Hăy Nh́n!

Osho/Tâm Hà Lê Công Đa

 

 

Trí Chương khao khát trở thành một tay cung thiện xạ đệ nhất trong thiên hạ nên đă t́m đến học nghề bắn cung với Ngụy Phi.

 

Đầu tiên Ngụy Phi dạy Chương   tập cách đừng chớp mắt. Thế là Chương về nhà ḅ vào dưới khung cửi của vợ nằm ngữa nh́n thẳng vào cái bàn đạp đang chạy lên chạy xuống trước mắt ḿnh. Sau hai năm như thê y đạt đến t́nh trạng có thể nh́n mà không hề chớp mắt ngay cả có lần lông mày của y đă bị cuốn vào bàn đạp khung cửi.

 

“Biết cách nh́n không chớp mắt chỉ mới là bước đầu tiên,” Ngụy Phi bảo đệ tử, “Bước tiếp theo, ngươi phải học cách nh́n. Thực hành bằng cách nh́n vào mọi vật, đến lúc nào ngươi thấy vật chi li hiện ra rơ ràng, vật nhỏ hiện ra lớn, lúc đó hăy trở lại đây kiếm ta.”

 

Trí Chương về nhà kiếm một con kiến cực nhỏ,  mắt thường cũng khó có thể nh́n thấy. Y để nó nằm ở đầu ngọn cỏ rồi treo lên trước cửa sổ pḥng ḿnh. Xong y dọn cho ḿnh một chỗ ngồi ở tận cuối pḥng, ngày qua ngày tập trung nh́n thẳng vào nó. Thoạt tiên, thật khó mà nh́n ra con vật nhỏ xíu này, nhưng sau mười ngày y cảm thấy phấn khởi khi trông thấy nó có vẻ như lớn ra.

 

Trong suốt ba năm y thực hành công phu khổ luyện. Cho đến một ngày y có thể nh́n thấy con côn trùng nhỏ xíu trước cửa sổ rơ ràng như lớn bằng cả một con ngựa. “Ta thành công rôi!” Y la lên sảng khoái.

 

Lần này th́ Ngụy Phi hoàn toàn thỏa măn, bảo y: “Khá lắm. Ngươi đă thành tựu công phu!”

 

Thế rồi Trí Chương trở thành một tay thiện xạ lừng danh, thấu đáo không sót   một ngón nghề điêu luyện nào của thuật bắn cung. Hầu như y đă đạt đến ước mơ, tham vọng của ḿnh, duy chỉ có một điều, y nhận ra rằng y vẫn c̣n một chướng ngại cuối cùng: Bao giờ mà ông thầy ḿnh -Ngụy Phi- c̣n sống, Trí Chương vẫn không thể nào đạt đến danh hiệu đệ nhất thiện xạ trong thiên hạ được.

 

Một hôm đang đi trên cánh đồng vắng, Trí Chương nhận ra ông thầy ḿnh ở một quảng xa. Thế là không chút ngần ngại, Trí Chương rút tên ra, dương cung nhắm thẳng vào thầy và buông tên. Trong một trực giác, vị lăo sư cũng nhận biết chuyện ǵ đang xảy ra với ḿnh, và nhanh như một làn chớp ông ta cũng rút cung ra và buông tên. Cả hai cùng buông tên trong cùng một khoảnh khắc. Hai mũi tên va chạm vào nhau giữa khoảng không và rơi xuống đất. Cuộc quyết đấu sinh tử giữa hai người vẫn tiếp tục cho đến khi cái bao tên của ông thầy không c̣n một mũi tên nào, trong khi người học tṛ chỉ c̣n lại một mũi tên duy nhất. “Đây là dịp may của ta!” Trí Chương nhủ thầm và dương cung bắn mũi tên cuối cùng về phía ông thầy. Nhận ra điều này, Ngụy Phi nhanh tay bẻ ngay một nhánh cây gai ở bên cạnh, dùng đầu cây gạt đỡ cái mũi tên đang lao nhanh thẳng đến tim, rơi xuống đất ngay cạnh chân ḿnh.

 

“Này bạn,” Ngụy Phi bảo người học tṛ, “Như ngươi biết, ta đă trao truyền tất cả mọi sở học, ngón nghề bắn cung cho ngươi rồi. Nếu như ngươi c̣n muốn đào sâu hơn vào những bí truyền của môn này, ngươi phải đi t́m vị đại lăo sư Can Dung. Tài nghệ bắn cung của chúng ta nếu so sánh với ông ta chỉ là một tṛ trẻ con.”

 

Trải mấy tháng trời trèo non lặn suối Trí Chương mới t́m đến được hang động của Can Dung và tuyên bố ngay, “Tôi đến đây để t́m hiểu thử xem ḿnh có phải là tay đệ nhất thiện xạ như tôi hằng tin tưởng không.” Và không đợi Can Dung trả lời, Trí Chương rút cung ra dương thẳng lên trời nhắm thẳng vào đàn chim nhạn vừa mới bay qua, và chỉ một mũi tên phóng ra, năm con nhạn rơi xuống đất ngay lập tức.

 

Vị lăo sư mĩm cười, “Đây hoàn toàn mới chỉ là chuyện bắn bằng cung và tên. Ngươi đă học được nghệ thuật bắn mà không bắn chưa? Nếu chưa, hăy theo ta.” Trí Chương lặng lẽ bước theo ông già, leo lên mỏm đá ở đầu chóp núi. Đứng ở đây, ghé mắt nh́n xuống phía dưới y đă cảm thấy hoa mắt và cái đầu quay cuồng choáng váng rồi. Trong khi đó th́ vị lăo sư lại nhẹ nhàng nhảy ra đứng trên một mảnh đá ngầm nhô ra ngoài vách núi, bảo y: “Hăy ra đây với ta và chỉ cho ta thấy cái tài nghệ bắn cung của ngươi.”

 

Trí Chương ḅ ra được đến mảnh đá th́ nó đang bắt đầu đung đưa qua lại. Y cố gắng đứng lên và rút mũi tên ra nhưng đồng thời nhận ra ḿnh đang mất thăng bằng. Kinh hoàng y nằm dài xuống, những ngón tay bám chặt vào mỏm đá, đôi chân không ngừng run rẩy và mồ hôi tuôn chảy đầy người.

 

Vị lăo sư cả cười, dang tay đỡ Trí Chương bước ra khỏi mỏm đá. Xong ông ta cũng nhẹ nhàng nhảy xuống và bảo Trí Chương, “Bây giờ th́ ngài cho phép tôi chỉ cho ngài thấy thế nào là nghệ thuật bắn cung thực sự.”

 

“Thế nhưng cây cung của ông đâu?” Trí Chương thắc mắc.

 

Vị lăo sư lại cả cười: “Cây cung của ta? Bao giờ mà một người vẫn c̣n cần đến cung và tên, y mới chỉ đứng ở ṿng ngoài của thuật bắn cung. Nhà bắn cung thật sự không cần đến cung và tên.”

 

Trên đầu họ lúc đó một con diều đang lượn ṿng trên bầu trời xanh. Nhà dật sĩ ngước mắt nh́n lên và Trí Chương cũng dơi mắt nh́n theo. Con diều đang ở tít trên cao mà cho dù với cặp mắt tinh anh của y, y cũng chỉ nh́n thấy nó nhỏ bé như một hột mè. Can Dung rút ra một mũi tên vô h́nh đặt vào cây cung vô h́nh, và trong động thái dương thẳng cánh ông ta buông cung. Chỉ trong một khoảnh khắc tiếp theo, con diều ngưng đập cánh và rơi xuống đất như một ḥn đá.

 

Thế là trong suốt chín năm Trí Chương ở lại trong núi sâu cùng với vị lăo sư. Trong suốt khoảng thời gian này, y đă khổ luyện được những ǵ, không ai hay biết.

 

Đến năm thứ mười th́ y xuống núi, về nhà. Tất cả mọi người quen biết đều kinh ngạc trước sự biến đổi hoàn toàn của y. Vẻ kiêu căng phách lối ngày nào nay hầu như biến mất, thay vào đó là nét dung   dị, ngây ngô. Ngụy Phi, vị thầy cũ, t́m đến thăm sau khi nh́n phớt qua liền bảo: “Bây ǵ̣ thi ta đă thấy tận mắt   rằng ngươi đă thực sự trở thành một tay cung thiện nghệ bậc nhất. Ngay cả ta bây giờ cũng không xứng đáng để sờ vào chân ngươi.”

 

Cư dân của thành phố chào đón Trí Chương như là một tay đệ nhất cung thủ trong thiên hạ và chờ đợi một cách thiếu kiên nhẫn rằng chắc chắn không sớm th́ muộn y cũng sẽ trổ tài biểu diễn ngón nghề điêu luyện này cho họ chiêm ngưỡng. Thế nhưng người ta thấy Trí Chương vẫn im ĺm không làm ǵ cả nhằm thỏa măn sự chờ đợi của mọi người. Cây cung bạch dương quư giá   mang theo lên núi năm nào y cũng đă bỏ lại ở đó. Khi có người hỏi chuyện ǵ đă xảy ra, Trí Chương đă giải thích bằng một giọng đều đều, “Tŕnh độ tột cùng của làm là không làm, của nói là không nói, của bắn là không bắn.”

 

Trí Chương bước vào tuổi già. Đến một thời điểm có vẻ như cả thân lẫn tâm ông ta không c̣n xúc chạm với thế giới bên ngoài nữa mà hiện hữu một cách thong dong tự tại và rất mực hồn nhiên. Khuôn mặt an nhiên của ông ta tự nó đă xoá bỏ mọi vết tích của cảm xúc, không c̣n một ngoại lực nào có thể khuấy động được cái vẻ bất động trầm ổn như núi đá đó.

 

Bây giờ rất hiếm khi người ta thấy ông ta nói chuyện, cũng không ai biết là ông ta đang c̣n thở hay không. Trong buổi xế chiều của đời người này, ông ta không c̣n biết được sự khác biệt giữa “cái nọ” và “cái kia”. Cảnh sắc muôn màu từ ấn tượng giác quan hầu như không c̣n làm bận tâm ông ta nữa. Bây giờ th́ đôi mắt của ông ta cũng có thể là lỗ tai, lỗ tai có thể là lỗ mũi, lỗ mũi có thể là cái miệng…

 

Chuyện kể rằng vào năm cuối của đời ḿnh, một hôm ông ta đến nhà một người bạn chơi và trông thấy ở trên bàn một vật có vẻ rất quen thuộc mà ông ta không tài nào nhớ ra là cái ǵ. Ông hỏi người bạn, “Làm ơn cho tôi biết cái vật ở trên bàn này là cái ǵ và dùng vào v́ệc ǵ vậy?”

 

Ngựi bạn rất mực kinh hoàng, lắp bắp: “Ôi, lăo sư ơi. Ông thật là bậc Thầy bắn cung vĩ đại nhất của muôn đời. Chỉ có ông mới có thể hoàn toàn quên đi đó là cây cung –tên gọi của nó và dùng để làm ǵ!”

 

Tương truyền răng sau đó không lâu ở trong thành phố này, những người thợ sơn đă liệng bỏ bàn chải, những người nhạc sĩ đă bứt bỏ dây đàn và quả là điều xấu hổ khi người ta thấy những người thợ mộc lại mang theo bên ḿnh cây thước thợ.

 

 

 

Một hôm có người hỏi Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận -Ikkyu (1): “Bạch Thầy, Thầy có thể viết ra cho con một vài châm ngôn có ư nghĩa nhất để con học hỏi?”

 

Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận cầm lấy cây bút và viết lên một chữ: “NH̀N”.

“Chỉ có thế thôi sao? Thầy cho con thêm một vài chữ nữa.”

Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận viết lại hai lần: “NH̀N, NH̀N.”

“Cũng vậy thôi,” người đàn ông có vẻ thất vọng, “Con không thấy có ǵ sâu sắc hay vi tế về những ǵ mà Thầy viết ra cả.”

Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận lại viết thêm một chữ thứ ba: “NH̀N. NH̀N. NH̀N.”

Người đàn ông có phần nào hơi bực: “Nhưng bạch Thầy, NH̀N có nghĩa là ǵ vậy?”

“NH̀N nghĩa là NH̀N,” Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận trả lời.

 

 

Chỉ một chữ NH̀N này thôi cũng đủ chứa trọn toàn bộ thông điệp của Thiền. Fra Giovanni (2), năm 1513 đă từng nói: “Sự ảm đạm của thế giới chẳng là ǵ cả ngoài cái bóng. Đằng sau nó, ở trong tầm tay, vẫn là niềm vui. Vẫn có ánh sáng và vinh quang ở trong bóng tối, vấn đề là ta có thể trông thấy nó hay không, mà muốn trông thấy ta chỉ có một cách duy nhất là nh́n. Tôi van bạn, hăy nh́n.”

 

Có thể nói một cách chính xác rằng cái từ ‘nh́n’ này là toàn bộ thực chất cơ bản của Thiền. Cách nh́n như thế nào hàm chứa nội dung của mọi tôn giáo. Nh́n như thế nào bằng đôi mắt tinh tuyền trong suốt để có thể đi đến sự thuần nhất trong cái nh́n mà qua đó cả chủ thể lẫn đối thể đều biến mất chỉ cỏn lại tánh nh́n (3). Trong cái nh́n tinh tuyền đó –không có người nh́n và cũng không có đối tượng bị nh́n-darshan, trong cái thị kiến đó, thực tại chân lư hiển hiện.

 

Thiền giả thường nói đến Ba Trụ Thiền. Đây là ba trụ thiền –nó chuẩn bị cho bạn về cái nh́n. Thứ nhất: vô sắc. Thứ nh́: không tâm. Thứ ba: vô ngă –không có cái gọi là linh hồn.

 

Điều này thoạt trông có vẻ khác thường, đặc biệt là đối với những ai đă từng quen thuộc với cái gọi là tôn giáo, có một kiến thức rập khuôn  –rằng, con người có ba thực thể: phần thể chất, phần tâm lư và phần tinh thần. Nhà chính khách, vị thầy tu hay ông thầy giáo cũng không ngừng nói đến chuyện sức khoẻ như là sự cân bằng giữa ba yếu tố, thể chất, tâm lư và tinh thần.

 

Thiền cho rằng: Không tâm, có nghĩa là không có lănh vực tâm lư; vô sắc có nghĩa là không có thể chất và vô ngă có nghĩa là không có tinh thần, không có cái ngă. Thiền cho rằng: Thể chất chỉ là phần thô của cái bản ngă –tạm gọi đó là cái bản ngă số một. Tâm lư th́ có phần nào vi tế hơn, ít thô hơn, nhưng cũng vẫn là cái bản ngă –cái bản ngă số hai. Và cái gọi là tinh thần, linh hồn, cái bản ngă vi tế nhất –cái bản ngă số ba. Tất cả chúng đều là bản ngă. Chính ba cái bản ngă này đă làm cho con người trở nên ích kỷ, đă tạo nên tinh thần vị kỷ.

 

Chỉ có Thiền là đi sâu vào tận gốc rễ của căn bệnh được gọi là con người, cho rằng: Trừ phi một người đi đến nhận thức rằng sắc chỉ là ảo giác, tưởng cũng là ảo giác, và không những thế, cái mà người ta tin tưởng, cho rằng hiện hữu đằng sau tâm thức –cái ngă- cũng là ảo giác nốt … một khi nhận ra chúng, nh́n sâu vào và khám phá ra rằng chúng không có cơ sở thực chất, lúc đó CÁI NH̀N khởi dậy. Cái nh́n này sẽ cho bạn thấy được cái ǵ là chân thực –cái ǵ là thực sự hiện hữu.

 

Đây là Ba Trụ Thiền.

Vô sắc có nghĩa là tất cả mọi sắc tướng trên thế gian này đều không ngừng biến đổi trong một ḍng chảy liên tục. Đứa trẻ đang trở thành thanh niên, người thanh niên đang trở thành người già, và người già đang trên đường đi vào cỏi chết, và người chết cũng là một chuẩn bị sẵn sàng để tái sanh trở lại.. Từ sắc tướng này thay đổi liên tục qua sắc tướng khác. Một dỏng chảy miên man bất tận của sắc tướng. Không có sắc tướng nào là chắc thật bởi v́ không có sắc tướng nào tồn tại lâu dài. Mọi sắc tướng đến rồi đi, như cơn mộng huyễn, như hạt bong bóng xà-pḥng. Chúng có mặt ở đó trong một khoảnh khắc và trong một khoảnh khắc khác chúng đă biến mất rồi. Chúng chỉ hiện hữu trong chốc lát mà những chất liệu cấu thành cũng chẳng khác ǵ những chất liệu cấu thành giấc mơ.

 

Cái chân thực là cái tồn tại măi măi, muôn đời. Cái chân thực là cái vượt thời gian. Sắc tướng không chân thực bởi v́ không tồn tại lâu dài. Ta hăy nh́n sâu vào phần sắc tướng. Khi Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận bảo, “NH̀N”, cái NHIN đầu tiên này có nghĩa là nh́n vào phần thô nhất của cái bản ngă –cái bản ngă số một. Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận đă chỉ ra cho ta một đại châm ngôn –cái châm ngôn lớn nhất, hàm ư rằng, “Hăy nh́n vào thân xác, nh́n vào sắc tướng; cái đó không phải là bạn –nó không hề có thực. Thực chất của nó là không chân thực, chỉ là ảo ảnh, là tṛ huyễn thuật.”

 

Như vậy, cái nh́n đầu tiên là nh́n vào cái bản ngă số một, và một khi bạn hiểu ra rằng cái phần sắc tướng h́nh hài kia không ngừng biến đổi, bạn sẽ không thể nào bám víu vào sắc tướng, không c̣n đồng nhất ḿnh với sắc tướng nữa. Làm sao bạn đồng nhất ḿnh với một cái ǵ đó cứ đến rồi đi? Ban ngày trời sáng, ban đêm trời lại tối. Bạn đang ngồi trong căn pḥng của ḿnh. Buổi sáng đến và căn pḥng tràn ngập ánh sáng. Rồi chiều đến, rồi đêm về, ông mặt trời biến mất, căn pḥng bao phủ đầy bóng tối.

 

Bạn không thể cho rằng, “Tôi là buổi sáng,” hay “Tôi là buổi chiều,” “Tôi là buổi tối.”   Bạn không thể nói như thế. Bạn chỉ là kẻ quan sát, ngắm nh́n. Buổi sáng đến rồi đi. Buổi chiều đến rồi đi. Bạn ngồi đó tiếp tục ngắm nh́n.

 

Tuổi thơ là buổi sáng. Tuổi thanh xuân là buổi trưa. Tuổi già là buổi chiều. Và bóng đêm –cái chết. Cứ tiếp tục như thế … Cái bánh xe không ngừng quay.

 

Thế nhưng, bạn là ai? Hăy NH̀N!

 

Cái nh́n đầu tiên của Thiền sư Ikkyu là nh́n vào sắc tướng, phần vật chất -phần thô nhất. Học một bài học từ đó. Một khi bạn đă nh́n thấy rơ phần thô này, cái bản ngă thứ nhất biến mất, từ đó bạn sẽ có khả năng để nh́n vào cái thứ hai -phần tâm lư. Bạn đă có thể nh́n thấy thân xác của ḿnh không ngừng biến đổi, là một ḍng chảy liên tục. Cái tâm của bạn cũng thế thôi! Tư tưởng chuyển biến nhanh như một làn chớp. Nó không trụ lại trong một khoảnh khắc nhỏ nào. Cứ đến rồi đi. Thế th́ phần tư tưởng này đâu có thể là bạn được? Những tư tưởng này chẳng khác ǵ những đám mây trôi miên man trên bầu trời, ḍng xe cộ liên tục trên đường phố. Và bạn là kẻ quan sát. Nh́n …!

 

Lần thứ hai khi Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận   bảo, “NH̀N. NH̀N,” ông hàm ư nh́n vào cái bản ngă số hai, phần tâm lư. Và nếu nh́n sâu vào đó, bạn cũng sẽ thấy rằng cái tâm đó không phải là bạn. Vô-sắc, không-tâm.

 

Bây giờ c̣n lại phần vi tế nhất của bản ngă –cái bản ngă số ba. Bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ rằng   thế th́ ta chính là cái linh hồn, cái tiểu ngă. Điều này cũng sai lầm nốt. Hăy nh́n kỹ vào đó đi! Và rồi bạn sẽ ngạc nhiên rằng khi nh́n sâu vào chính ḿnh, bạn chỉ thấy đó là một sự trống không mênh mông mà không là ǵ khác. Ngay cả cái ngă cũng không thể t́m ra. Khách khứa đă   biến đi rồi, và bỗng dưng bạn thấy rằng ngay cả ông chủ cũng không c̣n đó nữa. Khách và chủ đều là những bóng ma; chúng đă biến hết rồi. Chỉ c̣n lại sự lặng yên, hoàn toàn lặng yên, không tiếng động -cả khách lẫn chủ. Mọi chuyện văn đă ngừng lại, mọi huyên náo đă biến mất. C̣n lại một khoảng hoàn toàn trống vắng, tánh không.

 

Đây là cái nh́n vào cái thứ ba, khi Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận bảo, “NH̀N, NH̀N, NH̀N,” –có nghĩa là nh́n vào cái bản ngă số ba, cái vi tế nhất, cái khó khăn nhất mà người ta có thể nh́n thấy.

 

Có một số người, cái gọi là những người duy vật, cho rằng vật chất là có thực. Họ dừng lại ở đó, không đi xa hơn –đó là những người Charvakas (4), những người Mác-xít, cộng sản. Họ dừng lại ở cánh cửa thứ nhất, không bao giờ vượt qua. Một số người duy tâm đi xa hơn một bước. Họ cho răng sắc tướng là không thực, chỉ có tâm là thực tại chân lư. Vật chất là giả, tâm mới là thực. Họ tin tưởng vào tâm, chống lại vật chất và họ đă dừng lại ở cánh cửa thứ hai. Rồi đến những người duy linh, đi sâu thêm một bước nữa. Họ cho rằng ngay cả tâm cũng không có thực, chỉ có cái ngă, cái linh hồn, tức là cái tiểu ngă –atman, mới là chân thực.

 

Chỉ có Thiền là đi xa nhất, sâu nhất. Chưa có ai có một cái nh́n xuyên suốt và sâu sắc vào bí ẩn của con người như Đức Phật. Ngài cho rằng: Ngay cả cái ngă, cái linh hồn, tức là cái tiểu ngă –atman- của Ấn Độ giáo cũng không có thực. Đó chẳng qua cũng chỉ là cái vết tích cuối cùng cũa bản ngă, tận cùng nhất, rốt ráo nhất, nhưng cũng chỉ là dấu vêt của bản ngă. Chính cái ư niệm “Tôi là” là một h́nh bóng dai dẳng của bản ngă. Khi nh́n thẳng vào cái này bạn sẽ thấy cái ngă rồi cũng biến mất. Và một khi tất cả   đều biến mất, cái ǵ sẽ c̣n lại? Chỉ là một cái nh́n tinh tuyển, trong suốt. Đây là một ư niệm rất khó hiểu trừ phi bạn sống ở trong đó và tự ḿnh chứng nghiệm. Bởi v́ thoạt trông nó rất phi lô-gic, trái luận lư. Làm sao lại có thể có một cái nh́n thuần túy nếu như không có người nh́n? Thế nhưng, nó là như vậy.

 

Đây là một nghịch lư. Với ngôn ngữ đời thường rất khó mà diễn tả cái ǵ c̣n sót lại này. Cái c̣n lại đó là tánh nh́n –không c̣n có người nh́n! Cũng không có đối tượng để nh́n. Cả người nh́n và kẻ bị nh́n đều biến mất. Chủ thể và đối thể đều không c̣n. Chỉ c̣n lại tánh nh́n. Một sự tịch lặng, nhưng là một tịch lặng rất mực sống động. Không thể nào diễn tả được, không thể nghĩ bàn. Bạn cũng không thể cho rằng đây là cái ngă -chỉ như là một chứng nhân, sakshin.

 

Tuy nhiên dùng cái từ “chứng nhân” này cũng có thể tạo thêm rắc rối, bởi v́ khi nói đến “chứng nhân”, ta tự động suy nghĩ rằng có ai ở đấy đang làm nhân chứng. Cho nên Phật dạy rằng: Không có người chứng! Chỉ có sự cố.   Không có người nh́n! Chỉ có tánh nh́n. Không có thiền giả! Chỉ có thiền định. Không có người chứng đắc tam ma địa, chỉ có tam ma địa. Rắc rối và khó hiểu là bởi v́ chúng ta đă được nuôi dưỡng và khôn lớn trong một cấu trúc ngôn ngữ nhất định.

 

Khi thấy ai đó đang chạy, ta cho rằng có hai sự cố: Người chạy và sự chạy. Đức Phật cho rằng chỉ có sự chạy mà không có người chạy. Người chạy chỉ là một sự suy diễn. Đức Phật cho rằng chỉ có động thái, hoạt động mà không có người chủ động. Khi bạn nói rằng, một cái cây đang lớn, bạn ngầm hiểu rằng cái cây là một việc và sự lớn của cái cây là một việc khác. Đức Phật cho rằng chỉ có sự lớn lên, không có cái cây. Nh́n ḍng sông đang tuôn chảy, bạn bảo rằng ḍng sông chảy. Đức Phật cho rằng chỉ có sự chảy mà thôi. Thế th́ ḍng sông ở đâu?

 

Đức Phật tin vào động từ c̣n ngôn ngữ của chúng ta lại được bắt nguồn từ những danh từ. Rắc rối là như thế. Đức Phật bảo rằng hiện hữu là một động từ. Đó là một tiến tŕnh. Vạn pháp đều không! Tất cả chỉ là một tiến tŕnh.

 

Tôi đang nói chuyện với các bạn đây, thế nhưng đă không có người nói. Và các bạn cũng đang lắng nghe tôi, thế nhưng đă không có người nghe. Nếu các bạn có thể thấu hiểu vấn đề này bằng kinh nghiệm sống thực chỉ lúc đó bạn có thể hiểu được Đức Phật đă nói ǵ khi Ngài cho rằng ngay cả cái bản ngă thứ ba cũng tan biến.

 

Ngay bây giờ đây, ta làm một thử nghiệm sống thực. Hiện đang có người nghe hay chỉ có tánh nghe? Nếu bạn đi trở ngược lại, cố gắng tóm tắt những ǵ đă được nghe, người nghe xuất hiện. Và như thế người nghe chỉ là một kư ức. Nếu bạn khỏi sự suy nghĩ về những nội dung đó, chắc chắn là bạn sẽ t́m thấy cái người đang lắng nghe, bởi v́ người nghe, như tôi đă nói, chính là kư ức. Thế nhưng khi bạn đang lắng nghe, th́ chỉ có sự nghe mà không có người nghe. Khi bạn đang chạy bộ cũng thế, chỉ có sự chạy mà không có người chạy. Tới một điểm nào đó, bạn dừng lại, ngồi dưới bóng cây để nghỉ ngơi, bạn nh́n lại trong kư ức ḿnh -bạn t́m thấy người chạy bộ ở đó. Người chạy chỉ là một sản phẩm của kư ức, nó đă không là một thực tại trong ḍng hiện sinh. Trong cái kư ức đó đă lưu lại bao nhiêu dấu vết của những hoạt động. Làm thế nào để nối kết những chuổi hành động này lại thành một thể thống nhất? Những hạt chuổi của những hoạt động rời rạc này phải được nối lại, bằng không quả thật là khó khăn để bạn có thể nhớ lại bất cứ điều ǵ. Thế là bạn tạo nên một sợi chỉ. Sợi chỉ này sẽ xuyên suốt qua những hạt chuổi liên hệ đến những ư niệm về người chạy –và nó trở thành cái bản ngă của bạn.

 

Có những chuyển động riêng rẻ của từng hạt nguyên tử và không có cái ǵ để nối kết chúng lại với nhau. Đó là những phát kiến của nền vật lư đương đại. Quan điểm của nền vật lư đương đại về thực thể giống hệt như quan điểm của Phật giáo, và rất gần gũi với nhận thức của Đức Phật. Nền vật lư đương đại c̣n cho rằng chỉ có những thực thể nguyên tử và nó không chắc thật, chúng thuần túy chỉ là những trường năng lượng, không phải là vật chất -chỉ là những trường năng lượng. Chúng thay đổi bất tận. Không có ǵ bền vững, tồn tại lâu dài. Tất cả đều ở trong một ḍng chảy liên tục.

 

Ba cái cột trụ này đă đốn ngă toàn bộ cái cơ cấu bản ngă của bạn. Đây là một loại h́nh rất mực tiêu cực của ư niệm ba ngôi. Cơ Đốc giáo cũng có ba ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Ấn Độ giáo cũng có một ư niệm tương tự, trimurti: Ba khuôn mặt của Thượng Đế -Brahma, Vishnu, và Mahesh. Tuy nhiên đây là những ư niệm tích cực.

 

Phương cách tiếp cận của Thiền đối với thực tại hoàn toàn tiêu cực. Vô sắc, không tâm và vô ngă. Một khi bạn nh́n vào tất cả vạn pháp và thấy rằng chỉ là “Không, Không, và Không,” thế th́ cái ǵ c̣n lại đây? Cái c̣n lại này không thể nào định nghĩa được. Bất khả tư nghị. Cái c̣n lại đó chính là sự thực rốt ráo, là chân lư. Đức Phật đă im lặng trước vấn đề này. Nó không thể được nói ra. Cái khoảnh khắc mà bạn nói về nó, bạn đă xuyên tạc, đă làm biến dạng nó.

 

Cái cảnh giới này –khi bạn đạt đến nhận thức về vô sắc, không tâm và vô ngă- người Trung Hoa gọi là ngộ, Sanskrit gọi là samadhi và Nhật Bản gọi là satori. Tôi sẽ nói sơ qua về một vài đặc tính của samadhi trước khi chúng ta có thể thưởng thức câu chuyện tuyệt vời này.

 

 

Có tất cả bảy đặc tính của tam ma địa –samadhi. Thứ nhất là nhất thể. Không có nhị nguyên tính. Sự phân cách giữa người biết và cái bị biết đă biến mất. Sự hiệp nhất khởi dậy, đám mây mờ tan biến. Không c̣n hai, nhưng cũng nên nhớ rằng khoảnh khắc mà Đức Phật bảo không c̣n hai, ngài cũng không hề nói rằng chỉ có một. Ngài hoàn toàn im lặng trước cái một. Ngài chỉ nói là không hai -bất nhị, bởi v́ một khi nói đến một, bạn lại làm sống dậy cái hai. Một sẽ vô nghĩa nếu như không gắn bó với cái hai. Bất nhị -chỉ có thế.

 

Người chạy và cái chạy không c̣n ở đó. Bạn và Tôi không c̣n ở đó. Người nói và người nghe đă không c̣n ở đó.

 

Một thực thể là một cơ cấu hợp nhất, không hề mang tính nhị nguyên. Đó là một nhất thể toàn vẹn, thế nhưng Đức Phật đă không bao giờ gọi đó là một. Ngài rất thận trọng về vấn đề này để tránh tất cả mọi loại cạm bẩy về luận lư. Ngài rất mực cảnh giác để không rơi vào bất cứ khiếm khuyết luận lư nào. Ngài sẽ không bao giờ nói rằng thực thể là một, bởi v́ một khi bạn đă nói đến bất nhị th́ một đâu có mang ư nghĩa ǵ? Cái h́nh ảnh về một chỉ có ư nghĩa khi có h́nh ảnh về hai. Không có h́nh ảnh về hai, một chẳng hề mang một ư nghĩa nào cả.

 

Khi chúng ta nói rằng Thượng Đế là ánh sáng, điều này chỉ có ư nghĩa khi nào có bóng tối hiện hữu. Thế là Quỷ Sứ trở thành bóng tối. Nếu không có khung cảnh của Quỷ Sứ và bóng tối, cái ư niệm “Thượng Đế là ánh sáng” sẽ có ư nghĩa ǵ đây? Chẳng có ư nghĩa ǵ hết! Trước vấn đề này Đức Phật chỉ có thể nói một cách giản đơn rằng, Thượng Đế không phải là ánh sáng cũng không phải là bóng tối. Thượng Đế là bất nhị. Chân lư là bất nhị.

 

Đó là kinh nghiệm đầu tiên về tam ma địa. và rồi lần hồi sự nhị phân của đời sống sẽ tan biến.

 

Tại sao lại có sự nhị phân? Nó được tạo ra bởi ba thứ bản ngă như đă nói ở trên. Khi tôi nhận thức rằng cái thân xác này như là   thân xác của tôi th́ rồi cái thân xác của bạn là thân xác của bạn. Một khi tôi gắn bó với cái thân tướng của tôi th́ cái thân tướng của bạn trở thành kẻ lạ -tha nhân. Khoảnh khắc mà tôi nhận ra cái thân xác này của tôi không phải là của tôi, cái khoảnh khắc mà tôi nhận ra ḿnh là vô sắc tướng, đồng tḥi cũng là lúc tha nhân biến mất. Cái ngă tan biến, tha nhân cũng tan biến theo. Không c̣n cái “Tôi” th́ cái “Anh” sẽ không thể hiện hữu. Chúng có mặt cùng nhau như một cặp sóng đôi.

 

Như thế, cái đặc tính đầu tiên của tam ma địa là: tính cách nhị phân trong đời sống hoàn toàn biến mất. Một sự đại hoà điệu khởi dậy. Tất cả đều trong nhất thể –đó là ư nghĩa của sự hiệp nhất. Sự mù mờ khởi dậy là do bởi có hai. Từ đó mà có sự xung đột, măi hoài xung đột.

 

Đặc tính thứ hai của tam ma địa là: Đại hoan hỷ -đại cực lạc, đại hạnh phúc. Trừ phi mọi bản ngă hoàn toàn huỷ diệt, bạn sẽ không bao giờ đạt đến t́nh trạng hạnh phúc, cực lạc. Khổ đau là một phó sản của bản ngă. Và bởi v́ có đến ba loại bản ngă, con người phải đối diện với ba loại khổ đau: khổ đau về thể xác, khổ đau về tâm lư và khổ đau về tinh thần.

 

Bạn có thể chưa hề nghe nói đến loại khổ đau thứ ba -khổ đau tinh thần. Có thể bạn chưa hề nghĩ đến nó như là một loại khổ đau. Thế nhưng, hăy thử nh́n xem: Một kẻ nghèo khổ muốn trở thành giàu có. Y thật là khốn khổ. Ai cũng biết là y vô cùng khốn khổ. Thế nhưng khi bạn đến viếng bất kỳ ông thầy tu của một tôn giáo nào, ông ta cũng sẽ dạy rằng: “Chớ nên tham lam. Tiền bạc là một vật bẩn thỉu, đừng quan tâm đến. Phúc cho kẻ nào nghèo khó. Ngươi nên hài ḷng với những ǵ ngươi có.” Thế nhưng cũng người này, nếu y có những nỗ lực để trở thành một nhạc sĩ tăm tiếng, một thi sĩ tài hoa hay một họa sĩ lừng danh, bạn sẽ không có thái độ chống đối y kịch liệt như lúc y tham đắm tiền bạc. Nếu y tham đắm chính trị, quyền lực, cái nọ cái kia, mọi người có thể lên án y. Nhưng bây giờ nếu y chỉ muốn   cố gắng vẽ một bức tranh đẹp hơn, sáng tác một bài thơ hay hơn, sẽ không ai bất măn về chuyện này. Tuy nhiên y cũng vẫn là kẻ khốn khổ thôi. Cái khổ đau bây giờ là khổ đau tâm lư, càng khốn khổ hơn nếu y muốn trở thành một Shakespeare.

 

Th́ cũng cùng là một tṛ chơi trên một mặt bằng khác. Ban đầu th́ y muốn giàu có như ông vua dầu hỏa Rockefeller, bây giờ th́ y muốn trở thành một Shakespeare –cái ư muốn trở thành luôn có mặt ở đó. Đối với người có nhận thức sẽ cho rằng đây cũng chỉ là một thứ tham ái giống nhau được khẳng định trên một mặt bằng khác, một mặt bằng sâu xa hơn. Hăy buông bỏ. Đây là điều vô nghĩa. Cho dù bạn trở thành một Shakespeare đi nữa, bạn cũng chẳng đạt đến cái ǵ cả. Shakespeare cũng khốn khổ như bạn vậy thôi. Cho dù bạn có sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, đâu có nghĩa là bạn sống trong hạnh phúc, cực lạc?

 

Thế rồi bạn muốn trở thành Chúa Giêsu hay ông Phật –may ra khá hơn! Bạn muốn trở thành Krisna. Ở đó là nơi cực lạc! Thế là người ta bắt đầu muốn trở thành Chúa, thành Phật, thành Krisna … Đây chính là khổ nạn tinh thần. Cũng là một loại khổ nạn giống nhau thôi. Nó xuyên suốt sâu hơn, vào tầng thứ ba của bản ngă –tinh thần, tâm linh. Bây giờ th́ chẳng có ai lên án bạn về chuyện này -trừ phi bạn qua mặt ông Phật! Vâng, sẽ không có ai lên án bạn. Họ sẽ c̣n cho rằng bạn là một nhà lănh đạo tinh thần đáng kính. Nếu bạn có đấm ngực kêu la, khóc lóc, khổ đau bởi v́ bạn muốn  hiệp thông với Thượng Đế, muốn đạt đến tam ma địa, đến moksha, niết bàn,… đâu có ai lên án bạn? Người ta sẽ tôn thờ bạn nữa là khác. Người ta sẽ bảo nhau: “Nh́n xem, thật là   một vị chân tu! Ông ta chẳng hề chạy theo tiền bạc, ông ta không màng đến danh vọng. Ông ta chỉ than khóc v́ Thượng Đế. Đây mới đúng là một bậc tu hành.”

 

Những người này được gọi là những ông thánh của bạn. Thế nhưng nh́n sâu vào họ, bạn sẽ thấy rằng họ cũng chỉ là những kẻ khốn khổ về mặt tinh thần. Vấn nạn cũng giống nhau thôi. Trước tiên bạn muốn trở thành một ông Rockfeller, rồi bạn muốn trở thành một Shakespeare, bây giờ bạn lại muốn trở thành một ông Phật. Cũng là cái tham vọng muốn trở thành! Cái muốn trở thành này ngàn đời không  thay đổi. Cái Tanha –Hữu (5), muốn trở thành- vẫn bám theo bạn dai dẳng. Cái tham vọng muốn là ai đó vẫn cứ tiếp tục. Bây giờ th́ bạn lại muốn trở thành Thượng Đế! Chẳng có ǵ thay đổi cả.

 

Có ba loại khổ đau bởi v́ có đến ba loại bản ngă. Một khi tất cả các loại bản ngă này được buông bỏ, một khi không c̣n mục tiêu cho ḷng tham vọng nhắm đến, một khi tất cả mọi tham vọng của bạn tàn lụi … Hăy để tôi lập lại điều này. Trong lănh vực tinh thần, tôn giáo, chỉ có chỗ cho những ai hoàn toàn tàn lụi cái ư hướng thành công về bất cứ cái ǵ.

 

Thoạt nh́n có vẻ như một nghịch lư. Thế nhưng, khi dục vọng hoàn toàn tàn lụi có nghĩa là bạn đă bắt đầu đặt chân vào cảnh giới chân thực. Bao lâu mà bạn c̣n nuôi hy vọng rằng ḿnh sẽ thành công một cái ǵ đó, bạn sẽ không bao giờ đạt đến thực tại chân lư. Cái niềm hy vọng đó sẽ tiếp tục kéo lê bạn ngày càng một xa hơn. Đừng có lo nghĩ đến chuyện ḿnh sẽ trở thành  một cái ǵ –dù là một ông Phật …

 

Hôm rồi tôi có đọc một giai thoại Thiền nói về chuyện một người đă tu tập thiền định trong suốt bao nhiêu năm –năm mươi năm không chừng. Bây giờ th́ ông ta già yếu lắm rồi.

 

Ông ta t́m đến một vị Thiền sư và bảo: “Năm chục năm! Ông nghĩ như vậy đă đủ lâu chưa? Tôi thiền định năm này qua năm khác không bỏ sót một ngày. Tại sao tôi chưa thành Phật?”

 

Vị Thiền sư cả cười, bảo: “Đó chính là lư do tại sao ông chưa thành Phật -bởi v́ ông c̣n muốn trở thành. Thế là ông cứ tiếp tục lỡ mất cơ hội. Điều đó đă giải thích mọi chuyện!”

 

Nếu bạn muốn trở thành một ông Phật bạn sẽ không bao giờ thành tựu, bởi v́ một vị Phật là người đă buông bỏ tất cả mọi ư hướng thành tựu; là người hoàn toàn hạnh phúc với khoảnh khắc hiện tại –không v́ một lư do nào cả. Ông ta không có nơi để đến, không có mục đích để đạt, hoàn toàn không có mục tiêu. Ông ta đă hoàn toàn buông bỏ tất cả mọi tầng bậc của cái tâm tham ái -hết lớp này đến lớp khác.

 

Cái tâm cũng giống như một củ hành, nhiều tầng nhiều lớp: một tẩng, thể chất; tầng khác, tâm lư; tầng khác nữa, tinh thần. Một người liệng bỏ được tất cả những cái tầng này, lột được củ hành của ḿnh một cách trọn vẹn và đi vào cốt lơi bên trong … Và bạn có biết tận cùng cốt lơi ở bên trong là cái ǵ không? Là hoàn toàn trống rỗng. Nếu bạn cứ tiếp tục làm công việc lột củ hành, cuối cùng sẽ là cái không. Sẽ không c̣n lại ǵ trên tay bạn. Trống không. Trong cái tánh không đó là đại hoan hỷ, đại cực lạc.

 

C̣n ư muốn   trở thành là c̣n khổ nạn. Nếu bạn c̣n nuôi   hy vọng trở thành một cái ǵ đó bạn sẽ sống trong khổ sở, đớn đau, bất hạnh, lo lắng. Nếu bạn hiểu được rằng không có ǵ để trở thành … là bạn đă đạt. Bạn đang là ǵ th́ cứ y như thế. Như thị. Không có cách ǵ để cải thiện   hiện trạng. Cũng không có nhu cầu để cải thiện nó. Hăy cứ như là bạn đang là. Như thị. Thế là tuyệt hảo. Cái rất mực b́nh thường của bạn là đă rất mực phi thường. Nhận ra điều này là bắt đầu bước vào ngưởng cửa của những ân sủng. Toàn bộ hiện thể này, cả cái vũ trụ này sẽ tưới tẩm ân sủng lên bạn. Nó vẫn không ngừng làm cái công việc tưới tẩm chất liệu hạnh phúc lên bạn, thế nhưng bạn cứ măi hoài chạy đuổi theo những tham vọng của ḿnh, những ước muốn trở thành cái nọ cái kia, nó đă ở ngoài tầm tay của bạn, hay nói rơ hơn, bạn đă không mở ḷng ra để đón nhận nó.

 

Đặc tính thứ ba của tam ma địa là sự tỏa sáng -một bừng sáng nội tâm, trong suốt, chan hoà ánh sáng.

 

Cũng dễ hiểu thôi, một khi tất cả những bản ngă này biến mất, trước mắt bạn không c̣n bất cứ  tấm màn che nào, cái nh́n sẽ trở nên thuần khiết, trong sáng. Bây giờ bạn mới thực sự nh́n! Và chân lư hiện ra một cách hiển nhiên, không có ǵ che dấu. Nó không hề lẩn trốn ở một nơi nào đó, nó không  hề trốn tránh bạn. Nó cũng không ở một hành tinh nào khác –nó ở ngay trước mắt bạn. Thế nhưng đôi mắt bạn đă nhắm lại từ lâu. Một khi đôi mắt bạn mở ra và đôi mắt này bây giờ trong sáng tinh tường … th́ hiển nhiên thôi! Thực tại chân lư rất mực hiển nhiên.

 

Đặc tính thứ tư của tam ma địa là an nghỉ, thư giản.

Làm sao có thể an nghỉ được khi bạn không ngừng ao ước trở thành cái nọ cái kia? Chắc chắn là không. Bạn luôn ở trong trạng thái căng thẳng. An nghỉ chỉ đến với bạn khi nào mà mọi mục tiêu nhắm đến được buông bỏ, khi nào cái tâm muốn vuơn đến một cái ǵ đó của bạn không c̣n hoạt động nữa. Chỉ lúc đó bạn mới có thể an nghỉ, thư giản.

 

Suy tưởng là tâm trong trạng thái hoạt động. Ngưng suy tưởng là tâm trong trạng thái nghỉ ngơi. Tam ma địa đang chứng kiến cả hai –trạng thái siêu việt. Bạn đang chạy đuổi theo mọi thứ trần gian tục lụy -bạn đă nhận ra điều đó và những khổ nạn của nó. Thế rồi bạn ngừng lại và nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của nó, sự nghỉ ngơi, thư giản. Bạn đă nh́n thấy cả hai mặt của vấn đề và kẻ nào có khả năng nh́n thấy cả hai bỗng nhiên thăng hoa chúng.

 

Có một loại thư giản khác với loại thư giản thông thường. Bạn đă từng biết đến một vài loại thư giản, chẳng hạn như khi bạn cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, bạn nghỉ ngơi. Nhưng cái thư giản này chẳng phải là sự nghỉ ngơi một chút nào cả. Tâm bạn vẫn lăng xăng không ngừng với những ước muốn nọ kia, đó chẳng qua cũng chỉ là một sự mệt mỏi. Bạn đă làm việc cật lực suốt ngày, đêm về bạn ch́m vào giấc ngủ -thế nhưng giấc ngủ của bạn vẫn không là sự nghỉ ngơi. Bạn sẽ đi vào   những giấc mơ, những cơn ác mộng. Thế là trong giấc ngủ bạn vẫn tiếp tục làm việc, tâm của bạn vẫn không ngừng quay cuồng, dệt ra một ngàn lẻ một thứ giấc mộng.

 

Thông thường, sự nghỉ ngơi như chúng ta thường biết chỉ là mặt trái của sự không an nghỉ -đó là sự mệt mỏi, kiệt lực.

 

Có một loại thư giản mới.   Một khi bạn đă cảm thấy mệt mỏi chán chường với những tham đắm dục vọng, thấy được sự an nghỉ thực sự của cái tâm vô cầu, một loại thư giản hoàn toàn mới mẻ khởi dậy. Đây là lúc bạn thư giản bởi v́ bạn không c̣n có mặt. Bạn đang thư giản bởi v́ không c̣n có người đang căng thẳng nữa! Những rắc rối phức tạp đă tan biến. Làm thế nào bạn lại có thể căng thẳng được? Không c̣n có ai. Bạn không thể tạo ra bất cứ một nút thắt nào ở trong bạn bởi v́ bạn không c̣n có mặt! Bạn đơn thuần đă tan biến đi. Trong bạn là cái tánh không. Bạn không thể tạo ra những nút thắt trong cái tánh không đó.

 

Đặc tính thứ năm của tam ma địa là sự tỉnh thức –trong ư thức, trong cái nh́n, cái biết, chứng kiến; đó là cảnh giới thứ tư mà Ấn Độ giáo gọi là turya. Đây là những ǵ mà Thiền sư Nhất Hưu Tôn Thuận gọi là “NH̀N, NH̀N, NH̀N.” Và khi được hỏi, “Thế th́ NH̀N có nghĩa là ǵ?” Ông trả lời, “NH̀N có nghĩa là NH̀N.”

 

Hăy để cho đôi mắt ḿnh mở ra. Trong cảnh giác và tỉnh thức. Nh́n vạn pháp như thị. Đừng tạo ra giả tưởng, đừng phóng chiếu.

 

Bạn đi xem chiếu bóng … Hoặc giả đôi lúc bạn có thể làm một thử nghiệm với cái máy chiếu tại nhà. Bạn phải để cái màn h́nh ở một khoảng cách nào đó so với cái máy chiếu để cho cái h́nh chiếu có thể thấy được rơ ràng. Thế rồi bạn di chuyển cái màn h́nh đến gần cái máy chiếu hơn. H́nh ảnh sẽ bắt đầu mờ dần đi không rơ nữa. Bạn không c̣n thể nào phân biệt được những ǵ trong h́nh. Di chuyển cái màn gần thêm hơn. Bây giờ th́ bạn sẽ không thể nào nhận ra đâu là cái cây, đâu là con người, đâu là chiếc xe, con chó, con mèo,… ở trong h́nh. Càng đem đến gần hơn … càng gần chừng nào càng mất đi sự phân biệt. Đến một điểm khi cái màn sát vào máy chiếu: nó chỉ c̣n là một vệt sáng trắng mà thôi. Những bóng đen đă biến mất … chỉ c̣n lại ánh sáng. Có nghĩa là khi tia sáng rời khỏi máy chiếu, nó thuần túy là một luồng sáng trắng. Càng đi xa hơn, nó phân chia ra đen trắng. Và ta cần một khoảng cách cần thiết giữa tấm màn và máy chiếu để cho h́nh ảnh có thể thấy được rơ ràng.

 

Trong tỉnh thức, chuyện giống hệt như thế cũng đă xảy ra. Khi bạn bắt đầu trở nên tỉnh giác, có nghĩa là bạn bắt đầu nh́n thật gần vào thực tại, và lúc đó mọi phân biệt đều biến mất. Cây không c̣n là cây, sông không c̣n là sông, núi không c̣n là núi. Tất cả bắt đầu tan hoà vào một. Càng tỉnh thức hơn bạn càng có một cái nh́n rơ ràng hơn về vạn pháp … như cái màn h́nh tiến gần đến máy chiếu. Và rồi chỉ c̣n lại một luồng ánh sáng trắng -tất cả mọi phân biệt đều biến mất. Đó là tất cả những ǵ mà chúng ta gọi là tỉnh thức. Và rồi tất cả những ảo ảnh của đời sống không c̣n chắc thực nữa, chỉ c̣n lại một ánh sáng tinh tuyền –ánh sáng của tỉnh thức.

 

Đặc tính thứ sáu của tam ma địa là vô tử, là vượt thời gian, là vĩnh cữu. Khi bạn không hiện hữu, làm sao bạn có thể chết được? Khi trong bạn không c̣n bản ngă, làm sao bạn có thể chết được?

 

Thuở Phật c̣n tại thế, có rất nhiều người đă t́m đến Ngài hơn cả ngàn lần nêu lên câu hỏi: “Bạch Thế Tôn, cái ǵ sẽ xảy đến cho Ngài sau khi Ngài chết?” Và Đức Phật luôn luôn mĩm cười: “Không có ai chết cả.” Thế nhưng Ngài cũng đă làm sáng tỏ thêm vấn đề: “Ta không hề bảo rằng Ta là bất tử. Cũng không có ai là bất tử cả.”

 

Chuyện ngu xuần của chúng ta là, thoạt tiên chúng ta nghĩ rằng ḿnh rồi sẽ chết, bởi v́ c̣n cái bản ngă ở đó và chúng ta lo lắng rằng không biết ḿnh sẽ có khả năng để giữ ǵn, bảo vệ nó hay không. Thế rồi có ai đó biết chuyện, bảo rằng, “Không có ǵ chết cả.” Thế là chúng ta lại đi đến một phóng chiếu sai lầm khác, rằng chúng ta sẽ bất tử. Cái sai lầm căn bản vẫn giống y nhau. Ban đầu th́ cho rằng “chúng ta rồi sẽ chết” –chúng ta đăchúng ta sẽ chết. Cũng là cái chúng ta đó –bây giờ chúng ta sẽ không chết.

 

Đức Phật bảo rằng: “Ta sẽ không chết bởi v́ Ta vô sanh (6). Cũng không phải v́ đó mà ta là bất tử. Không có ai chết cả, cũng không có ai bất tử. Đă không có cái ngă, làm sao có thể chết được?”

 

Đây là một quan điểm hoàn toàn khác biệt! Đây là sự khác biệt giữa Kinh Vệ Đà và Đức Phật. Đây là sự khác biệt giữa Shankara và Đức Phật. Và cái tuệ giác của Phật th́ xuyên sâu vào thực tại hơn là Shankara. Shankara cứ một mực khăng khăng bảo rằng, “Bạn bất tử bởi v́ cái linh hồn là bất tử. Nó không thể chết –nó bất tử.” Đức Phật bảo rằng bạn sẽ không chết nhưng Ngài không hề nói rằng bạn sẽ bất tử. Ngài bảo: “Ngươi sẽ không bao giờ chết bởi v́ ngươi không thể chết -tự khởi thủy ngươi là vô sanh.”

 

Nhận thấy được điểm này -rằng, “Vô Sanh”- là có thể buông bỏ được cả hai ư niệm tử và bất tử. Thời gian đă biến mất. Thế th́ c̣n đâu cái gọi là bất tử của bạn? Nó chỉ là một sự kéo dài của thời gian, kéo dài bất tận. Đến bao lâu? Bạn sống đến bảy mươi tuổi -bảy trăm năm? Hay bảy triệu năm? Cũng chỉ là một sự kéo dài thêm. Mà cái bất tử của bạn là ǵ? Chẳng là ǵ cả ngoài sự tham muốn bám víu vào sự sống, tham muốn được ở măi trong t́nh trạng cũ. Để làm ǵ đây? Chỉ là một tham muốn mù quáng bám víu vào sự sống? Chỉ là một tham muốn mù quáng, là ḷng tham sống hay sao?

 

Phật bảo rằng: “Tại sao ngươi lại quá quan tâm đến chuyện tử hay bất tử?” Ngay tận căn bản, những người cho rằng ḿnh sẽ chết và những người cho rằng ḿnh sẽ không bao giờ chết đều rất mực giống nhau, bởi v́ cả hai đều chỉ tin vào cái bản ngă.

 

Những người Charvakas, những người duy vật nói rằng, “Chúng ta sẽ chết”; c̣n những người được gọi là duy linh th́ bảo rằng, “Chúng ta sẽ không chết.” Cả hai cũng chỉ quan tâm đến cái bản ngă của họ.

 

Đức Phật đă thổi một làn gió mát vào tâm thức con người. Ngài bảo: “Ngươi sẽ không chết –không phải là v́ ngươi bất tử- mà bởi v́ ngươi là vô sanh!”  Hăy thấy cái trọng điểm ở trong đó! Sự thay đổi cơ bản, sự cách mạng đến tận gốc rễ ở trong đó! Vô tử v́ thế là một phần của hiện tượng tam ma địa.

 

Và đặc tính thứ bảy của tam ma địa: vô tận. Không gian cũng tan biến. Bạn không có mặt ở nơi chốn nào nhưng đồng thời cũng có mặt khắp nơi. Bạn không là ai nhưng đồng thời cũng là mọi người.

 

Đây là bảy đặc tính của tam ma địa. Và đây là những ǵ đă xảy ra cho người bắn cung muốn trở thành tay cung đệ nhất trong thiên hạ. Câu chuyện không cho ta biết trong suốt chín năm trường y đă học được những ǵ khi sống với nhà ẩn sĩ ở trên núi cao. Tôi nghĩ đây là điều mà y đă học được: tam ma địa. Đó là lư do tại sao tôi đă khởi sự nói về tam ma địa trước khi bước vào câu chuyện , để bạn có thể nhận ra những ǵ mà y đă học được, bởi v́ đó là cốt tủy của câu chuyện.

 

Toàn bộ câu chuyện chỉ xoay quanh một chữ: tam ma địa -ngộ, satori.

 

 

Bây giờ ta đi vào câu chuyện:

 

Trí Chương khao khát trở thành một tay cung thiện xạ đệ nhất trong thiên hạ.

 

Đó cũng là những ǵ mà tất cả mọi người trên thế gian này đều ao ước, khao khát -trở thành kẻ đệ nhất trong thiên hạ. Nhà bắn cung, họa sĩ, thi sĩ, chính khách, vâng, bạn có thể kể ra hàng loạt, tuy nhiên đó là tất cả những ǵ mà cái tâm khao khát: trở thành nhân vật số một trên thế gian.

 

Tâm là một cuộc viễn du của bản ngă. Cái tâm luôn luôn muốn đứng trước tất cả. Mà thực tế cho thấy, vô phương! Thế nên, rốt cuộc tâm đi đến trạng thái thất vọng, bực bội. Không thể nào có chuyện đứng hàng đầu, bởi v́ đă không hề có hàng; chúng ta đang đứng trong một cái ṿng tṛn. Luôn luôn có ai đó đang đứng trước mặt bạn. Luôn luôn sẽ có ai đó đứng trước bạn. Bạn không thể nào đi đến điểm trở thành người số một. Ngay cả những ai trở thành những ông tổng thống, chủ tịch, thủ tướng, những ông vua -họ cũng không bao giờ có thể trở thành người số một. Thực ra, cái khoảnh khắc mà họ bắt đầu cảm thấy ḿnh là nhân vật số một, họ cũng bắt đầu nhận ra sự bất lực, yếu kém của ḿnh.

 

Chúng ta đang không đứng sắp hàng nối đuôi nhau, chúng ta đang chuyển động trên một ṿng tṛn. Có người đứng trước, có người đứng sau. Thực ra, nếu nh́n sâu hơn, kẻ đứng sau bạn đồng thời cũng là kẽ đứng trước bạn. Đúng như vậy, nếu bạn nh́n suốt trọn cái ṿng tṛn, kẻ đứng sau bạn, ở phía đầu kia lại đang đứng trước bạn. Và kẻ đang đứng trước bạn, ở phía đầu kia lại đang đứng sau bạn. Đó là một cái ṿng tṛn.

 

Đời sống đang chuyển động trên một cái ṿng tṛn, không phải trên đường thẳng. Vạn pháp cũng đang chuyển động trên một cái ṿng tṛn. Hăy để cho điều này thấm sâu vào tim bạn. Bất cứ lúc nào bạn đang suy nghĩ đến bất cứ một vấn nạn nào trong đời sống, luôn luôn đặt để chúng trong một cái ṿng tṛn. Không phải là một đường thẳng. Nh́n chung quanh thử xem. Tinh tú chuyển động ṿng tṛn chung quanh dăi thiên hà. Quả đất chuyển động trên một qũy đạo ṿng quanh mặt trời. Bốn mùa tuần hoàn trong một chu kỳ ṿng tṛn. Tuổi thơ, thanh niên, tuổi già cũng chuyển động trong một ṿng tṛn như thế. Nói chung, toàn bộ vạn pháp. Chuyển động đường thẳng chỉ là một sản phẩm của tâm, một tưởng tượng. Đă có những nhà tân toán học, h́nh học mới –h́nh học phi-Euclide- chứng minh rắng bạn không thể nào kẻ một đường thẳng thực sự giữa hai điểm. Vô phương. Một đường thẳng thực sự không thể hiện hữu, bởi v́ chúng ta đang ở trên quả đất -và quả đất th́ tṛn.

 

Bạn có thể vẽ một đường thẳng trước mặt bạn ngay trên sàn nhà này. Tuy nhiên đó không phải là một đường thẳng thực sự. Nếu bạn cứ tiếp tục kéo dài nó ra cả hai đầu, một ngày nào đó nó sẽ trở thành một cái ṿng tṛn bao quanh quả đất. Thế nên lúc mà bạn nh́n thấy nó như một đường thẳng, chẳng qua nó chỉ là một mảng của một cái ṿng tṛn lớn, là một cái ṿng cung, thế thôi. Nó không hề là một đường thẳng. Không bao giờ có thể vẽ được một đường thẳng.

 

Bởi v́ những đường thẳng không hề hiện hữu, Albert Einstein đă đưa ra đề xuất có vẻ rất mực phi lư rằng,  không gian cong. Bởi v́ đường thẳng không hiện hữu thế nên không gian bắt buộc phải cong thôi. Như vậy, ngay cả không gian –cái khoảng hư không đó- cũng cong chứ không thẳng. Thật khó mà h́nh dung ra cái cơi hư không kia có thể cong như thế nào đây? Một cái ǵ đó có thể cong chứ hư không làm sao lại cong được? Hư không là hư không! Làm sao một đường cong lại có thể nhô ra từ hư không? Tuy nhiên Albert Einstein   có thể đă nói đúng. Ông lư luận rằng, khi không có bất cứ cái ǵ hiện hữu như một đường thẳng th́ ta khó có thể h́nh dung   không gian trải dài ra như một đường thẳng. Nó phải cong thôi.

 

Tất cả mọi thứ đều là một đường cong … thế nên không ai có thể trở thành kẻ thứ nhất đứng ở đầu hàng. Thực ra, kẻ nào nghĩ rằng ḿnh trở thành người số một cũng sẽ là người thất vọng bậc nhất trên thế gian này. Đó là lư do tại sao Đức Phật đă ĺa bỏ tất cả vương quốc, ngôi báu của ḿnh để trở thành một kẻ ăn mày, v́ Ngài đă nhận ra một sự thực rằng, “Trước mắt thế gian, có vẻ như ta đang trở thành nhân vật hàng đầu, tuy nhiên không phải thế.”

 

Thế nhưng ở đây, nhân vật này, Trí Chương khao khát trở thành một tay cung thiện xạ đệ nhất trong thiên hạ nên đă t́m đến học nghề bắn cung với Ngụy Phi.

 

Đầu tiên Ngụy Phi dạy Chương   tập cách đừng chớp mắt.

 

Tập trung là điều cần thiết thứ nhất cho bất cứ ai có tham vọng. Tập trung là phương tiện, là cách thế hoàn tất tham vọng. Đây là một nhân vật đầy ắp tham vọng, và ông Thầy bảo rằng, “Được rồi. Việc đầu tiên là ngươi phải học cách đừng chớp mắt.”

 

Thế là Chương về nhà ḅ vào dưới khung cửi của vợ nằm ngữa nh́n thẳng vào cái bàn đạp đang chạy lên chạy xuống trước mắt ḿnh. Sau hai năm như thê y đạt đến t́nh trạng có thể nh́n mà không hề chớp mắt ngay cả có lần lông mày của y đă bị cuốn vào bàn đạp khung cửi.

 

Y đă đạt được công phu tập trung.

 

“Biết cách nh́n không chớp mắt chỉ mới là bước đầu tiên,” Ngụy Phi bảo đệ tử…

 

Ông Thầy bảo rằng, “Được rồi, nhưng đây chỉ mới là bước đầu tiên.”

 

“… Bước tiếp theo, ngươi phải học cách nh́n. Thực hành bằng cách nh́n vào mọi vật, đến lúc nào ngươi thấy vật chi li hiện ra rơ ràng, vật nhỏ hiện ra lớn, lúc đó hăy trở lại đây kiếm ta.”

 

Bây giờ, bước thứ hai là nh́n xuyên suốt vào sự vật để cho ngay cả một vật nhỏ cũng hoá thành lớn.

 

Điều này tùy thuộc vào việc bạn nh́n xuyên suốt, nh́n sâu vào sự vật đến mức nào. Nếu bạn chỉ nh́n một cách hời hợt, th́ ngay cả Hi Mă Lạp Sơn cũng chỉ là vật nhỏ xíu thôi. C̣n nếu bạn nh́n thật kỹ, thật sâu th́ một phân tử nhỏ cũng có thể lớn hơn cả Hi Mă Lạp Sơn. Tất cả tùy thuộc vào cái tỷ lệ: Bạn nh́n sâu đến mức nào. Một hạt nguyên tử trở thành vũ trụ nếu mang cái nh́n vũ trụ, và ngược lại, vũ trụ trở thành nguyên tử nếu mang cái nh́n nguyên tử.

 

Thông thường, chúng ta nh́n sự vật một cách hờ hững, dửng dưng. Và thế là ta cứ tiếp tục đánh mất cơ hội. Thượng Đế ở khắp mọi nơi! Từ từng cánh cây Ngài cất tiếng chào mừng bạn, từ từng viên sỏi Ngài lên tiếng mời gọi. Pháp thoại của Ngài vang vọng lên từ những ḍng sông, thế nhưng bạn cứ vẫn dững dưng. Bạn không biết cách nh́n như thế nào, thế nên bạn cứ tiếp tục lỡ mất cơ hội. Ngài có mặt trong những ǵ chi li nhất, nhỏ bé nhất, thế nhưng bạn vẫn cứ tiếp tục mất dấu. Bạn đánh mất cơ hội không phải là v́ Ngài không có mặt ở đó –mà chỉ v́ bạn đă không biết cách nh́n.

 

Ông Thầy bảo rằng, “Bây giờ phải học cách nh́n. Thực hành bằng cách nh́n vào mọi vật, cho đến lúc nào ngươi bắt đầu  thấy vật nhỏ hiện ra lớn, lúc đó hăy trở lại đây kiếm ta.”

 

Trí Chương về nhà kiếm một con kiến cực nhỏ,  mắt thường cũng khó có thể nh́n thấy. Y để nó nằm ở đầu ngọn cỏ rồi treo lên trước cửa sổ pḥng ḿnh. Xong y dọn cho ḿnh một chỗ ngồi ở tận cuối pḥng, ngày qua ngày tập trung nh́n thẳng vào nó. Thoạt tiên, thật khó mà nh́n ra con vật nhỏ xíu này, nhưng sau mười ngày y cảm thấy phấn khởi khi trông thấy nó có vẻ như lớn ra.

 

Trong suốt ba năm y thực hành công phu khổ luyện. Cho đến một ngày y có thể nh́n thấy con côn trùng nhỏ xíu trước cửa sổ rơ ràng như lớn bằng cả một con ngựa. “Ta thành công rôi!” Y la lên sảng khoái.

 

Lần này th́ Ngụy Phi hoàn toàn thỏa măn, bảo y: “Khá lắm. Ngươi đă thành tựu công phu!”

 

Bởi v́ y đă hoàn tất một nỗ lực đáng giá: có thể chuyển dạng một sinh vật cực nhỏ chỉ bằng cách nh́n vào nó không ngưng nghỉ. Bây giờ th́ vũ trụ có thể được t́m thấy trong một hạt nguyên tử. Và đó là một trong những bài học căn bản của nghệ thuật bắn cung. Bạn phải thấy cái mục tiêu nhỏ trở thành cực lớn, chỉ như vậy bạn mới không trật mục tiêu -chỉ như vậy bạn mới có thể trở thành một tay cung đệ nhất.

 

Trong nhà Thiền, thuật bắn cung đă được sử dụng hàng thế kỷ qua như là một phương tiện kỹ thuật thiền định. Bởi v́ cả hai đều cần đến những phẩm chất giống nhau. Thứ nhất: không chớp mắt. Thứ hai: Khả năng nh́n xuyên sâu vào đối tượng để chúng có thể thay đổi kích thước, kích thước này tùy thuộc vào mức độ nh́n sâu của bạn như thế nào.

 

Thế rồi Trí Chương trở thành một tay thiện xạ lừng danh, thấu đáo không sót   một ngón nghề điêu luyện nào của thuật bắn cung. Hầu như y đă đạt đến ước mơ, tham vọng của ḿnh, duy chỉ có một điều, y nhận ra rằng y vẫn c̣n một chướng ngại cuối cùng: Bao giờ mà ông thầy ḿnh -Ngụy Phi- c̣n sống, Trí Chương vẫn không thể nào đạt đến danh hiệu đệ nhất thiện xạ trong thiên hạ được.

 

Đó là những ǵ luôn xảy ra đối với tham vọng. Khi bạn đă tiến đến gần mục tiêu, bỗng dưng bạn nhận ra rằng ḿnh đang thiếu sót một cái ǵ đó cực kỳ căn bản –có ai đó đang ở một tầm mức cao hơn bạn. Và tham vọng luôn đi đôi với bạo động. Ngay cả đó là ông Thầy ḿnh, bạn cũng sẵn sàng để giết ông ta. Tôi nhắc lại, tham vọng là bạo động. Một người đầy tham vọng không thể nào là người bất bạo động được. Một người đầy tham vọng không bao giờ biết thương yêu ai, ngay cả vị ân sư của ḿnh! Một người đầy tham vọng là một người cực kỳ nguy hiểm. Tham vọng là một thứ thuốc độc. Nó đầu độc bạn.

 

Bây giờ th́ tay cung này nhận ra một sự thực rằng, “Ta đă trở thành một tay cung cự phách bậc nhất, thế nhưng vẫn c̣n một vấn nạn cuối cùng –ông Thầy vẫn c̣n sống. Ta không thể nào tự xem ḿnh là tay cung đệ nhất bao lâu mà ông Thầy c̣n sống.” Một kết luận đến tự nhiên thôi: Phải loại bỏ ông ta.

 

Tham vọng dẫn đến giết chóc. Bạn phải giết người, mọi người phải giết người, v́ tham vọng. Trực tiếp hay gián tiếp, mọi người đều là kẻ sát nhân -bởi v́ mọi người đều đầy ắp tham vọng. Bất bạo động chỉ có chỗ đứng cho những ai không tham vọng.

 

Thế nên đây là điều luôn luôn cần phải nhớ: Bạn không thể nào trở thành bất bạo động nếu như bạn vẫn c̣n tham vọng -bất cứ loại tham vọng nào cũng sẽ không thể nào mang lại ḷng từ. Làm sao bạn có thể từ bi nếu như vẫn c̣n tham vọng? Bởi v́ bạn vẫn phải c̣n tiếp tục chiến đấu, vẫn phải dọn đường để đi đến mục đích. Khi tham vọng ngự trị, tất cả mọi phương tiện đều đúng, đều có thể được đem ra sử dụng. Đâu có ai bận tâm đến phương tiện? Cứu cánh biện minh cho tất cả!

 

Một hôm đang đi trên cánh đồng vắng, Trí Chương nhận ra ông thầy ḿnh ở một quảng xa.

 

Y trông thấy ông già. Và đây chính là vị ân sư, người  đă dạy dỗ rèn luyện y trong suốt bao nhiêu năm qua.

 

Thế là không chút ngần ngại, Trí Chương rút tên ra, dương cung nhắm thẳng vào thầy và buông tên. Trong một trực giác, vị lăo sư cũng nhận biết chuyện ǵ đang xảy ra với ḿnh, và nhanh như một làn chớp ông ta cũng rút cung ra và buông tên.

 

Dĩ nhiên ông Thầy chắc chắn đă nhận ra điều đó ngay từ những ngày đầu khi y mới t́m đến, bởi v́ một người đầy tham vọng sẽ không bao giờ   chịu làm học tṛ bất cứ ai. Một người đầy tham vọng không bao giờ chịu đầu hàng. Sự đầu hàng của y chỉ là vấn đề kỹ thuật, không phải phát xuất tự đáy ḷng.

 

Ông Thầy chắc chắn đă biết điều đó! “Không sớm th́ muộn rồi y cũng sẽ chống lại ta. Không sớm th́ muộn ḷng tham vọng của y sẽ dẫn đến ư tưởng tiêu diệt ta.” Thế nên ông Thầy chắc chắn đă phải cảnh giác. Tất cả mọi ông Thầy đều luôn luôn cảnh giác đối với những đệ tử đầy tham vọng của ḿnh

 

Rất có khả năng rằng Giuđa đă là một đệ tử đầy tham vọng nhất của Chúa Giêsu. Có rất nhiều lư do để y trở thành một mẩu người như vậy. Y là người có học vấn, thông thái, có tŕnh độ lư luận nhất trong số môn đệ của Chúa Giêsu. Ngay cả y đă từng cho rằng ḿnh c̣n thông minh hơn cả Chúa cũng như đă từng nhiều lần tranh luận với Chúa. Và nếu bạn lắng nghe những lập luận của y, đôi khi nó c̣n có tính thuyết phục hơn cả Chúa Giêsu, bởi v́ Chúa không phải là một nhà hùng biện. Ngài có những lư lẽ riêng của ḿnh, nhưng những lư lẽ này rất là vi tế, những ai tinh mắt mới có thể nhận ra. C̣n những lư lẽ của Giuđa th́ lại rất rơ ràng, quen thuộc.

 

Một hôm, một phụ nữ đă đến xức dầu thơm vào chân Chúa -một loại nước hoa rất qúy giá đắt tiền. Giuđa đă có mặt ở đó và y đă không chịu để lỡ mất cơ hội hiếm có này. Y phàn nàn với Chúa: “Xem ḱa, Thầy nên ngăn cản người nữ này! Thật là một sự hoang phí quá đáng! Trị giá của cái mà bà ta đổ ra có thể đăi cả thành phố này một bửa tiệc. Có biết bao nhiêu là người nghèo!” Lập luận của y giống y hệt lập luận của một đảng viên đảng xă hội, của một người cộng sản! Vâng, Giuđa là một nhà xă hội. Y tiếp, “Cả thành phố này có thể đă được một bửa ăn thỏa thuê. Chắc chắn là họ vui thích lắm. Thầy nên ngăn cản bà ta! Tại sao lại làm một việc vô nghĩa như vậy?”

 

Thế nhưng Chúa Giêsu đă trả lời như thế nào? Chúa bảo rằng, “Người nghèo th́ lúc nào cũng có ở đó. Khi ta đi rồi ngươi có bao nhiêu dịp để phục vụ họ.”

 

Câu trả lời này nghe không được thuyết phục lắm -bạn nghĩ sao? Có vẻ như không thuyết phục chút nào. Có vẻ như là một lập luận rất yếu ớt: “Ta sẽ rời khỏi đây không lâu, hăy cứ để cho bà ta thực hiện ư nguyện của ḿnh. Người nghèo th́ vẫn luôn luôn c̣n đó mà.”

 

Trên bề mặt, lập luận của Giuđa có vẻ rất vững chắc. Nếu có chuyện bầu bán, chắc chắn là Giuđa sẽ thắng phiếu. Tuy nhiên quan điểm của Chúa Giêsu hoàn toàn ở trên một mặt bằng khác. Ngài bảo rằng, “Những chuyện này chỉ là chuyện nhỏ thôi! Cho dù ngươi có thết tiệc khoản đăi cả ngôi làng này, cũng sẽ chẳng giúp ích ǵ được bao nhiêu. Thế nhưng ngăn cản người phụ nữ này, người đă đến đây với tất cả tấm ḷng khấn nguyện, có thể sẽ hủy diệt mọi khả năng làm tăng trưởng ḷng tín tâm của nàng. Từ chối, ngăn cản nàng sẽ là một hành động rất mực tiêu cực. Đó là một linh hồn rất mực yếu đuối, mỏng manh.”

 

Chúa Giêsu không hề nh́n đến cái giá trị của loại nước hoa đó. Chúa đang nh́n đến trái tim của người phụ nữ kia. Mà cái đầu th́ chẳng bao giờ chịu nh́n vào trái tim. Cái đầu có những lư lẽ riêng của nó.

 

Một môn đệ của Đức Phật, Đề Bà Đạt Đa, cũng đă phản bội Ngài. Y cũng là một trong những người thông minh nhất chung quanh Đức Phật. Y c̣n là anh em chú bác với Phật, xuất thân từ một gia đ́nh vương giả qúy phái như Đức Phật. Y đă phản bội Ngài.

 

Con rễ của Mahavir cũng đă phản bội ông ta. Y cũng là người học thức, có văn hoá vào bậc nhất trong số những người chung quanh Mahavir. Tại sao? Tại v́ đó là những người đầy ắp tham vọng. Người con rễ này cũng có cái tham vọng trở thành một bậc Thầy vĩ đại nhất trên thế gian này và Mahavir lại là viên đá cản đường. Lúc nào mà Mahavir c̣n sống, rất khó để y thỏa măn được ước mơ của ḿnh.

 

Đề Bà Đạt Đa cũng có cái tham vọng trở thành một vị Phật vĩ đại nhất trên thế gian này và điều này quả rất khó khăn khi nào mà ông Phật Cồ Đàm c̣n sống. Đề Bà Đạt Đa đă t́m mọi cách để giết Phật nhiều lần. Tham vọng là thuốc độc. Nó làm cho con người trở nên mù quáng.

 

Hai mũi tên va chạm vào nhau giữa khoảng không và rơi xuống đất. Cuộc quyết đấu sinh tử giữa hai người vẫn tiếp tục cho đến khi cái bao tên của ông thầy không c̣n một mũi tên nào, trong khi người học tṛ chỉ c̣n lại một mũi tên duy nhất.

 

Đây chỉ là một h́nh ảnh tượng trưng. Ông Thầy th́ già rồi, người học tṛ c̣n trẻ. Ông Thầy đă sẵn sàng để đi vào cái chết.

 

“Đây là dịp may của ta!” Trí Chương nhủ thầm và dương cung bắn mũi tên cuối cùng về phía ông thầy. Nhận ra điều này, Ngụy Phi nhanh tay bẻ ngay một nhánh cây gai ở bên cạnh, dùng đầu cây gạt đỡ cái mũi tên đang lao nhanh thẳng đến tim, rơi xuống đất ngay cạnh chân ḿnh.

 

Đây là ngón nghề cuối cùng mà ông Thầy chưa hề dạy. Bất cứ ông Thầy vơ nào cũng bí mật giữ lại ít nhất một ngón nghề để hộ thân.

 

Nhưng bây giờ th́ ông Thầy gọi người học tṛ: “Này bạn …

 

Hăy để ư đến cách xưng hô. Ông ta bảo, “Này bạn.” Ông Thầy muốn nói lên điều ǵ đây? Ông ta hàm ư rằng, “Bây giờ ta không c̣n là Thầy ngươi nữa. Ngươi không c̣n là học tṛ ta nữa. Hăy tha lỗi cho ta. Hăy quên ta đi! Bây giờ ta coi ngươi như người bạn, và ta cũng đă truyền cho ngươi tất cả những sở học của ta –ngay cả ngón nghề cuối cùng như ngươi đă thấy và chắc ngươi đă học được.”

 

“Như ngươi biết, ta đă trao truyền tất cả mọi sở học, ngón nghề bắn cung cho ngươi rồi. Nếu như ngươi c̣n muốn đào sâu hơn vào những bí truyền của môn này, ngươi phải đi t́m vị đại lăo sư Can Dung. Tài nghệ bắn cung của chúng ta nếu so sánh với ông ta chỉ là một tṛ trẻ con.”

 

Bây giờ,   mặc dù người học tṛ này đă toan tính giết cả ḿnh, ông Thầy vẫn gởi y đi tầm sư học đạo thêm. Ông Thầy đă gởi y đến chính người bổn sư của ḿnh, nhà dật sĩ ở trên núi cao. Ông ta bảo: “Những ǵ mà chúng ta biết chỉ là tṛ trẻ con. Ngay cả ta cũng chưa phải là tay cung đệ nhất trong thiên hạ. Ngươi có thể hài ḷng điều đó mà tha thứ cho ta. Bây giờ nếu ngươi thực sự muốn trở thành một tay cung đệ nhất, ngươi phải t́m cầu một vị thầy khác. Thầy của ta hiện vẫn c̣n sống. So sánh nghệ thuật bắn cung của ông ta, chúng ta chẳng là cái ǵ cả.”

 

Trải mấy tháng trời trèo non lặn suối Trí Chương mới t́m đến được hang động của Can Dung và tuyên bố ngay, “Tôi đến đây để t́m hiểu thử xem ḿnh có phải là tay đệ nhất thiện xạ như tôi hằng tin tưởng không.” Và không đợi Can Dung trả lời, Trí Chương rút cung ra dương thẳng lên trời nhắm thẳng vào đàn chim nhạn vừa mới bay qua, và chỉ một mũi tên phóng ra, năm con nhạn rơi xuống đất ngay lập tức.

 

Vị lăo sư mĩm cười, “Đây hoàn toàn mới chỉ là chuyện bắn bằng cung và tên. Ngươi đă học được nghệ thuật bắn mà không bắn chưa? Nếu chưa, hăy theo ta.”

 

Đó là sự khác biệt giữa một chuyên viên và nhà nghệ sĩ. Một chuyên viên chỉ hiểu biết tất cả những ǵ về kỹ thuật, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Bạn có thể hiểu biết mọi chuyện về hội họa, nhưng bạn sẽ không là một Michelangelo. Bạn có thể hiểu biết tất cả về âm nhạc, có thể viết nhạc, nhưng bạn không thể trở thành một Beethoven. Kiến thức về kỹ thuật là một điều cần thiết, nhưng không phải chỉ có vậy -cần thiết nhưng chưa đủ. Sự thăng hoa chỉ đến khi nào bạn quên đi chuyện kỹ thuật, khi mà kỹ thuật không c̣n cần thiết nữa, khi sự sáng tạo không c̣n dựa trên kỹ thuật. Đó là ư nghĩa của vấn đề:

 

              “Đây hoàn toàn mới chỉ là chuyện bắn bằng cung và tên.”

 

Tốt, nhưng chẳng là ǵ cả -đó chỉ là chuyện cung với tên.

 

             “Ngươi đă học được nghệ thuật bắn mà không bắn chưa?”

 

Cũng vậy, nếu bạn thiền định với kỹ thuật, với phương pháp, th́ cũng hoàn toàn giống như chuyện bắn cung bằng cung và tên. Ngày mà bạn buông bỏ tất cả mọi kỹ thuật về thiền định, đi vào thiền không bằng kỹ thuật, phương pháp th́ đó mới thực sự gọi là nghệ thuật bắn cung. Ở cảnh giới tuyệt hảo của thiền, thiền cũng biến mất luôn. Cái đó gọi là đại viên măn –khi bạn không c̣n cần đến nó nữa.

 

Khi t́nh yêu thăng hoa, bạn sẽ quên đi mất chữ “yêu”. Khi bạn tực sự chứng đắc và trở nên hạnh phúc, bạn không biết rằng ḿnh đang hạnh phúc. Làm sao bạn có thể biết là ḿnh đang hạnh phúc? Chỉ có người bất hạnh mới có thể biết hạnh phúc là ǵ. Nó chỉ được biết qua so sánh, đối chiếu.

 

Nếu bạn sáng tác âm nhạc qua một nhạc cụ nào đó, bạn không hề biết rằng đă có một thứ âm nhạc đang tuôn chảy trong ḍng hiện sinh, không cần đến bất cứ loại nhạc cụ nào để tạo nên, và bạn chỉ cần mở rộng tâm hồn ra là có thể lắng nghe. Mà thực ra, khi bạn đang sáng tác với nhạc cụ, cũng đang có một cái ǵ đó như một làn sóng nhạc bao quanh, rung động trong từng hiện sinh, phản chiếu lên. Chỉ có vậy. Một cái ǵ đó phản chiếu lên –đó là tiếng dội, tiếng dội từ một khoảng xa mờ nào đó. Cái đó, nếu ta biết lắng nghe, sẽ rất mực thú vị, thỏa măn. Và như vậy, cái ǵ là âm nhạc thực sự? Cái âm nhạc thực sự này, người Ấn gọi là anahat nat –không đánh, được sáng tạo mà không cần phải đánh, phải gơ vào bất cứ nhạc cụ nào, không cần phải so, phải khảy dây đàn, không cần phải vận dụng đến bất cứ nỗ lực nào, mà bằng sự yên lặng tuyệt đối   để ta có thể nghe được nó.

 

Đó là tất cả những ǵ mà Thiền gia gọi là “tiếng vỗ của một bàn tay”. Tất cả mọi âm thanh khác đều được tạo nên bởi âm thanh hai vật đánh vào nhau -tiếng vỗ của hai bàn tay chẳng hạn. Thế nhưng khi hai bàn tay vỗ vào nhau, âm thanh chỉ vang lên trong một khoảnh khắc. Nó chỉ có mặt, cô đọng lại ở đó trong một khoảnh khắc ngắn ngủi rồi tan biến. Thế nhưng có một loại âm nhạc vĩnh cữu –đó là cái mà Pythagore gọi là nhạc trời, âm nhạc của những v́ sao- cần phải được nghe. Bạn không cần phải sáng tác. Nó đă có sẵn ở đó. Nó luôn có mặt ở đó. Đó chính là tự tánh của mỗi hiện sinh.

 

Vị lăo sư mĩm cười, “Hăy theo ta.”

 

Trí Chương lặng lẽ bước theo ông già, leo lên mỏm đá ở đầu chóp núi. Đứng ở đây, ghé mắt nh́n xuống phía dưới y đă cảm thấy hoa mắt và cái đầu quay cuồng choáng váng rồi

 

Đứng trên bờ vách núi cheo leo và nh́n xuống … hố thẳm! Bịnh thôi, ruột gan lộn tùng phèo cả, chắc chắn là y đă vô cùng sợ kăi.

 

Khi bạn ở trong trạng thái kinh hoàng, làm sao bạn có thể là một tay cung được? Khi cái chết cận kề, làm sao bạn có thể là một tay cung đệ nhất được? Khi bạn đang sợ hăi và run rẩy làm sao bạn có thể nhắm vào mục tiêu được? Một người b́nh thường có thể sẽ không nh́n thấy cái bao tên trong tay bạn khi bạn bắn ra một mũi tên, nhưng với ông Thầy lăo luyện này, cái ǵ lại có thể qua mắt ông ta được? Ông ta sẽ nh́n thấy cái bao tên trong tay bạn, cái bàn tay đang run rẩy đó. Và trái tim cũng đang run rẩy … Chuyện ǵ đang xảy ra ở trên vách núi kia cũng chẳng có ǵ là mới mẻ, một sự kiện hiển nhiên là y đang đối đầu với cái chết. Thế là y rất mực sợ hăi. Chắc chắn là y luôn sợ hăi bóng dáng của cái chết.

 

Thực ra, cái tâm luôn luôn sợ hăi cái chết, cái tâm đầy ắp tham vọng lại c̣n hơn thế nữa, rất mực sợ hăi tử thần. Nỗi sợ đó rất dễ hiểu: Ta có thể thực hiện được điều mong muốn trước khi ta chết? Ta sẽ thành công trước khi ta chết? Liệu ta có thể chu toàn không, hay là sẽ thất bại? Người tham vọng sợ hăi cái chết hơn là người không tham vọng. Người không tham vọng chẳng có ǵ để mất mát cả. Nếu cái chết xảy đến … cũng tốt thôi. Y đă không thành tựu bất kỳ cái ǵ ở đời này, thế th́ cái chết chẳng tước đoạt được bất cứ cái ǵ của y cả.

 

Vị lăo sư chắc chắn là đă trông thấy hết. Đâu có ǵ thoát khỏi đôi mắt lăo luyện với cái nh́n xuyên suốt của ông ta. Chắc chắn là ông ta đang nh́n thấy trái tim đang run rẩy của y. Mà thực ra, qua tham vọng chúng ta luôn muốn chứng tỏ cái bản ngă của ḿnh có thể chống lại cái chết. Nhưng vô phương! Cái bản ngă rồi cũng phải ra đi, cái bản ngă rồi cũng phải chết. Nó không thể bất tử. Bạn có thể có tiền rừng bạc biển như bạn mong muốn, nhưng rồi bạn cũng sẽ phải chết. Bạn có thể thu tóm tất cả mọi quyền lực trong tay, nhưng rồi bạn cũng sẽ phải chết. Không ǵ có thể bảo vệ bạn.

 

… ghé mắt nh́n xuống phía dưới y đă cảm thấy hoa mắt và cái đầu quay cuồng choáng váng rồi. Trong khi đó th́ vị lăo sư lại nhẹ nhàng nhảy ra…

 

 

Lắng nghe:

 

 đứng trên một mảnh đá ngầm nhô ra ngoài vách núi, bảo y: “Hăy ra đây với ta và chỉ cho ta thấy cái tài nghệ bắn cung của ngươi.”

 

Trí Chương ḅ ra được đến mảnh đá th́ nó đang bắt đầu đung đưa qua lại. Y cố gắng đứng lên và rút mũi tên ra nhưng đồng thời nhận ra ḿnh đang mất thăng bằng. Kinh hoàng y nằm dài xuống, những ngón tay bám chặt vào mỏm đá, đôi chân không ngừng run rẩy và mồ hôi tuôn chảy đầy người.

 

 

Bây giờ th́ vị lăo sư này đă đưa y trở về với thực tại. Tất cả mọi bản ngă, tất cả mọi tham vọng, tất cả mọi ư tưởng trở thành tay cung đệ nhất thiên hạ -tất cả đều tan biến! Chỉ c̣n lại nỗi sợ hăi –và y đang run rẩy chẳng khác ǵ một đứa trẻ lạc đường.

 

Tất cả mọi thành tựu của chúng ta cũng giống y như thế. Khi bạn đối diện với cái chết, tất cả đều vô nghĩa. Bỗng dưng bạn thấy ḿnh lại trở thành đứa trẻ thơ ngày nào –run rẩy, sợ hăi. Cũng tự nhiên thôi …

 

Vị lăo sư cả cười, dang tay đỡ Trí Chương bước ra khỏi mỏm đá. Xong ông ta cũng nhẹ nhàng nhảy xuống và bảo Trí Chương, “Bây giờ th́ ngài cho phép tôi chỉ cho ngài thấy thế nào là nghệ thuật bắn cung thực sự.”

 

“Thế nhưng cây cung của ông đâu?” Trí Chương thắc mắc.

 

Nếu bạn t́m đến Đức Phật và hỏi, “Bạch Đức Thế Tôn, Ngài thiền định như thế nào? Đâu là phương pháp của Ngài?” Hay là bạn t́m đến Chúa Giêsu và hỏi, “Thưa Chúa, Chúa cầu nguyện như thế nào? Những lời cầu nguyện đó là ǵ?” Có thể đó sẽ là những câu hỏi xuẩn động.

 

Chúa Giêsu chẳng có ǵ để nói với Thượng Đế cả. Lời cầu nguyện của Ngài không phải là những lời nói chuyện với Thượng Đế. Lời cầu nguyện của Ngài chỉ là sự lắng nghe. Và Đức Phật cũng không hề thực hành thiền, bởi v́ tất cả những ǵ thực hành đều thuộc về tâm. Mà cái tâm đă biến mất rồi. Đức Phật đang sống trong thiền.

 

Đây quả là điều khó khăn đối với chúng ta. Đức Phật không phải đang hành thiền. Ngài sống trong thiền, ngài là thiền.

 

Nhiếu người dến với tôi và nêu lên câu hỏi, “Osho, Ngài có thương yêu chúng tôi không?” Quả là điều khó khăn để họ có thể hiểu, bởi v́ họ chỉ biết một loại t́nh yêu duy nhất -thứ t́nh yêu phải được ban bố ra. Họ không hiểu được một loại t́nh yêu khác, t́nh yêu thực sự, T́nh Yêu viết hoa! Loại t́nh yêu này không cần phải ban bố, nó đơn thuần đă có sẵn ở đó rồi.

 

Vâng, tôi không hề yêu bạn. Tôi là t́nh yêu. Đây là một sự khác biệt hoàn toàn. Có thể nó sẽ không làm cho cái bản ngă của bạn cảm thấy thoải mái, thế nhưng bởi v́ bạn đă không hề biết đến đồng tiền thật là ǵ. Bạn chỉ luôn xài tiền giả! T́nh yêu chân thật không phải là một mối tương quan liên hệ -đó là một trạng thái của hiện sinh.

 

“Thế nhưng cây cung của ông đâu?” Trí Chương thắc mắc.

 

Vị lăo sư lại cả cười: “Cây cung của ta? Bao giờ mà một người vẫn c̣n cần đến cung và tên, y mới chỉ đứng ở ṿng ngoài của thuật bắn cung. Nhà bắn cung thật sự không cần đến cung và tên.”

 

Nghệ thuật thật sự sẽ biến mất khi kỹ thuật chen vào. Nếu bạn chú tâm vào kỹ thuật, bạn chỉ mới ở ṿng ngoài. Cũng tốt thôi! Chẳng có ǵ sai lầm cả. Nhưng nên nhớ rằng: Ta phải vượt qua chúng. Ta phải vượt qua những rào chắn bao quanh. Ta phải vượt qua tất cả mọi phương pháp. Phải trở nên tự phát, không c̣n cần đến phương pháp nữa. Thiền là bạn. T́nh yêu là bạn. Thượng Đế là bạn.

 

Trên đầu họ lúc đó một con diều đang lượn ṿng trên bầu trời xanh. Nhà dật sĩ ngước mắt nh́n lên và Trí Chương cũng dơi mắt nh́n theo. Con diều đang ở tít trên cao mà cho dù với cặp mắt tinh anh của y, y cũng chỉ nh́n thấy nó nhỏ bé như một hột mè. Can Dung rút ra một mũi tên vô h́nh đặt vào cây cung vô h́nh, và trong động thái dương thẳng cánh ông ta buông cung. Chỉ trong một khoảnh khắc tiếp theo, con diều ngưng đập cánh và rơi xuống đất như một ḥn đá.

 

Điều này đă xảy ra. Xảy ra như một phép lạ. Nếu cái tâm hoàn toàn lắng yên, nhập định, không c̣n suy tưởng đến bất cứ cái ǵ, điều này sẽ xảy ra. Đó là lư do tại sao trong tất cả những kinh sách cổ điển đều nhấn mạnh đến một điều: trước khi bạn đạt đến tam ma địa, bạn phải buông bỏ hoàn toàn những tà niệm, bằng không bạn sẽ trở thành một kẻ rất mực nguy hiểm cho nhân loại.

 

Bây giờ ta hiểu được cái bí mật tại sao Patanjali (7) luôn khẳng định rằng, việc trước tiên là phải buông bỏ tất cả những niệm ác trong tâm, tại sao Đức Phật bảo ta phải buông bỏ tất cả mọi tà niệm trong tâm, và Mahavir cũng nhấn mạnh đến chuyện buông bỏ bạo động, giả dối, chấp trước. Tại sao? Bởi v́ một khi bạn đă vào đại định, tất cả những ǵ khởi dậy trong tâm bạn đều sẽ được thành tựu ngay lập tức. Nguy hiểm là như thế. Và thỉnh thoảng điều này đă xảy ra …

 

Thỉnh thoảng có chuyện xảy ra là một người bỗng dưng có khả năng nhập định và trở thành một hiểm họa cho thế giới. Đó là trường hợp Rapustin. Ông ta có khả năng nhập định mà không hề đượcchuẩn bị trước. Có thể nói là ông ta đă rơi tỏm vào đó như một t́nh cờ. Ông ta cầu nguyện rất mực tinh chuyên trong rất nhiều năm, và rồi bỗng dưng ông ta có khả năng biết, như một nhà tiên tri. Ông ta có khả năng thực hiện rất nhiều chuyện lạ. Và điều ǵ ông ta nói ra đều ứng nghiệm.

 

Ông ta bảo với Sa hoàng nước Nga rằng, bà Hoàng hậu là tín đồ rất mực thuần thành với ông ta, thế nhưng Nga hoàng chẳng buồn để ư. Lo sợ bị tống ra khỏi hoàng cung, một hôm ông ta bảo Sa hoàng: “Hăy nhớ kỹ điều này. Nếu ta chết, cái vương quốc của ngươi cũng sẽ không tồn tại. Cái vương quốc này chỉ bền vững khi c̣n có ta ở đây.” Và rồi điều đó đă xảy ra. Rapustin bị giết, tiếp theo đó là cuộc cách mạng tháng Mười. Toàn bộ hoàng gia đều bị thảm sát -mười tám người tất cả, kể cả một đứa bé mới hai tháng. Những điều Rapustin tuyên bố đều thành tựu. Ông ta là một nhà tiên tri.

 

Như vậy thỉnh thoảng đă có chuyện xảy ra là một ngựi bỗng dưng rơi tỏm t́nh cờ vào đại định. Tốt hơn hết vẫn là nên từ từ, phải được chuẩn bị chu đáo, thận trọng. Đây không phải là một phép lạ! Một người tu chứng đạt đến tŕnh độ như Can Dung, một cách đơn giản rẳng, ông ta khởi niệm con diều sẽ rơi, nó sẽ rơi ngay lập tức -bởi v́ trong vũ trụ này, chúng ta được nối kết cùng nhau.

 

Chuyện ǵ đă xảy ra khi tôi chuyển động bàn tay ḿnh? Đó là một phép lạ. Một niệm khởi dậy ở trong tôi về chuyện dời bàn tay và thế là bàn tay tôi chuyển động. Bàn tay là một vật thể, c̣n ư niệm th́ không. Đây vẫn c̣n là điều bí ẩn đối với khoa học. Bí ẩn này vẫn chưa được giải thích -niệm khởi dậy và bàn tay chuyển động. Ở đâu th́ cái ư niệm được chuyển đổi sang vật chất, và như thế nào? Nếu bàn tay tôi di động th́ tại sao bàn tay của bạn lại không thể di động? Nếu một ư niệm khởi dậy ở trong tôi rằng, “Bàn tay bạn chuyển động,” rồi bàn tay của bạn sẽ chuyển động. Bạn có thể thử nghiệm điều này. Và đôi lúc nó sẽ làm cho bạn ngạc nhiên.

 

Nó xảy ra … Nếu có lần bạn đang đi phía sau của ai đó. Tiếp tục nh́n thẳng vào phía sau ót của người này. Trong ṿng hai hay ba phút, nói lớn lên trong tâm bạn -nhớ là bên trong- “Hăy quay lại nh́n tôi.” Và rồi bạn sẽ ngạc nhiên: người đó sẽ lập tức quay lại nh́n bạn. Chuyện ǵ đă xảy ra? Chính là cái ư niệm đă được chuyển tải. Ư niệm đă vượt ra khỏi bạn, đă xâm nhập vào người khác.

 

Một người như lăo sư Can Dung có thể thực hiện điều này một cách dễ dàng -chỉ là vấn đề ư niệm! Và con diều th́ cũng chẳng xa xôi ǵ cho lắm. Chúng ta được nối kết cùng nhau –tương tức và tương tác. Chúng ta cùng nhau bơi lội trong cả một đại dương của ư niệm. Chúng ta là những thành viên của nhau, tác động lên nhau.

 

Thế là trong suốt chín năm Trí Chương ở lại trong núi sâu cùng với vị lăo sư. Trong suốt khoảng thời gian này, y đă khổ luyện được những ǵ, không ai hay biết.

 

Đến năm thứ mười th́ y xuống núi, về nhà. Tất cả mọi người quen biết đều kinh ngạc trước sự biến đổi hoàn toàn của y. Vẻ kiêu căng phách lối ngày nào nay hầu như biến mất…

 

Tất cả cuộc viễn du của ḷng tham vọng, của bản ngă, của cái “Tôi muốn trở thành tay cung đệ nhất trong thiên hạ” đă biến mất. Cái ông già Trí Chương này, thực ra, bây giờ cái ngă cũng đă biến mất rồi. Ba cái bản ngă kia -thể xác, tâm lư, tinh thần-đă hoàn toàn biến mất, y không c̣n kiêu căng, và cũng không cả khiêm tốn nữa.

 

          … thay vào đó là nét dung   dị, ngây ngô.

 

Chẳng khác ǵ một kẻ đần, một người ngây ngô. Chẳng khác ǵ y không c̣n tâm. Một người vô tâm, như đứa trẻ, một tên khờ, tên ngốc. Đây chính là trạng thái cao nhất: trở thành một kẻ đần. Giống hệt như những ǵ đă xảy đến   với Thánh St. Francis of Assisi . Ông ta là một kẻ đần.  Cũng giống hệt như trường họp của Lăo Tử, Trang Tử, Liệt Tử; và đặc biệt đây là trạng thái cao nhất trong Lăo giáo: trở nên một kẻ đần –không c̣n biết cái nọ cái kia, tất cả. Khi tất cả mọi cái ngă đă biến mất, chỉ c̣n lại một lặng yên hoàn toàn và ngu đần, một ngu đần rất mực thiết thân. Một người không c̣n hiện hữu –làm sao y có thể biết được cái ǵ?

 

Ngụy Phi, vị thầy cũ, t́m đến thăm sau khi nh́n phớt qua liền bảo: “Bây ǵ̣ thi ta đă thấy tận mắt   rằng ngươi đă thực sự trở thành một tay cung thiện nghệ bậc nhất. Ngay cả ta bây giờ cũng không xứng đáng để sờ vào chân ngươi.”

 

Cư dân của thành phố chào đón Trí Chương như là một tay đệ nhất cung thủ trong thiên hạ và chờ đợi một cách thiếu kiên nhẫn rằng chắc chắn không sớm th́ muộn y cũng sẽ trổ tài biểu diễn ngón nghề điêu luyện này cho họ chiêm ngưỡng. Thế nhưng người ta thấy Trí Chương vẫn im ĺm không làm ǵ cả nhằm thỏa măn sự chờ đợi của mọi người.

 

Đâu có c̣n ai đó nữa để thoả măn những mong chờ của họ. Y bây giờ đă là một sự tịch tĩnh, một tánh không.

 

Cây cung bạch dương quư giá   mang theo lên núi năm nào y cũng đă bỏ lại ở đó. Khi có người hỏi chuyện ǵ đă xảy ra, Trí Chương đă giải thích bằng một giọng đều đều, “Tŕnh độ tột cùng của làm là không làm, của nói là không nói, của bắn là không bắn.”

 

Cái rốt ráo là cái thụ động, tiêu cực. Cái tích cực chỉ là ở ṿng ngoài, ở trung tâm cốt lơi là thụ động, tiêu cực. Cái rốt ráo là tánh không –shunyata.

 

Trí Chương bước vào tuổi già. Đến một thời điểm có vẻ như cả thân lẫn tâm ông ta không c̣n xúc chạm với thế giới bên ngoài nữa mà hiện hữu một cách thong dong tự tại và rất mực hồn nhiên.

 

Rất mực hồn nhiên … Cái hồn nhiên này không phải do thực hành, cũng không phải do công phu tu tập. Nó rất mực thanh nhă, tự nh́ên. Bởi v́ cái bản ngă đă tan biến –đó là lư do tại sao chỉ c̣n lại sự hồn nhiên! Bạn có thể tập cho ra vẻ hồn nhiên, nhưng cái hồn nhiên này cũng chỉ là một thứ trang trí của bản ngă.

 

Có hai loại hồn nhiên. Loại thứ nhất, đó là những ǵ được gọi là những ông thánh, đại thánh –mahatma của bạn, do dày công tập luyện mà có. Đây chỉ là một tính toán, một cử chỉ, điệu bộ đầy tính toán. Thứ này là khôn lanh chứ không phải hồn nhiên. Đây chỉ là cái mả bên ngoài. C̣n một loại hồn nhiên thứ hai: rất mực thanh nhă, tự phát, tự nhiên, không do tập luyện. Đây là cái hồn nhiên của trẻ thơ, của người vô tâm. Nó thanh nhă là thế.

 

Khuôn mặt an nhiên của ông ta tự nó đă xoá bỏ mọi vết tích của cảm xúc, không c̣n một ngoại lực nào có thể khuấy động được cái vẻ bất động trầm ổn như núi đá đó.

 

Bây giờ rất hiếm khi người ta thấy ông ta nói chuyện, cũng không ai biết là ông ta đang c̣n thở hay không. Trong buổi xế chiều của đời người này, ông ta không c̣n biết được sự khác biệt giữa “cái nọ” và “cái kia”. Cảnh sắc muôn màu từ ấn tượng giác quan hầu như không c̣n làm bận tâm ông ta nữa. Bây giờ th́ đôi mắt của ông ta cũng có thể là lỗ tai, lỗ tai có thể là lỗ mũi, lỗ mũi có thể là cái miệng…

 

Tất cả mọi phân biệt đă biến mất. Y không c̣n biết ǵ nữa cả -cái nọ, cái kia. Một ngàn lẻ một thứ nay chan hoà thành một. Vạn pháp ḥa nhập vào nhau thành nhất thể, thành đại khối vũ trụ, không c̣n phân chia, cách biệt. Tất cả mọi ngăn kéo, mọi xếp loại đều bỏ lại đằng sau.

 

Chuyện kể rằng vào năm cuối của đời ḿnh, một hôm ông ta đến nhà một người bạn chơi và trông thấy ở trên bàn một vật có vẻ rất quen thuộc mà ông ta không tài nào nhớ ra là cái ǵ. Ông hỏi người bạn, “Làm ơn cho tôi biết cái vật ở trên bàn này là cái ǵ và dùng vào v́ệc ǵ vậy?”

 

Ngựi bạn rất mực kinh hoàng, lắp bắp: “Ôi, lăo sư ơi. Ông thật là bậc Thầy bắn cung vĩ đại nhất của muôn đời. Chỉ có ông mới có thể hoàn toàn quên đi đó là cây cung –tên gọi của nó và dùng để làm ǵ!”

 

Tương truyền răng sau đó không lâu ở trong thành phố này, những người thợ sơn đă liệng bỏ bàn chải, những người nhạc sĩ đă bứt bỏ dây đàn và quả là điều xấu hổ khi người ta thấy những người thợ mộc lại mang theo bên ḿnh cây thước thợ.

 

 

Đây là những ǵ được gọi là Thiền.

Thiền không phải là một phương pháp. Thiền vượt ra ngoài mọi phương pháp. Thiền không phải là một con đường! Thiền chặt đứt tất cả mọi con đường dẫn về nhà. Thiền không phải là một hành tŕnh –nó không có mục tiêu để đạt đến. Thiền là sự vắng bóng của tất cả mọi cuộc hành tŕnh và rồi bỗng dưng bạn khám phá ra rằng ḿnh đă có mặt ở đó, bạn đă luôn luôn có mặt ở đó.

 

Thiền là sự đột nhiên bừng sáng tỏ ngộ, không phải là một tiệm tiến, bởi v́ tiệm tiến có nghĩa là thực tập, là   bước đi từng bước một. Thiền là hoát nhiên. Không có ǵ để cho ta thực tập. Nó đă có sẵn. Những ǵ mà bạn đang t́m kiếm đă có sẵn ở trong bạn. Người t́m cũng chính là cái t́m. Bạn chỉ cần ngưng ngay sự t́m kiếm và nh́n. Nh́n vào sắc tướng rồi bạn sẽ không t́m ra nó. Nh́n vào tâm và bạn cũng sẽ không t́m ra nó. Nh́n vào cái ngă cũng vậy.   Khi tất cả ba nơi này bạn đă không t́m ra, lúc đó bạn sẽ t́m ra bạn là ai!

Osho/Tâm Hà Lê Công Đa 

 

CHÚ THÍCH của DỊCH GIẢ:

 

( 1) Ikkyū, Nhất Hưu Tôn Thuận - h́nh bên ( 一休宗 , 1394-1481) là một Thiền sư Nhật Bản thuộc phái Lâm Tế, nổi tiếng với tính t́nh phóng khoáng vượt ra ngoài khuôn khổ của ông.   Ô ng là người đă mang phong thái và lư tưởng Thiền vào nền văn học nghệ thuật Nhật Bản, tạo nên một tác động lâu dài và sâu sắc. Ông đồng thời cũng là một nhà thơ, và là một trong những người sáng tạo ra nghi thức Trà Đạo Nhật Bản.

 

(2) Fra Giovanni Giocondo (c. 1433 – 1515) Sinh quán tại Verona, là một kiến trúc sư người Ư tác giả của những công tŕnh nghệ thuật vĩ đại c̣n lưu dấu đến ngày nay, cụ thể như Palazzo del Consiglio. Ông nổi tiếng khắp Âu Châu đến độ vua Pháp, Louis XII, đă mời ông qua Paris vẽ kiểu và thực hiện hai cây cầu bắc qua sông Sein, đó là cầu Notre Dame và Petit Pont.

Fra Giovanni Giocondo  đồng thời cũng là một nhà khảo cổ và là một học giả cổ điển với những công tŕnh nghiên cứu giá trị.

 

(3) Muốn hiểu thêm khái niệm này bạn đọc có thể đọc thêm Kinh Lăng Nghiêm trong đoạn Bồ Tát Quán thế Âm giảng về pháp tu nhĩ căn viên thông và đoạn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi giảng thuyết cho ông A Nan về   “Tánh Nghe”.

 

Trích:

Khi đó Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy lạy Phật cung kính thưa rằng:

 

Bạch Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước, có Phật ra đời tên là Quán Âm. Con đối trước Phật Quán Âm phát tâm Bồ đề. Ngài dạy con từ nơi nghe rồi nhớ   và tu mà được vào chánh định.

 

Khi mới nghe tiếng, không chạy theo thinh trần, xoay cái nghe trở vào chơn tánh. V́ chỗ vào đă yên lặng, nên động và tịnh hai món trần cảnh không sanh.

 

Như thế, lần lần tăng tấn đến cái nghe và cảnh bị nghe cũng hết. Cũng không an trụ ở chỗ hết nghe. Cái biết hết và cái bị biết cũng không c̣n. “Cái biết” và “cái bị biết” cả hai đều không, đến chỗ cột tùng viên măn. Song hăy c̣n cái “không”, phải tiến lên một từng nữa là cái “không” và cái “bị không” cả hai đều diệt hết. Khi các cái sanh và diệt đă diệt hết, th́ cái chơn tâm tịch diệt hiện tiền.

 

(4) Trong Triết học Ấn Độ, Charvaka được liệt vào trường phái vật chất và vô thần. Sáng lập bởi Vrihaspati, một người vô thần, vào khoảng năm 600 B.C. Ông ta không tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế, vào Kinh Vệ Đà cũng như mọi h́nh thức lễ bái. Quan điểm của ông ta là, tất cả mọi sinh vật -kể cà con người đều không bất tử, đều phải chết, thế nên phải sống như thế nào cho thật thoải mái, sung sướng trước khi chết. Phải vận dụng hết khả năng đê kiếm tiền, làm giàu và tiêu phí thỏa thuê cho mọi ham muốn của ḿnh ở trên thế gian này.

( 5) Xem thêm về Thập Nhị Nhân Duyên.

 

(6) Đây là khái niệm được diễn giăi trong Kinh Hoa Nghiêm: Vô sinh (anutpàda), một trong những ư niệm căn bản nhất của Phật giáo Đại thừa, có thể diễn tả bằng những từ ngữ tương đương, như Không (sùnyatà), vô tự tính (asvabhàva), bất nhị (advaita), thực tế (bhùtakoti), Niết bàn (Nirvana), vô tướng (animitta), vô nguyện (apranihita), v.v... Các nhà Đại thừa cho rằng “nhất thiết pháp vô sinh” (tất cả sự vật là vô sinh) v́ lẽ đơn giản là khi tính cách hiện hữu của một sự vật không thể khái niệm và nhận thức được, xa ĺa mọi h́nh tướng ngôn ngữ, văn tự, và tâm duyên, duy chỉ nhờ vào cách tu đạo, dùng trực quán mà thể nghiệm, thời không c̣n cách nào khác để mô tả sự hiện hữu của sự vật ngoài cách gọi nó là vô sinh. Vô sinh tức là đă vượt qua thế giới được kiến thiết bằng lưỡng nguyên tính. Nói đơn giản hơn, vô sinh không thuộc phạm trù nào có chứa mâu thuẫn, đối đăi, và tương phản. Đương lúc tất cả các sự vật duyên khởi sinh ra, nếu trực nhận chẳng thấy có chút pháp nào sinh mà vẫn an trụ măi măi nơi pháp giới tính bất sinh bất diệt thời đó là nhờ chứng được vô sinh pháp nhẫn. Đây là lúc Bồ tát bước vào đệ Bát địa, gọi là Bất động địa. (Theo Hồng Dương.)

 

(7) Patañjali (Devanāgarī पतञ्जलि ) ( fl. 150 BCE hoặc 2nd c. BCE ) Người đă kết tập Bộ Du Già Hành Kinh -Yoga Sutras, một công tŕnh sưu tập quan trọng những cách ngôn về thực tập Yoga. Ông đồng thời cũng là tác giả của bộ Luận Mahābhāṣya.

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 09/29/08