|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU
PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG II
Các Vị Giáo Chủ Hoằng Đạo Sau
Đức Phật Thầy Tây An
GS Nguyễn Văn
Hầu.
III. ÔNG SƯ-VĂI
BÁN KHOAI (Đầu thế kỷ 20)
A. Thân Thế
Ông tên thật là Mỹ, họ ǵ không rơ. Quê quán và lai lịch tổ
tiên nhưthế nào, hỏi không ai biết. Ông có vợ, sanh được hai
con và thường đến Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc).
H́nh dạng nhỏ bé ốm yếu như người đàn bà, trước ngực thường
mang một cái yếm, xa trông giống hệt như một cô văi. Lại nữa,
ông trị bịnh cứu đời hay dùng vải áo, vải khăn của ḿnh mà
cho, nhân thế người ta đặt cho ông cái biệt danh là Ông Sư
Văi.
Vào khoảng năm Tân Sửu (1901) và Nhâm Dần (1902), ông thường
giả dạng thương nhân đi bán khoai ở xứ Cao Miên và trong Kinh
Vĩnh Tế để tùy cơ khuyến thiện người đời. Thấy vậy người đời
mới qen gọi ông là Ông Sư Văi Bán Khoai.
Ông có nhiều pháp thuật và vơ nghệ. Nội ngón tay cái của ông,
mỗi khi cần niệm kinh hay đọc chú, ông dùng cây gỏ vào th́ có
tiếng kêu lốc cốc giống như mơ của cá thầy phù thủy.
Lúc ở Vĩnh Thông, Ông thựng hay đi nhổ bàng để dệt đệm. Mô
ộhôm, ông đang cầm mác thông đi chặt bàng trong đồng,bỗng nghe
có tiếng người lẫn tiếng cọp la hét vang rần gần đó. Ông liền
cầm mác chạy lại th́ thấy ông Mạnh, người cùng xóm, đang dùng
một thế vơ, hai tay nắm chặt bốn chân con cọp và đội thẳng
bụng cọp trên đầu, nhưg v́ gặp phải cọp mạnh quá, ông Mạnh
không đập xuống được mà cũng kh6ng dám thả cọp ra. Ông liền
cầm mác thông nhảy tới, vươn ḿnh lên thật cao, hét lên rồi
chém sả xuống một mác thật mạnh, con cọp bị đút ra làm hai
đoạn mà ông Mạng không hể bị dao phạm chút nào!
B. Vân Du Dạy
Đời
Ông thường bơi xuồng giả dạng người bán khoai để cảnh tỉnh
người đời. Trong Sám Giảng của ông có đoạn chép:
Nào khi Sư Văi Bán Khoai,
Trong kinh Vĩnh Tế ai ai cũng lầm
Mặt cân tôi chẳng biết cầm,
Quê mùa già cả âm thầm biết chi!
Ông c̣n dùng lời lành để kêu gọi dân chúng trở về đường tu,
chẳng những ở Vĩnh Tế, mà khắp vùng Thất Sơn, đâu đâu cũng có
ông.
Hư nên các việc tỏ bày,
Tôi không có ép có nài chi ai.
Thương thay ông lăo bán khoai,
Lên non xuống núi hôm mai dạy đời.
Thân sao nay đổi mai dời,
Xóm kia làng nọ khổ thay thân già!
Nam Mô Đức Phật Di Đà,
Khiến người trở lại thảo gia của người.
Bạc bảy đâu sánh vàng mười,
Hiền lương đâu xứng với người hung hăng.
Khùng như Sư-Văi ai bằng,
Khôn như bợm băi nhiều thằng mang gông.
Lời khuyên khắp hết tây đông,
Chừng nào hết cá dưới sông, hết đời.
Ngoài việc khuyên đời tỉnh thân thiện niệm, Ông c̣n nhắc nhở
bổn phận làm người, và gợi lên tấm ḷng trung quân ái quốc:
Niệm Phật th́ phải chí t́nh,
Ơn cha nghĩa mẹ giữ ḿnh cân phân.
Niệm Phật phải giữ Tứ Ân,
Ơn nhà nợ nước xử phân trọn ngh́.
Và:
Thảo cha ngay chúa xưa nay,
Dẫu mà có thác miễu son tạc thờ
Xem trong các truyện các thơ,
Nịnh thần có thác, miễu thờ ở đâu!
Ông có đến Cù lao Ông Chưởng (Long Xuyên) một lần , và sau
lại, ông trở về núi Cấm.
Chỉ nội trong khoảng hai năm Tân Sửu và Nhâm Dần, người ta c̣n
nghe thấy ông vân du để giáo dụ người đời. Nhưng từ đó về sau,
không ai c̣n biết Ông ở đâu nữa.
Ông để lại một bổn "Sám Giảng Người Đời" (11 quyển) với mục
đích dạy người làm lành lánh dữ và trung nghĩa với Tổ Quốc
giang sơn. Bổn Sám Giảng ấy ngày nay vẫn c̣n truyền tụng.
IV. ÔNG CỬ ĐA (Cuối
thế kỷ thứ 19)
A. Thân Thế
Và Sự Nghiệp Ở Trần Gian
Ông tên thật là Nguyễn Đa. V́ đă thi đỗ vơ Cử Nhân nên người
đời gọi là ông Cử Đa. Lúc mới đến Thất Sơn, nhiều người thấy
tiếng nói của ông phát giọng miền Trung, cho nên cũng gọi ông
là Thầy Huế. Quê ông ở làng Phù Cát (có chỗ chép là Phù Lạc),
huyện b́nh Khê, tỉnh Qui Nhơn, nơi đă từng hun đúc bậc đại anh
hùng cứu quốc: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Ông sanh đẻ năm năm nào và th đỗ khoa nào không ai được biết,
có điều biết rằng khi ông vào tới Thất Sơn th́ chính là lúc
ông Nguyễn Trung Trực đang thất bại ở miền Đông, lui về ẩn náu
ở Ḥn Chông, Kiên Giang (Rạch Giá), khoảng năm 1867-1868. Hồi
ấy có người phỏng định ông được lối 40 tuổi.
Xét ra trong sử Việt và các sách nói về binh chế Việt Nam, th́
trong khoảng trước ngày ông Cử vào Nam, thấy có những khoa thi
vơ vào năm Thiệu Trị thứ năm (1845) và năm Tự Đức thứ 18
(1852) là kai khoa mà với niên kỷ của ông Cử hồi ấy có thể thi
được, nhưng không thấy chỗ nào có ghi chép tên họ các thí sinh
trúng tuyển. Như vậy, ta có thể hiểu được ông Cử thi đỗ một
trong hai khoa này mà thôi, nhứt là khoa Thiệu Trị thứ năm th́
có phần đúng hơn.
Từ khi ông Cử thi đỗ về sau, cánh chim bằng không ngớt tung
bay đây đó để mưu đồ hộ quốc tỳ dân. Khi đến phía bắc miền
Trung, khi vào Thuộc Nhiêu (1) miền Nam, nhưng đến đâu ông
cũng đều gặp phải cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Sau
rốt, bước chân giang hồ mới dừng lại ở Thất Sơn.
Để hiểu rơ tấm ḷng ưu ái kiên trinh đối với giang sơn trong
hồi nghiêng đổ, ta hăy xem ông Cử bộc lộ ư chí của ḿnh trong
giảng Tà Lơn:
Ḷng ta luống những ưu phiền,
Một ḿnh trực tiết không miền gió trăng.
Trong ḿnh cũng biết vơ văn, Trăi chơi thế cuộc tiếng văn
giang hà.
Hay là:
Anh hùng nghĩa khí trung cang,
Trải ô thủy thạch Lănh trang ít người.
Tang bồng hồ thỉ đổi dời...
B. Bước Đường
Tu Tỉnh
Thuở ấy t́nh thế Nam Kỳ hết sức rối ren nguy ngập. Một mặt
Pháp bội hứa sự sửa đổi hiệp ước 5 Juin 1862 ( Bonard - Phan
Thanh Giản); một mặt họ cưỡng chiếm ba tỉnh miền Tây. Thủ khoa
Huân bị đày sang đảo Réunion (1864), Trương Công Định chết ở
G̣ Công (20-8-1864). Phan Thanh Giản tuẩn tiết ở Vĩnh Long
(7-8-1867). Chỉ c̣n ông Nguyễn Trung Trực và một ít tàn binh
lẩn lút ở Kiên Giang, với những giờ phút đầy nguy cơ, hăm dọa.
Có lẽ v́ vậy mà ông Cử không c̣n cách nào hơn là ẩn danh tu
tỉnh, để chờ ngày trở lại giúp nước giúp dân. V́ ông đă nói:
Sao bằng giữ được sạch trong,
Bảng vàng chiếm đặng bướm ong sá ǵ.
Đem ḿnh về chốn kinh kỳ,
Áo cơm khỏi tốn phước th́ mẹ cha.
Và mục đích hành đạo của ông là:
Hiếu trung hai chữ phụng thờ,
Lâm ṭng giữ tánh đặng nhờ tấm thân.
Khắp các ngọn núi trong vùng Thất Sơn đều có bước chân ông lui
tới. Cuộc đời tu tỉnh của ông Cử tưởng cũng được yên ổn nơi
đây, nhưng bỗng một hôm, tung tích của ông bị phát lộ; quân
Pháp ở đồn Cây Mít (Châu Đốc) kéo đến bao vây; v́ thương dân
chúng vô tội quanh vùng nên ông không nỡ chống lại, bèn từ giă
một số đệ tử thuần thành, rời khỏi Thất Sơn, ra ḥn Phú Quốc
(Hà Tiên) (2).
Việc quân Pháp theo dơi ông Cử để khủng bố những người tu theo
giáo phái của ông hồi ấy chắc là gắt gao lắm. Xem như Giảng Tà
Lơn đă chép:
Dọn thuyề hai chiếc một khi,
Sắm sửa vậy th́ đồ đạc đem ra.
Hai Vơ phân nói thiệt thà:
"Kinh kệ áo dà để lại chốn đây,
E khi đi có gặp Tây,
Nó coi thấy đặng sáp bây không c̣n."
Tính thôi đă một buổi tṛn,
Xuống thuyền ra biển hởi c̣n canh hai!
Ở Phú Quốc một độ, ông vượt đường qua Giang Thành rồi lên núi
Tà Lơn. Tại đây, ông Cử được gặp minh sư chân truyền đạo pháp
và đặt cho đạo hiệu là Ngọc Thanh:
Hắc y đổi lại cà sa,
Cải tên đặt lại hiệu là Ngọc Thanh.
Từ đây, ông Cử có thâu nhiều tín đồ ở núi Tà Lơn, và lâu lâu
lại trở về Thất Sơn thăm các đệ tử cũ. Ông thường dặn bảo tín
đồ rằng nếu không có mệnh lệnh th́ không một ai được bạo động
ǵ cả.
Thế rồi từ ấy trở đi, không c̣n ai biết được tăm hơi ǵ về ông
nữa. Cho đến ngày tháng ông Cử đăng tiên, cũng không t́m hỏi
ra đâu được. Chỉ có lời truyền khẩu rằng từ ngày vắng bóng vị
Giáo chủ, thỉnh thoảng có người thấy một ông già râu tóc bạc
phơ, mặt non mơn mởn, cởi hổ mun vượt rừng qua lại trong dăy
Thất Sơn. Người ta th́ thầm bảo nhau: Ông già ấy là ông Cử!
C. Môn Nhơn Đệ
Tử
Trong hàng môn nhơn đệ tử của ông Cử ở vùng Tà Lơn và Thất Sơn
kể ra cũng nhiều, nhưng chỉ có ông Nguyễn Ngọc Minh và ông
Trần Bá Lương (tục gọi ông Hai Lương, quê ở tỉnh Bến Tre), là
được phép bí truyền nhiều hơn hết. Hiện nay mộ phần của ông
Nguyễn Ngọc Minh c̣n thấy ở điện Kim Quang Thành (núi Tà Lơn,
phía trên Trung Ṭa độ bốn trăm thước). Những con cháu của tín
đồ ông Cử ngày nay mỗi khi trần thiết sự thờ phượng th́ không
quên đặt bài vị của ông Nguyễn Ngọc Minh ở một bên, phía dưới
bàn thờ của ông Cử. Chắc sinh thời ông Minh đă kế chí Thầy, tế
trợ quần sinh nên mới được người đời măi c̣n cảm ghi ân đức
như thế.
D. Vài Mẩu
Chuyện Thử Ḷng
Những đệ tử nào có thành tâm tu tỉnh nhứt lại là người thường
bị ông Cử thử thách nhứt, như trường hợp của ông Trần Bá Lương
(một đại đệ tử của ông Cử) kể lại sau đây là một:
Ông Lương từ ngày rời nhà ra đi, ḷng chí dốc t́m chân sư để
học hỏi sự tu hành, bởi ông đă phát được bồ đề tâm từ khi c̣n
nhỏ. Ông đi khắp đó đây trong vùng Thất Sơn, nghe đây có ông
Cử là bậc siêu phàm nhưng lúc ấy đă về bên núi Tà Lơn. Ông
không quản ngại khó khăn, băng rừng lội suối, lắm khi hết tiền
hết gạo, ông phải làm thuê mướn dọc đường để kiếm tiền độ
thân. Nhưn gkhi đến Tà Lơn ông ở đó ngót năm mà không t́m đâu
ra được ông Cử.
Tuy thế, ông Lương không hề thối chí, cứ thành tâm khấn nguyện
với Phật Trời rồi lang thang đi t́m măi. Bỗng một hôm, ông gặp
được một cụ già có vẻ đạo mạo đang xuống lấy nước ở bờ suối.
Ông Lương mừng lắm, tự nghĩ: quần nâu áo ải, độc thân ở chốn
lâm tuyền lậu hạn, cụ già này không phải là Tiên Phật th́ c̣n
ai! Bèn xin chỉ dẫn về đựng đạo đức. Cụ già một mực chối từ,
bảo rằng cụ cũng chỉ là một phàm nhân, không hiểu chi về việc
luyện đạo. Ông Lươn gkhông nghe, xin cho ở đấy cùng tu và giúp
đỡ những công việc nặng nề cho ông cụ. Túng lắm, cụ già ấy mới
bằng ḷng cho ở, nhưng cũng cứ một mực bảo rằng ḿnh
không phải là bậc siêu nhân.
Từ đấy ôn gLương lấy làm vui dạ, v́ tuy chưa được cụ già ấy
truyền dạy điều ǵ, nhưng ông vẫn tin nơi ư nghĩ của ḿnh là
đúng nên cứ đặt hết ḷng kính cẩn, yên trí tu tŕ, giúp những
công việc hằng ngày cho cụ già: nào trồng khoai, gánh nước,
nào thổi lửa, nấu cơm...
Trải một thời gian như thế ôn gLương vẫn vững được ḷng. T́nh
ĺnh một đêm kia, cụ già kêu ông Lương lại, nói rơ gốc tích
của ḿnh từ lúc ở Trung mới vào Nam, bởi theo đuổi một chí lớn
mà tấm thân cơ hồ tan tác thế nào, và khi đến Thất Sơn ra sao,
nhứt nhứt cụ kể rành mạch, rồi kết luận rằng ḿnh là Nguyễn
Đa, bằng ḷng thừa nhận ông Lương từ đây được vào hàng đệ tử.
Và dưới đây là một cuộc thử thách có huyền thuật:
Ông Cử có một người đệ tử (không rơ tên) đạo đức khá cao, cũng
không kém ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Trần Bá Lương. Khi sắo
đăng tiên, ông Cử kêu người đệ tử ấy lại mà bảo:
- Thầy sắp về nơi tiên cảnh, vậy con ở lại rán cố chí hành
đạo, khi nào thông đạt, Thầy sẽ trở về dẫn độ con.
Người đệ tử kia rất đổi đau ḷng, nằm phục xuống đất van cầu
thảm thiết, xin Thầy cho theo.
Trước t́nh cảnh sư đệ sẽ phải chia ly và sự thành ḷng của kẻ
môn nhơn như thế, ông Cử động ḷng từ bi, hứa sau ba năm sẽ
trở về, nếu người đệ tử này hết ḷng tu tỉnh th́ ông hoá độ.
Từ đó, người đệ tử ông Cử cứ vâng lời Thầy, ở lại cố gắng tu
tŕ, chuyên lo tĩnh luyện, và ngoài những thời khắc bái sám
hành hương, người c̣n lo phát thuốc cứu đời để biể thị cái
hành động tế thế của Thầy, không cho gián đoạn.
Một hôm, cũng như thường lệ, ở dưới chân núi có chú Khách Lác
(3) lên xin thuốc uống nhưng trái hẵn ngày thường, chú Khách
hôm nay với h́nh dạng mỏi mệt, đói lả. Gặp giờ dâng cơm bửa,
người đệ tử ông Cử bảo chú Khách ngồi chờ, ông cúng xong sẽ
xem bịnh và giúp thuốc cho.
Thừ lúc người môn đệ ông Cử vào nhà sửa sọan đèn hương, chú
Khách Lác bưng cả mâm cơm trên bàn xuống ăn sạch. Khi trở ra,
người đệ tử ông Cử thấy thế cả giận, tỏ vẻ bất b́nh. Ngay khi
ấy chú Khách đă không nhận lỗi ḿnh, mà trái lại, c̣n buông ra
những lời cộc cằn cương cáu là khác. Người đệ tự ông Cử không
dằn được giận, xách roi rượt đánh chú Khách. Chú Khách chạy
dài, khi đến bờ suối bỗng phi thân ngang qua bên suối
rồi đứng bên kia gộp đá trông qua, kêu lên:
- Hỡi đệ tử, con c̣n nóng quá! Hôm nay là ngày hứa hẹn Thầy
định về để dẫn độ con, nhưng sự đă ra như thế này, con hăy rán
kiên tâm mà tu tŕ thêm nữa mới được!
Nh́n sang bờ suối, chỉ thấy ông Cử nghiêm trang đứng đó mà chú
Khách Lác th́ đâu mất tự bao giờ. Người môn đệ biết ḿnh đă
lầm, qú xuống van lơn, nhưng ông Cử thản nhiên biến mất.
GS Nguyễn Văn
Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) Trong giảng Tà-Lơn có đoạn nói: "Quê tôi ngày rày ở tại
Thuộc Nhiêu." Có lẽ khi mới vào miền Nam, ông Cử có ở lại
Thuộc nHiêu một thời gian, hoặc ông có hiệp sức với ông Thủ
Khoa Huân để kháng chiến nhiều trận tại Thuộc Nhiêu nên mới
nói như thế.
(2) Có người nói ông Cử đi thẳng qua núi Tà Lơn, c̣n ở Phú
Quốc th́ trước khi về Thất Sơn. Chưa rơ thuyết nào đúng hơn.
Xin nhờ các bậc thức giả phủ chính cho.
(3) Người ta gọi chú Khách Lác v́ ông này là người khách trú,
toàn thân đều bị bệnh lác lở lói.
|