
Đức
Phật
và pháp môn thiền
quán
13/04/2009
10:45
U Silananda
Mới thoáng
nghe qua ta có thể tưởng rằng Thiền Minh Sát là một pháp môn đă từng được hành
tŕ trước thời Đức Phật. Thật ra không những Đức Phật đă chỉ khám phá ra pháp
môn này mà Ngài c̣n khai thị cho chúng sanh toàn bộ giáo lư do tự Ngài chứng ngộ
không thầy chỉ dạy cũng như tất cả những ǵ chư Phật trong quá khứ đă từng chứng
ngộ và giáo hóa cho chúng sanh.
Trích
Hương vị Pháp, tuyển tập gồm 10 bài được chọn từ những bài pháp Thiền sư U
Silananda giảng tại Như Lai Thiền Viện (Hoa Kỳ).
Mới đây có
người đến nói với Sư là họ đọc được trong một quyển sách câu "Thiền Minh Sát đă
được Đức Phật khám phá trở lại từ những pháp môn đă từng được hành tŕ từ thời
cổ xưa tại Ấn Độ". Hôm nay Sư muốn giảng giải về câu này để quí vị hiểu thật rơ
ư nghĩa thực sự của nó.
Mới thoáng
nghe qua ta có thể tưởng rằng Thiền Minh Sát là một pháp môn đă từng được hành
tŕ trước thời Đức Phật. Thật ra không những Đức Phật đă chỉ khám phá ra pháp
môn này mà Ngài c̣n khai thị cho chúng sanh toàn bộ giáo lư do tự Ngài chứng ngộ
không thầy chỉ dạy cũng như tất cả những ǵ chư Phật trong quá khứ đă từng chứng
ngộ và giáo hóa cho chúng sanh. Vậy ta phải hiểu câu trên theo tinh thần như thế.
V́ Thiền Minh Sát là một pháp tu đă bị ngăn che, khuất lấp trong một thời gian
rất lâu từ đời các cổ Phật, cho đến khi có vị Phật hiện tại là Phật Cồ Đàm xuất
hiện trên thế gian, khai sáng trở lại toàn bộ giáo pháp của chư Cổ Phật, trong
đó có pháp môn thiền quán này.
Theo Phật
giáo, chúng ta tin rằng trong quá khứ đă từng có nhiều vị Phật và cũng sẽ có
nhiều vị Phật xuất hiện trong tương lai. Do đó là đệ tử của Đức Phật Cồ Đàm,
chúng ta gọi Ngài là vị Phật hiện tại mặc dầu thực sự bây giờ Ngài không có mặt
nữa. Trước Đức Phật Cồ Đàm có ba vị Phật quá khứ trong chu kỳ thế giới này. Vị
cuối trong ba vị Cổ Phật này là Đức Phật Ca Diếp (Kassapa) cũng đă dạy chúng
sanh về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ... trong đó có pháp hành
Thiền Minh Sát. Sau khi Đức Phật Ca Diếp cùng các đệ tử của Ngài đă nhập diệt,
giáo pháp của Ngài đă bị mai một với thời gian trong khoảng cách dài hàng triệu
năm trước khi Đức Phật Cồ Đàm ra đời. Chú giải có ghi rằng toàn bộ giáo lư của
Đức Phật Cồ Đàm đồng nhất với giáo lư của Đức Phật Ca Diếp.
Dó đó
chúng ta phải hiểu rằng Thiền Minh Sát đă từng được các vị Phật quá khứ giảng
dạy chứ không phải là một phương pháp thiền nào thuộc về một giáo pháp hay một
tôn giáo nào khác. Đức Phật Ca Diếp xuất hiện tại Ấn Độ và trong thời Ngài chắc
chắn đă có nhiều người hành theo Thiền Minh Sát và phần đông các Chú giải gia là
người Ấn Độ. V́ thế khi nói đến nơi chốn các vị Phật đă ra đời th́ hầu như Ấn Độ
là trung tâm đó. Do đó ta cũng hiểu được rằng Thiền Minh Sát đă từng được hành
tŕ tại xứ cổ Ấn Độ nhưng đó không có nghĩa là Thiền Minh Sát đă từng là một
pháp môn trong các tôn giáo cổ xưa khác tại Ấn Độ như đạo là Bà la môn (hay Ấn
Độ giáo ngày nay).
Chỉ qua
pháp Thiền Minh Sát, hành giả mới có thể đạt được kết quả tốt đẹp là tự ḿnh
khám phá ra ba đặc tính của mỗi hiện tượng do điều kiện tạo thành, tức là tự
thân chứng được Vô Thường, Khổ và Vô Ngă. Theo Chú giải gia Phật Âm (Buddhaghosa)
th́ chỉ Vô Ngă là do một vị Phật thực chứng và dạy lại cho chúng sinh mà thôi.
C̣n hai đặc tính Vô Thường và Bất Toại Nguyện (Khổ) th́ không cần phải là vị
Giác ngộ mới thấu suốt được. V́ vậy, thấy và dạy được Vô Ngă xem như một khả
năng đặc biệt của vị Phật, c̣n hai đặc tính kia th́ các bậc hiền nhân (như Bồ
Tát) cũng có thể thấu suốt để giáo hóa chúng sinh được. Nhưng một quyển Phụ Chú
giải khác có ghi rằng ngoài các vị Phật ra, không ai có thể khám phá và chỉ dạy
được hai đặc tính này và chỉ những ai trong lănh vực Phật pháp mới có thể có
kinh nghiệm thực sự được hai đặc tính này. Và chính sự thấy được hai thực tướng
Vô Thường và Bất Toại Nguyện mới có thể đưa dẫn đến sự thấy thực tướng Vô Ngă
của các Pháp. Và Vô Ngă là một đặc điểm của Phật giáo mà không tôn giáo nào khác
có.
Vậy ta
phải hiểu ba đặc tính là ǵ? Khi ta làm bể một cái ly, ta nói nó vô thường. Khi
ta lỡ đạp cái gai, ta thấy đau thấy khổ. Những loại vô thường và khổ đau này
thật chẳng mấy khó để thấy được. Nhưng cái Vô Thường và Khổ mà thiền sinh thấy
được qua Thiền Minh Sát hoàn toàn khác. Sư mong quí vị đây đă hiểu rơ và nhớ rơ
điều này!
Đặc tướng
Vô Thường thấy được qua Thiền Minh Sát này không phải là cái thay đổi b́nh
thường bên ngoài mà là tính cách thay đổi từng chập một, từng khoảnh khắc một
trong một đối tượng. Đặc tính Khổ kinh nghiệm được trong Thiền Minh Sát cũng
không phải là cảm giác đau khổ về thân hay về tâm, nhưng là cái khổ, cái bất
toại nguyện trong đối tượng ngay cả khi ta đang tiếp nhận những cảm thọ lạc hay
hạnh phúc. Thiền sinh sẽ tự nhận thấy được là tất cả những ǵ bị áp chế bởi sanh
và diệt th́ cái đó là khổ hay bất toại nguyện. Và muốn thấy được đặc tướng Vô
Thường và Bất Toại Nguyện của mỗi hiện tượng do điều kiện tạo thành, ta phải
hành Thiền Minh Sát. Chỉ với môn thiền quán này ta mới có thể kinh nghiệm được
thực tướng của đối tượng và không ai ngoài chư Phật có thể chỉ dạy được điều
này. Giáo lư về ba đặc tướng của mọi hiện tượng là nét đặc thù của Phật giáo,
nên ta có thể kết luận là sự thấy được ba đặc tính này chỉ có trong giáo pháp
của chư Phật thôi. Vậy pháp Thiền Minh Sát không hề được vay mượn từ một giáo
pháp nào khác. Nếu phải nói là vay mượn th́ chỉ có vay mượn từ giáo pháp của chư
Cổ Phật mà thôi.
Đức Phật
cũng đă hơn một lần dạy rằng "Cho dù có một vị Phật ra đời hay không th́ ba đặc
tính kia cũng tiềm ẩn trong mọi hiện tượng do điều kiện tạo thành". Tất cả pháp
hữu vi đều vô thường và bất toại nguyện, vạn pháp đều vô ngă. Vậy, ba đặc tính
do không phải Đức Phật chế đặt ra mà đă có sẵn trong mọi hiện tượng. Mỗi khi một
hiện tượng sanh khởi do điều kiện sanh khởi th́ tự nó đă mang ba đặc tính này
rồi. Do đó Đức Phật xác định rằng một vị Phật khi đă Giác ngộ được điều này sẽ
tuyên giảng cho mọi người biết là tất cả pháp hữu vi đều vô thường, tất cả mọi
mọi hiện tượng do điều kiện tạo thành đều bất toại nguyện và vạn pháp đều vô
ngă.
Cũng thế
ấy, lư Duyên Khởi cũng tiềm ẩn sẵn trong mỗi pháp môn v́ chúng sanh chưa đủ khả
năng để phát hiện ra chúng cho đến lúc có một vị Phật ra đời mới khám phá và
phơi bày cho chúng sanh được rơ.
Cũng vậy
đối với luật Nghiệp Báo. Có người cho rằng luật nghiệp báo này là do Đức Phật
mượn từ Ấn Độ giáo nhưng Sư nghĩ điểm này không đúng lắm v́ luật nghiệp báo
trong Phật giáo rất khác với luật nghiệp báo trong Ấn Độ giáo. Luật nghiệp báo
là một quy luật thiên nhiên, không cần đến một người sáng tạo, ban hành hay làm
trọng tài cho luật này.
Tất cả
những quy luật tự nhiên này chỉ chờ được hiển bày do trí tuệ của những bậc phi
thường như chư Phật. Đức Phật Cồ Đàm đă khám phá ra chân lư mà không cần sự giúp
đỡ bên ngoài nào khác ngoại trừ trí tuệ toàn giác của Ngài. Trên đường Ngài đi
đến vườn Lộc Uyển để ban bài pháp Chuyển Pháp Luân đầu tiên, một vị ẩn sĩ đă gặp
và hỏi Ngài là đệ tử của ai? Ngài theo giáo pháp nào? Đức Phật trả lời rằng:
"Như Lai không có thầy, Như Lai không có ai ngang hàng, Như Lai là một người
hiểu biết tất cả". Qua câu trả lời trên, Ngài khẳng định Ngài có trí tuệ toàn
giác, không thầy chỉ dạy Ngài tự chứng ngộ các chân lư trên, đă thành đạt chánh
quả cao tột nhất bởi nỗ lực phi thường của chính ḿnh.
Do đó nói
rằng Phật pháp đă được vay mượn từ giáo lư khác là có sự xem thường Đức Phật v́
Ngài không cần dựa vào hay hướng về một giáo pháp nào khác để học và dạy về
những điều trên. Đức Phật đă xác nhận rằng "Như Lai là người đă khai mở Con
Đường mà chưa từng ai khai mở, Như Lai là người chỉ bày Con Đường mà chưa từng
ai chỉ bày ra, Như Lai là người tuyên khai Con Đường chưa ai tuyên khai, Như Lai
là người hiểu biết Con Đường mà chưa được ai hiểu biết, Như Lai là người đă tinh
luyện Con Đường mà chưa từng ai đă tinh luyện và tất cả đệ tử của Như Lai sau
này sẽ sống an trú trên con đường ma Như Lai đă khai ngộ". Qua lời xác quyết ta
thấy rơ đạo Phật đă không mang một món nợ nào đối với bất cứ một vị thầy nào.
Khi Đức Phật xác nhận Ngài là người tiên khởi của Con Đường tức là Ngài đă đầu
tiên khai mở lại Con Đường đă bị che lấp từ khi vị Phật quá khứ nhập diệt.
Ngoài ra
có một điểm cần lưu ư khi nói về pháp môn Vipassana. Chữ Vipassana là chữ Nam
Phạn (Pali) trong lúc bên Bắc Phạn (Sanskrit) là Vipashiana hay Vidăshana. Pali
và Sanscrit là hai ngôn ngữ rất gần nhau. Nhiều khi chỉ cần đưa một vài danh từ
Pali sang Sanscrit với chút ít thay đổi mà không cần phải dịch ra. Sư đă tra lại
trong các cuốn tự điển lớn của Sanscrit. Một trong những cuốn này (Sanskrit -
English Dictionary) không những kê chữ, nghĩa mà c̣n cho biết xuất xứ từ từng từ
ngữ. Hai chữ Vipashiana và Vidashiana được ghi là có từ kinh điển của Phật giáo.
Sau đó Sư
có nghiên cứu một cuốn tự điển khác cũng thuộc Bắc phạn. Như quí vị đă biết,
kinh điển Phật giáo Bắc tông dùng Sansckrit và kinh điển Nguyên thủy dùng chữ
Pali. Có một loại Sanskrit tiêu chuẩn (thuần túy) và loại Sanskrit lai (đă pha
trộn với Pali dùng để ghi chép kinh điển). Do đó trong cuốn tự điển Bắc phạn lại
cũng ghi rằng hai chữ Vipashiana và Vidashiana này xuất xứ từ kinh điển Phật
giáo.
Dựa vào
hai cuốn tự điển trên, Sư thấy rơ là hai danh từ này đều từ kinh điển Phật giáo
mà ra. Vậy nếu ai cho rằng Thiền Minh Sát là từ kinh điển của các tôn giáo có
trước Phật giáo như kinh Vệ Đà hay Áo Nghĩa Thư th́ đó là điều thiếu căn cứ.
Chúng ta
đều đă biết là Thiền Minh Sát đưa đến sự thực chứng ba đặc tướng, hoặc hành
Thiền Minh Sát là thấy được ba đặc tướng Vô Thường, Khổ, Vô Ngă. Trong khi đạo
Phật nói về đặc tính Vô Ngă, th́ đối với đạo Bà la môn hay Ấn Độ giáo, cái Ngă,
cái Đại hồn lại là chân lư cốt tủy của họ. Vậy Thiền Minh Sát là một phương tiện
dùng để xuyên thấu thực tướng Vô Ngă, không thể nào phù hợp với các giáo lư của
đạo Bà la môn. Do đó ta cũng kết luận được là Thiền Minh Sát không thể nào t́m
thấy trong các kinh điển xưa của Bà la môn giáo như kinh Vedha hay Upanishad.
Vậy Thiền
Minh Sát là ǵ? Đó là sự tu tập chánh niệm để thấy được thực tướng của các hiện
tướng do điều kiện tạo thành. Đến đây, Sư muốn giảng lại đoạn kinh Tứ Niệm Xứ mà
quư vị vẫn hằng tụng đọc mỗi sáng trước khi hành thiền. Sư đă giảng đoạn kinh
này khá nhiều lần rồi. Phần đông quư vị đây đều đọc tụng, nhớ và hiểu đoạn kinh
này. Sư mong quí vị hăy giữ tâm kiên nhẫn trong khi Sư sắp nói lại cho những ai
chưa được nghe hoặc nghe rồi mà đă quên.
Mỗi sáng
Sư thường giúp quư vị đọc đoạn kinh này là phần giới thiệu kinh Đại Niệm Xứ để
nhắc lại cách hành tŕ Tứ Niệm Xứ: "Ở đây vị tỳ kheo sống quán thân trên
thân... thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp... một cách tinh cần tỉnh
giác chánh niệm để loại bỏ tham ưu ở đời". Đây là một câu kinh
ngắn gọn nhưng bao hàm được tất cả phương cách để tu tập chánh niệm.
Đức Phật
nêu lên những yếu tố cần thiết cùng kết quả tức th́ mà phương pháp này mang lại
cho hành giả. Bốn lănh vực quán niệm là: thân, thọ, tâm, pháp; và tinh cần, tỉnh
giác, chánh niệm là ba điều kiện phải có khi hành thiền:
- Yếu tố
thứ nhất, tinh cần có nghĩa là sức cố gắng v́ nếu không cố gắng th́ không
thể có chánh niệm. Cố gắng đây là về tâm chứ không phải về thân. Tinh tấn đưa
lại chánh niệm liên tục và mạnh mẽ. Sự cố gắng này phải vừa đủ và quân b́nh,
không quá ít cũng không quá nhiều để giữ tâm ở trên đối tượng.
-Yếu tố
thứ hai là tỉnh giác nghĩa là thấy đối tượng một cách rơ ràng và đúng đắn
bằng con mắt của tâm.
- Yếu tố
thứ ba là khi hành Thiền Minh Sát ta phải tinh tấn nỗ lực để thấy rơ ràng và
đúng đắn đối tượng bằng cách áp dụng chánh niệm.
Do đó, tuy
ở đây chánh niệm được nêu sau tỉnh giác nhưng có thể đây là một lối nói theo
cách thời bấy giờ. Đứng về mặt tŕnh tự th́ phải có tinh cần, chánh niệm rồi mới
có tỉnh giác được v́ nếu chưa có chánh niệm th́ không thể có tỉnh giác được.
Chánh niệm là để giữ tâm trụ yên trên đối tượng. Chánh niệm khi được giữ liên
tục trên đề mục th́ sẽ càng lúc càng mạnh và sâu hơn. Lúc đó, tâm sẽ lắng xuống
yên lặng và trong sạch, những chướng ngại của tâm sẽ được giảm bớt và gạt ra
ngoài, tâm sẽ trở nên thanh tịnh và sáng suốt.
Chỉ khi
nào tâm an trú trên đề mục trong khoảng một thời gian khá lâu th́ hành giả mới
thấy được đối tượng này một cách chính xác và thấu suốt từ lúc khởi sanh cho đến
khi hoại diệt. Các bậc trưởng lăo vẫn dạy rằng mặc dầu Đức Phật không nêu ra tâm
định ở đây, nhưng ta phải hiểu là Đức Phật dạy là có chánh niệm tức là có tâm
định.
Tóm lại
khi hành Thiền Tứ Niệm Xứ, ta phải có sự cố gắng về tâm, thứ hai là phải duy tŕ
chánh niệm trên đối tượng cho tâm được an trú vững chắc, để rồi qua yếu tố thứ
ba là sự thấy biết các đặc tính của đối tượng. Trước hết là những đặc tính riêng
biệt rồi sau đó là những đặc tính chung. Thấy được đối tượng như là thấy Thân
th́ không có sự hiểu biết, thấy Tâm là cái hướng về đối tượng của Tâm. Đồng thời
cũng do thấy được đối tượng Thân Tâm, cứ sanh lên rồi diệt đi hành giả sẽ tự
nghiệm là đối tượng ḿnh đang quan sát là vô thường. Khi thấy đối tượng vô
thường th́ tức khắc là thấy nó khổ. V́ khổ là ǵ? Là sự áp chế bởi sanh rồi
diệt. Và khi thấy rơ được đặc tướng vô thường và khổ của đối tượng, hành giả tự
khám phá ra là không có một tác nhân nào điều khiển kiểm soát được các hiện
tượng trên đang tự diễn biến theo tiến tŕnh của chúng. Đây chính là đặc tính Vô
ngă của đối tượng. Và qua quan sát ba đặc tính này, hành giả chỉ thấy đối tượng
thuần túy chỉ là những hiện tượng chứ không phải thấy chúng qua một người, một
chúng sanh, đàn ông, đàn bà... Đây là điểm mà Đức Phật gọi là tỉnh giác.
Vậy th́
tỉnh giác là một yếu tố chỉ có sau khi tâm hành giả đă được an trụ, trong sáng,
tức là tâm định. Tâm định này chỉ sanh khởi khi có chánh niệm bằng sức cố gắng
liên tục của thiền sinh. Tóm lại Thiền Minh Sát cần hội đủ bốn điều kiện: cố
gắng, chánh niệm, tâm định và sự hiểu biết đúng đắn.
Vậy kết
quả tức khắc của Thiền minh Sát là ǵ? Khi bốn yếu tố trên (tinh tấn, chánh niệm,
định và tỉnh giác) làm việc một cách hài ḥa, khăng khít, th́ Đức Phật dạy rằng
kết quả tự nhiên là hành giả sẽ "loại bỏ mọi tham ưu ở đời". Tham là ham muốn,
bám víu, dính mắc... Ưu là sân hận, ghét bỏ, sầu muộn... Cứ mỗi giây phút mà
trong tâm ta có mặt bốn yếu tố này làm việc một cách quân b́nh, tốt đẹp th́ giây
phút đó, ta có thể ngăn chận không cho các ô nhiễm sanh khởi trong tâm. Chữ "loại
bỏ" trong câu kinh không có nghĩa là các ô nhiễm này đă nằm sẵn trong tâm rồi,
và hành giả cố gắng tẩy trừ nó. "Loại bỏ" đây có nghĩa là ngăn ngừa, không tạo
điều kiện cho chúng có cơ hội sanh khởi. Kết quả này không phải chỉ đạt được về
sau, mà ngay từng giờ phút đang hành thiền, đang hội đủ trong tâm bốn yếu tố
trên.
"Tham ưu ở
đời "ở đây không phải chỉ cho những vui buồn thế tục, hay những hệ lụy trong
cuộc sống của con người. "Ở đời" đây có nghĩa là đối tượng đang quan sát. Thí
dụ, khi lấy đối tượng là hơi thở, quan sát và xuyên thấu được đặc tính của hơi
thở, thấy nó đến rồi đi, sanh rồi diệt, thấy nó thuần túy là một hiện tượng chứ
không qua một cá nhân nào, lúc đó thiền sinh có thể ngăn chận được không cho cái
tham, cái ưu sanh khởi đối với đối tượng là hơi thở này. Vậy ta phải hiểu là
"loại bỏ ô nhiễm" ở đây chỉ xảy ra đồng thời với các tâm Tinh tấn, Niệm, Định,
và Tỉnh Giác đang hiện khởi.
Cho nên
câu nầy nếu dịch qua Anh ngữ là "đă từ bỏ tham ưu... ("having re-moved" thay v́
"moving") th́ không đúng bởi v́ nếu tham ưu đă được loại bỏ th́ chúng ta chẳng
cần phải hành thiền làm chi nữa, bởi v́ mục đích của thiền quán là thanh lọc tâm
loại bỏ tham ưu ở đời...
Khi thiền
sinh có thể giữ không cho "tham ưu" sanh khởi tức là người này đă thấy đối tượng
đúng như nó là vậy, không thêm vào mà cũng không bớt cái ǵ nơi đối tượng. Thí
dụ, nếu ta thêm vào nó một ư niệm "tốt" hay "xấu" hoặc ta bớt đi một đặc tính
của đối tượng này th́ "tham ưu" sẽ đi liền tức khắc vào đối tượng. Chú giải có
ghi rằng "cách nh́n đối tượng đúng như nó là" nầy là khả năng, là sự viên măn
của thiền sinh, và chỉ người thiền sinh lúc không hành thiền, trở lại cuộc sống
hàng ngày cũng hay thêm bớt nhiều điều vào đối tượng. Tóm lại khi ta ngăn ngừa
được tham ưu khởi sanh, ta mới có khả năng thấu đạt được thực tướng sự vật.
Vậy tất cả
những ǵ cần phải làm trong hành thiền quán là điều ḥa sao cho bốn yếu tố Tinh
cần, Chánh niệm, Định và Tỉnh giác hoạt động quân b́nh và nhịp nhàng với nhau
trong từng chập, từng giâu một. Đó là ta đă tạo điều kiện để cho tâm không bị
những chướng ngại ngăn che các đối tượng. Làm được những điều này là thiền sinh
đă có một sức mạnh để hoàn thành những ḿnh cần phải làm. Chú giải có ghi rằng
ba chữ "Tinh cần, Chánh niệm, Tỉnh giác" nêu lên những nhân tố của việc hành
thiền và câu "loại bỏ tham ưu ở đời" nêu lên những yếu tố của việc loại trừ,
buông bỏ. Sáng mai khi quí vị đọc từng đoạn kinh này, Sư muốn quí vị hăy đọc nó
với sự hiểu biết thật thấu đáo ư nghĩa nó như trên.
Tất cả
những ǵ ta làm, ta phải làm với trí tuệ, sự hiểu biết đúng đắng, không phải chỉ
làm theo thông lệ theo h́nh thức.
Mong cho
quí vị có được khả năng loại trừ mọi tham ưu ở đời bằng cách áp dụng tṛn đủ bốn
yếu tố tiên quyết nêu trên để thành đạt được mục đích cuối cùng là chấm dứt mọi
khổ đau.
Vài ḍng
về tiểu sử của thiền sư U Silananda
Thiền sư U
Silananda thọ giới tỳ kheo đă hơn bốn mươi lăm năm. Ngài hoàn măn văn bằng Phật
học cao cấp nhất tại Miến Điện và đă từng dạy đại học nơi này.
Trong kỳ
Kiết Tập Kinh Điển Phật Giáo lần thứ sáu tại Miến Điện vào năm 1954, Ngài là vị
lănh đạo việc soạn thảo Tự Điển Miến-Pali và cũng là Trưởng Ban Kiết Tập Kinh
Điển Pali, Chú Giải, và Chú Giải Của Chú Giải lúc Ngài mới vừa 26 tuổi. Ngài là
tác giả của nhiều sách viết bằng tiếng Miến và tiếng Anh, trong đó có cuốn The
Four Foundations Of Mindfulness (Tứ Niệm Xứ hay là Bốn Lănh Vực Quán Niệm), một
cuốn sách căn bản giảng dạy chi tiết về Tứ Niệm Xứ.
Năm 1979,
Ngài được Đại Lăo Ḥa Thượng Thiền Sư Sayadaw Mahasi, một thiền sư nổi tiếng bậc
nhất tại Miến Điện, chọn để đi hoằng pháp tại nước ngoài, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Với sứ mạng nầy Ngài đă hướng dẫn Thiền Quán và giảng dạy Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)
nhiều nơi tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Âu Châu, Tích Lan, Canada, Mexico, Jamaica...
Năm 1993,
Ngài được chính phủ Miến Điện tưởng thưởng danh vị Aggamahapandita (The Best,
Great, Wise).
Năm 1999,
Ngài nhận danh hiệu Aggamahasaddhamma Jotika do sự nghiệp hoằng pháp tại hải
ngoại và đảm nhận trách nhiệm Cố Vấn Trưởng Ủy Ban Cố Vấn của Viện Đại Học Phật
Giáo Yangon, Miến Điện (International Theravada Buddhist Missionary University,
Yangon). Ngài là Ḥa Thượng Trụ Tŕ Thiền Viện Dhammananda Vihara tại Half Moon
Bay, California, cũng là vị lănh đạo tinh thần của Thiền Viện Dhammachakka,
Berkerley, California và Thiền Viện Dhamma Vihara, Mexico.
Thiền sư U
Silananda đă an nhiên viên tịch vào ngày 13 tháng 8 năm 2005, lúc 7:24 sáng tại
Hoa Kỳ v́ bệnh bướu năo. Ngài hưởng thọ 78 tuổi (1927 – 2005).
Thực
hành sơ khởi Thiền Minh sát
23/05/2009
14:08
Trưởng Lăo Henepola Gunaratana
Sau khi
ngồi xuống và rải ḷng từ bi đến mọi người, thở ba hơi sâu. Sau đó, thở trở lại
b́nh thường, và bắt đầu chú ư vào hơi thở. Ghi nhận sự ra vô tự nhiên và đều đặn
của không khí qua vành của hai lỗ mũi.
Mục Đích
Là người
hành thiền, chúng ta phải có mục tiêu, bởi nếu không, chúng ta sẽ như người mù
ṃ theo sự chỉ dẫn của người khác. Phải có một mục tiêu cho việc chúng ta muốn
làm và làm một cách tỉnh thức. Tuy nhiên, mục tiêu của người hành thiền minh sát
không phải là để giác ngộ trước người khác, hay có thần lực, hay để trục lợi,
bởi người hành thiền minh sát không tranh hơn thua với ai cả.
Mục đích
của chúng ta là đạt sự toàn hảo cho tất cả các đức tính tiềm ẩn trong tiềm thức.
Mục đích ấy có năm yếu tố: (1) Tịnh hóa tâm, (2) chế ngự phiền năo, (3) diệt đau
khổ, (4) đi đúng đường dẫn đến an lành vĩnh cữu, và (5) đạt hạnh phúc bằng cách
theo con đường ấy. Hăy giữ mục tiêu 5-điểm vừa nói luôn luôn trong tâm, chúng ta
sẽ tiến lên với niềm hy vọng và tin tưởng thành đạt.
Thực Hành
Ngồi xuống
rồi, không nên đổi thế cho đến khi xả thiền. Nếu v́ không thoải mái bạn đổi thế
ngồi đầu tiên, thế tiếp theo sẽ làm bạn thoải mái một chập rồi bạn sẽ trở lại
t́nh trạng trước, tức là phải đổi thế nữa mới thoải mái. Như vậy bạn sẽ phải đổi
thế hoài và kết quả là bạn không thể tập trung chú ư được. Do đó, không nên đổi
thế dầu có bị đau nhức thế mấy cũng kệ.
Để tránh
đổi thế, trước khi vào thiền bạn nên chọn cho ḿnh một thời gian nhất định. Nếu
là lần đầu tiên, đừng nên ngồi lâu hơn hai mươi phút. Về sau bạn mới cần thêm.
Thời lượng tùy vào việc bạn có thể dành bao nhiêu phút cho suất thiền sắp vào và
bạn có thể ngồi bao lâu mà không bị tê mỏi.
Chúng ta
không nên định lúc nào phải đạt được kết quả ǵ v́ sự chứng đạt tùy thuộc vào sự
tiến triển của chúng ta trong lúc hành thiền, và sự tiến triển này được đặt căn
bản trên sự hiểu biết và trau dồi các năng lực tinh thần của chúng ta. Chúng ta
cần cố gắng và kiên tŕ nhưng không lập thời khóa biểu cho sự chứng đạt. Khi nào
sẵn sàng rồi chúng ta sẽ đến đích. C̣n bây giờ chúng ta chỉ chuẩn bị cho đích đó
mà thôi.
Sau khi
ngồi yên, nhắm mắt lại. Tâm chúng ta không khác chi ly nước đục; để ly yên một
chỗ nào đó, cặn sẽ lắng xuống theo thời gian, và để yên càng lâu nước được lắng
càng trong. Nếu chúng ta giữ yên lặng và bất động, rồi tập trung chú ư trọn vẹn
đến một đối tuợng nào đó, tâm chúng ta sẽ lắng đọng và bắt đầu chứng nghiệm niềm
hân hoan từ thiền.
Để được
vậy, chúng ta phải giữ tâm trong khoảnh khắc hiện tại. Khoảnh khắc hiện tại qua
đi quá nhanh nên người không để ư không thể biết có hiện tại. Mỗi khoảnh khắc là
một khoảnh khắc của một sự kiện, và không có khoảnh khắc nào là không có sự kiện
xảy ra. Do đó, khoảnh khắc mà chúng ta cố gắng tập trung sự chú ư vào là khoảnh
khắc hiện tại. Tâm chúng ta lướt qua một dây biến cố như một khúc phim đi ngang
qua máy chiếu phim. Một số các h́nh ảnh này đến từ những kinh nghiệm quá khứ,
một số khác từ những tưởng tượng về những ǵ chúng ta định làm trong tương lai.
Tâm không
thể nào tập trung (định) nếu không có đối tượng. Chúng ta phải t́m cho tâm một
đối tượng, và đối tượng sẵn có ở mỗi khoảnh khắc hiện tại không ǵ khác hơn là
hơi thở. Tâm không phải cố gắng mới t́m thấy hơi thở, v́ hơi thở ra vô qua lỗ
mũi thường xuyên. Hơi thở, bất biến và dễ nhận diện, là đối tượng thích hợp nhứt
cho pháp thiền quán nội.
Sau khi
ngồi xuống và rải ḷng từ bi đến mọi người, thở ba hơi sâu. Sau đó, thở trở lại
b́nh thường, và bắt đầu chú ư vào hơi thở. Ghi nhận sự ra vô tự nhiên và đều đặn
của không khí qua vành của hai lỗ mũi. Lúc hít vô đầy phổi xong, ngừng lại một
chút trước khi thở ra. Ghi nhận ba giai đoạn hít vô, ngưng và thở ra. Thở ra
xong, ngưng một chút trước khi hít vô; ghi nhận tất cả các giai đoạn. Hai giai
đoạn ngưng trước khi hít vô và thở ra rất ngắn nên khó nhận diện. Nhưng nhờ tỉnh
thức chúng ta nhận biết không khó.
Đừng bàn
luận hay khái niệm hóa ǵ cả. Chỉ ghi nhận hơi thở vô và ra mà không cần nói "Tôi
hít vô" hay "Tôi thở ra." Khi bạn đưa sự chú ư vào hơi thở, hăy quên hết mọi ư
nghĩ, kư ức, âm thanh, mùi, vị, vân vân, và chỉ chú ư một đối tượng duy nhút là
hơi thở mà thôi.
1. Thở vào
một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài,
người ấy biết ta đang thở ra một hơi dài.
2. Thở vào
một hơi ngắn, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn,
người ấy biết ta đang thở ra một hơi ngắn.
3. Ta
đang thở vào và có ư thức về toàn thân thể ta. Ta đang thở ra và có ư thức về
toàn thân thể ta. Người ấy thực tập như thế.
4. Ta
đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh. Ta đang thở ra và làm cho toàn thân
an tịnh. Người ấy thực tập như thế. (Theo Trung Bộ Kinh 118--Majjhima Nikaya
118,).
Vào lúc
đầu, cả hai hơi thở vô ra đều ngắn v́ thân tâm chưa ổn định và thư giăn. Ghi
nhận các hơi thở ngắn ấy mà không cần nói "hít vô ngắn" hay"thở ra ngắn". Khi
bạn ghi nhận như vậy, thân tâm bạn sẽ từ từ ổn định. Chừng ấy hơi thở sẽ dài ra.
Ghi nhận các hơi thở dài này và không cần nói "thở dài". Sau đó ghi nhận toàn
thể tiến tŕnh từ đầu đến cuối. Rồi hơi thở sẽ trở nên vi tế, và tâm cũng như
thân tĩnh lặng hơn. Ghi nhận cảm giác tĩnh lặng ấy.
Phải Làm Ǵ Để Tâm Không Đi Rong?
Dầu đă nỗ
lực cột tâm vô hơi thở, tâm vẫn có thể đi rong. Nó có thể trở về với các kinh
nghiệm cũ, và bạn bất chợt nhớ lại cảnh cũ, người cũ, quyển sách bạn đă đọc,
người quen mà lâu nay bạn không có gặp lại, hương vị món ăn bạn vửa thưởng thức
hôm qua, vân vân. Khi bạn vừa nhớ đến các sự việc ấy, tâm bạn không c̣n đi với
hơi thở nữa. Hăy bắt nó đem về cột vô hơi thở. Một chập sau, bạn lại nghĩ tới
chuyện trả tiền nợ, điện thoại cho người bạn, viết thơ, giặt đồ, đi chợ, dự tiệc,
tính chuyện nghỉ phép, vân vân. Vừa nghĩ là tâm không c̣n gắn liền với đối tượng
nữa. Hăy tỉnh giác và đưa tâm trở về với hơi thở. Sau đây là một số đề nghị giúp
bạn tập trung, sự tập trung rất cần cho pháp hành tỉnh thức.
1. Đếm.
Mục đích của đếm là cột tâm vô hơi thở. Khi nào tâm đi đôi với hơi thở rồi, bạn
có thể ngưng đếm. Đếm để tập trung chú ư. Chỉ cần đếm trong trí chớ không đếm ra
tiếng. Có nhiều cách đếm:
a. Khi hít
vô đếm "một, một, một, một,..." cho đến khi phổi đầy không khí. Lúc thở ra đếm "hai,
hai, hai, hai,..." cho đến lúc phổi hết không khí. Khi hít vô lại, đếm "ba, ba,
ba, ba, ..." và thở ra lại, đếm "bốn, bốn, bốn, bốn,...". Đếm tới "mười" rồi trở
đếm lại "một" cho một chu kỳ thở khác. Lập đi lập lại như vậy trong lúc thiền để
giữ tâm.
b. Cách
thứ nh́ là đếm nhanh "một, hai, ba. ..., mười" khi hít vô, rồi đếm lại "một, hai,
ba, bốn, ...., mười" lúc thở ra. Nói cách khác cứ mỗi cái hít vô hay thở ra đều
đếm nhanh từ "một" đến "mười". Lập đi lập lại nhiều lần để cột tâm.
c. Cách
thứ ba đếm như sau: "một, hai, ba, bốn, năm (tới năm thôi)" khi hít vô, và đếm "một,
hai, ba, bốn, năm, sáu (tới sáu thôi)" lúc thở ra. Tiếp theo, đếm "một, hai, ba,
bốn, năm, sáu, bảy (tới bảy thôi)" khi hít vô, và "một, hai, ba, bốn, năm, sáu,
bảy, tám (tới tám thôi)" lúc thở ra. Rồi đếm đến "chín" khi hít vô và đến "mười"
lúc thở ra. Lập đi lập lại nhiều lần để cho tâm tập trung chú ư.
d. Cách
thứ tư là thở hơi dài. Hít vô đến lúc phổi đầy, đếm "một". Thở ra đến lúc phổi
hết không khí, đếm "hai". Thở hơi dài tiếp theo và đếm "ba" khi hít vô, "bốn"
lúc thở ra, vân vân. Đếm lên "mười", rồi đếm ngược xuóng từ "mười" xuống "một".
Trở lại, đếm "một lên mười" và "mười xuống một", vân vân.
e. Cách
thứ năm là đếm gom. Thoạt tiên, thở ra đếm "một"; tiếp theo, hít vô rồi thở ra,
đếm "hai". Kế, hít vô và thở ra đếm "ba". Sau khi đếm lên đến "năm", đếm ngược
lại từ "năm" xuống "một". Lập đi lập lại cho đến lúc hơi thở trở nên an định và
tế nhị.
Nên nhớ
rằng không cần đếm suốt thời thiền. Chỉ đếm cho tới lúc bạn cảm thấy tâm đă định
nơi vị trí bạn chọn trước (như chót mũi hay vành mũi) mà hơi thở va chạm khi hít
vô và thở ra. Lúc bấy giờ hơi thở sẽ nhẹ nhàng và thoải mái đến độ bạn không c̣n
nhận ra hơi hít vô hay thở ra nữa. Mục đích của đếm là để giúp tâm tập trung chú
ư vào một đối tượng (điểm hơi thở va chạm trên mũi).
2. Nối kết.
Sau khi hít vô xong, đừng chờ để nhận biết khoảnh khắc ngưng trước khi thở ra.
Hăy nối kết để có một hơi thở liên tục.
3. Định vị
trí.
Sau khi nối kết xong, an trú tâm nơi điểm mà không khí ra vô chạm phải. Chú ư
vào sự xúc chạm của hơi thở liên tục.
4. Định
tâm như bác thợ mộc.
Bác thợ mộc kéo một đường chỉ trên tấm vấn bác sẽ rọc bằng tay. Khi cưa, bác
không ngó vào các răng cưa đưa lên đưa xuống, mà bác chỉ tập trung chú ư vào
đường chỉ mới cắt được đường thẳng. Cũng vậy, bạn nên giữ tâm ngay trên điểm của
mũi, nơi hơi thở ra vô chạm phải.
5. Biến
tâm thành người gác cửa.
Người gác cửa không cần biết đầy đủ chi tiết của nguời ra vô nhà làm ǵ. Anh chỉ
cần biết có người ra vô nhà đi qua cửa anh gác. Cũng vậy, khi tập trung chú ư,
bạn không cần biết hết chi tiết của kinh nghiệm bạn thâu thập. Chỉ cần ghi nhận
cảm xúc do hơi thở vô ra tạo nên trên mũi (chỗ hơi thở va chạm phải).
Thiền một
thời gian, dài ngắn tùy cá nhân, bạn có thể chứng ngộ việc thân và tâm trở nên
nhẹ nhàng tưởng chừng như bạn nổi trong nước hay không khí. Bạn cũng có thể có
cảm giác như ḿnh vươn lên không trung. Khi cái thở thô của bạn chấm dứt, cái
thở vi tế sẽ đến tự nhiên. Cái thở vi tế ấy là tiêu điểm của tâm. Đó là dấu hiệu
của định. Dấu hiệu-vật (sign-object) đầu tiên sẽ được thay thế bởi dấu hiệu-vật
càng ngày càng vi tế hơn.
Tính vi tế
của dấu hiệu-vật được ví như tiếng chuông ngân. Lúc dùi chạm vào chuông, tiếng
vang rền nghe to và thô; về sau tiếng ngân mới thanh thoát. Cũng vậy, thoạt tiên
hơi thở ra vô là dấu hiệu thô, lần hồi nó mới thành vi tế, trong lúc tâm thức
tiếp tục tập trung trọn vẹn nơi chỗ va chạm của hơi thở trên mũi. Cùng lúc dấu
hiệu phát triển, đối tượng của thiền càng lúc càng trong sáng, nhưng hơi thở
càng lúc càng nhẹ nhàng thêm.
V́ sự nhẹ
nhàng đó, bạn có thể không c̣n nhận ra sự hiện diện của hơi thở ḿnh nữa. Đừng
thất vọng và đừng nghĩ rằng ḿnh đă làm mất hơi thở hay đă không thấy có ǵ xảy
ra trong lúc thiền. Cũng đừng lo. Hăy tỉnh thức và quyết tâm đem cảm giác xúc
chạm của hơi thở trở lại. Đó là lúc bạn chú tâm nhiều hơn, để cân bằng sinh lực,
niềm tin, định, tỉnh giác, và trí tuệ.
Chơn Quán
Trần Ngọc Lợi
dịch
Theo: Sách:
Thiền Minh Sát
|