|
|
Biển Đông, sự quan tâm của Mỹ và lựa chọn của VN |
|
09/09/2009 06:23 (GMT +
7)
http://www.tuanviet nam.net/vn/ sukiennonghomnay /7932/index. aspx |
|
(TuanVietNam)
- Giải pháp cho các tuyên bố về lănh thổ, lănh hải và
vùng thềm lục địa mở rộng chỉ có thể đạt được bởi một quyết định
chính trị ở cấp cao nhất giữa Bắc Kinh và Hà Nội - Gs. Carl Thayer
viết cho Tuần Việt Nam. |
Tuần Việt Nam ghi lại ư kiến của một nhà Việt Nam học quen thuộc, GS
Carl Thayer, Học viện Quốc pḥng Australia như một góc nh́n
riêng cần tham chiếu.
|
Ngay từ khi Công ước
luật Biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS) được thông qua năm 1982 và trở thành luật
quốc tế th́ nó đă trở thành chủ đề của hợp tác và tranh căi. Quan niệm về vùng
đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lư đă trở thành nguyên nhân tạo ra những vùng
chồng lấn trong các tuyên bố của các nước tại biển Đông.
Khi UNCLOS đi vào
thực hiện, các quốc gia ven biển bắt đầu tăng cường khả năng thực hiện quyền
kiểm soát với các vùng đặc quyền kinh tế bằng việc phát triển các tàu tuần
tra trên biển và các máy bay do thám. Một số quốc gia ven biển cũng chiếm
đóng các đảo đá và một số khu vực khác ở biển Đông.
"Mỹ có lợi ích to lớn trong việc duy tŕ ổn định, quyền tự do hàng
hải và quyền hoạt động thương mại theo luật quốc tế ở các tuyến hàng hải ở Đông
Á... Chúng tôi chống lại bất cứ hành động nào đe dọa các công ty của Mỹ". -
Phó Trợ lư Ngoại trưởng Mỹ, ông Scot Marciel.
Chưa từng xảy ra trường hợp nào hai
quốc gia có tuyên bố chủ quyền chồng lấn đưa tranh chấp ra ṭa án quốc tế để t́m
giải pháp bởi điều này đồng nghĩa với việc sẽ phải chấp nhận một giải pháp có
tất cả hoặc không có ǵ. Do đó, mỗi quốc gia trở thành một người giám hộ đầy
ghen tuông với chủ quyền của quốc gia ḿnh.
Nó cũng dẫn tới các vụ
va chạm và t́nh trạng căng thẳng về ngoại giao liên tục diễn ra khi một quốc gia
phản ứng với cái được cho là sự xâm phạm chủ quyền quốc gia của một quốc gia
khác.
Ủy ban Ranh giới thềm
lục địa của Liên Hợp Quốc UNCLCS đă quyết định ngày 13/5/2009 là thời hạn cho
các quốc gia ven biển gửi đăng kí tuyên bố về thềm lục địa mở rộng dựa trên các
tiêu chuẩn kĩ thuật cụ thể. Việc đệ tŕnh lên UNCLCS không tác động tới tuyên bố
về chủ quyền.
Hành động phản đối báo
cáo chung của Việt Nam và Malaysia cũng như báo cáo riêng rẽ của Việt Nam của
Trung Quốc chỉ có thể ngăn giải pháp của UNCLCS cho vấn đề này. Nói cách khác,
t́nh h́nh biển Đông vẫn tiếp tục giữ nguyên trạng.
|
 |
|
Ảnh: Tuổi trẻ |
Sẽ là không thực tế nếu Việt Nam trông đợi vào một bên thứ ba, ngay cả khi đó là
một bên thứ ba độc lập như UNCLCS có thể xử lư vấn đề tranh chấp chủ quyền trên
biển Đông một cách rơ ràng. Giải pháp cho các tuyên bố về lănh thổ, lănh hải và
vùng thềm lục địa mở rộng chỉ có thể đạt được bởi một quyết định chính trị ở cấp
cao nhất giữa Bắc Kinh và Hà Nội (và các bên liên quan khác) để giải quyết vấn
đề thông qua đối thoại.
Hành động đơn phương của Trung Quốc
Căng thẳng ở biển Đông
có vẻ tăng lên kể từ năm 2007. T́nh trạng căng thẳng này chủ yếu thuộc trách
nhiệm của Trung Quốc với các hành động đơn phương của nước này.
Cuối năm 2007, Trung
Quốc đă điều động lực lượng hải quân mang tính khiêu khích ở hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa: xây dựng cơ quan hành chính Tam Sa. Tiếp đó, Trung Quốc sử dụng
áp lực chính trị đối với hăng dầu khí BP của Anh và Exxon Mobile của Mỹ nhằm
buộc các công ty này chấm dứt hoạt động thăm ḍ khai thác với Việt Nam.
Năm 2009, các tàu hải
quân Trung Quốc đă đối đầu với tàu hải quân Mỹ, UNSS Impeccable trong vùng biển
ngoài khơi đảo Hải Nam. Chỉ thời gian ngắn sau đó, một tàu ngầm Trung Quốc đang
quan sát hoạt động diễn tập hải quân đa phương ở vùng biển ngoài khơi
Philippines đă va chạm với hệ thống thiết bị thăm ḍ hoạt động của tàu ngầm được
gắn với tàu khu trục của Mỹ, tàu John S.McCain.
Trung Quốc tuyên bố USNS Impeccable
của Mỹ đă hoạt động bất hợp pháp trên vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Trong
khi đó, Mỹ xem vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển quốc tế.
Mối quan tâm của
nước Mỹ
Hành động của Trung Quốc đă dẫn tới việc chính quyền Obama đưa ra những lời lẽ
cảnh báo cẩn trọng tới Trung Quốc rằng Mỹ sẽ không để bị đe dọa.
Tháng 5/2009, Phó Trợ lư Ngoại trưởng Mỹ, ông Scot Marciel đă tuyên bố thẳng
thừng rằng Mỹ “có lợi ích to lớn trong việc duy tŕ ổn định, quyền tự do
hàng hải và quyền hoạt động thương mại theo luật quốc tế ở các tuyến hàng hải ở
Đông Á”.
Mỹ đă ngay lập tức phủ
nhận các tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến vùng lănh hải và vùng biển nào
không dựa trên cơ sở vùng đất có chủ quyền trên đất liền. “Những tuyên bố
liên quan đến vùng biển như vậy không phù hợp với luật quốc tế”, ông
Marciel nói.
Và quan trọng hơn, ông Marciel tuyên bố “chúng tôi - Mỹ chống lại bất cứ
hành động nào đe dọa các công ty của Mỹ".
Một thông điệp mạnh
hơn được Trợ lư Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ, ông Robert Scher gửi tới Trung Quốc.
Trong tháng 5, ông này đưa ra chiến lược 4 điểm. Một là, Mỹ sẽ thể hiện
“bằng ngôn ngữ và hành động” rằng Mỹ có ư định duy tŕ “lực lượng quân sự vượt
trội ở khu vực”.
Hai là, hải quân Mỹ sẽ lưu ư khẳng
định quyền tự do hàng hải bằng các hành động “cố ư và được cân nhắc kĩ” bằng
việc tiếp tục hoạt động của Mỹ ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.
Ba là, Mỹ sẽ xây dựng “mối quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với các đối tác ở
khu vực, đặc biệt ở lĩnh vực an ninh hàng hải”.
Bốn là, Mỹ sẽ tăng cường cơ chế ngoại giao quân sự mà nước này đă tạo
dựng với Trung Quốc để tăng cường liên lạc và giảm nhẹ những rủi ro của việc
tính toán sai.
Chính quyền Obama đă
nâng quan hệ Mỹ - Trung lên một mức độ mới bằng việc làm chủ nhà của cuộc đối
thoại kinh tế và chiến lược ở Washington vào tháng 7/2009 ở cấp bộ trưởng đa
phương. Tổng thống Obama cũng sẽ thăm Bắc Kinh vào cuối năm nay để dự Hội nghị
thượng đỉnh APEC. Cuối cùng, Tổng tư lệnh Hạm đội Thái B́nh Dương của Mỹ và Tổng
tư lệnh lực lượng quốc pḥng Australia đă đồng ư mời Trung Quốc tham gia vào
diễn tập quân sự ba bên. Các cuộc diễn tập này có thể có sự tham gia của một lực
lượng nhỏ đơn vị trên bộ và trên biển.
Những cuộc gặp cấp cao
này sẽ tạo nền tảng cho chủ nghĩa lạc quan cẩn trọng rằng Mỹ và Trung Quốc có
thể xử lư được một cách hoà b́nh sự khác biệt trong vấn đề biển ở biển Đông.
Việc Mỹ phản đối cơ sở luật pháp của các tuyên bố về biển của Trung Quốc là một
tin vui cho Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với tham vọng của Trugn Quốc trong
việc đe doạ các công ty Mỹ hợp tác với Việt Nam sẽ gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ
từ Washington.
Lựa
chọn nào cho Việt Nam?
Việt Nam phải tiếp tục
hành xử ở cả ba cấp độ: song phương, khu vực và trong nước. Việt Nam và Trung
Quốc đă có một cơ chế ngoại giao được xây dựng từ lâu, như Uỷ ban hỗn hợp ở cấp
Bộ trưởng, và các cuộc trao đổi lănh đạo cấp cao. Các quan chức Việt Nam phải
thống nhất được một tầm nh́n dài hạn và kiên nhẫn hành động để giữ cho t́nh
trạng căng thẳng và va chạm hiện nay không xấu hơn.
Nhưng quan trọng hơn, Việt Nam cần xác định rơ mục tiêu dài hạn của ḿnh là ǵ.
Ở cấp độ khu vực, Việt
Nam cần tiếp tục gia cường hợp tác và cộng tác với các quốc gia ven biển khác
như Malaysia, Philippines, Brunei và Indonesia. Và Việt Nam cần phải đảm bảo sự
đoàn kết trong ASEAN. Ngoại giao khu vực cần phải nhằm vào tạo áp lực bổ sung
với Trung Quốc để thực hiện kiềm chế nước này. Hơn nữa, ngoại giao khu vực cũng
cần nhằm đưa ra tuyên bố của các bên ở biển Đông về quy tắc ứng xử. Đó là mục
tiêu dài hạn.
Chính sách mới của
chính quyền Obama mang lại cơ hội cho Việt Nam để từng bước mở rộng quan hệ an
ninh và quốc pḥng với Mỹ. Hướng gió đă được h́nh thành. Các quan chức quân sự
Việt Nam vừa qua đă
thăm tàu khu trục của Mỹ và không quân hai nước đă có ṿng đối thoại đầu
tiên. Việt Nam cần xem xét đứng ra tổ chức các hoạt động diễn tập quân sự ở cấp
thấp với Mỹ và các cường quốc khác.
Ở trong nước, Việt Nam
cần đảm bảo sự đoàn kết trong nước bằng việc tiếp tục thông tin cho công chúng
chính sách của Chính phủ trong vấn đề biển Đông và quan hệ với Trung Quốc.
Đó không phải là việc thúc đẩy thái độ chống Trung Quốc mà là xây dựng cơ sở
luật pháp và lịch sử cho hành động của Việt Nam.
Năm ngoái, đă có dấu hiệu cho thấy truyền thông trong nước tích cực hơn trong
việc nêu vấn đề. Nh́n chung, công chúng vẫn có xu hướng nh́n các vấn đề thuộc
chính sách đối ngoại một cách đơn giản và đ̣i hỏi chính quyền phải hành động.
Chính phủ cần giải thích tại sao những hành động như vậy có thể phản tác dụng và
đạt được sự ủng hộ của dư luận thông qua sự cởi mở và minh bạch hơn.
(Học viện Quốc
pḥng Australia) |