hơn hết so với các nơi khác.
Khi
mực nước biển tăng lên, vào mùa khô nước mặn sẽ lấn sâu thêm
vào nội địa, mực nước ngầm dưới đất sẽ tăng làm một số vùng
đất trước đây đă thoát nước trở lại vùng nước ngập. Và qua hệ
thống kênh rạch, đê chằng chịt như hiện nay th́ ảnh hưởng của
mực nước biển tăng sẽ có tác hại nhiều lần so với hệ thống
thủy văn tư nhiên lúc chưa bị con người thay đổi. Thích ứng
của hệ thống tự nhiên lúc nào cũng dễ dàng hơn hệ thống nhân
tạo phức tạp. Trong hai thập niên cuối ở thế kỷ 20, qua sự
phát triển của hệ thống kênh, rạch để phát triển đất canh tác
và để tháo và dẫn nước trong mùa nước lũ ra biển vịnh Thái
Lan, khi mực nước biển dâng lên sẽ dẫn tới nước mặn đi vào
nhiều vùng. Với diện tích đồng bằng thu lại và dân số sẽ cao
so với hiện nay th́ ô nhiểm và sức ép vào môi trường sống c̣n
lại sẽ là một vấn đề nan giải và cần phải có kế hoạch giải
quyết.
Cần có biện pháp ǵ để đối phó
Hiện
nay Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan có trách nhiệm
chính trong lănh vực đưa ra chính sách về khí nhà nóng, kế
hoạch để đối phó với hệ quả do sự thay đổi khí hậu gây nên bởi
khí nhà nóng mà con người thải ra trên trái đất. Bộ nên kết
hợp với các cơ quan chính phủ liên hệ để lập ra một uỷ ban
nghiên cứu về hệ quả kinh tế, môi trường của sự nâng cao mực
biển và thay đổi khí hậu và đề ra những kế hoạch khả thi thích
ứng với khí hậu và thủy văn trong tương lai ở Việt Nam nói
chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.
Những
ǵ chúng ta có thể làm bây giờ chỉ có kết quả 30, 40 năm về
sau v́ hệ thống địa cầu và hệ sinh thái không thể có phản ứng
ngay được. Hiệp ước Kyoto (protocol) cũng chỉ là bước rất nhỏ
không có kết quả nhiều. Cơ chế thị trường carbon, phát triển
trong sạch đang hoạt động nhưng hiện nay chỉ có hiệu quả nhất
định.
Tất
cả các nước trên thế giới đă phát triển và đang phát triển,
cần phải cùng chung một nổ lực thực thi những chính sách và
biện pháp cắt giảm lớn hơn nữa khí thải CO2. Chính
sách năng lượng sạch, chôn khí CO2 (sequestration)
vào những túi dầu đă cạn, hay trong ḷng đất, trồng nhiều cây,
bảo vệ rừng ... là những biện pháp khả thi. Hạn chế khí thải
độc hại là biện pháp chống ô nhiểm chứ không phải làm giảm sự
thay đổi khí hậu.
Riêng
về đồng bằng sông Cửu Long, rừng tràm ngập nước dọc duyên hải
các tỉnh phải được phục hồi và phát triển v́ đó là tuyến đầu
mà biển lấn sẽ ảnh hưởng để giảm đi tác hại của mực nước biển
tăng lên. Sự đối đầu và sức sống phát triển của rừng tràm tuỳ
thuộc vào sự quản lư và lượng phù sa bồi đắp từ sông Cửu Long
dọc cửa sông xuống bán đảo Cà Mau. Các đập trên thượng nguồn
v́ thế có ảnh hưởng không ít đến kế hoạch thích ứng vào sự
thay đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long.
Tài liệu tham khảo
(1)
Dirk
Schaefer, Recent Climate Change and possible impacts on
Agriculture in the Mekong Delta, Vietnam, German
Vietnam-Seminar in Ho Chi Minh City, Vietnam, on Sustainable
Utilisation and Management of Land and Water Resources in the
Mekong Delta, Vietnam, December 17 – 19, 2002.
(2)
Reiner
Wassmann, Nguyen Xuan Hien, Chu Thai Hoanh, To Phuc Tuong, Sea
Level Rise Affecting the Vietnamese Mekong Delta: Water
Elevation in the Flood Season and Implications for Rice
Production, Journal of Climate Change, Volume 66, Numbers 1-2
/ September, 2004, p. 89-107
(3)
M.
Raupach, G. Marland, et al., Global and regional drivers of
accelerating CO2 emission, Proceeding of National
Academy Sciences (PNAS), online version, May 22, 2007
(4)
Takehiko
‘Riko’ Hashimoto, Environmental Issues and Recent
Infrastructure Development in the Mekong Delta, June 2001,
Australian Mekong Resource Centre, Working Paper no. 4,
http://www.mekong.es.usyd.edu.au/publications/working_papers/wp4.pdf
(5)
Tổng cục
Thống kê, Việt Nam,
http://www.gso.gov.vn, 2007
(6)
Nguyen
Ngoc Huan, Vietnam coastal zone vulnerability assessment,
www.survas.mdx.ac.uk/pdfs/3huan.pdf
(7)
Wolanski
E., Nguyen Ngoc Huan, Le Trong Dao, Nguyen Huu Nhan (1996).
Fine Sediment dynamics in the Mekong River estuary. J.
Estuarine Coastal and Shelf Science. No3
(8)
World
Bank, The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries: A
Comparative Analysis”, World Bank Policy Research Working
Paper (WPS4136), February 2007.
(9)
CSIRO,
http://www.csiro.au/news/ps2im.html
(10)
Ian White, Water Management in the Mekong Delta: Changes,
Conflicts and Opportunities, Technical Documents in Hydrology,
No. 61, UNESCO, Paris, 2002,
http://unesdoc.unesco.org/images/0012/001278/127849e.pdf
|