|
GIÁO
QUY
PHẬT
GIÁO HÒA HẢO
LỜI GIỚI THIỆU
-- *** --
Tập sách nhỏ này là
kết hợp những điều dạy căn bản của Đức Thầy về cách ăn ở, đối xử
với nhau theo đạo đức Việt Nam từ ngàn xưa. Những lời dạy này dành
cho mọi người, ở mọi thành phần xã hội cũng như tuổi tác.
Người mới bắt đầu làm
quen, tìm hiểu PGHH hoặc đã biết qua nhưng cần giữ lại cho nhớ
những điều căn bản, thì tập sách nhỏ này sẽ giúp ích, còn muốn tìm
hiểu thêm, đi xa hơn thì xin mời đi thẳng vào những tài liệu khác,
như Sấm Giảng Thi Văn toàn bộ.
Soạn tập sách nhỏ này,
chúng tôi nhằm giúp phương tiện cho con cháu gia đình PGHH, cũng
như quý vị nào muốn tìm hiểu về đời sống tinh thần của một tín đồ.
Nếu quý vị đọc thấy
còn thiếu sót thì đó là điều không thể tránh khỏi, nên chúng tôi
rất mong được lượng thứ.
Lời văn, từ ngữ, tất
tất, chúng tôi giữ nguyên lời dạy của Đức Thầy trong suốt quá
trình Ngài thuyết giảng. Trong thời điểm ấy cách chúng ta ngày nay
hơn nửa thế kỷ, những lời giảng dạy ấy vẫn không phải khó hiểu cho
người đọc.
Sau cùng, hy vọng tập
sách nhỏ này đem lại cho người đọc phần nào hữu ích trong việc
Học Phật Tu Nhân của Phật Giáo Hòa Hảo, là điều mong
mỏi lớn lao của chúng tôi.
Ngày 1 tháng 7 năm
2006 dl. - tháng 6 nhuận, Bính Tuất.
Tu
sĩ Thái Hoà và Cư sĩ Hồ Minh Châu
MỤC LỤC
-- *** --
l.- ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO.-
ll.- ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA TÍN ĐỒ.-
A.-
CÁCH THỜ PHHƯỢNG – HÀNH LỄ:
- Thờ phượng,
- Hành lễ,
- Tang lễ,
- Cách cầu nguyện cho
người chết,
- Hôn nhơn.
B.-
SỰ CÚNG LẠY CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA:
- Bài nguyện trước
bàn thờ Ông, Bà,
- Bài nguyện trước
bàn thờ Phật,
- Bài nguyện trước
bàn thông thiên,
- Niệm Phật,
- Khi ăn cơm,
- Ăn chay,
- Đi xa nhà.
lll.-
SỰ ĂN Ở CỦA TÍN ĐỒ.-
- Tu thân xử kỷ,
- Lời khuyên bổn đạo
(Tám điều răn cấm).
lV.- HỌC PHẬT – TU NHÂN.-
A. HỌC PHẬT
1.TRÁNH NHỮNG TỘI
LỖI DO TAM NGHIỆP:
- Thân
nghiệp,
- Khẩu nghiệp,
- Ý nghiệp.
2.- BÁT CHÁNH:
3.- ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO
CỦA PHẬT:
B.- TU NHÂN.-
1.- BỔN PHẬN
- Đối với Tổ Tiên, Cha
Mẹ,
- Đối với Đất nước,
- Đối với Tam Bảo,
- Đối với Đồng bào và
Nhơn loại,
- Đối với
các tăng sư,
- Đối với chùa chiền,
- Đối với tôn giáo
khác và Nhơn sanh,
- Bát Nhẫn.
2. NHỮNG ĐIỀU PHẢI
TRÁNH,
ĐUỢC CHÂM CHẾ
HOẶC NÊN LÀM:
- Uống rượu,
- Thuốc phiện,
- Cờ bạc,
- Để tóc,
- Sự học,
- Thể dục,
- Ăn ở,
- Cách làm ăn.
V.- ĐẠO LÝ – LUÂN THƯỜNG.-
1.-
NGƯỜI NAM:
- Đạo quân thần -
Đạo sư đệ,
- Đạo phụ tử
- Đạo phu thê,
- Đạo huynh đệ.
2.-
NGƯỜI NỮ:
- Tam tùng - Công -
Ngôn,
- Dung - Hạnh.
-- ♦♦♦ --
l.- ĐIỀU KIỆN VÀO
ĐẠO.-
Người
nào muốn quy y phải có hai người bổn đạo cũ, có đức hạnh tiến cử
và bảo lãnh, đến Ban Trị Sự trong làng cho người làm đầu biết, và
người làm đầu phải đọc hết thể lệ về sự tu hành cho người quy y
nghe, hỏi coi có bằng lòng quy y như lời nguyện dạy và răn cấm
trong Đạo chăng. Nếu họ bằng lòng, biểu họ về nhà cho Ông Bà, Cha
Mẹ biết, hoặc nguyện trước bàn thờ Ông Bà, Tổ Tiên rằng: Ngày …
tháng … con chịu quy y theo Đạo. Sau đó, người làm đầu (Hội
Trưởng) cho cuốn sách nhỏ này. Chỗ nào không có Ban Trị Sự,
hai người bổn đạo cũ phải dìu dắt người mới, rồi sau sẽ dẫn lên
Ban Trị Sự gần đó, không bắt buộc thề thốt chi hết, vì người muốn
tu do nơi sự phát nguyện của mình thôi. Khi nào mình không muốn
giữ Đạo, mình phải cho người tiến cử hay để bôi tên mình ra. Không
người nào được phép xưng mình là người trong Đạo mà lại không giữ
luật. Kẻ nào làm trái luật lệ trong sự đạo đức, dầu không xin thôi
Đạo hay là chưa bị bôi tên cũng bị trách nhiệm việc làm của họ và
bị coi như người ngoại Đạo.
Nên nhớ rằng: Đức Phật
sẽ dìu dắt và ủng hộ những kẻ nào làm ăn chơn thật, hiền lành đúng
theo giáo lý của Ngài; chớ không bao giờ Ngài lại ủng hộ những kẻ
gian tà xảo quyệt, làm các việc hung ác ngông cuồng trái những lời
mà Ngài đã chỉ dạy.
( trang 172 – 173,
Quyển SGTVTB, ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
ll.- ĐỜI SỐNG ĐẠO
CỦA TÍN ĐỒ.-
A.- CÁCH THỜ
PHƯỢNG - HÀNH LỄ:
THỜ PHƯỢNG
Từ truớc đến nay, các
chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng. Đành rằng vì tôn
kính đấng Từ Bi mới
làm ra thờ phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủ lợi. Bây
giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta không có ý
hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền. Cách thờ phượng ấy tùy
theo điều kiện các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng.
Nhưng riêng về cư sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn
giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nhoáng bề
ngoài. Từ trước, chúng thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy
Tây An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng
cùng tông phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức
Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến
giờ các sư dùng màu dà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, và
màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng
trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và
cá nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu
biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.
Nếu trong nhà chật,
nội bàn Thông Thiên với một lư hương cũng được, bởi vì sự tu hành
cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ bái ở ngoài. Còn
người nào có cốt Phật trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng
giấy không nên chừa lại và phải đốt đi. Kẻ nào phải chung đậu với
người khác không có tu hiền, hay không cùng một Đạo với mình, hoặc
nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chỗ phượng thờ, thì đến giờ cúng
kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.
Về cách cúng Phật,
chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu
biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn
nhang dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra, chẳng nên cúng một món
gì khác cả. Bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng đặng.
Ngoài sự thờ Phật, Tổ
Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không nên
thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích.
( trang 165 –
166 SGTVTB, ấn bản 1998 tại Hải ngoại)
HÀNH LỄ
Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ
Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ lúc còn sống và các vị anh hùng cứu quốc. Với
những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình
cũng chỉ xá thôi.
( trang 166 – 167
SGTVTB, ấn bản 1998, tại Hả ingoại)
/……
……
TANG LỄ
Lúc Ông Bà Cha Mẹ từ
trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ, chỉ cần sửa đổi các
sự như sau đây:
Bây giờ chúng ta đã quy
y đầu Phật, thì phải do sự thành tâm cầu nguyện, và đem sức khấn
vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết
được siêu sinh nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng
bông, đốt giấy tiền vàng bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện
tốn tiền vô ích, bởi vì người ta nhận định rằng xác thịt là hư
hoại, thì trong lúc chết chỉ đem chôn cất cho kín đáo, đừng để hôi
thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi. Còn hiếu sự do hồi
còn sanh tiền và do sự tu hành, sự thành tâm cầu nguyện chớ không
phải có tiền rước người khác cầu nguyện mà đạt được hiếu thuận
nhơn nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhà hay giữa trời cầu nguyện, rồi im
lặng đi chôn.
Việc cúng kiếng Ông Bà,
Cha Mẹ, có chi cúng nấy trong những ngày kỷ niệm theo như tục lệ.
Việc đãi đằng hương đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giản
tiện, ít lãng phí cứ làm.
( trang 167 – 168
SGTVTB, ấn bản 1998, tại Hả ingoại)
CÁCH CẦU NGUYỆN
CHO NGƯỜI CHẾT
Mỗi người đứng trước bàn
thờ Phật niệm: “Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật ”
(ba lần)
và “ Nam mô A Di Đà
Phật ” (ba
lần).
Vái : “Phật Tổ, Phật Thầy, nay mình thành tâm
cầu nguyện cho tên
…
(tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ bi
cứu độ vong linh được thoát chốn mê đồ, vãng sanh miền Cực Lạc !
”
Trong lúc ở nhà hay lúc đưa đám tang gì cũng vậy,
nếu có tổ chức sắp hàng chấp tay niệm:
“Nam mô Tây phương
Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn cữu thiên
ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi tiếp dẫn vong linh A Di
Đà Phật ”- nếu người chết là nhà sư thì câu chót đọc: “tiếp
dẫn đạo sư A Di Đà Phật ”.
(trang 168
SGTVTB, ấn bản 1998, tại Hả ingoại)
NÊN LƯU Ý:
Tang gia đừng nên khóc lóc làm trở ngại sự siêu thoát anh linh của
người chết.
HÔN NHƠN
Bổn phận Cha Mẹ phải
chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng đáng bằng sự quan sát tường
tận về đức tánh đôi trai gái. Không nên ép uổng con mình quá đáng,
vì như thế làm cho khốn khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để
chúng quá tự do mà sự thiếu kinh nghiệm làm cho đời chúng phải hư
hỏng.
Nên bỏ tục lệ thách giá
đòi tiền và đòi lễ vật. Thông gia hai bên không nên làm khó cho
nhau. Cũng chẳng nên bày ra tiệc lễ linh đình tốn kém nhiều tiền
làm cho trở nên nghèo khổ.
(trang 168 – 169 Quy
ển SGTVTB ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
B.- SỰ CÚNG LẠY
CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA:
BÀI NGUYỆN
TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ :
Cầm hương xá 3 xá,
quỳ xuống chấp tay đưa lên trán nguyện :
Cúi kính dưng hương
trước Cữu Huyền,
Cầu trên Thất Tổ
chứng lòng thiềng.
Nay con tỉnh ngộ quy y
Phật,
Chí dốc tu hiền tạo
phước duyên”.
Cấm hương rồi đứng
ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:
Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,
Báo ơn sanh dưỡng dày
công nhọc nhằn.
Rày con xin giữ Đạo
hằng,
Tu cầu Tông Tổ siêu
thăng Phật đài.
Nguyện làm cho đẹp mặt
mày;
Thoát nơi khổ hải Liên
đài được lên.
Mong nhờ Đức Cả bề trên,
Độ con yên ổn vững bền
cội tu”.. (lạy 4 lạy)
BÀI NGUYỆN TRƯỚC
BÀN THỜ PHẬT:
Cầm hương xá 3 xá,
qùy xuống chắp tay đưa lên trán đọc bài Quy y :
Nam Mô Thập Phương Phật.
Nam Mô Thập Phương Pháp.
Nam Mô Thập Phương
Tăng”.
“Nam Mô Phật Tổ, Phật
Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn
thần, chư vị Năm Non Bảy Núi, cảm ứng, chứng minh, nay con nguyện
cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền
theo Phật Đạo”.
Cắm hương, lạy 4 lạy
cũng được, hoặc cắm hương đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc:
“Nam Mô Tây Phương Cực
lạc thế giới Đại từ Đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật”.
“Nam Mô nhứt nguyện
cầu: Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, Liên Hoa hải hội,
thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an”.
“Nam Mô nhị nguyên
cầu: Cữu Huyền Thất Tổ Tịnh độ siêu sanh”.
“Nam Mô tam nguyện
cầu: Phụ Mẫu tại đường tăng long phước thọ, Phụ Mẫu quá khứ
trực vãng Tây Phương”.
“Nam Mô tứ nguyện cầu:
Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái, giải thoát mê ly”.
“Nam Mô ngũ nguyện
cầu: Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự,
trí huệ thông minh, giai đắc đạo quả”.
Lạy 4 lạy rồi xá:
1 xá chính giữa
niệm: “Nam Mô
A Di Đà Phật”.
1 xá bên trái niệm:
“Nam Mô Đại
Thế Chí Bồ Tát”.
1 xá bên phải niệm:
“Nam Mô Quan
Thế Âm Bồ Tát”.
BÀN THÔNG THIÊN
Cầu nguyện bàn Phật
xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện 4 hướng
(lấy bàn Thông Thiên
làm hướng chánh)
trước mặt, sau lưng, hai bên vai.
Hướng chánh bàn Thông
Thiên có nguyện, đọc bài Quy Y, còn ba hướng kia chỉ đọc bài Tây
Phương ngũ nguyện.
(mỗi hướng đọc rồi
lạy 4 lạy - Khi cầu nguyện nếu không thể lạy được thì xá 3 xá)
Lạy đứng
hay lạy quỳ tùy theo lúc yếu mạnh.
(trang 174 – 176
Quy ển SGTVTB ấn bản năm 1998 )
NIỆM PHẬT
Cúng xong, muốn niệm
Phật cũng được. Ngồi bán già thẳng lưng niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật.
Hay niệm: “Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức,
nhứt thập nhứt vạn, cữu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ
đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật”.
(Niệm Phật nhiều
ít tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong
tâm) “Nam
Mô-A-Di-Đà-Phật”, đi, đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên không đợi
gì thời khắc.
(trang 176 Quy ển
SGTVTB ấn bản năm 1998 Hải ngoại)
KHI ĂN CƠM
Mỗi khi ăn cơm với
mắm muối chi cũng vậy, đều nguyện vái Cữu Huyển, Thất Tổ, Ông Bà,
Cha Mẹ quá vãng về ăn với mình để tỏ lòng hiếu thảo.
ĂN CHAY
Đến ngày đơm quảy có
chi cúng nấy.
Ăn chay ngày 14-15,
29-30, tháng thiếu 29 - 1, có nhang thì đốt, không có thì nguyện
không.
Hàng năm, đến ba ngày
xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1 phải ăn chay, trong mấy ngày ăn
chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được,
đến ngày mồng 3 ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời
Phật, chỉ dùng bông hoa mà cúng thôi.
ĐI XA NHÀ
Đi làm ruộng đến thời
cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá 4 hướng. Còn đi xa thì nguyện
tưởng trong tâm cũng được.
(trang 176 – 177
Quyển SGTVTB ấn bản năm 1998 – tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
lll.- SỰ ĂN Ở CỦA
TÍN ĐỒ.-
TRONG VIỆC TU THÂN
XỬ KỶ
Sự lễ bái không đủ cho
ta tỏ ra một tín đồ chân thành của đạo Phật được.
Tại sao vậy ?
Vì Đức Phật chẳng bao
giờ ngỏ ý rằng: “ Các ngươi hãy lạy thờ ta cho nhiều rồi ta sẽ
độ giúp các ngươi ” mà trái lại, Ngài dạy rằng: “ Các ngươi
nên hiểu biết phận sự con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm
kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì
Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy.
Ta hãy đem đức tin
trong sạch mà thờ kính Phật và hãy đem lòng lành mà hành động y
theo lời phán dạy của Phật.
Nếu ta cứ đem đức tin
thờ phượng tôn giáo bằng cách sai lầm thì rất có hại cho đời mạng
của ta. Như vậy chỉ tỏ ta là người rất mê tín
(mặc dầu Đạo của ta
thờ là một Đạo rất chánh đáng)
Vậy đồng thời với
Đức Tin và Lòng Lành phải để cho nó đi cặp luôn luôn.
Có Đức Tin
(tin về thần quyền) mà thiếu Lòng Lành thì rất dễ bị tà
thần cám dỗ, bọn tăng đồ lợi dưỡng gạt lường. Bởi những kẻ ấy
thường bày ra cúng kiếng để chuộc tội, hoặc bắt buộc ta thờ kính
một cách phiền phức làm cho lòng u tối của ta càng ngày càng u tối
thêm.
Còn có lòng lành
mà thiếu đức tin vào công việc từ thiện của mình thì
lòng lành ấy thường hay thối chuyển vậy.
Vậy đồng thời với đức
tin và lòng trí lành phải đi cặp luôn luôn.
Có đức tin và lòng
lành rồi thì dùng trí huệ mà bình đoán cái Đạo của ta đang học hay
sẽ học một cách xác thực, tìm hiểu cho rõ ràng cái mục đích ấy,
như thế mới mong thoát khỏi tà kiến gạt gẫm ta đem đức tin, lòng
lành cống hiến vào chỗ thấp hèn hay một ông thầy mê dốt.
Người học Đạo muốn mở
mang trí huệ cần phải tìm phương pháp diệt cái vô minh (tối tăm
ngu muội).
Muốn diệt cái vô minh
trước hết phải điêu luyện khối tinh thần cho mạnh mẽ đặng tự lập
con đường rõ ràng, duy nhứt của mối Đạo mình đang học để lấy đó
làm cương mục mà bài trừ những thành kiến, cố chấp, thói quen, sự
chần chờ, lòng ham muốn, tánh kiêu ngạo, tật đố, gièm siểm, dua
nịnh, ích kỷ tư tâm, sự gây gổ, mê đắm trong bể dục tình và sự
phiền não nó làm cho náo loạn cõi lòng. Nên bài trừ được nó rồi
trí huệ tất mở mang vậy.
Người có tâm nếu
không tập suy gẫm cho mở trí thì hay dễ bị lường gạt.
Người có trí mà vô
tâm thì hay xảo trá. Nên trí và tâm của người học Đạo cần tìm cách
làm cho nó được phát triển cả hai để lấy tâm làm chủ trì mọi việc,
lấy trí phán xét mọi việc trước khi ta sắp đưa cho tâm chủ trì.
Được như thế chắc chắn ta học Đạo mau thành công đắc quả.
Đừng thấy ai theo mối
Đạo nào đông đảo rồi ta cũng vội vàng theo Đạo ấy mà lúc đó ta
chưa hiểu giáo lý ấy như thế nào.
Cũng đừng thấy người
ta thờ Phật rồi vội vã lập bàn thờ Phật, mà chưa hiểu ông Phật thế
nào và tại sao phải thờ kính Đức Phật. Nếu tu như thế, thờ Phật
như thế, thì càng tu càng thờ bao nhiêu càng tỏ ra cho thiên hạ
thấy rõ ta mê tín bấy nhiêu. Đó cũng là cái đích để cho người vô
Đạo nhắm đó mà bài bác, nhạo chê hủy báng và cũng rất uổng cho cái
công trình thành kính lễ bái của ta vậy.
Cho được tránh những
điều ấy, trước khi thờ, học Đạo nào, hay theo ông thầy nào, ta hãy
suy gẫm, phán đoán kỹ càng; chừng hiểu biết rõ ràng ta sẽ hành
theo Đạo ấy, Thầy ấy. Chẳng được như vậy, dầu mình theo Đạo rất
chánh đáng, ông Thầy rất thông minh cũng chẳng có ích chi cho mình
cả.
Sự đầu tiên của người
hành Đạo là cốt sửa những tư tưởng, tìm cách đánh đổ tư tưởng xấu
xa, đem thay vào những tư tưởng ôn hòa, đạo đức.
(trang 398 –
400, Quyển SGTVTB ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
LỜI KHUYÊN BỔN
ĐẠO.-
(Tám điều răn
cấm)
Khi đã coi giảng thì
phải tự xét mình và sửa sang những thói hư tật xấu, mình lầm lỗi
thì rứt bỏ và giữ những điều răn cấm sau đây:
Điều thứ nhứt:
Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm,
phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.
Điều thứ nhì:
Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo
tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi
cho nhau trong khi nóng giận.
Điều thứ ba:
Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà
đành qưên nhơn nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu
sang, phụ người nghèo khó.
Điều thứ tư:
Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hoặc nguyền rủa,
vì Thần Thánh không can phạm đến ta.
Điều thứ năm:
Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò và không nên sát sanh hại vật
mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà
tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn
đồ cúng kiếng mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi
thì nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.
Điều thứ sáu:
Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô
lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng
không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những
người lỡ đường, đói rách, tàn tật.
Điều thứ bảy:
Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay đạo đức, ta phải suy xét cho
minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.
Điều thứ tám:
Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn
nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về
nơi cõi Tây phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại
cứu vớt chúng sanh.
Tất cả thiện nam tín
nữ trong Tôn giáo nhà Phật lúc rảnh việc nên thường coi kệ giảng
mà giữ gìn phong hóa nước nhà, giữ những tục lệ chơn chánh, bỏ tất
cả những dị đoan mê tín thái quá mà làm cho đạo đức suy đồi.
…
Đạo pháp thường hay
dung với hoà,
Xét người cho tột,
xét thân ta.
Nếu người rõ phận vui
lòng thứ,
Ta thứ được người,
người thứ ta …
(trang 178 - 179,
Quyển SGTVT ấn bản năm 1998)
lV.- HỌC PHẬT – TU
NHÂN.-
A.- HỌC PHẬT
1.-TRÁNH NHỮNG TỘI
LỖI DO TAM NGHIỆP:
(Luận về Tam Nghiệp)
Sanh ra ở đời, con
người dầu muốn hay không, cũng phải chịu sự chi phối của định luật
thiên nhiên. Định luật ấy gồm vào một chữ Đạo. Đạo của con người
kêu bằng “Đạo Nhân”, và nó là một con đường, đi trúng thì
sống, bước trật tất chết.
Muốn làm tròn Nhân
Đạo, phải giữ vẹn Tứ Ân. Nhưng trước hết hãy tránh
Tam Nghiệp và chừa Thập Ác, cũng như muốn làm giàu phải
tránh đừng thiếu nợ.
Mỗi người đều có ba
nghiệp chướng sau đây :
- Thân nghiệp:
tội lỗi do xác thịt gây nên.
- Khẩu nghiệp:
tội lỗi do miệng lưỡi gây nên.
- Ý nghiệp:
tội lỗi do ý tưởng gây nên.
Ba nghiệp chướng ấy
khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:
- Thân nghiệp
sanh 3 điều ác :
1.-
Sát sanh,
2.-
Đạo tặc,
3.-
Tà dâm.
- Khẩu nghiệp
sanh 4 điều ác:
1.-
Lưỡng thiệt,
2.-
Ỷ ngôn,
3.-
Ác khẩu,
4.-
Vọng ngữ.
- Ý nghiệp
sanh 3 điều ác:
1.-
Tham lam,
2.-
Sân nộ,
3.-
Mê si.
Sát Sanh:
Con người mới sanh ra ở
đời đều có tánh hiền lành cả. Song đến lúc lớn khôn vì phải sống
chung chạ với thế giới người hung tàn bạo ngược, tánh nết liền ô
nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn.
Loài người giết nhau vì
tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hềm, vì
háo thắng … nghĩa là họ giết nhau vì sự ích lợi của một người, của
một nhóm người, của một đẳng cấp xã hội, của một quốc gia; họ muốn
tiêu diệt tất cả nhân loại, không một ai có quyền sống sanh cùng
họ cả.
Tại trào nội, sự mà vua
coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh vua như thể địch thù đã làm
nguyên nhân cho biết bao cuộc tương tàn tương sát. Ngoài lê thứ
thì con giết mẹ cha, tớ hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết
nhau, đệ huynh xâu xé. Những cuộc tương tàn rất thường xảy ra
trong nhân loại không ngoài các lý do đã kể trên. Đó là người đối
với người.
Người đối với thú cầm,
sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì miếng ăn, vì
sự dị đoan mê tín, vì sự vui thích. Đành rằng mình không thể dứt
tuyệt việc giết các sanh vật (gà, vịt, heo …) để nuôi thân
sống, nhưng chẳng khá dựa vào lý “ vật dưỡng nhơn ” (thú
vật sanh ra đặng nuôi con người) mà giết nó một cách quá đáng.
Chỉ cần dùng nó vừa đúng theo sự nhu cầu cần thiết của các món
thực phẩm mình thôi và không nên hoang phí hy sinh nó, nếu sự hy
sinh ấy không ích lợi cho mình lắm. Nhứt là chẳng khá giết các thú
vật trong khi tế lễ. Người ta tưởng rằng khi mình phạm tội với
Thánh, Thần, Trời Đất có thể sát sanh hại vật cúng tế cầu cho tội
quả tiêu trừ. Sự tin tưởng đó rất sai lầm, huyễn hoặc, vì đứng vào
bực siêu hình cao cả như chư vị Thánh - Thần, có lý nào vì một
tình riêng làm sai chạy lẽ công. Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi
ro đau ốm, con người không chịu thuốc thang, khẩn vái Phật Trời
cầu cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế Thần cúng Thánh,
kêu cốt, kêu đồng. Họ không chịu tìm nguyên nhân các sự họa hoạn,
không chịu tìm hiểu rằng những tai biến xảy ra đều do căn tiền báo
quả hậu, và không chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền. Trong
khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ
chưa đền các tội ác trước được.
Chẳng những vậy thôi, họ
còn giết các thú vật vì sự vui thích của mình; kẻ bắn chim đang
bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước. Họ bắt thú vật
làm tấm bia cho họ nhắm trong những khi cao hứng, quên hẳn rằng
sanh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống
còn như nhân loại vậy.
Thế nên, hãy tha thứ cho
chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhứt là đối với các gia súc: trâu,
bò, ngựa, chó, mèo … chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho
ta trong các việc sanh hoạt hằng ngày. Tóm lại, không có sự sát
sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt
hãy cử hẳn.
Đạo
tặc:
Câu “Bần cùng sanh
đạo tặc” cần phải là một câu chửa mình của bọn bất lương vô
Đạo. Những kẻ này ngày vẩn vơ đầu đường xó chợ, tối khoét vách đào
tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc. Lớp người cặn
bã của xã hội này, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui,
phá rối sự an ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của,
đoạt giựt tài sản lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu
giọt mồ hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được. Họ là giống
sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong
những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo sự
khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người.
Cơ hàn đói khổ, thay vì
phải làm lụng như những kẻ khác mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi
này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng
biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân chủng. Lưới Trời tuy thưa
nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài
người phân xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành vi đen
tối, nếu họ không chịu ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói
vô nghì, lánh điều phi nghĩa.
Tà dâm:
“Muôn việc lành hiếu
thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà dâm đứng trước”. Sách sử
thường bảo như thế.
Lần dở xem sử sách, thời
thấy tội ác ấy lan diễn khắp nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ
trong gia đình đến kẻ xa người lạ; nó là mầm gây ra biết bao thảm
trạng ! Gương của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quý
Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế ? Giàu ỷ của hiếp dâm kẻ khó,
quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn. Gian phu, dâm phụ, từ xưa đến
nay luôn luôn đều có.
Muốn tránh sự bại hoại
nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế, phải
đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau giồi lòng hiếu
trung, trinh tiết.
Lưỡng thiệt:
Đứng đầu các tội ác
do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên cớ cho những
sự hiểu lầm nhau, những sự cãi vã, gây gổ sanh oán sanh thù. Sự
phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã
tạo những sự chia rẻ, những cuộc phân tranh, phá tan sự đoàn kết,
tình thân yêu của nhân loại. Nó cũng là nguồn cội của bao nhiêu
bất hoà, hiềm khích.
Để giải trừ những tai
vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được thành thật, chánh đáng, được
vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích
mích và mình cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của
kẻ khác.
Ỷ ngôn:
Nói đến tội này tức
là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài tôi tớ, quan ỷ thế mắng
chưởi dân ngu. Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài xể người nghèo, kẻ
xảo quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học thức ỷ
sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát.
Hãy tránh những sự
hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu óc,
cũng biết nghĩ suy, nhưng tại họ bạc phước vô phần nên phải chịu
lụy mình vậy. Nếu họ có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam ngôn
mỹ từ, những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo, không khá bao biếm
mà mang điều tội lỗi.
Ác khẩu:
Những tiếng thề thốt,
lỗ mãng, chưởi mắng tục tằn làm ra tội này; con chưởi mẹ mắng cha,
không kể luân thường thảo hiếu, mạnh bạo hăm he đánh giết kẻ yếu
hèn, hiếp đáp xóm chòm cô bác. Mở miệng ra chửi gió mắng mây, trù
rủa gia đình, không kiêng Thần Thánh. Tối ngày kêu réo Phật Trời,
mời thỉnh Long cung, làm cho tội lỗi càng thêm chồng chập.
Hãy bỏ những tiếng
tục tằn thô lỗ, làm cho đời sống được êm dịu thanh bai hơn. Đối
với cha mẹ phải có lễ độ, với gia đình, với bà con cô bác, với xóm
chòm quen thuộc, lời nói mình phải đoan trang nghiêm chỉnh. Đối
với con cháu trong nhà, không nên nói những điều ác đức, phải dùng
lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.
Vọng ngữ:
Thêm thừa huyễn hoặc,
có nói không, không nói có, ác vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho
những sự bất công của nhân loại.
Thương người nào kiếm
cách bào chửa, giấu giếm sự quấy và thêu thùa sự tốt ra, ghét ai
đặt điều nói xấu và che đậy cái điều phải của họ. Khoe khoan tự
đắc, xảo trá đa ngôn, những kẻ điêu ngoa làm cho thiên hạ khinh
khi miệt thị.
Muốn tránh những điều
khiến cho tư cách nhân quần phải bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng
chân chánh, bỏ lối láo xược trớ trêu. Chẳng nên tráo chác với
người, bỏ tiếng xảo ngôn và phải dùng lời chơn chất.
Tham lam:
Tánh tham lam đã làm cho
loài người phải chịu bao nhiêu thảm khổ: chiến tranh, cướp bóc,
giết người ... tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham
quyền, tham thế ... Những sự ấy đã xô đẩy con người vào chẳng biết
bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt, gây nên những thảm họa tày trời.
Những tấn tuồng giặc giả, cướp của sát nhơn, những vụ hối lộ,
những vụ tranh thế giành quyền đã làm cho nhân sanh điêu linh
trong vòng tai nạn khốc hại. Cái tham ấy cũng đã làm cho con người
đau buồn hận khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự sát
chỉ vì sự ham muốn không được thực hiện; người ta quyên sinh vì
tình yêu, vì lợi quyền, vì thất trận ... Những cuộc cấu xé lẫn
nhau, những cuộc nồi da xáo thịt, những tương sát tương tàn, những
điều hung hăng bạo ác cũng do sự tham lam mà ra cả. Ngày giờ nào
loài người diệt được tánh ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được
một phần lớn của sự khổ. Vả lại, ở đời phải có những lúc thăng
trầm chìm nổi, có thì ta xài, không thì ta nhịn, can gì phải bày
mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài. Của là của chung trong thiên
hạ, đời ta còn, nó còn; đời ta mất, nó mất; gương Thạch Sùng –
Vương Khải há không để lại cho ta một bài học đích đáng lắm ru ?
Thế nên, hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp
lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố thí kẻ nghèo hèn,
rán công phu sám hối để có thể yên vui nơi miền Cực Lạc, lánh sự
giả tạm ở cõi trần này.
Sân nộ:
Tánh nóng nảy thường xúi
con người làm những chuyện bất công sái phép, chém giết oán thù
nhau. Kẻ thắng kiêu hãnh, người bại hổ ngươi nên sự hiềm thù càng
lan rộng. “Giận mất khôn”, cơn giận làm con người cuồng
trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến
việc công bình, lẽ phải trái.
Diệt được nó tâm ta
được thảnh thơi, trí ta được thong thả. Hãy mở rộng lượng khoan
hồng dung tha kẻ lầm lỗi. Hãy nhẫn nhịn và chẳng nên cãi cọ tranh
luận hơn thua làm cho nảy sanh ra những điều hiềm khích.
Mê si:
Tội ác này do sự
thiếu óc phán đoán, thiếu sự suy nghĩ mà ra; vì vậy, con người ít
hay phân biệt được lẽ phải trái, bo bo giữ thiển kiến sai lầm,
chẳng chịu nhìn nhận chân lý, suốt cả đời ngu muội, chỉ biết mê
man theo những vật chất nhỏ nhen, mau tan mau rã, chỉ biết tin
bướng làm càn, không tìm hiểu con đường giải thoát.
Hãy xoá bỏ các điều
mê tín, qui thuận theo tinh thần đạo đức, lánh chốn mê lầm tỉnh
cơn mộng huyễn, phá tan màn vô minh che mờ tâm trí, lần bước trên
con đường đạo hạnh, đi đến chỗ Bất diệt, Bất sanh.
(trang 151 – 158,
Quyển SGTVTB ấn bản năm 1998 )
BÁT CHÁNH.-
Trừ xong ba nghiệp
chướng hãy làm theo tám điều chánh, và sau khi diệt
được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra;
như thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường Đạo hạnh. Những
sự tấn bộ ấy không có nghĩa là đạt được mục đích. Thế nên, cần
phải hành luôn Đạo Bát Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh
nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường
Giải Thoát.
Bát Chánh
gồm có: 1.-
Chánh kiến - 2.- Chánh
tu duy - 3.- Chánh nghiệp - 4.- Chánh tinh tấn - 5.- Chánh mạng -
6.- Chánh ngữ - 7.- Chánh niệm - 8.- Chánh định.
Chánh kiến:
Chánh: đúng sự thật - Kiến: thấy, xem xét.
Chánh kiến :
dòm thấy, xem đúng theo sự thật.
Phàm con người thường hay bị bản ngã lôi cuốn, trí
mờ ám làm cho sai chạy ít nhiều sự thật. Khi vì thiếu sự sáng
suốt, khi vì tư thù, khi vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết
đường ngay nẻo thẳng nên sự phán đoán không công bình chánh đáng,
làm cho kẻ khác chịu oan tình. Vì thế, mục Chánh Kiến dạy
ta phải đem hết trí năng truy cứu các sự rắc rối, cẩn thận xem xét
tránh sự lạc lầm trong khi phê đoán bất cứ việc gì, dầu của mình
hay của kẻ khác.
Sự quan sát cực điểm, cách xét đoán tận tường,
tránh cho ta những tà kiến (sự xem xét lầm lạc) sai chạy,
khiến ta dẹp bản ngã đã làm cho trí tuệ mịt mờ u ám; giúp cho ta
hiểu biết được rõ ràng minh bạch, cách phán đoán được ngay thẳng,
công bình.
Chẳng thế, nó còn giúp ta hiểu biết các điều tục
lụy trong trần, biết được lẽ nhiệm mầu tôn giáo khiến ta xua đuổi
các điều tà mị, bỏ các sự say mê, trở về với đạo lý, thoát đọa
hồng trần. Nó tránh cho ta tất cả sự giả dối và nhờ thế nên ta
khỏi bị lạc lầm trong khi hành đạo.
Chánh tu duy:
Tư tưởng chơn chánh.
Sanh ở trong trần con
người thường hay bị các thị dục cám dỗ: lợi danh, quyền tước,
nghĩa vợ tình chồng ...; cái tư tưởng đã rù quến tâm trí mãi mãi
quay cuồng vào những sự ấy, không thề nào thoát ly ra được. Ấy là
phần tà.
Phần chánh dạy rằng: tâm
cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho thanh cao, trí
rán tìm cái Chân lý. Chân lý ấy là cái Đạo
của mình đối với nhân loại, của mình đối với Trời Phật, của mình
đối với mình. Vì thế, hãy đặt tư tưởng mình vào công cuộc tìm
phương cứu giúp sanh linh trong vòng trầm luân oan nghiệt. Hãy tin
tưởng Phật Trời và cầu nguyện đấng Thiêng liêng ban bố phuớc lành
cho nhân chủng. Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách
lạc Đạo an bần, xả thân tu tỉnh.
Chánh nghiệp:
Việc làm chánh đáng ngay thẳng.
Đối với kẻ xuất gia đầu
Phật, ngoài những lúc tham thiền nhập định, những khi trì tụng
kinh hành, những khi đọc kinh viết sách, những lúc công quả cho
nhà Thiền, chẳng có làm việc chi có thể tạo thành ác nghiệp cả.
Những kẻ tại gia cư sĩ,
trái lại, còn cần phải lo kế sinh nhai, mưu cuộc sống còn: kẻ buôn
tảo bán tần, người việc này việc nọ, tóm lại cũng vì xác thân mà
ra cả. Tuy nhiên, dầu đời sống của họ có bị sự sinh nhai chi phối
song cái chi phối ấy, khác hẵn với kẻ gian tà đạo tặc, chẳng có
làm việc gì xảo trá bất nhân. Trong cuôc mưu cầu cho lẽ sống, họ
cũng nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi
điếm, bán á phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay cắt cổ .. v..v…
Đành rằng những người
buôn bán ấy không có ép buộc bạn hàng, song tại có họ làm các nghề
nghiệp ấy, con người mới bị hư hỏng, trụy lạc, hoang đàng, trà
đình tửu điếm … Họ là đồng loã mà phạm nhân là những kẻ nghiện
ngập say sưa.
Thế nên mục Chánh
nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề ấy.
Kẻ tại gia cư sĩ cũng
chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc không đánh đập chém đâm ai
có thể gây ra nhiều điều tội lỗi.
Chánh tinh tấn:
Tín ngưỡng chơn chánh và lướt tới.
Phái vô thần luận thường
cho rằng thân xác tức là con người. Thân còn tức là ngưòi còn,
thân mất, người mất. Không có Thánh, Thần, Trời, Phật, không quả
báo luân hồi; cũng chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn. Đời là
thân xác con người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua. Thế
nên, biết bao nhiêu mánh khoé gian hùng, bao nhiêu ngón điêu ngoa
xảo trá, bao nhiêu tàn bạo ngược ngang đều được đem ra dùng cả
thảy.
Vì vậy, mục Chánh
tinh tấn này khuyên hãy rán giữ đức tin cho mạnh mẽ. Dầu các
thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho có sức lực gì cám dỗ hay bức
bách bỏ lòng tín ngưỡng Phật Trời đặng theo việc khác, các sự ấy
cũng chẳng lôi kéo được. Và ta luôn luôn phải nhớ đến công cuộc
cứu vớt quần sanh thoát nơi khổ hải của Đức Thế Tôn, phải nhớ rằng
sanh linh đang chìm đắm trong bể hồng trần, rằng ngày giờ nào còn
có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta cũng phải khổ vì họ vậy,
rằng ta có cái bổn phận giác ngộ trần gian bỏ những oan trái luân
hồi cay nghiệt. Muốn thế, trước hết phải tìm phương tự giác, nhắm
cảnh Niết Bàn tấn tới, quyết chí tu hành đắc thành Đạo quả hầu dắt
dìu bá tánh thập phương xa miền tục lụy. Người bỏ hết các sự rầu
buồn các điều tà vạy, dẹp lục căn lục trần và rán làm cho
tinh thần được thêm sáng suốt, rèn luyện các đức tánh cho thiện
mỹ, yên tịnh, hỉ lạc, nghiêm trang quyết gắng công phu, một lòng
bước tới Niết Bàn đặng có tế độ chúng sanh thoát luân hồi quả báo.
Chánh mạng:
Sanh mạng chơn chánh, trong sạch.
Ở đời người ta hay lấy
xác thân mình làm gốc và hay quý trọng săn sóc nó. Ấy cũng do
lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý. Mắt ưa xem sắc
đẹp, tai ưa nghe tiếng hay, mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa đồ
ngon béo, thân ưa sự sung sướng, ý ưa chức phận cao.
Người ta tìm đủ phương
thế bổ dưỡng thân xác mình, làm cho trí tuệ càng ngày càng thêm mờ
ám, ngu đần, không còn lo lắng đến sự tiêu diệt.
Thế nên, hãy xa lánh
những điều làm tinh thần bị đen tối, bỏ tất cả đài các xa hoa,
thân mình tự chủ để tìm chỗ bất diệt bất sanh: thiền định đặt làm
thể, trí tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập liên hoa, siêu sanh vào
cõi Niết Bàn.
Chánh ngữ:
Lời nói chơn thật
Lục căn
làm cho con người nhiễm lục trần.
Vì muốn nuôi dưỡng xác
thân nên mới sanh ra các điều ham hố là nguồn cội các tội lỗi.
Trong những tội lỗi ấy cũng có nghiệp chướng của miệng lưỡi:
Lưỡng thiệt: làm cho thiên hạ bất hoà nhau. Ỷ ngôn:
lời chửi mắng kẻ dưới tay. Ác khẩu:
tiếng độc ác tục tằn, chửi rủa Thần Thánh. Vọng ngữ:
nói láo, nói huyễn hoặc.
Hãy tập lời nói mình cho
chân chánh, đúng với sự thật; hãy bỏ hết những xảo ngôn tráo chác,
những tiếng thô lỗ cộc cằn. Phàm những khi bàn luận việc chi phải
nói tỏ tường ngay thẳng. Đối với kẻ dưới bề trên, lời nói phải cho
hiền lương đức hạnh, những sự khuyên dạy chỉ bảo kẻ khác làm theo
lẽ phải đều có ích lợi cho chúng sanh và đều hạp với tinh thần đạo
đức.
Chánh niệm:
Ghi nhớ sự chân chánh.
Còn cũng tưởng, mất
cũng tưởng, có cũng tưởng, không cũng tưởng, thành cũng tưởng, bại
cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng ... Thất tình
lục dục bắt buộc con người phải phí biết bao nhiêu tâm cơ, bao
nhiêu trí não phụng sự cho nó. Danh lợi, cảm tình, uy quyền, phú
quý ... được hằng ngày ghi nhớ. Vì thế, con người mãi mãi lăn lộn
trong sáu đường, không thoát khỏi vòng sanh tử.
Để thoát chỗ luân hồi,
bỏ cuộc đời lầm than hoạn họa, hãy rán tưởng niệm phương pháp hành
Đạo, bỏ các điều phù phiếm, ghi nhớ công lao Đức Phật đối với quần
sanh, bia tạc vào lòng những điều Phật giáo. Phải nhớ rằng xác
thân do tứ đại (đất, nước, lửa, khí) tạo thành và sớm muộn
gì nó cũng sẽ bị tan rã. Đặng vậy, ta mới bỏ được các sự xúc động
các mối dục tình, tránh điều lụy khổ do nó gây nên.
Chánh định:
Suy gẫm chơn chánh.
Con người thường hay
có những ý định làm cho mình được sáng thêm lên, được giàu thêm
lên, được sung sướng thêm lên ... nghĩa là những ý định hoàn toàn
nhỏ nhen, thấp thỏi. Họ không hiểu rằng cuộc đời là giả tạm, nay
vầy mai khác, thân thế lạc luân, của cải gia tài như đám phù vân
trước gió, nước bọt, mây bèo. Những cái Sanh, cái Bịnh, cái Lão,
cái Tử được đặt lên cuộc đời của người này rồi đến người khác ...
rồi đến người khác nữa, nghĩa là tất cả Nhân Loại không thiếu sót
một ai. Thế mà, họ vẫn cuống cuồng tâm trí theo bả lợi danh, mùi
phú quý, đi theo những vặt vụn, tiểu ti, eo hẹp.
Họ không chịu hiểu
rằng ngoài kiếp phù du của trần thế, có cái gì không di không dịch,
vĩnh viễn trường tồn. Nếu lấy sự Thiền định phá tan màn u
minh che phủ, thì thấy rằng ở cảnh ấy con người sẽ hết buồn khổ,
hết quả báo luân hồi. Và khi ta dùng sự Chánh định dẹp bỏ
hết các sự phiền não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị dục lôi
kéo vào những nẻo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ rạng
như trăng rằm, một màu sáng suốt, không nhiễm ô cảnh ngoại, dứt
tuyệt hết sự phàm trần, lần bước đi đến cõi Giải Thoát.
(trang 159 – 164,
Quyển SGTVTB ấn bản năm 1998)
3.- ĐƯỜNG TRUNG
ĐẠO CỦA PHẬT.-
a.-
Không trưởng dưỡng
xác thịt quá ư sung sướng như: ăn nhiều, ngủ nhiều, chẳng lo làm
công chuyện, chẳng học hỏi, vì sung sướng thái quá thì sanh nhiều
dục vọng mê đắm, làm cho trí đạo tối tăm, không thể đạt huệ được.
b.-
Không nên hành xác
hay ép xác thịt thái quá như: phơi nắng, dầm sương, bỏ ăn, bỏ ngủ,
làm lụng quá sức lực của mình, vì ép xác quá độ thì hay sanh bịnh
hoạn nhiều, người mà đa mang bịnh tật rồi, tinh thần kém cỏi, mệt
nhọc, trí hóa lu mờ, không đủ sức học Đạo đặng.
Nên người biết Đạo
chẳng ép xác thái quá mà cũng chẳng để nó sung suớng quá độ, chỉ
ăn ngủ có chừng mực, làm việc vừa sức mình, gìn giữ sức khoẻ mới
mong học được đạo pháp.
Vậy, Phật chẳng buộc
ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung sướng, chẳng
ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình độ và lòng nhơn
của mình.
Điều cần yếu là phải:
■
Làm hết các việc từ
thiện,
■
Tránh tất cả điều độc
ác,
■
Quyết rửa tấm lòng
cho trong sạch.
(trang 393, Quyển
SGTVTB ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
B.-TU NHƠN.-
1.- BỔN PHẬN.-
Đối với Tổ Tiên
Cha Mẹ.-
Ân Tổ Tiên Cha Mẹ:
Ân Tổ tiên cha mẹ : Ta
sanh ra cõi đời được có hình hài để hoạt động từ thuở bé cho đến
lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm
trường ấy, Cha Mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra Cha Mẹ
là nhờ có Tổ Tiên, nên khi biết ơn Cha Mẹ, cũng có bổn phận phải
biết ơn Tổ Tiên nữa.
Muốn đền ơn Cha Mẹ, lúc
Cha Mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải, ta
rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng làm phiền lòng Cha Mẹ. Nếu
Cha Mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhơn đạo, ta rán hết sức
tìm cách khuyên lơn ngăn cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng
báo đền, lo cho Cha Mẹ khỏi đói rách, khỏi bịnh hoạn ốm đau; gây
sự hòa hảo trong đệ huynh, tạo hạnh phúc cho gia đình cho Cha Mẹ
vui lòng thỏa mãn. Rán cầu cho Cha Mẹ được hưởng điều phước thọ.
Lúc Cha Mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu thăng nơi
miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân.
Còn đền ơn Tổ Tiên, ta
đừng làm điều gì tồi tệ điếm nhục tông môn, nếu Tổ Tiên có làm
điều gì sai lầm gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải
quyết chí tu cầu và hy sinh đời ta làm điều đạo nghĩa, rửa nhục Tổ
đường.
Đối với Đất Nước.-
Ân Đất Nước:
Sanh ra, ta nhờ Tổ Tiên,
Cha Mẹ, sống ta nhờ Đất Nước, Quê Hương. Hưởng những
tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống
nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ Đất Nước
khi bị kẻ xâm lăng giày đạp. Rán nâng đỡ xứ sở quê hương lúc
nghiêng nghèo, và làm cho được trở nên cường thạnh. Rán cứu cấp
nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị. Bờ cõi vững lặng thân ta mới
yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm.
Hãy tùy tài tùy sức, nỗ
lực hy sinh cho xứ sở. Thảng như không đủ tài lực đảm đương việc
lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải rán tránh đừng
làm việc gì sơ xuất đến đổi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp
sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước.
Đó là ta đền ơn Đất
Nước vậy.
Đối với Tam Bảo.-
Ân Tam Bảo:
Tam Bảo là gì ?
Tức Phật, Pháp,
Tăng.
Con người nhờ Tổ Tiên,
Cha Mẹ sanh ra, nuôi dưỡng nhờ đất nước tạo kiếp sống cho mình. Ấy
về phương diện vật chất.
Về phương diện tinh
thần, con người cần nhờ đến sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai
mở trí óc cho sáng suốt. Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác ái
vô cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi vòng trầm luân khổ hải.
Thế nên Ngài mới truyền giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho
các chư tăng đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần thế.
Các chư tăng chẳng ai lạ hơn những đại đệ tử của Đức Phật. Bởi vì
Đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt quần sanh thoát miền mê khổ,
nên ta hãy kính trọng Phật, hãy tin tưởng và tín nhiệm vào sự
nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các chư
tăng cho biết. Tổ Tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm mầu, lòng quảng ái
của Phật đối với chúng sanh, đã kính trọng sùng bái Ngài, đã hành
động đúng theo khuôn khổ Ngài đã dạy, đã vun trồng bồi đắp cho nền
Đạo được phát triển thêm, xây dựng một toà lầu đài Đạo hạnh vô
thượng vô song, roi truyền mãi mãi với hậu thế.
Nên bổn phận chúng ta
phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm cho trí tuệ minh mẩn
đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm kẻ sa cơ và nhứt là
phải tiếp tuc khai thông nền Đạo đức để cái tinh thần từ bi bác ái
được gieo rải khắp nơi trong bá tánh. Như thế mới chẳng phụ công
trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại và không đắc tội
với kẻ đời sau vậy.
Đối với Đồng Bào
và Nhân Loại.-
Ân Đồng Bào và Nhân
loại:
Con người vừa mở mắt
chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp đỡ của những kẻ ở xung
quanh, và niên kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ nhõi càng tuần
tự thêm nhiều chừng nấy.
Ta nhờ hột cơm của họ
mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới
tránh cơn phong vũ. Vui sướng: ta đồng hưởng với họ. Hoạn nạn: họ
đồng chịu với ta.
Họ và ta cùng một màu
da, cùng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thì thành lại làm
một: ấy Quốc Gia đó. Họ là ai ? Tức những người ta thường gọi bằng
đồng bào vậy.
Đồng bào ta và ta cùng
chung một chủng tộc, cùng một nòi giống roi truyền, cùng có những
trang lịch sử vẻ vang oanh liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn
nguy biến, cùng chung phận sự đào tạo một tương lai rực rỡ trong
bước tiền đồ của giang san đất nước. Đồng bào ta và ta có một liên
quan mật thiết, không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau, và chẳng
khi nào có ta mà không có đồng bào, hay có đồng bào mà không có
ta. Thế nên, ta phải rán giúp đỡ họ hầu đáp đền cái ơn mà ta đã
thọ trong muôn một.
Chẳng những thế, ngoài
đồng bào, ta còn có thế giới người đang cặm cụi cần lao cung cấp
những điều nhu cầu cần thiết. Họ là nhân loại, là những người đang
sanh sống với chúng ta trên quả địa cầu. Nếu không có nhân loại,
thử hỏi dân tộc ta ra như thế nào ? Ta có đủ vật liệu để dùng
chăng ? Ta có thể tự túc một cách đầy đủ chăng ? Nói tóm lại, ta
có thể lẻ loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn, với
những lúc ốm đau, nguy biến, giữ vững cuộc sống còn này chăng ?
Hẳn không vậy. Thế nên dân tộc ta phải nhờ đến Nhân loại, nghĩa là
nhờ đến dân tộc khác và phải biết ơn họ. Hãy nghĩ đến họ như mình
nghĩ đến mình và đồng bào mình.
Vả lại cái tính từ bi
bác ái của Đức Phật mà ta đã nhận thức, rất thâm huyền quảng huợt.
Cái tính ấy, nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không
phân biệt chủng tộc; nó cũng không luận sang hèn và xoá bỏ hết các
từng lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một: Nhân Loại Chúng
Sanh.
Thế, ta không có lý do
gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng bào mình gây ra tai hại cho
các dân tộc khác. Trái lại, hãy đặt vào họ một tư tưởng nhân hoà,
một tinh thần hỉ xả và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ
trong cơn hoạn nạn.
Đối với những kẻ
xuất gia quy y đầu Phật, phụ vào những ân huệ đã thọ như đã
nói trên, họ còn phải trực tiếp chịu ân các đàn na thí chủ, nghĩa
là những thiện nam tín nữ có hảo tâm cung cấp những vật dụng cần
thiết cho họ. Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men
đặng sanh sống. Rốt lại, họ phải nhờ sự nuôi dưỡng hoàn toàn của
những kẻ tốt lòng.
Với quần sanh, họ mang
cái ân rất nặng cho nên họ phải dìu dắt sinh linh đi tầm Chân lý
đặng đáp tạ tấm lòng chiếu cố của Thiện tín. (trang 146 - 150,
SGTVTB, ấn bản năm 1998)
Đối đãi các tăng
sư
(trang 169, Quyển
SGTVTB, ấn bản năm 1998)
Tất cả bổn đạo nên cung
kính các tăng sư tu hành chân chánh. Nếu các ông ấy có dạy điều
chánh lý, phải nghe lời. Đối với những hạng tu hành mà mình biết
rõ là dối thế (như mấy ông thầy đám …) hãy tìm cách khuyên
can các ông trở lại đường chân chánh của Đạo Phật. Nếu các ông vẫn
tiếp tục làm điều tà mị, mình phải bài trừ triệt để và giảng giải
cho quần chúng cùng những tín đồ nhà Phật hiểu đặng xa lánh họ.
- Không được khuyến dụ
bổn đạo của ông sư hoặc tôn phái khác bỏ THẦY hay Tôn phái người
ta theo THẦY hay Tôn giáo mình.
Đối với chùa chiền
(trang
170, Quyển SGTVTB, ấn bản năm 1998)
Những ngày vía của các
Đức Phật, ngày rằm hay ba mươi, mình muốn đi chùa cũng tốt, đặng
lễ Phật, dưng hoa, không có cấm. Nếu chùa nào nghèo, hư, rách, mà
mình giúp đỡ được càng tốt (có điều mình không nên mua sắm hình
tượng cho nhiều).
Khi đến chùa cũng phải
tôn trọng sự thờ phượng trong chùa không nên hủy báng.
Đối với các tôn
giáo khác và Nhơn sanh
(trang
170, SGTVTB, ấn bản năm 1998)
Đối với những người theo
tôn giáo khác, không nên động chạm đến cách thức tu hành của họ.
Nhứt là không ỷ đông hiếp đáp hoặc nói xấu người ta.
Nếu họ có làm dữ với
mình, thì mình cũng chẳng được phép vì sự dữ của họ mà trả thù, và
phải luôn luôn làm lành với họ. Mình phải hoài hoài làm phải với
những kẻ ấy dầu họ có làm quấy với mình cũng mặc và phải nhẫn nhịn
họ.
Đối với nhân sanh, bao
giờ cũng phải hòa hợp với họ và làm cho đôi đàng có thiện cảm với
nhau. Phải biết thương xót đến họ và nếu khi nào họ cần dùng phải
rán hết sức giúp đỡ họ.
- Không được ganh ghét
chế nhạo lẫn nhau nếu khác Thầy hay khác tôn giáo. (trang 449)
- Không được chế nhạo
các Tôn phái khác. (trang 449, Quyển SGTVTB, ấn bản năm 1998)
- Phải hòa nhã với tất
cả các tôn giáo khác và dân chúng. (trang 450, Quyển SGTVTB)
- Phải thành thật yêu
thương đoàn kết và tìm cách chỉ dạy lẫn nhau. (trang 450 Quyển
SGTV)
Bát nhẫn :
Chữ thứ nhứt nhẫn
năng xử thế,
Là người hiền khó kiếm
trong đời.
Lập thân danh tuần trải
nơi nơi,
Chờ thời đại mới là khôn
khéo.
Chữ nhẫn giái kỳ tâm
trong trẻo,
Khuyên dương trần giữ
phận làm đầu.
Nhẫn hương lân
cùng khắp đâu đâu,
Trên cùng dưới đều hòa ý
hỷ.
Nhẫn phụ mẫu
gọi trang hiền sĩ,
Phận xướng tùy chồng vợ
nhịn nhau.
Nhịn xóm chòm cô bác mới
cao,
Nhẫn tâm
nọ ngày ngày an
lạc.
Nhịn tất cả những người
tuổi tác,
Nhẫn tánh
lành yên tịnh dài lâu.
Giữ một lòng hiền hậu
mới mầu,
Quanh năm cũng bảo toàn
thân thể.
Chữ nhẫn đức kể
ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự
bình an.
Chữ nhẫn thành
báu quí hiển vang,
Khắp bá tánh được câu
hòa nhã…
(Giác Mê Tâm Kệ,
Quyển 4, trang 109 SGTVTB)
2.- NHỮNG ĐIỀU PHẢI
TRÁNH HẴN
HOẶC ĐƯỢC CHÂM CHẾ
HOẶC NÊN LÀM
Uống rượu
Phải cử tuyệt; nhưng khi
có tiệc lễ với người ngoài và không phải nhằm ngày chay lạt, có
thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẻ với
kẻ ngoại Đạo. Nếu say sưa phải tội lỗi. (trang 169 Quyển
SGTVTB, ấn bản 1998)
Thuốc phiện
Phải cử tuyệt; không
được hút một điếu nào hết. Những kẻ hút muốn vào Đạo, phải bỏ hút
rồi mới được nhìn nhận. Trừ ra những người đau mà thầy thuốc bảo
phải dùng một chút ít hợp với các vị thuốc khác mới có thể châm
chế đặng. (trang 169 Quyển SGTVTB)
Cờ bạc
Phải cử tuyệt; những kẻ
cờ bạc muốn vào Đạo, phải thệ nguyện bỏ cờ bạc rồi mới được nhìn
nhận. Về sự này, chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng.
(trang 169 Quyển SGTVTB)
Để tóc
(trang
170, Quyển SGTVTB, ấn bản 1998)
Tất cả bổn đạo nên biết
rằng Thầy không có buộc để tóc, vì đó thuộc về phong tục chớ chẳng
phải về tôn giáo; nhưng sở dĩ Thầy để tóc là muốn giữ kỷ niệm cái
phong tục cổ của Tổ Tiên và tỏ cho thiên hạ biết Thầy không chịu
ảnh hưởng cái đời văn minh cặn bã của phương Tây. Thấy vậy, nhiều
người trong bổn đạo yêu mến Thầy liền bắt chước, vì thế số đông
người hiểu lầm rằng để tóc là tu. Thật ra tu là tu, để tóc là
để tóc, và tu không phải là để tóc, để tóc không phải là tu. Nếu
để tóc mà không chịu trau tâm sửa tánh cũng chẳng phải là kẻ tu
hành. Từ rày trở đi đã thoát được ách người Pháp và tùy theo
phong trào tiến hoá của nước nhà. Thầy cho phép bổn đạo tự do cải
cách hầu hòa hợp với lương dân cùng tôn giáo khác.
Sự học
(trang 171
Quyển SGTVTB, ấn bản 1998)
Sự học hành không làm
trở ngại cho đạo đức. Trái lại, nhờ nó mình được biết rõ ràng giáo
lý cao siêu của tôn giáo. Nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ
các điều dị đoan mê tín. Nó làm cho mình dẹp bỏ những điều huyễn
hoặc, không bàn bạc những chuyện xa vời (như tiên đoán thiên cơ
chẳng hạn …)
Vậy, hãy tự mình học hỏi
(học chữ quốc ngữ … ) và hãy cho con cháu mình vào trường
học tập đặng sự hiểu biết của chúng thêm rộng rãi. Vả lại, sự hiểu
biết về khoa học không cản trở sự tu hành và nó giúp cho mình
nghiên cứu Phật Đạo một cách rành rẽ.
Thể dục
(trang 171
Quyển SGTVTB, ấn bản 1998)
Người trong bổn đạo nam
nữ bất luận, phải giữ gìn thân thể cho khoẻ mạnh. Như thế nên
luyện tập những môn thể dục nào hợp với sức khoẻ nếu mình muốn,
bởi vì xác thịt có khoẻ mạnh tinh thần mới sáng suốt, như vậy mình
mới có thể làm sự đạo nghĩa một cách đắc lực.
Ăn ở
(trang
171 Quyển SGTVTB, ấn bản 1998)
Kẻ tu hành ăn uống phải
có điều độ. Tránh những món ngon song nấu toàn đồ độc cho cơ thể,
ăn vào sanh bịnh.
Phải giữ gìn thân thể
sạch sẽ và từ nhà cửa cho đến chỗ ăn, chỗ nằm, phải biết trọng vệ
sinh. Bỏ những thói quen ăn ở dơ bẩn, vì xác thịt dơ dáy thì tinh
thần không thể mở mang được, và vì Thần Thánh chỉ gần những kẻ
trong sạch; nên nếu ai muốn được tiếp độ phải trong sạch vừa tinh
thần lẫn vật chất.
Cách làm ăn
(trang 172
Quyển SGTVTB, ấn bản 1998)
Cách làm ăn phải y như
trong mục Bát Chánh đã dạy.
- Bỏ những sự bất
chánh: lường cân, tráo đấu, buôn lậu, đầu cơ, bán rượu, bán thuốc
phiện,
- Làm những nghề
lương thiện, không có lường gạt ai, bỏ những thói gian xảo.
V.- ĐẠO LÝ – LUÂN
THƯỜNG.-
1.- NGƯỜI NAM:
Đức Huỳnh Giáo Chủ đã
viết:
...
Gẫm nhiều người bội
bạc thâm ân;
Nào kể chi là đạo
quân thần,
Tôi giết chúa, con
đành sát phụ.
Lúc nguy cơ tớ mong
hại chủ,
Trò giết thầy tội ấy
đáng không ?
Thêm chồng giết vợ,
vợ giết chồng
Niềm huynh đệ cùng
nhau xâu xé.
Cũng hiếm lúc con còn
giết mẹ,
Giành của tiền cốt
nhục giết nhau.
Tranh lợi danh giết
lẫn đồng bào,
Tình nhân loại phân
chia yểm bách .. .
(Khuyến Thiện,
trang 133 – dòng 6 tới 16)
...
Ở thị thiềng đua chen
xướng khởi,
Những tuồng hư cho
bọn gái lẫn trai.
Nào hút thuốc phiện
hội ve chai,
Nào trùm đĩ, ma cô
nghề hút máu.
Ai để mắt xem đời
châu đáo,
Chẳng khỏi than giùm
dân tộc hư hèn.
Diện áo quần, son
phấn lấn chen,
Miển cho mình được
lên xe xuống ngựa.
Mảng điểm tô huy
hoàng nhà cửa
Ai khốn cùng để mặc
đất trời xây ...
(Trao lời cùng Ông
Táo, trang 348 SGTVTB)
…Dọn
bề trong mới gọi đẹp xinh,
Chớ mang lốy bề ngoài
giả dối ..
(Giác Mê Tâm Kệ
trang 103,
SGTVTB)
…
Việc
bán buôn hãy giữ ngang cân,
Chớ tập tánh lận lường
tráo đấu.
Các công cuộc của người
tánh xấu,
Ta giữ gìn chớ có nhiễm
vào ...
(Giác Mê Tâm Kệ,
trang 93, SGTVTB)
…Văn
minh sửa mặt sửa mày,
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi,
Dọn xem hình vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.
Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi
xanh,
Chẳng trau hiền đức học hành làm chi ?
Khôn ngoan thời những chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh
chê,
Ông cha hủ bại u mê hơn mình.
Tự do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả lơi.
So hình sửa sắc chiều mơi,
Đặng làm những chuyện trái đời vô liêm.
Cớ sao chê cổ trọng kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.
Thấy đời trần hạ thon von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.
Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả lê.
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hể mở chưởi thề vang rân.
Chẳng lo rèn trí lập thân,
Để làm xảo trá khổ
thân sau này ...
(Sám Giảng, Quyển
3, trang 83 – 84 SGTVTB)
…Đàn nhu thầy lễ
cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng ?
Lại thêm đờn địch từng tưng,
Đem con heo sống mà dưng làm gì ?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị kỳ giả dối hay không ?
Nếu không thì trả lời không,
... Học
nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.
Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đỡ cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
Đợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.
Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn ...
(Sám Giảng, Quyển
3, trang 77
SGTVTB)
Đạo quân thần -
Đạo sư đệ - Đạo phụ tử - Đạo huynyh đệ
…Đạo
tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,
Đạo thầy trò khắc cốt
với ghi xương.
Đạo cha con chặt chẽ chữ
miên trường,
Đạo chồng vợ thuận hòa
cho đến thác.
Biết lễ nghĩa kính yêu
cùng cô bác,
Nội tông cùng ngoại tổ
với cậu dì;
Thêm kính nhường anh chị
kẻ cố tri.
Mắt chẳng thấy lũ gian
phi xảo trá.
Đạo bè bạn bất phân nhơn
với ngã,
Chữ nghĩa tình sắt đá
mãi bền gan ....
(KHÔNG
BUÔN NGỦ,
trang 338, SGTVTB, ấn bản 1998)
…Nếu
ai biết chữ tu trì,
Cha Mẹ còn sống vậy thì
cho ăn.
Không làm để ở lung
lăng,
Chưởi Cha mắng Mẹ lăng
xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết
tùy,
Vui lòng Cha Mẹ vậy thì
mới ngoan ...
…Dạy
rồi những việc đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân
lẽ nào.
Lỗi lầm chớ có hùng hào,
Đừng chưởi đừng rủa đừng
cào đừng bươi.
Đem lời hiền đức tốt
tươi,
Đặng mà giáo hóa, vàng
mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận
hờn,
Cho con bắt chước sạ
dươn mới là ....
(Sám Giảng, Quyển 3,
trang 75, SGTVTB)
…
Anh em đừng có đổi dời,
Phụ phàng dưa muối xe
lơi nghĩa tình.
Tuy là Trời đất rộng
thinh,
Có Thần xem xét phân
minh cho người ....
(Sám Giảng, Quyển 3,
trang 74, SGTVTB)
2.- NGƯỜI NỮ :
Tam tùng - Tứ đức -
Công - Dung - Ngôn - Hạnh
… Lớn lên phận gái cần chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.
Phải gìn dục vọng lòng tà,
Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân !
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam tùng vẹn giữ lập
thân buổi này.
Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại tình.
Đi thưa về cũng phải trình,
Công,
dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.
Công là phải sửa làm
sao,
Làm ăn các việc tầm phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Đừng cho công việc hớ hênh mới là.
Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi tắn đứng đi dịu dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.
Ngôn là lời nói mặc
dầu,
Cũng cho nghiêm chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Đừng dùng lời tiếng phang ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.
Hạnh là đức tánh
phải không ?
Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục
tòng song thân.
Dạy rồi những chuyện đức
ân
Phận làm cha mẹ xử phân
lẽ nào.
Lỗi lầm chớ có hùng hào
Đừng chưởi đừng rủa đừng
cào đừng buơi.
Đem lời hiền đức tốt
tươi
Đặng mà giáo hóa vàng
mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận
hờn
Cho con bắt chước sạ
duơn mới là …
(Sám Giảng Quyển 3,
trang 75 SGTVT)
Những điều chỉ dạy của
Đức Huỳnh Giáo Chủ về HỌC PHẬT và TU NHÂN được kết
tập thành quyển sách nhỏ này, chúng tôi thiết nghĩ chính là mẫu
mực, là khuôn thước mà chúng ta, những tín đồ PGHH, phải học hiểu
nằm lòng và nghiêm chỉnh tuân hành, xin trân trọng kính chuyển đến
Anh Chị Em Đồng
Đạo.
Ngày 1 tháng 7 năm
2006 dl – 6 tháng 6 thiếu Bính Tuất.
Tu sĩ
Thái Hòa – Cư sĩ Hồ Minh Châu

 |