|
VIỆT NAM
THỜI LẬP QUỐC
TỪ TRUYỀN
THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
Phạm Trần Anh
Truyền thuyết là
những truyền kỳ lịch sử dân gian từ đời này sang đời khác
“Bức thông điệp” của người xưa về cội nguồn dân tộc. Đó
chính là những ư nghĩ cao sâu phản ảnh một thực thể văn hoá
xă hội, ẩn hiện trong truyền thuyết được thần thoại hóa nên
thoạt nghe nó đượm vẻ huyền hoặc hoang đường. Hầu như tất cả
các dân tộc đều có truyền thuyết về thời kỳ mở đầu dựng nước
phản ánh tư duy của con người thời cổ đại. Tự thuở hồng
hoang, buổi ban sơ của nhân loại, con người nhỏ bé yếu ớt
trước một thiên nhiên đầy sức mạnh huyền bí nên bị khuất
phục để từ đó dẫn đến những h́nh thức tôn giáo nguyên thủy.
Người cổ xưa cố gắng giải thích các hiện tượng tự nhiên
trong trời đất, từ ư niệm đực cái trong cuộc sống dẫn tới
h́nh tượng cha trời mẹ đất, đến ư niệm đất nước, núi sông …
Con người thời cổ đại với tín ngưỡng đa thần, họ tôn thờ từ
thần mưa, thần nắng đến thần gió, thần sấm chớp, thần núi,
thần sông… Chính v́ vậy, mỗi bộ tộc đều chọn một vị thần
riêng xem như vật tổ linh thiêng để che chở cho bộ tộc trong
cuộc đấu tranh sống c̣n với thiên nhiên và với các bộ tộc
khác. Những vật tổ biểu trưng này được thần thánh hoá nên
truyền thuyết mang tính thần thoại v́ thế phần lớn sự kiện
được hư cấu thay thế cho những yếu tố lịch sử, yếu tố địa
lư nơi cư trú đôi khi cũng được thay đổi để thêm phần huyền
hoặc nữa.
Việt Nam được
mệnh danh là xứ sở của huyền thoại đầy tính hiện thực, Việt
Nam cũng là nơi mà cuộc sống hiện thực đầy tính huyền thoại
đến nỗi người ngoại quốc không thể phân biệt đâu là huyền
thoại đâu là hiện thực nữa. Thật vậy, đôi khi trong chúng ta
một số người Việt Nam đọc truyện cổ tích Họ Hồng Bàng với
huyền thoại Tiên Rồng c̣n cho là huyền hoặc hoang đường th́
làm sao một người ngoại quốc lại có thể hiểu nổi truyền
thuyết đầy tính hiện thực sinh động của Việt tộc cho được.
Lịch sử tiến hoá của loài người cho biết ngôn ngữ bao giờ
cũng có trước văn tự. Trước khi loài người biết dùng chữ
viết để ghi chép lưu lại cho đời sau những sự kiện lịch sử
th́ người xưa đă lưu truyền trong dân gian những truyền
thuyết thần thoại dưới dạng những câu truyện cổ tích. Những
truyền thuyết này phản ánh trung thực những sự kiện nhất
định trong tiến tŕnh lịch sử của một dân tộc. Thế nên, việc
t́m hiểu cội nguồn dân tộc thuở xa xưa là một điều hết sức
cần thiết. Ngày nay tri thức loài người đă thoát khỏi cái
ṿng vây của lư trí, của tinh thần cưc đoan duy lư một thời
để thực sự chứng nghiệm chân lư. Bằng phương pháp nghiên cứu
với tinh thần khoa học nhưng không quên yếu tố nhân bản của
đời sống tâm linh, chúng ta t́m về quá khứ để lư giải những
tinh tuư mà người xưa đă để lại, ẩn tàng dưới lớp vỏ thần
thoại huyền hoặc. Những lư giải này phải được kiểm chứng bởi
nguồn sử liệu minh văn trong các thư tịch cổ. Đồng thời
chúng ta phải dùng kết quả của các công tŕnh nghiên cứu
khoa học của khoa Tiền sử học, Nhân chủng học, Khảo cổ và
Ngôn ngữ học nhất là phương pháp phân tích cấu trúc phân tử
di truyền DNA để kiểm chứng lại một lần nữa để từ đó, chúng
ta có quyền khẳng định sự thật lịch sử, phục hồi chân lư
khách quan của lịch sử. Thực tế cuộc sống đă cho chúng ta
cái nh́n trung thực hơn khi mà nhân loại chứng kiến những sự
thực lịch sử bị bóp méo, xuyên tạc bởi các nhà viết sử mà
thực chất là văn nô của một chế độ, th́ giá trị trung thực
của truyền thuyết được trân trọng hơn bao giờ hết. Truyền
thuyết chính là những trang chiếu giải trung thực được trọn
vẹn ư nghĩa của nó, lư giải sáng tỏ những ẩn ư hàm tàng
trong truyền thuyết mà người xưa đă gửi gấm cho thế hệ chúng
ta t́m về nguồn cội dân tộc nói riêng và tiến hoá của nhân
loại nói chung. Đó là yêu cầu cấp thiết của tất cả chúng ta,
những người con của một dân tộc tự hào là “Con Rồng cháu
Tiên” với gần 5.000 năm văn hiến chi bang.
Lần đầu
tiên trong lịch sử dân tộc, Trần Thế Pháp đời Trần đă chép
lại những truyết thuyết dân gian vào bộ sách “LĨNH NAM TRÍCH
QUÁI”, Lư Tế Xuyên viết “VIỆT ĐIỆN U LINH” để truyền lưu
nguồn gốc giống ḍng Việt Nam cho đời sau. Trần Thế Pháp
tác giả Lĩnh Nam Trích Quái viết “ Từ thời Xuân Thu
chiến quốc chưa có quốc sử để ghi chép cho nên nhiều truyện
bị mất đi, may c̣n truyện nào không bị thất lạc được dân
gian truyền miệng th́ đó là SỬ ở trong truyện chăng? ”.
Vũ Quỳnh
(1452 – 1516 ) Hoàng Giáp Thượng thư trong lời tựa bản hiệu
đính sách Lĩnh Nam Trích quái đă viết :“ Mọi chuyện ở đây
tuy có vẻ kỳ lạ nhưng không hăo huyền, thần kỳ nhưng không
yêu ma, hoang đường nhưng không quái đản... Dấu xưa c̣n đó,
tất cả chỉ cốt theo khuyên điều thiện ngăn cấm điều ác, bỏ
ḷng dối trá mà dưỡng tâm chân thực”. Lư Tế Xuyên khi
viết “Việt Điện U Linh ” cũng ấp ủ hoài băo bảo lưu truyền
thuyết về nguồn cội dân tộc nên ông cho rằng: “Xem
truyện họ HỒNG BÀNG th́ hiểu lai do việc khai sáng nước
HOÀNG VIỆT. Trời đă sai chim huyền điểu giáng thế sinh ra
vua Thương th́ hẳn có việc trăm trứng nở thành trăm con trai
chia trị Nam quốc Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được …”.
Măi đến
đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng
Vương vào Đại Việt Sử Kư Toàn thư. Quan niệm của ông khi
viết sử là để “Xét rơ nguồn gốc xưa nay của trị loạn để
bạo biếm khen chê răn đời…”. Ngô Sĩ Liên tuy mới chép
thời đại Hùng Vương trong phần ngoại kỷ chứ chưa chính thức
ghi vào chính sử cốt ư để cho thế hệ đời sau soi sáng cội
nguồn qua các công tŕnh nghiên cứu để minh nhiên lư giải
cội nguồn dân tộc. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết “Nước
ĐẠI VIỆT ta ở về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đă chia bờ
cơi Nam Bắc hẳn ḥi. Thủy tổ của ta là con cháu Thần Nông.
Trời đă sinh ra vị chân chúa v́ thế mới cùng Bắc triều đều
làm chúa Tể một phương … KINH DƯƠNG VƯƠNG là vị vua đầu tiên
của nước Đại Việt ta cùng thời với Đế Nghi ở phương Bắc lên
ngôi năm Nhâm Tuất 2879 TDL”.
Đại Việt Sử kư
Toàn thư chép về họ Hồng Bàng như sau : “: Xưa cháu ba
đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, Rồi
sau Đế Minh đi tuần phương Nam, đến dăy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên
nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông
minh. Đế Minh yêu quí lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường
cho anh ḿnh, không dám vâng mệnh. Đế Minh v́ thế lập Đế
Nghi là con trưởng nối ḍng trị phương Bắc. Lại phong cho
vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là
Xích Quỉ. Vương lấy con gái Chúa Động Đ́nh tên là Thần Long,
sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân huư là Sùng Lăm, nhà
vua lấy con gái của Đế Lai là nàng Au Cơ, sinh ra trăm trai.
Tục truyền là sinh ra trăm trứng), ấy là Tổ của Bách Việt
(Trăm giống Việt). Một hôm vua bảo Au Cơ rằng : “ Ta là
giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, sum hợp
thật khó”. Bèn cùng nàng từ biệt nhau, chia năm chục con
theo mẹ về núi, năm chục con theo cha về miền Nam. Có sách
chép là về biển Nam. Phong người con cả là Hùng Vương nối
ngôi vua”.
I
. TRUYỀN THUYẾT KHỞI NGUYÊN VIỆT TỘC
Lĩnh Nam Trích
Quái chép về huyền thoại Rồng Tiên khởi nguyên của dân tộc
ta như sau:
“ Cháu ba đời của VIÊM ĐẾ THẦN
NÔNG là ĐẾ MINH, Đế Minh sinh ra Đế Nghi rồi đi tuần du
phương Nam tới miền Ngũ Lĩnh gặp bà VỤ TIÊN đem ḷng yêu
thích, lấy về sinh ra LỘC TỤC. Lộc Tục dung mạo đoan chính,
sớm tỏ ra thông minh lanh lợi hơn người. Đế Minh thấy thế
làm lạ cho nối ngôi vua nhưng Lộc tục từ chối nhường ngôi
cho anh là Đế Nghi, không dám vâng mệnh. Đế minh thấy vậy
bèn lập Đế Nghi thay ḿnh cai trị đất Bắc và phong cho Lộc
Tục làm vua phương Nam.(1)Lộc
Tục lên ngôi lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, đặt tên nước là
XICH QUI. Bờ cơi nước Nam ta lúc bấy giờ, Bắc giáp hồ Động
Đ́nh tỉnh Hồ Nam (TQ) bây giờ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn
(Chiêm Thành), phía Đông giáp bể Nam Hải, phía Tây tới Ba
Thục Tứ Xuyên. Kinh Dương Vương có tài bơi lặn xuống thủy
phủ lấy con gái Vua hồ Động Đ́nh là LONG NỮ sinh ra SÙNG LĂM
chính là LẠC LONG QUÂN sau thay vua cha trị nước, c̣n Kinh
Dương Vương không biết đi đâu ..
Đế Nghi ở
phương Bắc truyền ngôi cho con là Đế Lai. Nhân khi
trong nước vô sự, nhớ tới chuyện ông ḿnh là Đế Minh
đi tuần thú phương Nam gặp được tiên nữ. Đế Lai bèn bảo bề
tôi thay ḿnh giữ nước rồi đi tuần du nước Xích Qui ở phương
Nam. Đến nơi, Đế Lai thấy Lạc Long Quân đă về thủy phủ
trong nước vô chủ bèn để cho ái nữ ÂU CƠ và những kẻ hầu hạ
ở lại nơi hành tại c̣n ḿnh đi dạo chơi trong thiên hạ, xem
các nơi h́nh thắng, thấy những kỳ hoa dị thảo, trân cầm dị
thú như Tê Tượng, Đồi mồi, vàng bạc châu báu, tiêu quế nhũ
hương, trầm đàn các vị cùng sơn hào hải vật không thiếu thứ
nào. Phương Nam bốn mùa khí hậu không lạnh không nóng. Đế
Lai đem ḷng yêu thích quên cả chuyện về. Nhân dân nước Nam
khổ v́ cảnh phiền nhiễu, không được sống yên lành như xưa
nên cùng nhau cất tiếng gọi : “ Bố ơi bố ở nơi nào hăy mau
về cứu chúng con !”. Long Quân thoắt nhiên trở về thấy Au Cơ
dung mạo tuyệt mỹ đang ở một ḿnh, Long Quân lấy làm yêu
thích bèn hoá thành một chàng trai h́nh dáng xinh đẹp, tả
hữu trước sau có kẻ hầu người hạ, tiếng ca tiếng nhạc vang
lừng đến tận nơi hành tại. Âu Cơ trông thấy Long Quân ḷng
cũng xiêu xiêu .. Long Quân đón về ở động Long Trang. Khi Đế
Lai trở về không thấy Âu Cơ bèn sai quần thần đi t́m khắp
thiên hạ, Long Quân có phép thần thông, biến hoá ra trăm
h́nh ngàn vẻ, nào yêu tinh quỷ ma, nào rồng rắn hổ voi làm
cho kẻ đi t́m sợ hăi không dám lục lạo nữa. Đế Lai truyền
ngôi cho Đế Du Vơng. Du Vơng đánh nhau với Hoàng Đế ở Phản
Tuyền không thắng được mà chết. Họ Thần Nông phương Bắc đến
đây là hết.
Lạc
Long Quân và Âu Cơ sống với nhau chừng một năm th́ sinh được
một cái bọc cho là điềm không lành nên đem bỏ ở ngoài đồng.
Qua 7 ngày, cái bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một
người con trai, Long Quân liền đón về nuôi không cần bú mớm.
Ai trông thấy cũng đều kính phục cho là đám anh em phi
thường. Long Quân ở măi nơi thủy phủ, làm cho mẹ con Âu Cơ
phải sống lẻ loi muốn đi về đất Bắc, khi tới biên giới Hoàng
Đế nghe tin lấy làm lo sợ chia quân ngăn giữ cửa ải. Mẹ con
Âu Cơ không về đất Bắc được nên đêm ngày kêu gọi Long Quân
rằng: “ Bố ơi, bố ở nơi nào làm cho mẹ con tôi phải buồn
đau”. Long Quân nghe thấy trở về gặp Âu Cơ ở Tương Dă. Au Cơ
vừa khóc vừa nói rằng:“Thiếp nguyên là người đất Bắc cùng
chàng ăn ở với nhau, sinh được trăm đứa con trai, không biết
dựa vào đâu mà nuôi nấng. Vậy xin theo chàng, xin chàng đừng
ruồng bỏ làm cho mẹ con tôi là kẻ không chồng, không cha,
chỉ riêng ḿnh đau khổ mà thôi ”. Long Quân buồn rầu nói: “
Ta là giống Rồng đứng đầu thủy phủ, nàng là giống TIÊN người
ở trên đất vốn không đoàn tụ được với nhau. Tuy khí ÂM DƯƠNG
hợp lại mà sinh con nhưng giống ḍng tương khắc như nước với
lửa, khó bề ở với nhau dài lâu được. Nay phải chia ly, ta
mang 50 con trai về Thủy phủ chia trị các nơi, c̣n 50 con
theo nàng ở lại trên đất, có việc cùng gắn bó đừng bỏ rơi
nhau…(2)
Trăm người con trai cúi đầu lặng lẽ nghe lời
Bố rồi cùng nhau từ biệt mà đi …”.
Thoạt nghe có vẻ
hoang đường huyền hoặc thế nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt
ḿnh vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm, lúc đó chúng ta
mới hiểu những ǵ mà Tổ tiên ta đă gởi gấm cho chúng ta qua
bức thông điệp hơn sáu ngàn năm lịch sử đó. Làm sao có
chuyện người đẻ ra trứng rồi trứng nở ra người? Thế nhưng,
chi Âu của người Việt cổ chọn vật tổ biểu trưng là chim th́
phải đẻ ra trứng thế thôi. Vả chăng, chiết tự chữ “Tiên”
viết theo chữ Hán là“Người xuất hiện trên núi” (Nhân+sơn)
gồm Người + núi = Tiên nghĩa là người ở miền núi hàm ư chỉ
cư dân Au Việt sống trên miền cao. “ Tuỳ dương Việt Trĩ” con
chim Phượng Hoàng của người Việt tung cánh bay bay lên trời
gắn liền với h́nh tượng Tiên của mẹ Âu Cơ. Mặt khác chim
bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ư niệm người Việt thiên
cư dần về hướng Đông Nam xuống miền sông nước như truyền
thuyết kể Bố Lạc dẫn 50 con xuống “ Thuỷ phủ”. Bố Lạc ở miền
sông nước nên được truyền thuyết hoá thành Rồng v́ chỉ có
Rồng mới ở miền sông nước, mới hút nước phun ra để cho Việt
tộc là cư dân nông nghiệp làm mùa màng thuận lợi,
Mỗi dân tộc đều
có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu
trưng riêng của dân tộc đó, v́ thế ngay cả những dân tộc mà
ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật tổ
biểu trưng cho ḍng giống như Ấn Độ là voi, Tàu là con cọp,
Pháp là con gà trống, Anh là con sư tư , Mỹ là con chim đại
bàng và Pháp lấy con gà làm quốc huy cho cả nước.
Theo cơ cấu
luận th́ Sử kư là sử hàng ngang ghi chép các biến cố, các sự
kiện cụ thể với những con người cự thể theo năm tháng c̣n
Huyền sử được gọi là sử hàng dọc mang tính tâm linh xoay
quanh những tác động lư tưởng biểu thị bằng những sơ nguyên
tượng giàu phổ biến tính. Thật vậy, tiếp đầu ngữ syn có
nghĩa là cùng với, synchronic là cùng với mọi lúc mọi nơi.
Cái biểu tượng uyên nguyên đó có thật như một lư tưởng nhưng
chưa hiện thực được. Đó là những nguyên lư được kết tinh và
tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong
huyền sử RỒNG TIÊN th́ Au Cơ chỉ là h́nh tượng nguyên sơ.
Việc mẹ Au Cơ chỉ là một cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà
nó biểu tượng cho ư niệm công thể, ư nghĩa của hai chữ “ĐỒNG
BÀO”cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ. Cũng thế trăm con
không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ư là số nhiều và
quan trọng nhất là thư tịch cổ Trung Hoa chép về cộng đồng
Bách việt đă chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại Rồng
Tiên.
Theo
triết gia Kim Định th́ huyền sử nói mà không nói, thật mà
không hiện thực là thế đó. Ngày nay, không ai phủ nhận được
giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi như lịch
sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi
là “chính sử” của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudclaire
một thi sĩ nổi tiếng đă nh́n nhận sức mạnh của truyền thuyết
huyền thoại v́ đó là “Sử cô đọng
cuộc sống dân gian, ở đó đọng lại máu và nước mắt của các
dân tộc”. Đại văn hào Pháp Victor
Hugo khi viết “Truyền kỳ các thời đại” ông đă t́m về nguồn
cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa v́ theo
ông, đó là “LỊCH SỬ được lắng nghe
ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu
nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”.
Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử
biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những
ư nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa kư
thác vào dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi
gấm cho
những thế hệ sau. Một triết gia nói “Tất cả nền văn minh
triết cũng như trí khôn loài người đều ẩn tàng trong các
huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Vấn đề là phải
làm sao hiểu được những lư tưởng uyên nguyên, những tâm linh
sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những h́nh tượng nguyên sơ
trong đó “ Tất cả đă được nói rồi trong các thần thoại,
vấn đề chúng ta là chỉ c̣n phải t́m hiểu” như P. Ricoeur
đă viết (3). Nói theo JUNG, một triết gia thời
đại th́ “ Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ư
nghĩa lịch sử trung thực nhất v́ nhân vật thần thoại là sản
phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc
sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh
nhiên lư giải…”
Truyền thuyết
RỒNG TIÊN khởi nguyên của dân tộc cho chúng ta biết cội
nguồn giống ḍng Việt tộc là hậu duệ của Thần Nông. Vấn đề
đặt ra là tại sao tổ tiên chúng ta lại truyền ghi trong
“Ngọc phả” là bắt đầu từ cháu ba đời của Thần Nông chứ không
phải từ Đế Viêm Thần Nông? Làm sáng tỏ vấn nan này chính là
để khẳng định Đế Viêm Thần Nông là thủy tổ của Việt tộc,
khởi từ Đế Minh cháu đời thứ ba của Đế Viêm đồng thời minh
xác Việt tộc chính là hậu duệ của Thần Nông, kế thừa truyền
thuyết Âm Dương của phương Đông.
Thư tịch cổ Trung
Quốc thường mù mờ, sai lạc và bí hiểm nữa. Điều này cũng dễ
hiểu v́ sử liệu về thời cổ đại th́ làm sao mà rơ ràng mạch
lạc cho được, người viết sử cũng chỉ dựa trên những truyền
kỳ dân gian mà ghi chép lại. Mặt khác, các sử quan “ Thiên
triều Đại Hán” với chủ trương Đại nhất thống luôn t́m cách
bóp méo, xuyên tạc thậm chí sửa đổi các sử liệu cho phù hợp
với sử quan gọi là chính thống của họ, th́ làm sao có thể
nhất nhất tin vào cái gọi là chính sử của họ cho được.
Măi đến thế kỷ
thứ III, các sử gia Trung Quốc mới nhất loạt nghiên cứu biên
soạn tài liệu về cổ sử. Các nguồn Bàng sử và Dă sử như Thế
bản, Sơn Hải kinh, Xuân Thu Vĩ mạng Lịch tư, Hoài Nam Tử …
Cũng như quan niệm lịch sử truyền thống cho rằng không phải
nhân vật Hoàng Đế người được coi như mở đầu lịch sử Hán tộc
mà cho rằng những nhân vật lịch sử huyền thoại như Đế Chuyên
Húc, Đế Cốc… mới khởi nguyên lịch sử Hán Tộc. Những quan
điểm lịch sử này không được Hán tộc chấp nhận v́ cho đó là
quan điểm truyền thống lịch sử Nam phương. Duy chỉ quan điểm
lịch sử của Tư Mă Thiên, tác giả bộ Sử kư được coi là quan
điểm chính thống Trung Quốc. Tư Mă Thiên bắt đầu bộ Sử kư
bằng nhân vật Hoàng Đế cộng chủ, thủ lĩnh liên minh các bộ
tộc Trung Nguyên là người mở đầu lịch sử Trung Quốc chứ
không phải Phục Hi, Thần Nông. Thật ra Tư Mă Thiên cũng hiểu
rơ hơn ai hết là Đế Hoàng không phải là người Hán nhưng vẫn
viết theo sử quan chính thống Hán. Tư Mă Thiên lại tự mâu
thuẫn khi xác nhận các vua Việt như Hùng Dịch, Câu Tiễn đều
là hậu duệ của Đế Cốc, Đế Chuyên Húc mà theo Hán sử th́ Đế
Chuyên Húc là con Hoàng Đế. Trong khi đó, Tiều Chu (199-270)
với tác phẩm Cổ sử khảo, Từ Chỉnh (khoảng 200-260) với Tam
Ngũ lịch, Vỹ Chiếu (204 -273) với Đông Kỷ, Hoàng Phủ Mật
(215 – 282) với Đế Vương thế kỷ… Tất cả những sử gia này đă
tiến hành tập hợp bảo lưu các tài liệu khẳng định họ Thần
Nông có liên quan huyết thống với Việt tộc.(4)
“Thế bản” viết
“Việt họ Mi, con Tước, với Sở cùng tổ, là hậu duệ của
Chúc Dung, con của Doăn Thường tức là vua Việt Câu Tiễn, Câu
Tiễn sinh vua Thạch Du, Thạch Du sinh Bất Thọ, Bất Thọ sinh
vua Ông, Ông sinh vua Ê, Ê sinh vua Chi Hầu, Chi Hầu sinh
Vương Vô Cương, Vương Vô Cương bị Sở Uy Vương nước Sở diệt…”.
Thế bản và Vỹ Chiếu kết nối Tổ tiên của Vua Việt Câu Tiễn
với Chúc Dung. Điều này khẳng định Thần Nông là tổ tiên của
Việt tộc.Truyền thuyết họ Chúc Dung của Việt vương Câu Tiễn
được thừa nhận và phổ biến rộng răi ngay từ thế kỷ thứ III
TDL. Chính Tư Mă Thiên đại biểu cho quan điểm lịch sử truyền
thống Hán tộc trong Sử Kư, phần Câu Tiễn thế gia, Tư Mă
Thiên cũng xác nhận: “ Tiên tổ của Câu Tiễn là miêu duệ
của vua Vũ tức là con thứ của Đế Thiếu Khang họ Hạ Hầu”.
“Ngô Việt Xuân Thu” của Triệu Việp viết khoảng năm 4 TDL và
“Việt tuyệt thư” do Viên Khương viết cùng thời có cùng quan
điểm với Tư Mă Thiên. Những công tŕnh nghiên cứu gần đây
cho thấy không có ǵ khác biệt giữa các quan điểm trên v́
tất cả đều có cùng một cội nguồn chủng tộc .
Tác giả Vỹ
Chiếu của “Quốc Ngữ” viết: “Câu Tiễn hậu duệ của Chúc Dung”,
vậy Chúc Dung liên hệ thế nào với Đế Viêm Thần Nông? Hải nội
kinh của Sơn Hải Kinh (5)
cho biết “Vợ Viêm Đế là Thích Yểu, con của Xích Thủy sinh
Viêm Cư. Viêm Cư sinh Tiết Tinh. Tiết Tinh sinh Hí Khí, Hí
Khí sinh Chúc Dung xuống ở Giang Thủy… Theo Lưu Hy trong
“Thích Danh” th́ : “Người Kinh và Dự (Việt tộc) gọi vợ
lớn là thúc, thúc tức chúc vậy, chúc tức là thỉ vậy”. Do
đó, tên Chúc Dung chỉ là đọc ngược của tên Viêm Đế là Đế
Viêm vậy. Đế Viêm là Chúc Dung nhưng theo Sơn Hải kinh th́
Chúc Dung thực ra là cháu ba đời của Viêm Đế, chứ không phải
là Viêm Đế .(6)
Theo thư Tịch cổ
Trung Quốc, “Đế Vương thế kỷ” của Hoàng Phủ Mật (215-282)
th́ lai lịch gốc tích Viêm Đế Thần Nông như sau:“Viêm Đế
Thần Nông, họ Khương, mẹ là Nhiệm Tợ, tức con gái của họ Hữu
Kiều tên Nữ Đang, làm chánh phi của Thiếu Diễm, đi chơi phía
Nam Hoa Sơn có gặp đầu Thần Long cảm Nữ Đang ở Thương Dương
mà sinh Viêm Đế, đầu người thân trâu, lớn lên ở sông Khương,
nhân thế mà lấy làm họ. Đế Viêm đóng đô ở Trần (Hà Nam) tạo
ra đàn cầm 5 dây, bắt đầu dậy thiên hạ trồng lúa, nên gọi là
Thần Nông. Lại nói vốn nổi lên từ Liệt Sơn, nên có kẻ gọi họ
là Liệt Sơn, một hiệu là họ Đẩu Khôi ấy là Nông Hoàng. Có kẻ
nói vào thời Đế Viêm chư hầu họ Túc Sa Làm phản, không chịu
vâng lời, Cơ Văn can gián bèn giết đi. Đế Viêm rút về Tu
Đức. Dân Túc Sa tự đánh vua ḿnh mà về theo Đế Viêm. Đế Viêm
từ nước Trần dời đô về Khúc Phụ ở Lỗ, lập lại số 8 quẻ, tức
8 lần 8 là 64 quẻ, ở ngôi 120 năm mới băng hà, táng ở Trường
Sa. Đế Viêm lấy con gái họ Bôn Thủy tên Thính Yểu, sinh Đế
Lâm, Đế Lâm sinh Đế Khôi, Đế Khôi sinh Đế Thừa, Đế minh, Đế
Trực, Đế Ly, Đế Du Vơng phàm 8 đời cộng 530 năm”.
“Hoài Nam Tử”
quyển 9 chép về thời thái b́nh thịnh trị Thần Nông như sau:
“Xưa khi Thần Nông trị thiên hạ, tinh thần không xuôi
ngược trong ḷng, trí óc không rong ruổi ngoài bốn cơi.
Người ta mang ḷng nhân thành, mưa ngọt tuôn rơi, ngũ cốc
tốt tươi. Xuân sinh, Hạ lớn, Thu gặt, Đông cất, tháng rảnh,
ngày thơi, cuối năm dâng cúng, đúng thời thường khoản, cùng
ở minh đường. Chế độ minh đường tuy có mà không. Bốn phương
gió mưa, không hay đánh úp, nóng lạnh không hay tổn thương,
lải rải mà vừa. Nuôi dân lấy công bằng, dân chất phác, trọng
thẳng thắn, không giận tranh mà của đủ, không nhọc thân mà
việc xong, nhờ trời đất giúp để cùng hoà đồng. Do thế, có uy
mà không giết, ra h́nh mà không dùng, pháp luật bớt đi không
phiền ai cả. V́ vậy, sự cải hoá của “Người” giống như thần.
Đất của “Người”, phương Nam tới Giao Chỉ, không ai là không
nghe vậy. Vào thời ấy, luật ít h́nh nhẹ, lao tù trống trơn
mà thiên hạ một tục, chẳng ai mang ḷng gian trá”.(7)
Theo công tŕnh
nghiên cứu của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ghi lại trong“Bách
Việt Ngọc Phả Truyền thư ” năm 1785 Quang Trung nguyên niên
th́ chỉ có nhị hoàng là Phục Hi và Thần Nông trong khi sách
sử Trung quốc từ trước đến nay vẫn ghi là tam hoàng. Thật
vậy Kinh Thi phần mở đầu cũng chỉ chép có nhị hoàng là Phục
Hi và Thần Nông. Ngũ Đế gồm Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí,
Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Hoài Nam Tử cũng xác nhận chỉ có nhị
hoàng là Phục Hi và Thần Nông. Tư Mă Thiên sử gia chính
thống của Đai Hán trong bộ Sử kư muốn đề cao Hoàng đế là tổ
tiên của Hán tộc nên ghi Hoàng đế đứng đầu ngũ đế v́ vậy Tư
Mă Thiên đă loại Đế Chí là vị vua thứ ba ra nên xếp lại ngũ
đế đứng đầu là Hoàng đế rồi tới Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế
Nghiêu và Đế Thuấn. Theo Bách Việt Ngọc Phả Truyền thư th́
nhị hoàng là Phục Hi c̣n gọi là Đế Thiên (2698-2599 TDL).
Phục Hi họ Hiên Viên tên thụy là Thái Hạo thờ Rồng. Phục Hi
truyền ngôi cho con là Thần Nông tức Đế Thần, họ Khương tên
thụy là Thiếu Hạo thờ Chim. Sử sách Trung quốc ghi Thiếu Hạo
họ Kim thiên nhưng Từ Húc Sinh trong “ Trung quốc Cổ sử đích
truyền thuyết thời đại” đă liệt kê các họ thời cổ trong đó
có họ Cát Thiên chứ không có họ Kim Thiên.
Nguồn sử liệu
trên cho ta thấy nhiều điều lư thú, góp phần làm sáng tỏ
quan hệ huyết thống của Việt tộc. Nguồn sử liệu khách quan(8)
trên cũng cho chúng ta biết là truyền thuyết về họ Hồng bàng
đă có từ lâu và là một sự thực chứ không phải vay mượn du
nhập từ những nhân vật anh hùng ca Đại Bharata của Ấn Độ(9).
Bây giờ chúng ta mới hiểu tại sao bắt đầu từ Đế Minh, tổ của
Việt tộc chứ không từ thủy tổ Viêm Đế v́ Đế Minh là cháu ba
đời đă mở đất về phương Nam tới tận Giao Chỉ Theo Vỹ Chiếu
trong Quốc Ngữ th́ “Vua Câu Tiễn hậu duệ của Chúc
Dung”,Chúc Dung chính là Đế Minh cháu 3 đời Đế Viêm. Đó là
một sự kiện lịch sử có thật chứ không phải do tiền nhân chọn
để tách biệt với Hán tộc.
Cứ theo truyền
thuyết về Họ Hồng Bàng th́ “Đế Minh truyền ngôi cho Đế Nghi
làm vua ở phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương
Nam, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích
Quỉ…”(10). Nội dung mà tổ tiên Việt tộc muốn
chuyển tới cho chúng ta biết là từ nơi sinh tụ phía Tây Bắc
Trung Nguyên, Việt tộc do Viêm Đế Thần Nông lănh đạo đă chia
thành hai nhánh thiên di để t́m vùng đất hứa, một nhánh đi
qua Cam Túc tiến về Bắc dọc lưu vực Hoàng Hà vượt ngă ba
sông Vị, sông Hoàng định cư ở vùng sông Bộc lập nên các
triều đại của ḍng Thần Nông phương Bắc, số khác định cư ở
Sơn Đông mà cổ sử Trung Quốc gọi là “Đông Di”. Trước đó cả
ngàn năm một nhánh khác định cư ở vùng đất đỏ mà Kinh thư
gọi là “Xích qui phương” từ Ba Thục tới Dạ Lang, Quí châu
rồi lần theo triền sông Dương Tử tràn xuống Đông Nam định cư
khắp Trung Nguyên. Truyền thuyết gọi là ḍng Thần Nông
phương Nam. Những chi Việt tộc này cổ sử Trung Quốc gọi là
“Man di” là “rợ kinh man”… Đó chính là các chi Mân Việt,
Dương Việt, Nam Việt, Qú Việt, Điền Việt và Lạc Việt…
Truyền thuyết
cũng cho biết là nhánh thiên di về Bắc lưu vực sông Hoàng Hà
định cư ở vùng lưu vực sông Bộc. Tại đây xảy ra chiến tranh
giữa các chi tộc để giành ngôi thủ lĩnh. Cuối cùng Li-Vưu(11)bị
thủ lĩnh Hoàng đế tiêu diệt, khiến Lạc bộ Trĩ đă phải vượt
Hoàng Hà xuống lưu vực phía Nam, một số khác phải di tản
theo đường biển đến Cao Ly (Đại Hàn), Nhật Bản, Cổ Việt (Bắc
Việt Nam ), Mă Lai.. Truyền thuyết họ Hồng Bàng kể tiếp “…
Đế Lai truyền ngôi cho Đế Du Vơng th́ đánh nhau với Hoàng
Đế ở Phản Tuyền không thắng được mà chết. Họ Thần Nông
phương Bắc đến đây là hết… Long Quân ở măi thủy phủ, làm cho
mẹ con Âu Cơ phải sống lẻ loi, muốn đi về đất Bắc khi tới
biên giới, Hoàng Đế nghe tin lấy làm lo sợ, bèn chia quân
canh giữ cửa ải. Mẹ con Âu Cơ không về Bắc được…”
Theo“Ngũ Đế Kỷ”
th́ Li-Vưu là hậu duệ của Thần Nông phương Nam. Li-Vưu thống
lĩnh mấy anh em tù trưởng các bộ lạc đánh Đế Du Vơng. Lúc
bấy giờ, Hoàng Đế vua nước Hữu Hùng ở phía Tây Bắc thuộc
tỉnh Sơn Tây đem quân tới đánh và diệt Li-Vưu ở cánh đồng
Trác Lộc. Thế nhưng cổ sử Trung Quốc th́ tô điểm về nhân vật
Hoàng Đế mà họ cho là tổ tiên nhân dân Trung Quốc, theo đó
th́: “ Họ Thần Nông truyền được 8 đời đến đời Đế Du Vơng
th́ bị Hoàng Đế đánh giết. Lúc bấy giờ nhân khi Li -Vưu ḍng
Thần Nông phương Nam, giao tranh với Thần Nông phương Bắc là
Đế Du Vơng th́ Hoàng Đế ở phía Tây Bắc lưu vực Hoàng Hà tràn
xuống và đánh bại bộ lạc Viêm Đế ở phía Tây và Li-Vưu ở phía
Nam trở thành thủ lĩnh của liên minh các bộ lạc ở Trung
Nguyên”. Phải chăng v́ Hán tộc muốn nhận Hoàng Đế là tổ
tiên họ nên họ đă ghi về nhân vật Hoàng Đế một cách mù mờ
khó hiểu?.
Vấn đề của chúng
ta là phải phục hồi sự thật lịch sử, phải xét lại nhân vật
Hoàng Đế có phải là tổ tiên của Hán tộc như Tư Mă Thiên đă
viết hay không? Lịch sử thời cổ đại khi mà nhân loại chưa có
chữ viết, chưa có h́nh thức sử biên niên th́ làm sao sử gia
cổ đại của Hán tộc có thể ghi lại một cách trung thực những
sự kiện lịch sử ở Trung nguyên. Hán tộc chủ trương tiêu diệt
Việt tộc, triệt tiêu văn hoá nên không c̣n văn bản cổ nào
viết về thời cổ đại. Chính v́ vậy, các sử gia Hán đă xuyên
tạc, bóp méo thậm chí sửa đổi sự thực lịch sử nên họ đă viết
một cách mập mờ, bí hiểm, để từ đó thêm những chi tiết để
làm cơ sở cho những việc tô điểm nhân vật Hoàng Đế m họ tự
nhận là tổ tiên của họ. Các sử gia “đại Hán” đều cho rằng
Hoàng đế (2700-2600TDL) là tổ tiên lỗi lạc của Hán tộc ở lưu
vực Hoàng Hà. Sau khi đánh thắng bộ lạc Viêm Đế ở phía Tây
và Li Vưu ở phía Nam, trở thành thủ lĩnh của liên minh bôc
lạc ở Trung Nguyên. Tư Mă Thiên với sử quan chính thống “Đại
Hán” đă không chép ǵ về Thần Nông nhưng xem Hoàng Đế là ông
Tổ của Hán tộc. Cổ sử Trung quốc cũng cho rằng Hoàng Đế là
Hiên Viên hoàng đế, để từ cơ sở này, mặc nhiên tự nhận là
người kế thừa triết lư Âm Dương từ thời Phục Hy. Đây là một
sự cố ư mạo nhận với lư của kẻ mạnh, thế mà sách sử xưa nay
cứ rập khuôn sao chép luận cứ này..!
Ngày nay, các nhà
Trung Hoa học đều có chung một nhận định là lịch sử Trung
Quốc chỉ mới bắt đầu từ đời Thương Chu. Ngay các học giả
Trung Hoa như V.K. Tinh, Wang Kwo Wu và Quách Mạt Nhược đều
xác định là tất cả các huyền thoại về các vị vua cổ xưa
không thấy ghi trong giáp cốt đời Thương mà mới chỉ ghi
trong sách vở thời Xuân Thu Chiến Quốc mà thôi. Nhóm Tân học
là nhóm “Nghi cổ phái” do Quách Mạt Nhược chủ xướng đă bác
bỏ thời Tam Hoàng Ngũ Đế là của Trung quốc. Chính Lương Khải
Siêu cũng thừa nhận là lịch sử Trung quốc mới chỉ có khoảng
4 ngàn năm nay mà thôi. Thật vậy:
1. Nếu Hoàng Đế
là tổ tiên của Hán tộc th́ dứt khoát là phải ghi trên giáp
cốt đời Thương rồi, nên Khổng Tử (551–479 TDL) đă không hề
nhắc tới nhân vật Hoàng Đế một lần nào.
2. Huyền thoại
về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển Tam Hoàng.
Những nhân vật huyền sử như Phục Hi, Nữ Oa không hề được
nhắc tới trong các sách cổ như Kinh thi, Trúc thư kỷ niên và
đặc biệt là không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc Bốc
từ đời Thương.Thần Nông được Mạnh Tử thời Xuân Thu Chiến
quốc nhắc tới c̣n Hoàng Đế mới chỉ được biết tới vào thế kỷ
thứ III TDL mà thôi.
3. Thời kỳ Xuân
Thu chiến quốc là thời các quốc gia Bách Việt vượt nổi lên,
hết Việt xưng bá thời Xuân Thu rồi Sở lănh đạo liên minh 6
nước chống Tần thời Chiến quốc. Chính v́ vậy, thời kỳ này
huyền sử Việt mới xuất hiện với cc nhn vật Phục Hi, Nữ Oa,
Thần Nông, Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và Vũ nhà Hạ của
Việt tộc. Khổng Tử đại biểu của Hán tộc biết rơ điều này nên
không hề nhắc tới nhân vật Hoàng đế.
4. Với Cổ sử
khảo của Tiều Chu (199-270) Tam ngũ Lịch của Từ Chỉnh
(khoảng 200-260) Đông Kỷ của Vỹ Chiếu (204-273) Đế Vương thế
kỷ của Hoàng Phủ Mật (215-181). Tất cả sử gia này bảo lưu
các tài liệu khẳng định họ Thần Nông có liên quan huyết
thống với Việt tộc. Thế Bản viết “Việt họ Mi, con Tước
với Sở cùng tổ, là hậu duệ của Chúc Dung, Chúc Dung chỉ là
đọc ngược tên Viêm đế tức là Đế Viêm”. Theo Sơn Hải Kinh
th́ Chúc Dung thực ra là cháu 3 đời của Đế Viêm, đó chính là
Đế Minh theo truyền thuyết họ Hồng Hàng.
5. Cổ sử chép:
Hoàng Đế sinh ở g̣ Hiên viên lấy đức “Thổ” lên làm vua nên
gọi là Hiên Viên Hoàng Đế. “Ngũ Đế kỷ” chép:“Hoàng Đế tức
Hiên viên Hoàng Đế, vua nước Hữu Hùng ở phía Tây Bắc tỉnh
Thiểm Tây và Sơn Tây”. Cổ sử chép “Hữu Hùng quốc vương…
cũng như Hữu Ngu thị Đế Thuấn ..” mà theo từ điển Từ Hải
th́ chữ “hữu” chỉ là trợ từ nên vua nước Hữu Hùng thực ra là
“ Hùng Quốc Vương”, vua họ Hùng của thị tộc lấy họ Hùng làm
tên nước. Thiểm Tây, Sơn Tây là địa bàn sinh tụ của Lạc bộ
Chuy, phải chăng Hoàng Đế chính là vị vua họ Hùng gọi là
Hùng Quốc Vương?
Theo Nguyễn Đoàn
Tuân trích dẫn cổ thư th́ năm Hồng Bàng thứ 183 tức 2697
TDL, chư hầu tôn một người họ Công tôn ở đất Thọ Khâu chuyên
trồng loại dược thảo khúc Dật nên c̣n có tên là Khúc phụ.
Thời kỳ này, nước biển rút dần nên bán đảo Sơn Đông là một
ḥn đảo đang được bồi đắp khiến vịnh Giao Châu thu hẹp dần.
Năm 20 tuổi, thủ lĩnh họ Công Tôn dời đến bến Cơ Thủy, lấy
họ mẹ là Cơ. Bến Cơ Thủy gần huyền hồ trong vùng ngă ba Tam
giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc, nơi đây có g̣
Hiên viên nên thủ lĩnh họ Công Tôn lấy hiệu là Hiên Viên để
nhận là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng Đế thuở xa xưa. Hiên
Viên Hoàng Đế có trước cả Phục Hy, Thần Nông mà sách xưa
viết là Toại Nhân đứng đầu tam Hoàng là Toại Nhân, Phục Hi
và Thần Nông. Công Tôn có hiệu cũ là Hữu Hùng, lấy tên đất
làm hiệu chung cho cả họ Công Tôn. Đông phương Sóc đời Hán
nghiên cứu sách Trúc thư kỷ niên viết rằng vị thủ lĩnh này
đi thăm vùng sông Lạc là địa bàn cư trú của Lạc bộ Chuy,
thấy phương Nam có những làn mây sáng đỏ, bèn hỏi các bô lăo
Dương Quảng Thành, Phong Hậu, Thiên Lăo, Lực Mục, Đại Hồng,
Thường Thiên là những bậc kỳ tài về Đạo đức và y đạo th́
được cho biết rằng đó là ánh sáng toả ra do hai sao, một đỏ
một vàng cùng xuất hiện vào vận hội Giáp Tư nguyên thứ tư.
V́ đó mà vị thủ lĩnh này mặc áo vàng và xưng là Hoàng đế.
Trong một lần đi qua sông Lạc thấy cá to nổi lên và cầu được
mưa, sau đó lại nhận được Đồ thư xuất Hà.
Theo một truyền
thuyết khác th́ Hà Đồ do Phục Hi cách đây khoảng 3500TDL,
khi đi tuần thú ở sông Hoàng Hà thấy Long Mă từ dưới sông
hiện lên, trên lưng có Hà Đồ ghi việc trời đất mở mang. Lạc
thư là do vua Đại Vũ năm 2205 TDL khi đi trị thủy ở sông Lạc
thấy rùa thần nổi lên trên mu rùa vẽ Lạc thư. Trúc thư Kỷ
niên chép rằng Hoàng đế cai trị được năm chục năm th́ Phượng
Hoàng xuất hiện là thời thái b́nh thịnh trị của Việt Tộc.
Năm mươi năm là con số ngũ hành trong triết lư Âm Dương của
Việt tộc. Thư tịch cổ Trung Quốc chép rằng Hoàng đế đứng đầu
ngũ đế, lấy số 5 làm Trung cung nạp thổ (hành thổ) ứng với
bộ Ngũ Điển. Ngũ Điển là bộ sách của các đời Thiếu Hạo,
Chuyên Húc, Cao Tân và Đường Nghiêu. Ngu Thuấn. Gốc của Ngũ
Đức, Ngũ hành để nói về tiểu đạo đó là đạo làm người. Phượng
Hoàng là vật tổ biểu trưng của chi Âu Việt và vùng Thiểm
Tây-Sơn Tây, ngă ba Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng,
sông Lạc là địa bàn cư trú của Việt tộc. Âm Dương ngũ hành
và những con số linh là của Việt tộc…
Tất cả đă cho
chúng ta thấy là nếu nhân vật Hoàng Đế có thật th́ dứt khoát
Hoàng đế phải là Đế Hoàng của Việt tộc hậu duệ của ông tổ
Thần Nông, nhưng thuộc ḍng Thần Nông phương Bắc. Đời Chu
Thành Vương năm thứ 6 (1110 TDL),Việt Thường cử sứ giả đến
triều Chu biếu chim Bạch Trĩ. Quan Trủng Tể (thừa tướng) là
Chu Công Đán nhớ lời Hoàng Đế có lời thề rằng “ Giao chỉ
ở ngoài phương xa, không được xâm phạm…”. Nguồn sử liệu
trên cho thấy Hoàng đế có liên hệ huyết thống với Việt tộc.
Theo Từ Hải th́ Hoàng Đế và Li Vưu đều là những thị tộc
trưởng nên tranh giành nhau ngôi thủ lĩnh mà thôi. Truyền
thuyết xưa kể rằng Thần Nông và Hoàng Đế cùng một ông Tổ là
Thiếu Điển và thư tịch cổ cũng cho biết Đế Hoàng ở Tân Trịnh
Hà Nam chứ không phải từ Tây Bắc vùng Thiểm Tây, Sơn Tây như
Hán sử viết.
6. Thư tịch cổ
Trung Hoa ghi rơ là nguyên phi của Hoàng Đế là Luy tổ. Luy
tổ phát minh ra nghề nuôi tằm và chế ra thứ xe gọi là dọi
chỉ để kéo kén ra tơ. Cổ sử Trung Quốc gọi Bách Việt ở Hoa
Nam là Nam man, chữ man viết với bộ Trùng. Theo các nhà
Trung Hoa học như H. Wiens th́ miền Nam là cái nôi của nghề
trồng dâu nuôi tằm nên Luy Tổ phải là người Việt. Mặt khác,
cũng theo học giả này th́ Cổ thư Trung Hoa chép rằng Hoàng
Đế cưới vợ cho con là Chuyên Húc (Chan Yi) là người Thục
Sơn, ni Thục thuộc vùng Ba thục, địa bàn sinh tụ của chi Lạc
bộ Chuy Việt tộc có vật biểu là chim. Chuyên Húc đẻ ra con
đầu ḷng là Đế Cốc (2.435-2369TDL). Đế Cốc, con của Chuyên
Húc cũng lấy vợ người Thục Sơn sinh con sau làm vua Kinh
Man. Đế Cốc là cháu của Hoàng Đế mà cổ sử lại chép Đế Cốc là
cháu Đế Thiếu Hạo thuộc Bái điểu tộc thờ chim (Âu Việt), như
vậy nhân vật Hoàng Đế mà Tư Mă Thiên đề cao là tổ tiên nhân
dân Hán chính là Đế Hoàng của Việt tộc.
Sự thực lịch sử
này đă được nhà Trung Hoa học nổi tiếng Học giả W. Eberhard
công bố là vào khoảng năm 450TDL, một học giả nào đó đă mang
Hoàng đế nguyên là một vị thần nhỏ trong địa phận Sơn Đông
lên làm vị vua đầu tiên của dân tộc Trung Quốc. Tư Mă Thiên
đă dựa vào đó mà chép rằng Hoàng Đế là quốc tổ của Hán tộc.
Trên thưc tế, nếu Hoàng Đế là người Hán th́ thư tịch cổ,
sách sử Thương phải chép rồi, trong khi nhân vật Hoàng Đế
mới chỉ được biết đến vào thời Xuân Thu Chiến quốc là thời
kỳ nở rộ của Bách Việt. Vả chăng, Sơn Đông là nơi sinh tụ
của Lạc bộ Tri ca Việt tộc mà cổ sử Trung quốc gọi là Đông
Di nên vị thần Đế Hoàng phải là người Việt cổ. Như vậy, Đế
Hoàng, Đế Chuyên (c̣n gọi là Xuyên Húc), Đế Cốc, Đế Chí, Đế
Nghiêu, Đế Thuấn và Hạ Vũ đều là ḍng dơi Thần Nông của Việt
tộc. V́ vậy, thư tịch cổ Trung Hoa mới chép rằng “Chuyên Húc
chi thời, Giao Chỉ để lệ” nghĩa là thời Đế Chuyên Húc Giao
Chỉ đă có nền văn minh rực rỡ rồi.
Tư Mă Thiên trong
sử kư, phần Câu Tiễn thế gia cũng xác nhận “Tiên tổ của
Câu Tiễn là miêu duệ của vua Vũ tức là con thứ của Đế Thiếu
Khang nhà Hạ, họ Hạ Hầu. Cổ sử Trung quốc ghi năm Quí Tỵ
2148 TDL,Vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê và năm Quí
măo 2085 TDL, vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ ba là
Vô Dư ở đất Việt”. Sự thật lịch sử một lần nữa được hậu
duệ của Việt tộc khẳng định khi Hùng Dịch và các vua Sở nhận
là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng đế. Vua các nước Trịnh và
hoàng tộc một số nước ở bán đảo Sơn Đông như Tề, Lỗ, Trần
cũng đều nhận là con cháu của Thần Thái Sơn và lấy họ Khương
là họ của Đế Thần Nông của Việt tộc. Cổ thư Trung Hoa cũng
chép đời Hoàng đế sai Thương Hiệt theo dấu chân chim tạo ra
lối chữ gọi là Điểu triện. Theo Kim Định th́ chữ Thương có
nghĩa là kho lúa, là xanh chỉ phương Đông, c̣n Hiệt là chim
chỉ phương Nam cùng nghĩa với việc ngắm vết chân chim nghĩa
là ngắm nền văn minh Việt đi với Chim Hồng Bàng. Như vậy
chính Thương Hiệt đặt ra lối chữ theo lối chân chim gọi là
Điểu Triện của Việt tộc. Đến triều Chu, Thái sử Trứu mới sửa
Điểu triện của Việt tộc thành “Đại triện” c̣n gọi là “Trứu
thư” chính thức của Hán tộc.
Tất cả chứng cứ
trên góp phần phục hồi chân lư khách quan của lịch sử: Hoàng
đế chính là người Việt chứ không phải tổ tiên của nhân dân
Trung Quốc. Một vài sách cổ có viết Hoàng đế là người Hán
cũng không thuyết phục được ai v́ như Khổng Tử đă than rằng
“Làm sao bàn được lễ tục của họ? Tài liệu th́ chẳng c̣n
mà người hiền cũng đă mất…” Chính v́ thế, Khổng Tử với
lập trường dứt khoát dù theo triều Chu cũng không hề nhắc
tới Hoàng đế một lần nào. Mặc dù biết rằng nhân vật Hoàng đế
mới được một sử gia nào đó, đă mang một vị Thần ở vùng Sơn
Đông địa bàn cư trú của Lạc bộ Tri lên làm Tổ Tiên Hán tộc
nhưng các sử gia Hán tộc vẫn tô điểm và tôn thờ là “Thủy Tổ”
của họ để lấp vào khoảng trống mù mờ về nguồn gốc tổ tiên
của họ. Như vậy thời đại Tam Hoàng ngũ đế của Trung Hoa thời
cổ đại phải hiêủ là sau Toại Nhân được xem như thủy tổ loài
người, kế đến là Phục Hi họ Thái Hạo và Thần Nông họ Thiếu
Hạo. Ngũ Đế là Đế Hoàng, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu,
Đế Thuấn đều là Việt tộc mới đúng.
Một vấn đề khác
cũng phải đặt ra là sau thời đại Đế Hoàng, mà cổ sử Trung
quốc nhận là của họ nên họ viết theo cú pháp Hán là Hoàng
Đế, tới họ Đào Đường tức Đế Nghiêu đóng đô ở B́nh Dương, Sơn
Tây. Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn đóng đô ở Bồ Bản,
Sơn Tây. Thuấn truyền ngôi cho Vũ lập ra nhà Hạ, Vũ truyền
ngôi cho con là Khải. Thế mà Mạnh Tử lại bảo rằng vua Thuấn
là Rợ Đông Di. Từ điển Từ Hải cũng cho biết rằng tổ tiên và
con cháu vua Thuấn đều được phong ở đất Đông Di. Đây chính
là một nghi vấn lịch sử cần phải làm sáng tỏ mặc dù Tư Mă
Thiên đă đính chính điều này và cho rằng vua Thuấn là người
Tàu bị xem là Đông Di v́ thói quen hồi đó là như thế. Luận
điệu này xem là ra không có tính thuyết phục. Tại sao lại có
thói quen gọi một người đồng chủng nhất là một vị vua của
ḿnh là man di, mọi rợ điều này hết sức vô lư. Thực tế lịch
sử cổ đại Trung quốc cho biết vua Tàu chỉ phong vương cho
những nước lân cận khi những nước này mạnh khiến Hán tộc tạm
thời phải chấp nhận. Thay v́ chưa thống trị được th́ coi như
chư hầu miễn là hàng năm triều cống cho Thiên Tử, việc phong
vương và chế độ chư hầu có tính ngoại giao chiếu lệ để chứng
tỏ uy vệ của Thiên Triều buộc các chư hầu phải khuất phục
thế thôi.
Thư tịch cổ cũng
cho biết rằng Vua Thuấn tuần du phương Nam và chết ở núi
Thương Ngô. Núi Thương Ngô trước có tên là núi Cửu Nghi ở
miền Bắc tỉnh Hồ Nam. Hai bà vợ đi theo than khóc rồi chết ở
sông Tương nên dân gian gọi là Tương phi. Sông Tương ăn lên
tới Ba Thục, nguồn tại Long Uyên và chảy vào hồ Động Đ́nh.
Trong hồ Động Đ́nh có đền thờ Sương quân là con của vua
Nghiêu. Cổ thư chép rằng Thuấn đi lấy vợ người Việt ở phương
Nam đă ở rể tại nhà vợ. Sách Lễ Kư XVII, Nhạc Kư triệt 2
viết: “ Đế Thuấn là một nông dân Việt ở Lôi Trạch phát
minh ra đàn Huyền 5 dây để ca bài Nam Phong. Ong Qui chế ra
nhạc để thưởng chư hầu. Ai đức cao tài cả th́ đoàn vũ đông
người, ai đức ít th́ đoàn vũ ít người. Cứ xem đoàn vũ th́
biết đức ai cao”. Theo “Văn Hiến Thông Khảo” của Mă Đoan
Lâm th́ lúc đầu Tam Miêu không chịu thuần phục nên Thuấn đă
cho múa bài Nam phong và bài vũ Li Vưu để chứng tỏ cùng một
nguồn cội th́ chư hầu mới tuân phục. Theo Đổng Trọng Thư th́
Li Vưu là vua phương Nam, có lúc làm quan xem thiên văn làm
lịch, có cánh mà không bay được hàm ư là thuộc chi Au Việt
thờ Chim. Theo Kim Định th́ Li Vưu có nghĩa Rồng Vàng chúa
cao cả là người có 4 mắt, 6 tay với 2 phụ tá là thần gió và
thần mưa. Li Vưu cũng là tên một bài vũ gồm nhiều vũ nhân
nhất 9x9= 81 người. Li Vưu cũng c̣n chỉ lá cờ hay xuất hiện
trên trời như h́nh sao chổi đuôi cong.
Một nguồn cổ thư
khác cũng chép là ban đầu Tam Miêu không phục, Thuấn sai ông
Vũ đi đánh cũng không được nên Thuấn chế ra đàn Huyền 5 dây
để hát bài Nam phong. Cổ thư chép là ông Vũ th́ múa, Ong
Thuấn và ông Vũ cả hai đều mặc áo lông chim vào rồi cầm
khiên múa, sau 3 năm ( con số linh của Việt tộc) th́ Tam
Miêu mới phục v́ nhận ra Thuấn Vũ là cùng một nền văn hóa
của cùng một chủng tộc. Theo các công tŕnh nghiên cứu th́
chữ Hạ có nghĩa là mùa Hạ phương Nam, nơi phát xuất của ngũ
hành nên chữ Hạ c̣n chỉ lông chim ngũ sắc lấy từ núi Vũ sơn
về làm trang sức cho người múa. Nhà nghiên cứu Vũ B́nh th́
khi giải mă chữ “vũ” cổ đă cho rằng đó là dáng múa điển
h́nh của cư dân nông nghiệp khi cầu mưa và vũ có quan hệ mật
thiết với lễ dâng hương của truyền thống thờ cúng Tổ tiên
của cư dân nông nghiệp. Theo Hoài Nam Tử th́ vua Vũ khi đến
miền dân ở trần, là một chi tộc Việt gọi là Khoả loă th́
cũng giữ phong tục là cởi trần đóng khố. Vấn đề gốc tích của
vua Vũ lại sáng tỏ khi cổ sử Trung quốc ghi rơ năm Quí Tỵ
(2.198 TDL), vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê thuộc
U-Việt và năm Quí Măo ( 2085TDL), vua Thiếu Khang nhà Hạ
phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư chép vua Vũ
được ban cho “Cửu Trù” cũng là “Cửu Đỉnh” rồi chia nước ra
làm 9 châu.
Theo Kim Định
trích dẫn Danses th́ truyền thuyết kể rằng vua Vũ khi đi
trị thủy, đào sâu xuống ḷng sông th́ gặp mả của Phục Hi, mở
ra thấy Phục Hi đang quấn đuôi với Nữ Oa rồi Đại Vũ lại được
ban cho Lạc thư cũng trên ḍng sông Lạc. Hai con sông cùng
có tên Lạc là địa bàn của cư dân Lạc Việt. Lạc bộ Chuy
(điểu) là chi Âu Việt ở Sơn Tây, Thiểm Tây và Lạc bộ Trăi ở
Bắc Hà Nam. Hai thủy danh gắn liền với tộc danh đă cho thấy
Đại Vũ là người Việt v́ chỉ có ông Vũ mới được con rùa nổi
lên ở sông Lạc, đội quyển sách Lạc thư có 9 khoản để trị
thủy. Nói cách khác, huyền sử cho chúng ta thấy rằng quyển
sách đó là tinh hoa Việt : Hồng Phạm Cửu Trù với Lạc thư để
Đại Vũ lập ra nhà Hạ của Việt tộc. Đặc biệt gần đây các nhà
khảo cổ Trung Quốc vừa t́m thấy một cổ vật h́nh rồng làm từ
hơn 2 ngàn viên Lam ngọc có niên đại 3.700 năm ở khu khảo cổ
Nhị Lư Đầu, thành phố Yên Sư tỉnh Hà Nam. Nhiều nhà nghiên
cứu cho rằng khu vực này trước đây là thủ đô của nhà Hạ
(2.100-1.600 TDL), chứng cứ khảo cổ này một lần nữa xác minh
nhà Hạ là của Việt tộc.
Cổ thư Trung Quốc
chép vua các nước Ngô, Việt đều là con cháu Hoàng Đế, Đại Vũ
và chính họ cũng xác điều này. Chính sử kư của Tư Mă Thiên
chép Tổ Tiên của Câu Tiễn vua nước Việt là ḍng dơi vua Vũ,
hiện ở núi Cối Kê tỉnh Triết Giang TQ bây giờ vẫn c̣n đền
thờ vua Vũ. Sử kư cũng ghi các vua nước Sở đă nhận rằng họ
là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng đế. Hùng Dịch là cháu vua
Xuyên Húc (c̣n gọi là Chuyên Húc) tổ của nhà Hạ. Cổ thư cũng
chép Xuyên Húc thuộc ḍng Cao Tân, Cao Dương của Việt c̣n để
dấu ấn trong sự tích trầu cau. Đế Cốc thay Xuyên Húc lại là
cháu của Thiếu Hạo, ḍng Thần Nông, chi tộc thờ chim (bái
điểu tộc) chính là chi Âu Việt. Đế nghiêu là con thứ của Đế
Cốc, em của Đế Chí, như vậy Đế Nghiêu cũng thuộc ḍng Thần
Nông. Sự thật lịch sử này sẽ làm đảo lộn tất cả những kinh
điển sử sách của Hán tộc từ trước tới nay.
Đời Hạ được
coi là bắt đầu văn minh với kỹ thuật đúc đồng, kỹ thuật cất
nhà. Vua Đại Vũ nhà Hạ cho đúc Cửu đỉnh và chia nước thành 9
châu dựa trên 9 chi tộc lớn mà đến bây giờ sách giáo khoa
Trung Quốc vẫn phải công nhận là ngôn ngữ Tàu có tất cả 10
phương âm trong đó Hán tộc chỉ có một ngôn ngữ chính gọi là
Quan thoại ở vùng Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và
Nam Sơn Tây c̣n lại là chín phương âm toàn là âm Lạc Việt.
Đó là Tần ngữ, Yên Tề ngữ, Thục ngữ, Việt ngữ, Mân ngữ,
Giang Hoài ngữ, Ngô Việt ngữ, Điền Kiềm ngữ và Sở ngữ
(13). Chín châu đời nhà Hạ gồm :
- Châu Ung ở
vùng Thiểm Tây Cam Túc.
- Châu Kư ở
Sơn Tây là kinh đô của Đường Nghiêu và Ngu Thuấn và nhà Hạ.
- Châu Duyện ở
Sơn Đông nơi có núi Thái Sơn về sau là nước Tề và nước Lỗ.
- Châu Lương
là vùng Tứ Xuyên phía Tây Nam Thiểm Tây.
- Châu Dự là
vùng Hồ Quảng giữa Kinh sơn và Hoàng Hà.
- Châu Thanh
cũng ở vùng Sơn Đông.
- Châu Kinh là
vùng Hồ Quảng giữa núi Kinh và Hành sơn.
- Châu Dương
là vùng Giang Nam gồm cả Thái Hồ.
- Châu Từ là
vùng ở giữa núi Đại và sông Hoài.
Đối chiếu
truyền thuyết với thư tịch cổ, căn cứ theo kết quả của khoa
Tiền sử học và kết quả đo chỉ số sọ của cư dân Hoa Bắc
(Trung Quốc) sẽ làm sáng tỏ những ẩn ư gói ghém trong truyền
thuyết. Thư tịch cổ Trung Quốc xác định ở vùng Hoa Bắc
nguyên là địa bàn cư trú Tây Nhung ở phía Tây Thiểm Tây và
Rợ Đông Di(14) tức Lạc bộ Trăi cũng đọc là Trĩ,
có địa bàn ăn khớp với rợ Đông Di tức tỉnh Sơn Đông và ở
trên nữa là tỉnh Hà Bắc. Cổ thư Trung Hoa tả Rợ Đông Di xâm
ḿnh, nhuộm răng đen. Sách Nhĩ Nhă viết là Lạc bộ Trĩ, chữ
Lạc giống như chữ Lạc họ của Long Quân. Khi Hán tộc
tràn xuống, họ vượt biển đi xuống phương Nam, một số rút lên
rừng núi cao nguyên nhưng rồi theo thời gian họ bị đồng hoá
thành người Sơn Đông. Tuy vậy, măi đến thời Hán, họ lại nổi
lên mà Sử Hán gọi là giặc Huỳnh Cân tức giặc khăn vàng
(15). Nhà bác học Shiro Kogoroff đo chỉ số sọ người
Sơn Đông là 81,7 gần với chỉ số sọ Việt.
Sau khi diệt nhà
Hạ, triều Thương mở đầu lịch sử Trung quốc chỉ chiếm được
một diện tích bằng hai tỉnh rưỡi gồm Nam tỉnh Sơn Tây, Đông
Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và một vùng đất nhỏ của
tỉnh Sơn Đông m thơi. Cứ liệu lịch sử này xác định Việt tộc
đă có mặt ở Hoa Bắc, phíaTây Thiểm Tây tức Thanh Hải và Hà
Bắc, Sơn Đông. Thực tế này được Khoa Tiền sử Học xác nhận là
cách đây hơn 5000 năm, đợt thiên cư của Việt tộc qua Cam Túc
xuống lưu vực sông Hoàng Hà ở Hoa Bắc một thời gian ngắn rồi
định cư ở Hà Bắc, Sơn Đông. Từ trước đời nhà Hạ Việt tộc đ
định cư ở lưu vực sông Bộc ở Hoa Bắc nên cổ sử ghi rơ là
Bách Bộc. Từ nơi sinh tụ tiên khởi, Việt tộc đă thiên di về
hướng Đông Nam dọc lưu vực sông Hoàng Hà từ Thanh Hải xuyên
qua hành lang Cam Túc xuống Sơn Tây rồi định cư ở Hà Bắc Sơn
Đông(16). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền
thuyết là Thần Nông chia làm hai nhánh: Thần Nông phương
Bắc, truyền từ Đế Nghi đến Đế Lai, đến Đế Du Vơng th́ xảy ra
việc tranh giành ngôi thủ lĩnh. Cuối cùng Hoàng đế tức Đế
Hoàng lên ngôi thủ lĩnh, thành lập các triều đại Đế Chuyên
(Húc), Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đại Vũ nhà Hạ sau đó bị
Thành Thang (Thương) đánh đuổi để
chiếm lĩnh địa bàn này thành lập triều Thương của Hán tộc.
Đối chiếu với
kết quả của khoa khảo tiền sử, chúng ta biết tộc người mà cổ
sử Trung Quốc gọi là Rợ Đông Di chính là đợt thiên di của
Lạc bộ Trĩ cách đây là 5000 năm. Ngành Thần Nông phương Bắc
do Đế Du Vơng là thủ lĩnh, cũng gọi là Thần Nông nhưng là
hậu duệ của Đế Viêm Thần Nông, vị vua cuối cùng của ḍng
Thần Nông phương Bắc, làm chủ vùng Hà Bắc, Sơn Đông. Đây
chính là thời kỳ xảy ra chiến tranh giữa các bộ lạc để giành
quyền thống lĩnh Trung Nguyên khiến một số phải vượt biển
xuôi Nam, định cư ở Đài Loan, Hải Nam, Trung Việt hoặc ngược
lên phía Bắc định cư ở Đại Hàn, Nhật Bản. Thời kỳ này, một
bộ phận do Đế Du Vơng lănh đạo tràn xuống Hoa Nam đă gặp
phải sự đề kháng của những chi tộc Việt khác mà Li Vưu là
hậu duệ của Thần Nông phương Nam từng làm vua một chư hầu ở
cuối đời Thần Nông. Li vưu thống lĩnh mấy anh em tù trưởng
các bộ lạc đánh Du Vơng. Lúc bấy giờ, thủ lĩnh một chi Việt
tộc khác cũng gọi là Viêm đế, vua nước Hùng ở phía tây Bắc
tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây đem quân tới đánh diệt Li -Vưu ở
cánh đồng Trác Lộc. Cổ sử Trung Quốc ghi là Hoàng Đế cũng
đánh bại Du Vơng ở Phản Tuyền phía Đông huyện Bảo An tỉnh
Trực Lệ cũ. Đây chính là thời kỳ chiến tranh tao loạn, nhân
dân thống khổ, Việt tộc phải ly tán sang Cao Ly, Nhật Bản và
xuống phương Nam.
Truyền thuyết là
những trang chiếu giải trung thực nhất của người xưa. Việc
t́m hiểu những ư nghĩa hàm ẩn trong chiều sâu ư niệm của
ḍng sống sinh động thuở xa xưa là điều hết sức cần thiết để
t́m về nguồn cội giống ḍng. Bằng thái độ duy lư và với
phương pháp khoa học, chúng ta nghiên cứu vấn đề một cách
nghiêm túc, điều này không có nghĩa là vội vàng cho rằng
chúng ta sống trong thời đại ngày nay, với tri thức khoa học
th́ làm ǵ có chuyện người sinh ra trứng, từ đó cho rằng
truyền thuyết hoang đường, phản khoa học. Đó là thái độ khoa
học kiểu Jean Poirier phê phán những quan niệm giả tiến hóa.
Vấn đề là tại sao người lại đẻ ra trứng, tại sao là100
trứng? Chuyện ngược đời này cho ta ư niệm ǵ? Đó mới là cốt
lơi sinh tử của bức thông điệp người xưa gửi lại cho chúng
ta, để chúng ta “giải mă” bức thông điệp lịch sử của tổ tiên
ta.
II. VẬT
TỔ BIỂU TRƯNG
CỦA VIỆT TỘC
A. VẬT TỔ CHIM
Các công tŕnh
nghiên cứu về nhân loại học cho chúng ta biết rằng khi một
xă hội thị tộc phát triển đến một giai đoạn nhất định nào đó
th́ người nguyên thủy bắt đầu t́m hiểu về cội nguồn thị tộc
của họ. Ở thời kỳ tri thức loài người c̣n ở mức độ nhất định
chưa phân biệt được ranh giới giữa xă hội loài người với
thiên nhiên vạn vật muôn loài. Họ cho thiên nhiên có những
sức mạnh kỳ bí, nên cho rằng thị tộc có một quan hệ huyết
thống mật thiết với một động vật hoặc thực vật nào đó. Từ ư
niệm ban sơ này, họ coi động vật mang ư nghĩa thần linh như
vật tổ biểu trưng để che chở bảo vệ họ trong cuộc đấu tranh
sinh tồn với thiên nhiên và các bộ tộc khác.Từ đó, người cổ
đại sùng bái vật tổ thần linh và coi đó là biểu tượng của
thị tộc, ư niệm này được các nhà nhân loại học gọi là Totem.
Totem là dịch âm chữ “toten” trong ngôn ngữ Indian nghĩa là
tông tộc(17). Tuy người cổ xưa sùng bái nhưng
không có nghĩa là tôn giáo v́ tự thân chữ toten là tông tộc
đă bao hàm ư nghĩa biểu trưng cho giống ḍng thị tộc. Thật
vậy, các di chỉ đào được Hà Mẫu Độ có khắc h́nh tượng con
chim, điều này có nghĩa là Việt tộc đă sùng bái totem chim
như vật tổ thiêng liêng của ḿnh. Sách Tả truyện chép: “Họ
Hoàng Đế lấy mây để làm dấu, họ Thái Hạo lấy Rồng, họ Thiếu
Hạo lấy chim…”. Điều này có nghĩa là tộc Thái Hạo coi
Rồng là totem, Thiếu Hạo coi chim là vật biểu. Sách Thuyết
Văn giải tự viết: “Man Di phương Nam theo côn trùng, Địch
ở phương Bắc theo Khuyển. Lạc ở phương Đông theo Trĩ, Khương
ở phương Tây theo Dương ..”
Từ di chỉ khảo cổ
đến nguồn sử liệu minh văn gợi cho chúng ta biết về totem
vật tổ biểu trưng của Việt tộc là Rồng và Chim. Chi tộc Âu
Việt thờ vật biểu chim nên người xưa thần thánh hoá Âu Cơ là
chim hoá thành tiên th́ phải đẻ ra trứng là chuyện dễ hiểu,
b́nh thường thế thôi. Nhờ vậy, thế hệ cháu con biết về cội
nguồn tông tộc thuở khai nguyên để nhận biết nhau cùng là
một nguồn căn gốc cội. Thật vậy, h́nh ảnh những vũ nhân hoá
trang thành chim, đầu dắt lông chim trên mặt trống đồng thể
hiện “Totem” vật tổ biểu trưng là chim của Việt tộc. Các tài
liệu dân tộc học và những người bản địa ở Tây Bắc Việt Nam
cùng một Totem “Chim” đă góp phần xác minh cùng một cội
nguồn dân tộc.
Tộc Xá người
Khmer (Tây Khương) c̣n gọi là Xá Cẩu đến ngày nay vẫn duy
tŕ việc sùng bái vật tổ Chim. Trong các tộc Khmer có đến 24
họ mang tên các loài chim nhưng quan trọng nhất là chim
Phượng Hoàng đất v́ nó là chúa tể muôn loài chim. Ngôn ngữ
dân tộc học gọi là “THRÀNG” mang một ư nghĩa óng ánh, nhấp
nháy, tương tự như “Mling” chỉ một loài chim trong tiếng
Việt cổ. Người Miêu (Miao) mà dân gian ta vẫn gọi là Mèo,
họ là cư dân bản địa ở Trung Nguyên trước khi Hán tộc xâm
lấn. Người Miêu có truyền thuyết về cuộc di tản của họ, một
số người vượt qua bờ nước, một số người lên miền núi cao như
một dị bản của truyền thuyết Rồng Tiên của Việt và hiện c̣n
thấy ở Quư Châu. Họ cũng thờ vật tổ Chim, thiếu nữ Miêu
trang điểm tóc của họ giống như đuôi chim công … Người Mạng
ư, người Xing Minh tức Xá Puộc cũng có nhiều họ chim nhưng
toàn bộ th́ thờ chim Đa Đa. Người Thái có họ Ḷ là họ gốc và
cũng từ họ Ḷ này chuyển hoá ra nhiều họ khác. Hiện giờ
người Thái vẫn c̣n giữ tục thờ vật tổ Chim. Đó là chim
Phượng Hoàng đất.(18) Đồng bào Stiêng, người J’ro
trước ở miền Đông Nam Việt hiện nay c̣n ở Phước Long cũng
nhận là học nói tiếng chim nên phát âm nhẹ nhàng líu lo, đặc
biệt họ đều lấy họ là Điểu (chim) Theo nhà nghiên cứu Đoàn
Nam Sinh th́ năm 1838, đồng bào Stiêng đă được vua Minh Mạng
cho nhận họ là họ Hồng và Nhạn (chim Hồng của Việt tộc).
Trên khắp địa bàn cư trú của Âu Việt đều tôn thờ vật tổ là
chim. Chim là biểu tượng của Mẹ Âu nên h́nh tượng Mẹ Âu đẻ
ra trứng là điều dễ hiểu chứ không hoang đường quái đản ǵ
cả.
Phụng Hoàng là
chúa tể của các loài chim, Phụng Hoàng c̣n đọc là Phượng
Hoàng. Theo dân gian th́ mỗi khi chim Phượng Hoàng xuất hiện
là có thánh nhân ra đời. Phụng là chim trống, Hoàng là chim
mái. Thời kỳ Quang Trung Hoàng Đế xướng nghĩa th́ chim
Phượng Hoàng xuất hiện nên dân gian tin Quang Trung là thánh
nhân xuất hiện cứu dân giúp đời. Chính v́ vậy, Hoàng Đế
Quang Trung đă cho xây dựng Phượng Hoàng Tây Đô. Rừng núi
Trường Sơn là môi trường sinh cảnh thích hợp của loài chim
Phượng Hoàng. Sách Lâm Ấp kư chép: “ Phía Tây Tùng Nguyên
quận Cửu Chân th́ chim muông rất dạn, không biết sợ cung.
Đàn bà góa ở vậy, xoă tóc cho đến già. Đèo vào phương Nam
không cao lắm chim Thương Canh nhớ Xuân phương Bắc, chim Phỉ
Thuư vui cảnh phương Nam..” Thủy Kinh Chú quyển 36 chép
“Từ Hàm Hoan ở phía Bắc Nghệ An vào Nam Hươu Hoẵng đầy
g̣, kêu gọi vang đồng, chim công (Phượng) bay lượn, che rợp
quanh núi. Vượt qua Tạc Khẩu đến Cửu Đức, cửa sông Cửu Đức
phía trong qua suối Cửu Đức suối Nam Lăng”. Nhà điểu học
Pháp Jabouills cho rằng những con chim quư này là đặc chủng
của rừng Đông Trường Sơn, v́ trên thực tế người ta đă t́m
thấy loài chim này trong những khu rừng ở đầu nguồn sông
Hương. Tên của núi Kim Phụng và núi Cẩm Kê ở Huế, ngày xưa
là nơi cư ngụ của đôi chim Loan Phụng trong truyền thuyết
Đông phương biểu trưng cho hạnh phúc lứa đôi (Loan Phụng Hoà
Minh).
Việt tộc tôn thờ
vật tổ (Totem) biểu trưng Phượng Hoàng đất là chúa tể các
loài chim. Ngôn ngữ các tộc người Nam Á gọi giống chim này
là “Thràng” và địa danh Mê Linh của quốc gia Văn Lang xuất
phát từ Miling, Ma Ling, Minh Linh có nghĩa là lấp lánh
tương tự như “thràng” (Phượng Hoàng đất) vật tổ biểu trưng
linh thiêng của người Việt cổ xưa (19). Theo nhà
điểu học Nhật Bản Hachi Suka th́ chim Trĩ (c̣n gọi là Công)
là bản gốc trong thiên nhiên của h́nh tượng chim Phượng
Hoàng huyền thoại trong văn hoá truyền thống xa xưa của châu
Á, kể cả trong sách cổ Trung Hoa và Nhật Bản. H́nh tượng
chim Loan th́ chính là chim Trĩ Cẩm Kê có tên khoa học
Argussianus argus. Thật vậy, Trĩ chữ Nho gọi là Địch. Địch
là một loài Trĩ có đuôi dài, lông ngũ sắc. Lạc Địch là giống
chim Trĩ của Lạc Việt cũng như Tất Phương, Uyên Ương là
những giống chim đặc biệt của Lạc Việt mà người cổ đại đă
tôn thờ như vật tổ. Theo Kim Định th́ đặc trưng riêng biệt
Trĩ Lạc Việt là khi bay thường thu cánh bên trái trước “Lạc
địch tập kỳ tả dực” mà cổ thư gọi là Tả nhậm. H́nh ảnh con
chim Trĩ của Việt tộc bay theo hướng mặt trời (Tùy dương
Việt Trĩ) vừa nói lên vật tổ biểu trưng vừa là tín ngưỡng
nguyên thủy thờ mặt trời cư dân sống bằng nghề nông.
Truyền thuyết về
sự tích dân tộc Mường kể rằng: Xưa kia từ một tổ chim nở ra
hai anh em chi Quyền chấp và chi Quyền chợ là tổ tiên người
Việt và người Mường. Điều đó chứng tỏ cả Việt lẫn Mường đều
có thờ vật tổ chim mang ư nghĩa biểu tượng của thị tộc.
Người BơRu ở dọc Trường Sơn c̣n có sự tích kể rằng ngày xưa
trời đất mưa nhiều, mưa măi nước dâng lên ngập hết chỉ c̣n
lại một quả bầu, từ trong quả bầu chui ra mấy anh em đặt tên
là Tà Ôi, Bơ Ru, Lào Kinh… Nhiều dân tộc ở Tây Nguyên như
Banar, Eđê cũng có những truyền thuyết tương tự như vậy.
Mling, Mlang, Kling klang, Bling Blang là những cặp tên có
tính chất lấp lánh, theo tiếng đồng bào Thượng ở Tây Nguyên
đều có nghĩa là một loài chim. Người Xá Khmer c̣n có họ
“Thràng”, thờ chim Thràng làm vật tổ. Người Mường có chim đẻ
trứng, trăm ngh́n trứng, nở ra muôn vật muôn loài, nở ra
người Kinh tức người Việt, người Mường ..(20)
Lĩnh Nam Trích
Quái c̣n ghi truyền thuyết về đất Bạch Hạc với cây Chiên đàn
và con chim Hạc trắng đến đó làm tổ. Dư Địa chí của Nguyễn
Trăi cũng chép : “ Ở sông Hát có cá Anh Vũ bơi lội tới
sông Giang Hán là sông Dương Tử và Hán Thủy v́ cây Chiên Đàn
ở sông Hát cao hàng ngh́n trượng, rễ lâu năm kéo dài bám
liền tới sông Giang Hán. Cá Anh Vũ bơi lội thông thương
trong hốc cây, hốc đất. Cá Anh Vũ cũng có ở Hoa Lư là gốc rễ
cây Chiên Đàn nói trong truyện Mộc tinh ở Lĩnh Nam Trích
quái nay là ngă Ba Hạc đă thông tới Hoa Lư v́ thế ở Hoàng
Hạc Lâu có Anh Vũ Châu ..”. Theo Lê Quí Đôn trong Vân
Đài Loại ngữ th́ : “Trầm Hương, Tốc Hương, Bạch Đàn, Quế,
Long Năo, Giáng Châu Hương, Kỳ Nam, Uất Kim Cương, Tường Vi
và các vị có hương đều sản sinh ở biên giới phía Nam. Nam
phương Hỏa thịnh sinh Thổ, Thổ vị ngọt mà thơm. Cây cỏ ở
phương Nam được vượng khí của Hỏa bồi dưỡng nên anh hoa phát
tiết ra ngoài cho nên có hương thơm”.
Thư tịch cổ
cũng xác nhận người Việt cổ ở nước Sở chọn vật biểu là chim
Hồng Hộc. Hồng Hộc là một loại chim nước gần với loài C̣,
Sếu, Hạc. Chim Hồng chim Lạc là loài chim bay cao nên người
xưa tự hào ḍng giống LẠC HỒNG, hàm ư một tộc người có ư chí
tiến thủ cao giống như chim Lạc, chim Hồng tung cánh bay cao
vút từng mây hơn các loại chim khác.
Theo Đào Tử Khai
th́ khi nghiên cứu hoa văn trên mặt trống đồng đă chứng tỏ:“Totem
của các thị tộc Tổ tiên của người Đông Sơn là con chim Hồng
mà măi đến thời Đông Sơn, chim Hồng vẫn là vật tượng trưng
cho ho”. Nhà nghiên cứu Đoàn Nam Sinh cho biết trên
trống Cửu Cao t́m thấy ở Văn Giàng Hải Hưng mà giới nghiên
cứu đă nhận ra 4 loại chim Hồng khác nhau gồm 2 loài cổ trụi
mỏ nhọn như loài Hạc xám ở đồng bằng sông Hồng và 2 loài có
phướn v́ túm lông như cờ bay từ đỉnh đầu ra sau gáy. Trên
mặt trống Miếu Môn I và Hà Nội I cũng khắc họa chim Hồng
giống như Hồng Hạc ôn đới Flamingo. Số lượng chim Hồng cổ
trụi chiếm một tỉ lệ khá cao trên các trống làng Hích, làng
Vạc, Đắc Giao, Trường giang, làng Vạc IV, Đông Sơn IV, Giảo
Tất, làng Gộp, Hà Nội III, Xuân Lập II, Phượng Tú, Vũ Bị,
Bản Thôm, Pha Long .. c̣n lại hầu hết là chim Hồng mỏ dài có
phướn. Theo tài liệu điều tra của nhà nghiên cứu người Pháp
Blanford 1929 th́ người ta đă xác lập được bản đồ phân bố và
di cư của chim Hồng trải dài khắp phía Nam Trung quốc và Bắc
Việt Nam.
Nhà nghiên cứu
Đoàn Nam Sinh cũng cho biết theo sách đỏ Việt Nam phần động
vật xuất bản ở Hà Nội năm 2.000 th́ Hồng Hạc hay Sếu đầu đỏ
có tên khoa học là Grus Antigone Sharpii, Sarus crane hiện
nay c̣n ở rừng Tràm Tam Nông. Những đàn chim Hồng Hạc này
bay đi kiếm ăn khắp Mo Xo Hà Tiên, núi mây, Kiên Lương và
nhiều nơi khác trên đồng bằng sông Cửu Long, đôi khi chúng
nghỉ cánh ở Tân Hưng Long An hoặc sân chim Cần Giờ.
Tài liệu khảo
cổ học cung cấp rất nhiều h́nh chim và h́nh người hoá trang
thành chim, h́nh thuyền, h́nh vũ nhân trang sức bằng lông
chim trên các trống đồng và những đồ đồng Đông Sơn khác. Mọi
tài liệu đều nói lên một cách thống nhất là bộ lạc đó khi
xưa mang tên một loài chim (Mling, Bling, Kling, Blang,
Klang) với một thị tộc (Bào tộc) gốc thờ chim làm vật tổ. Đó
là các bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước. Tên Trưng Trắc
thời cổ phải phát âm là Mling Mlack hay Bling Black… Với tên
đất, tên bộ lạc và ở thời xa xưa tên vật tổ được lấy làm tên
họ. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tín ngưỡng nguyên thủy với
lối đặt tên đất, tên người thời cổ.(21) Nhân dân
Nam Trung Hoa và cả Đài Loan vẫn bảo lưu truyền thuyết
Phượng Hoàng Lửa trong đó Bái Điểu tộc tức Việt tộc thờ chim
bị Thiên ma tộc tức Hán tộc đánh đuổi khỏi quê cha đất tổ
nên vẫn âm thầm chờ ngày Phượng Hoàng Lửa xuất hiện để dẹp
lũ yêu ma, khôi phục lại giang sơn xưa cũ.(22)
B. VẬT TỔ RỒNG
Bên cạnh vật
biểu chim của chi Âu Việt, chi Lạc Việt của Việt tộc c̣n tôn
thờ vật tổ Rồng, biểu trưng cho tổ phụ của ḍng giống như
lời trần t́nh của Bố Lạc. Nếu mẹ Tiên là biểu trưng của t́nh
cảm và đời sống tinh thần mang tính tâm linh th́ Bố Rồng
biểu tượng cho ư chí và sức mạnh của vật chất để sinh thành
một con người Việt Nam toàn diện với đầy đủ ư chí và t́nh
cảm, sức mạnh vật chất và đời sống tinh thần mang tính tâm
linh cao độ. Rồng là con vật đứng đầu trong tứ linh là Long,
Ly, Qui, Phượng. Việt tộc là cư dân nông nghiệp sinh sống ở
miền sông nước với nghề trồng lúa nước nên tiền nhân ta đă
h́nh tượng hóa thần thánh hóa con Giao Long thành Rồng, biểu
tượng môt sức mạnh tiềm tàng, lúc ở dưới nước lúc bay lên
trời để phun nước xuống cho dân cày cấy. Rồng c̣n biểu trưng
cho giống ḍng Việt với tinh thần dân tộc cao độ, ḷng yêu
nước tiềm tàng, sự kiên gan tŕ chí chịu đựng mọi gian khổ,
tính linh động sáng tạo hầu thích ứng với mọi hoàn cảnh, mọi
thách thức để tồn tại măi tới ngày nay. Chính v́ vậy, Rồng
được xem là Totem vật tổ biểu trưng cho sự che chở của Bố
Lạc tràn đầy may mắn hạnh phúc cho con cháu giống ḍng Việt.
Thật vậy, các
nhà dân tộc đă minh chứng rất nhiều tài liệu dân tộc học
cũng như truyền thuyết dân gian về h́nh tượng vật tổ linh
thiêng “Rồng” là loài vật quư đứng đầu tứ linh. Vật linh
Rồng gắn liền với nước là một nhu cầu sống c̣n đối với cư
dân nông nghiệp không chỉ ở Việt Nam mà c̣n lan toả khắp
châu Á gió mùa. Theo DV Deopik (1993) th́ “ Rồng là con
vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ
đây nó đă đi vào văn hoá Trung Hoa”. Nhà nghiên cứu J. A
Chesnov cho rằng “H́nh tượng Rồng phát sinh từ Đông Nam Á
đă thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của châu Âu”.(23)
Các công tŕnh
khảo cổ phát hiện trên lưỡi qua đồng ở núi Voi có khắc h́nh
một con vật ḅ sát có chân, đuôi dài, đầu có sừng, ḿnh có
vẩy cứng. Hiện nay, dân gian vùng Vĩnh Phú vẫn c̣n tổ chức
lễ hội thờ cúng Rồng và đồng bào ta vẫn giữ tục kiêng cữ đối
với loài thuồng luồng và loài giải… Trong dân gian vẫn
truyền lưu những câu truyện thần kỳ về sự thụ thai huyền bí
giữa người và Rồng như truyện truyền kỳ dân gian về sự giúp
đỡ của Rồng đối với người khi gặp hoạn nạn… Giao Long là
loài ḅ sát lưỡng thê khổng lồ phần nhiều sống ở dưới nước.
Dân gian gọi giao long là thuồng luồng hay rồng rắn là con
vật khổng lồ ḿnh rắn có vẩy ngược. Thân to như cột đ́nh,
đầu to và miệng có nanh sắc.
Tầm nguyên ngữ
nghĩa của địa danh Giao Chỉ sẽ cho chúng ta hiểu rơ hơn ư
nghĩa vật biểu “Rồng” của Việt tộc. Thật vậy, theo Tân Biên
Hoa Việt từ điển của Lư Văn Hùng (1960) th́ chữ Giao (long)
là một h́nh dung từ cho ta ư niệm về một sự gặp gỡ, tiếp
xúc. Quan sát một con thuồng luồng nằm ngủ trên cạn, bốn chi
(chân) duỗi thẳng vuông góc với thân nó chẳng khác nào hai
vạch nhỏ chạy ngang qua một vạch lớn nên người ta gọi nó là
con Giao. Chữ “ Giao” ở đây là danh từ riêng nên viết ghép
với chữ trùng để chỉ con Giao thuộc loại ḅ sát họ“Long” v́
vậy mới có tên là Giao Long(24). Chữ “Long” dùng
để chỉ những con vật khổng lồ, có sức mạnh khủng khiếp thời
cổ đại như Khủng Long, Lôi Long, Dực Long, Cù Long và Giao
Long mà tiếng Việt gọi là Rồng. C̣n chữ “Chỉ” viết tượng ư
bàn chân in trên mặt đất hàm nghĩa là tại, ở. Mặt khác, căn
cứ vào tự dạng của chữ Chỉ ở đây c̣n cho ta một ư nghĩa nữa
là vùng đất, nơi ở như ta vẫn dùng từ địa chỉ.
Như
vậy, chữ Giao đi liền với chữ Chỉ thành đọc là Giao
Chỉ(25). Chữ “Giao” ở đây có chữ “Trùng” nên có
nghĩa là con Giao Long và Giao Chỉ là vùng đất có nhiều Giao
Long chứ không có nghĩa là hai ngón chân cái giao nhau như
người ta vẫn thường giải thích từ trước tới giờ(26)..
Kinh Xuân Thu cũng nói tới địa danh Giao Chỉ theo đó năm
2205-2197 TDL, vua Hạ vũ định ra phép 9 châu, chép rơ núi
sông, đường xá xa gần, sản vật từng nơi. Lúc đó vùng đất
nước ta có nhiều Giao Long sinh sống nên đặt là Giao Chỉ và
chép là Khuyết địa có nghĩa là đất trống. Trên thực tế, có
thể lúc đó dân cư c̣n thưa thớt nên được gọi là đất trống
một cách vô t́nh hay cố ư của Xuân Thu? Thư tịch cổ Trung
Hoa có đề cập tới Nam Giao như là vùng đất tiếp giáp với
phương Nam của các triều đại Nghiêu Thuấn cổ xưa. Theo công
bố mới đây của giáo sư Hà Nỗ trong sở Khảo cổ của Viện khoa
học xă hội Trung Quốc (IACASS) th́ di tích “Đàn tế tự” kiêm
đài quan sát thiên văn tại làng Đào Tự, huyện Tương Phần
tỉnh Sơn Tây TQ có thể chính là đàn Nam Giao thời Nghiêu
Thuấn. Tuổi di tích theo niên đại thiên văn xấp xỉ bằng tuổi
đo bằng đồng vị phóng xạ carbon là hơn 4 ngàn năm. Theo nhà
nghiên cứu Trương Thái Du th́ Giao Chỉ là khái niệm nói về
vùng đất tiếp giáp phía Nam của vương quốc Trung Hoa cổ đại.
Lănh thổ Trung Quốc cách đây hơn 4 ngàn năm nằm phía trên
ḍng Hoàng Hà. Trong suốt tiến tŕnh xâm lược, lănh thổ ấy
ngày một bành trướng theo gót chân đế quốc “ Đại Hán”. Như
vậy, nếu Giao Chỉ là một khái niệm th́ chắc chắn khái niệm
ấy sẽ di chuyển liên tục về phương Nam. Điều này đă được thư
tịch cổ các triều đại Trung Quốc xác nhận khi viết về Giao
Chỉ một khác.
Như vậy, Giao
Chỉ là tên chung những vùng đất có Giao Long sinh sống. Thư
tịch cổ Trung Quốc cho biết ở lưu vực sông Dương Tử, địa
phận Giang Nam Trung Quốc cũng có đất Giao Chỉ. Sách cổ cho
biết ngay từ thời Xuyên Húc th́ Giao Chỉ đă văn minh “
Xuyên Húc chi thời, Giao Chỉ để le”. Trong Phương Đ́nh
Dư địa chí, Nguyễn Siêu dẫn Thượng thư đại truyện chép: “
Chữ chỉ để bên phụ nghĩa là đất ở ngoài dăy núi đến bể là
hết, nghĩa là bể dựa vào đấy”. Như vậy Chỉ ở đây là phần
đất từ rặng Ngũ Lĩnh ra tới biển Đông bao gồm cả miền Hoa
Nam TQ. Theo Nguyễn Đoàn Tuân th́ Giao Chỉ là Sơn chỉ thủy
giao khi mạch núi ngưng tụ th́ gặp nước bọc lấy như một
luồng khí tụ lại rất mạnh. Địa danh vùng đất này gọi là GIAO
CHỈ chạy dài từ đầu dăy Ngũ Lĩnh xuống Trường Sơn đến tận
Nam Dương quần đảo.
Trên b́nh diện
tâm linh th́ chúng ta phải hiểu Giao Chỉ là Chỉ trời Chỉ đất
giao nhau ở phương Nam v́ tiền nhân ta là dân cư nông nghiệp
nên hàng năm lễ tế trời đất gọi là Tế Nam Giao. Theo sách
“Thuyết văn” th́ chữ Chỉ là nền dưới v́ tượng cây cỏ mọc có
nền, cho nên lấy làm chân. Theo kim Định th́ chính v́ ư
nghĩa này đem đến cho chữ chỉ bộ “túc” và ư nghĩa lớn nhất
của túc là miền chân núi. Đó là ư nghĩa được nhiều học giả
qui cho Giao chỉ kể cả sử gia Tư Mă Thiên. Miền chân núi này
ở rặng Ngũ Lĩnh c̣n gọi là Nam Sơn nối dài dăy núi Côn Luân
và Hi Mă Lạp Sơn. Cơi Nam Giao xa xưa được Kinh Thư gọi là
vùng đất đỏ Xích Qui phương bao gồm vùng Tam giang Bắc gồm
sông Vị, sông Hoàng, sông Lạc và Tam giang Nam với sông
Nguyên, sông Tương, sông Dương Tử gọi là Cửa Việt hay Giao
Chỉ là thế. Sau này, trước sự xâm lăng của Hán tộc đẩy lùi
Việt tộc xuống Phương Nam, người Việt cổ mang theo địa danh
cũ là Giao Chỉ xuống miền Bắc Việt Nam. Về sau Hán triều đặt
tên quận Giao Chỉ nhưng chỉ vỏn vẹn hữu ngạn sông Hồng gồm
miền Hà Nội và các vùng phụ cận.
Theo Đào Duy Anh
th́ khoảng 5000 năm trước, vào đầu thời đồ đá mới, người
Giao Chỉ đă h́nh thành xă hội nguyên thủy ở lưu vực sông
Dương tử, họ sinh sống bằng nghề chài lưới thường lặn xuống
nước bắt cá nên hay bị Giao Long làm hại. Truyền thuyết kể
rằng: “Bố Lạc từ thủy phủ trở về, bố diệt ngư tinh, mộc
tinh và dạy dân xâm vẽ ḿnh để khi xuống nước khỏi bị các
loài thủy tộc làm hại”. Tục xâm ḿnh có từ đó như một
phong tục, bản sắc riêng biệt của Việt tộc nên từ thứ dân
đến vua chúa đều xâm ḿnh, măi đến đời Trần Anh Tông không
xâm ḿnh nữa nên tục này mới mai một dần. Theo “Sơn Hải
Kinh” th́ quan niệm của người xưa muốn tham dự vào vật tổ
thiêng liêng thường cầu nguyện gọi tên vật tổ, xâm vẽ h́nh
vật tổ lên thân ḿnh và lên tới cực độ th́ ăn thịt vật tổ.
Các nhà Trung Hoa học xác nhận tục xâm vẽ ḿnh khởi đầu từ
hồ Động Đ́nh. Tập tục này phổ biến khắp Hoa Nam bao gồm
Triết Giang, Đài Loan, Hải Nam, Nam Tứ Xuyên và cả Ai Lao,
Nhật Bản nữa. Theo H. Wiens th́ người Việt ở Triết Giang
cùng một chi tộc với Thục Sơn ăn liền với Kinh Sở.
Cho dù Rồng là
một con vật có thật hay không nhưng nó đă trở thành vật tổ
thiêng liêng biểu trưng nguồn cội ḍng giống, thấm đậm tâm
thức Việt như sự che chở ban phát may mắn, hạnh phúc tốt
lành cho Việt tộc suốt ḍng lịch sử. Người việt cổ xưa vẫn
trân trọng nghi lễ truyền thống“ Múa Rồng” trong các lễ hội
dân gian. Tục này vẫn c̣n bảo lưu ở Việt Nam và ở Nam Trung
Hoa nữa. Tṛ chơi “Rồng rắn lên mây” vẫn c̣n thịnh hành
trong giới thiếu nhi … và hẳn không phải là ngẫu nhiên trong
khi người xưa đặt tên cho con sông MêKong là sông Cửu Long
mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương đă viết thành thơ “ Chín con
rồng bơi ngược Cửu Long Giang ..” để hướng về miền đất
tổ xa xưa.
Sông Cửu Long
dài 4184km, bắt nguồn từ cao nguyên Côn Sơn xuống Tây Tạng
được coi như nóc nhà của thế giới. Sông Cửu Long mà người
Tây Tạng gọi là Dza-Chu, Trung quốc gọi là Lac Cang Jiang,
Thái Lào gọi là Mae Nam Khong, Cambodia gọi là Mékong, rồi
xuống Việt Nam chia làm hai nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang
đổ ra biển Đông qua 9 cửa: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa BaTri, cửa
Hàm Luông .. Chính v́ vậy, người Việt đă gọi tên một cách
thân thương gắn liền với cội nguồn dân tộc là sông Cửu Long.
Cư dân gốc người Việt cổ ở Vân Nam vùng Jinghon gọi là Ḍng
Sông Mẹ. Theo cổ Thư và truyền thuyết dân gian tự xa xưa, cư
dân bản địa đă gọi tên sông một cách tôn kính, đượm vẻ huyền
thoại là: “Sông Cưỡi Rồng”. Tương truyền thuở xa xưa có một
tiên nữ đi tắm sông đụng phải một vật lạ từ thượng nguồn
trôi xuống rồi về nhà thụ thai sau đẻ ra 100 người con
..Truyền thuyết về tiên nữ thụ thai trên ḍng sông Rồng theo
lối “dă hợp” của người Việt cổ xưa để rồi sinh ra trăm con
như một dị bản huyền thoại Rồng Tiên của Việt Nam. Từ đó
dân gian gọi là “Ḍng Sông Mẹ” hay c̣n gọi là “Sông Cưỡi
Rồng”.
Kết quả công
cuộc khảo cứu dân tộc học về ngọn nguồn dân tộc được minh
chứng bởi khoa Tiền sử học cho chúng ta biết về cuộc thiên
cư vĩ đại của những người Tiền Việt
(Protoviet) tổ tiên của đại chủng Bách Việt từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Trải dài hàng ngh́n năm lịch sử, Cộng đồng
Bách Việt mỗi khi nạn biển tiến th́ phải ngược lên miền cao,
khi biển lùi lại xuôi theo triền sông xuống miền Nam định cư
lập nghiệp để thành lập các quốc gia vùng Đông Nam Á ngày
nay.
Các tư liệu
Dân tộc học ở vùng Tây Bắc Việt Nam cũng cho thấy sự liên hệ
mật thiết giữa vật biểu Rồng và cuộc sống hằng ngày của họ.
Thật vậy, tín ngưỡng Rồng của đồng bo thiểu số Xá,Thái liên
quan đến vấn đề nước là yếu tố hết sức cần thiết cho việc
đồng áng của nông dân và nghề đánh bắt cá của ngư dân. Trong
ngôn ngữ và ư niệm của chi tộc Mơn-Khmer có một giống vật
gọi là PRUDỒNG là một con vật to lớn giống như rắn, có mào
như mào gà, có vẩy và có bờm như ngựa được xem như thần làm
cho mưa nắng thuận hoà, mùa màng gặt hái, thóc lúa đầy kho.
Các chi tộc Thái xem Tu-Luông là vật linh che chở cho họ cho
nn dù cư trú tại đâu cũng đều có một nơi mà họ gọi là “Văng
Mường” được xem như thủy phủ để cho Prudồng và Tu-Luông ngự
trị làm thần hộ mạng cho bản Mường. Từ Quỳnh Nhai đến Mường
Lài trên sông Đà có khoảng 20 thác nước th́ có đủ 20 Văng
Mường. Nơi thờ cúng Tu-Luông mang vẻ huyền bí, linh thiêng
mà dân làng thường xuyên đem lợn, gà đến cúng để tế vị thần
bản mệnh này che chở cho họ vượt thác, qua ghềnh an toàn
thuận lợi. Tiếng Việt hiện đại biến thể của âm Việt cổ từ
Pru-Dồng trại âm dần thành Rồng cũng như Tu-Luông thành
thuồng luồng (27)
H́nh tượng Rồng
không chỉ được trân trọng ở Việt Nam mà người Lào, người
Nhật cũng có truyền thuyết tôn thờ vật biểu Rồng. Thủy kinh
chú của Lê Đạo Nguyên viết:“Lư Lào cũng có truyền thuyết
thờ Rồng”. Sách cổ Nhật ghi rơ là người Nhật có tục thờ
Rồng nên tự xa xưa, lâu lắm rồi h́nh tượng Rồng được xem như
sứ giả của hạnh phúc. Đặc biệt hơn nữa, Rồng được tôn vinh
như một “vị thần” giữ ǵn ḍng giống. Điều này, một lần nữa
chứng tỏ Nhật cũng là một chi tộc Việt trong Bách Việt. Tại
thủ đô Tokyo có một cây cầu cổ có tên Nihon Baxi, mỗi dịp
tết đến, người Nhật từ khắp nước đổ xô đến để thắt nơ đỏ lên
cổ Rồng bằng đồng ở thành cầu với hy vọng Rồng ban phát may
mắn suốt cả năm(28).
H́nh tượng Totem
thuở ban sơ thường là đơn thể nghĩa là chỉ có một vật tổ
biểu trưng nhưng về sau xuất hiện h́nh tượng phức thể nửa
người nửa thú như Nữ Oa đầu người ḿnh rắn, Viêm Đế Thần
Nông đầu người thân trâu, rồi Cửu Thiên Huyền Nữ đầu người
thân chim. Điều này phù hợp với sự phát triển theo quy luật
tiến hoá nên Totem phức thể mang nét đặt trưng tổng hợp
nhiều loại động vật, phản ánh thời kỳ hợp nhất của nhiều chi
tộc nhưng mang ư nghĩa biểu trưng nhiều hơn. H́nh tượng
Totem c̣n hàm ẩn bản sắc riêng biệt của một tông tộc, một
ḍng họ như Viêm Đế Thần Nông đầu người thân trâu để biểu
trưng cho hậu duệ của Thần Nông, với nền văn minh nông
nghiệp mà huyền sử nói về h́nh tượng nguyên thủy thuở ban
sơ. Từ những Totem đơn thể như Rồng, Chim, tới đầu người
ḿnh rắn như h́nh tượng bà Nữ Oa của chi tộc thờ Rồng
(Lạc-Việt ), đầu người thân chim như Cửu Thiên Huyền Nữ của
chi tộc thờ chim ( Au-Việt ) và cuối cùng là sự kết hợp của
Lạc Việt thờ Rồng với Âu Việt thờ Chim của h́nh tượng Bố Lạc
(Rồng) Mẹ Âu (Tiên) được thần thoại hoá thành huyền thoại
Rồng Tiên.
Trong khi các
dân tộc khác chỉ chọn một vật tổ biểu trưng th́ Việt tộc lại
chọn 2 vật tổ biểu trưng là Rồng và Tiên. Tự thân Rồng Tiên
đă hàm ẩn sự thống nhất hài ḥa giữa Am và Dương, tương sinh
tương khắc nhưng không dẫn đến mâu thuẫn loại bỏ nhau mà
cùng nhau tương ḥa để cùng tồn tại. Lớ trần t́nh của Bố
Lạc với mẹ Au bên cánh đồng Tương đ nĩi ln điều ny:
“ Ta là giống
Rồng đứng đầu Thủy Phủ, Nàng là giống Tiên người ở trên đất
vốn không đoàn tụ được với nhau. Tuy khí âm dương hợp lại mà
sinh con nhưng giống ḍng tương khắc như nước với lửa , khó
bề ở với nhau dài lâu được. Nay phải chia ly ..”.
Tự thân huyền
thoại Rồng Tiên đă hàm tàng uyên nguyên của triết lư âm
dương, nguyên lư sinh tồn tiến hóa của vũ trụ vạn vật muôn
loài.Tất cả đă đi vào tâm thức Việt về cội nguồn con Rồng
cháu Tiên với nền văn minh đạo đức Việt cổ, biểu trưng của
triết lư Đông Phương tỏa rạng suốt ḍng vận động của lịch
sử. |