|
GIÁO
QUY
PHẬT
GIÁO HÒA HẢO
LỜI GIỚI THIỆU
-- *** --
Tập sách nhỏ này là
kết hợp những điều dạy căn bản của Đức Thầy về cách ăn ở, đối xử
với nhau theo đạo đức Việt Nam từ ngàn xưa. Những lời dạy này dành
cho mọi người, ở mọi thành phần xã hội cũng như tuổi tác.
Người mới bắt đầu làm
quen, tìm hiểu PGHH hoặc đã biết qua nhưng cần giữ lại cho nhớ
những điều căn bản, thì tập sách nhỏ này sẽ giúp ích, còn muốn tìm
hiểu thêm, đi xa hơn thì xin mời đi thẳng vào những tài liệu khác,
như Sấm Giảng Thi Văn toàn bộ.
Soạn tập sách nhỏ này,
chúng tôi nhằm giúp phương tiện cho con cháu gia đình PGHH, cũng
như quý vị nào muốn tìm hiểu về đời sống tinh thần của một tín đồ.
Nếu quý vị đọc thấy
còn thiếu sót thì đó là điều không thể tránh khỏi, nên chúng tôi
rất mong được lượng thứ.
Lời văn, từ ngữ, tất
tất, chúng tôi giữ nguyên lời dạy của Đức Thầy trong suốt quá
trình Ngài thuyết giảng. Trong thời điểm ấy cách chúng ta ngày nay
hơn nửa thế kỷ, những lời giảng dạy ấy vẫn không phải khó hiểu cho
người đọc.
Sau cùng, hy vọng tập
sách nhỏ này đem lại cho người đọc phần nào hữu ích trong việc
Học Phật Tu Nhân của Phật Giáo Hòa Hảo, là điều mong
mỏi lớn lao của chúng tôi.
Ngày 1 tháng 7 năm
2006 dl. - tháng 6 nhuận, Bính Tuất.
Tu
sĩ Thái Hoà và Cư sĩ Hồ Minh Châu
MỤC LỤC
-- *** --
l.- ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO.-
ll.- ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA TÍN ĐỒ.-
A.-
CÁCH THỜ PHHƯỢNG – HÀNH LỄ:
- Thờ phượng,
- Hành lễ,
- Tang lễ,
- Cách cầu nguyện cho
người chết,
- Hôn nhơn.
B.-
SỰ CÚNG LẠY CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA:
- Bài nguyện trước
bàn thờ Ông, Bà,
- Bài nguyện trước
bàn thờ Phật,
- Bài nguyện trước
bàn thông thiên,
- Niệm Phật,
- Khi ăn cơm,
- Ăn chay,
- Đi xa nhà.
lll.-
SỰ ĂN Ở CỦA TÍN ĐỒ.-
- Tu thân xử kỷ,
- Lời khuyên bổn đạo
(Tám điều răn cấm).
lV.- HỌC PHẬT – TU NHÂN.-
A. HỌC PHẬT
1.TRÁNH NHỮNG TỘI
LỖI DO TAM NGHIỆP:
- Thân
nghiệp,
- Khẩu nghiệp,
- Ý nghiệp.
2.- BÁT CHÁNH:
3.- ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO
CỦA PHẬT:
B.- TU NHÂN.-
1.- BỔN PHẬN
- Đối với Tổ Tiên, Cha
Mẹ,
- Đối với Đất nước,
- Đối với Tam Bảo,
- Đối với Đồng bào và
Nhơn loại,
- Đối với
các tăng sư,
- Đối với chùa chiền,
- Đối với tôn giáo
khác và Nhơn sanh,
- Bát Nhẫn.
2. NHỮNG ĐIỀU PHẢI
TRÁNH,
ĐUỢC CHÂM CHẾ
HOẶC NÊN LÀM:
- Uống rượu,
- Thuốc phiện,
- Cờ bạc,
- Để tóc,
- Sự học,
- Thể dục,
- Ăn ở,
- Cách làm ăn.
V.- ĐẠO LÝ – LUÂN THƯỜNG.-
1.-
NGƯỜI NAM:
- Đạo quân thần -
Đạo sư đệ,
- Đạo phụ tử
- Đạo phu thê,
- Đạo huynh đệ.
2.-
NGƯỜI NỮ:
- Tam tùng - Công -
Ngôn,
- Dung - Hạnh.
-- ♦♦♦ --
l.- ĐIỀU KIỆN VÀO
ĐẠO.-
Người
nào muốn quy y phải có hai người bổn đạo cũ, có đức hạnh tiến cử
và bảo lãnh, đến Ban Trị Sự trong làng cho người làm đầu biết, và
người làm đầu phải đọc hết thể lệ về sự tu hành cho người quy y
nghe, hỏi coi có bằng lòng quy y như lời nguyện dạy và răn cấm
trong Đạo chăng. Nếu họ bằng lòng, biểu họ về nhà cho Ông Bà, Cha
Mẹ biết, hoặc nguyện trước bàn thờ Ông Bà, Tổ Tiên rằng: Ngày …
tháng … con chịu quy y theo Đạo. Sau đó, người làm đầu (Hội
Trưởng) cho cuốn sách nhỏ này. Chỗ nào không có Ban Trị Sự,
hai người bổn đạo cũ phải dìu dắt người mới, rồi sau sẽ dẫn lên
Ban Trị Sự gần đó, không bắt buộc thề thốt chi hết, vì người muốn
tu do nơi sự phát nguyện của mình thôi. Khi nào mình không muốn
giữ Đạo, mình phải cho người tiến cử hay để bôi tên mình ra. Không
người nào được phép xưng mình là người trong Đạo mà lại không giữ
luật. Kẻ nào làm trái luật lệ trong sự đạo đức, dầu không xin thôi
Đạo hay là chưa bị bôi tên cũng bị trách nhiệm việc làm của họ và
bị coi như người ngoại Đạo.
Nên nhớ rằng: Đức Phật
sẽ dìu dắt và ủng hộ những kẻ nào làm ăn chơn thật, hiền lành đúng
theo giáo lý của Ngài; chớ không bao giờ Ngài lại ủng hộ những kẻ
gian tà xảo quyệt, làm các việc hung ác ngông cuồng trái những lời
mà Ngài đã chỉ dạy.
( trang 172 – 173,
Quyển SGTVTB, ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
ll.- ĐỜI SỐNG ĐẠO
CỦA TÍN ĐỒ.-
A.- CÁCH THỜ
PHƯỢNG - HÀNH LỄ:
THỜ PHƯỢNG
Từ truớc đến nay, các
chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng. Đành rằng vì tôn
kính đấng Từ Bi mới
làm ra thờ phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủ lợi. Bây
giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta không có ý
hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền. Cách thờ phượng ấy tùy
theo điều kiện các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng.
Nhưng riêng về cư sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn
giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nhoáng bề
ngoài. Từ trước, chúng thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy
Tây An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng
cùng tông phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức
Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến
giờ các sư dùng màu dà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, và
màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng
trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và
cá nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu
biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.
Nếu trong nhà chật,
nội bàn Thông Thiên với một lư hương cũng được, bởi vì sự tu hành
cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ bái ở ngoài. Còn
người nào có cốt Phật trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng
giấy không nên chừa lại và phải đốt đi. Kẻ nào phải chung đậu với
người khác không có tu hiền, hay không cùng một Đạo với mình, hoặc
nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chỗ phượng thờ, thì đến giờ cúng
kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.
Về cách cúng Phật,
chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu
biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn
nhang dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra, chẳng nên cúng một món
gì khác cả. Bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng đặng.
Ngoài sự thờ Phật, Tổ
Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không nên
thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích.
( trang 165 –
166 SGTVTB, ấn bản 1998 tại Hải ngoại)
HÀNH LỄ
Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ
Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ lúc còn sống và các vị anh hùng cứu quốc. Với
những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình
cũng chỉ xá thôi.
( trang 166 – 167
SGTVTB, ấn bản 1998, tại Hả ingoại)
/……
……
TANG LỄ
Lúc Ông Bà Cha Mẹ từ
trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ, chỉ cần sửa đổi các
sự như sau đây:
Bây giờ chúng ta đã quy
y đầu Phật, thì phải do sự thành tâm cầu nguyện, và đem sức khấn
vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết
được siêu sinh nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng
bông, đốt giấy tiền vàng bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện
tốn tiền vô ích, bởi vì người ta nhận định rằng xác thịt là hư
hoại, thì trong lúc chết chỉ đem chôn cất cho kín đáo, đừng để hôi
thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi. Còn hiếu sự do hồi
còn sanh tiền và do sự tu hành, sự thành tâm cầu nguyện chớ không
phải có tiền rước người khác cầu nguyện mà đạt được hiếu thuận
nhơn nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhà hay giữa trời cầu nguyện, rồi im
lặng đi chôn.
Việc cúng kiếng Ông Bà,
Cha Mẹ, có chi cúng nấy trong những ngày kỷ niệm theo như tục lệ.
Việc đãi đằng hương đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giản
tiện, ít lãng phí cứ làm.
( trang 167 – 168
SGTVTB, ấn bản 1998, tại Hả ingoại)
CÁCH CẦU NGUYỆN
CHO NGƯỜI CHẾT
Mỗi người đứng trước bàn
thờ Phật niệm: “Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật ”
(ba lần)
và “ Nam mô A Di Đà
Phật ” (ba
lần).
Vái : “Phật Tổ, Phật Thầy, nay mình thành tâm
cầu nguyện cho tên
…
(tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ bi
cứu độ vong linh được thoát chốn mê đồ, vãng sanh miền Cực Lạc !
”
Trong lúc ở nhà hay lúc đưa đám tang gì cũng vậy,
nếu có tổ chức sắp hàng chấp tay niệm:
“Nam mô Tây phương
Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn cữu thiên
ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi tiếp dẫn vong linh A Di
Đà Phật ”- nếu người chết là nhà sư thì câu chót đọc: “tiếp
dẫn đạo sư A Di Đà Phật ”.
(trang 168
SGTVTB, ấn bản 1998, tại Hả ingoại)
NÊN LƯU Ý:
Tang gia đừng nên khóc lóc làm trở ngại sự siêu thoát anh linh của
người chết.
HÔN NHƠN
Bổn phận Cha Mẹ phải
chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng đáng bằng sự quan sát tường
tận về đức tánh đôi trai gái. Không nên ép uổng con mình quá đáng,
vì như thế làm cho khốn khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để
chúng quá tự do mà sự thiếu kinh nghiệm làm cho đời chúng phải hư
hỏng.
Nên bỏ tục lệ thách giá
đòi tiền và đòi lễ vật. Thông gia hai bên không nên làm khó cho
nhau. Cũng chẳng nên bày ra tiệc lễ linh đình tốn kém nhiều tiền
làm cho trở nên nghèo khổ.
(trang 168 – 169 Quy
ển SGTVTB ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
B.- SỰ CÚNG LẠY
CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA:
BÀI NGUYỆN
TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ :
Cầm hương xá 3 xá,
quỳ xuống chấp tay đưa lên trán nguyện :
Cúi kính dưng hương
trước Cữu Huyền,
Cầu trên Thất Tổ
chứng lòng thiềng.
Nay con tỉnh ngộ quy y
Phật,
Chí dốc tu hiền tạo
phước duyên”.
Cấm hương rồi đứng
ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:
Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,
Báo ơn sanh dưỡng dày
công nhọc nhằn.
Rày con xin giữ Đạo
hằng,
Tu cầu Tông Tổ siêu
thăng Phật đài.
Nguyện làm cho đẹp mặt
mày;
Thoát nơi khổ hải Liên
đài được lên.
Mong nhờ Đức Cả bề trên,
Độ con yên ổn vững bền
cội tu”.. (lạy 4 lạy)
BÀI NGUYỆN TRƯỚC
BÀN THỜ PHẬT:
Cầm hương xá 3 xá,
qùy xuống chắp tay đưa lên trán đọc bài Quy y :
Nam Mô Thập Phương Phật.
Nam Mô Thập Phương Pháp.
Nam Mô Thập Phương
Tăng”.
“Nam Mô Phật Tổ, Phật
Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn
thần, chư vị Năm Non Bảy Núi, cảm ứng, chứng minh, nay con nguyện
cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền
theo Phật Đạo”.
Cắm hương, lạy 4 lạy
cũng được, hoặc cắm hương đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc:
“Nam Mô Tây Phương Cực
lạc thế giới Đại từ Đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật”.
“Nam Mô nhứt nguyện
cầu: Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, Liên Hoa hải hội,
thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an”.
“Nam Mô nhị nguyên
cầu: Cữu Huyền Thất Tổ Tịnh độ siêu sanh”.
“Nam Mô tam nguyện
cầu: Phụ Mẫu tại đường tăng long phước thọ, Phụ Mẫu quá khứ
trực vãng Tây Phương”.
“Nam Mô tứ nguyện cầu:
Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái, giải thoát mê ly”.
“Nam Mô ngũ nguyện
cầu: Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự,
trí huệ thông minh, giai đắc đạo quả”.
Lạy 4 lạy rồi xá:
1 xá chính giữa
niệm: “Nam Mô
A Di Đà Phật”.
1 xá bên trái niệm:
“Nam Mô Đại
Thế Chí Bồ Tát”.
1 xá bên phải niệm:
“Nam Mô Quan
Thế Âm Bồ Tát”.
BÀN THÔNG THIÊN
Cầu nguyện bàn Phật
xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện 4 hướng
(lấy bàn Thông Thiên
làm hướng chánh)
trước mặt, sau lưng, hai bên vai.
Hướng chánh bàn Thông
Thiên có nguyện, đọc bài Quy Y, còn ba hướng kia chỉ đọc bài Tây
Phương ngũ nguyện.
(mỗi hướng đọc rồi
lạy 4 lạy - Khi cầu nguyện nếu không thể lạy được thì xá 3 xá)
Lạy đứng
hay lạy quỳ tùy theo lúc yếu mạnh.
(trang 174 – 176
Quy ển SGTVTB ấn bản năm 1998 )
NIỆM PHẬT
Cúng xong, muốn niệm
Phật cũng được. Ngồi bán già thẳng lưng niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật.
Hay niệm: “Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức,
nhứt thập nhứt vạn, cữu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ
đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật”.
(Niệm Phật nhiều
ít tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong
tâm) “Nam
Mô-A-Di-Đà-Phật”, đi, đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên không đợi
gì thời khắc.
(trang 176 Quy ển
SGTVTB ấn bản năm 1998 Hải ngoại)
KHI ĂN CƠM
Mỗi khi ăn cơm với
mắm muối chi cũng vậy, đều nguyện vái Cữu Huyển, Thất Tổ, Ông Bà,
Cha Mẹ quá vãng về ăn với mình để tỏ lòng hiếu thảo.
ĂN CHAY
Đến ngày đơm quảy có
chi cúng nấy.
Ăn chay ngày 14-15,
29-30, tháng thiếu 29 - 1, có nhang thì đốt, không có thì nguyện
không.
Hàng năm, đến ba ngày
xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1 phải ăn chay, trong mấy ngày ăn
chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được,
đến ngày mồng 3 ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời
Phật, chỉ dùng bông hoa mà cúng thôi.
ĐI XA NHÀ
Đi làm ruộng đến thời
cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá 4 hướng. Còn đi xa thì nguyện
tưởng trong tâm cũng được.
(trang 176 – 177
Quyển SGTVTB ấn bản năm 1998 – tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
lll.- SỰ ĂN Ở CỦA
TÍN ĐỒ.-
TRONG VIỆC TU THÂN
XỬ KỶ
Sự lễ bái không đủ cho
ta tỏ ra một tín đồ chân thành của đạo Phật được.
Tại sao vậy ?
Vì Đức Phật chẳng bao
giờ ngỏ ý rằng: “ Các ngươi hãy lạy thờ ta cho nhiều rồi ta sẽ
độ giúp các ngươi ” mà trái lại, Ngài dạy rằng: “ Các ngươi
nên hiểu biết phận sự con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm
kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì
Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy.
Ta hãy đem đức tin
trong sạch mà thờ kính Phật và hãy đem lòng lành mà hành động y
theo lời phán dạy của Phật.
Nếu ta cứ đem đức tin
thờ phượng tôn giáo bằng cách sai lầm thì rất có hại cho đời mạng
của ta. Như vậy chỉ tỏ ta là người rất mê tín
(mặc dầu Đạo của ta
thờ là một Đạo rất chánh đáng)
Vậy đồng thời với
Đức Tin và Lòng Lành phải để cho nó đi cặp luôn luôn.
Có Đức Tin
(tin về thần quyền) mà thiếu Lòng Lành thì rất dễ bị tà
thần cám dỗ, bọn tăng đồ lợi dưỡng gạt lường. Bởi những kẻ ấy
thường bày ra cúng kiếng để chuộc tội, hoặc bắt buộc ta thờ kính
một cách phiền phức làm cho lòng u tối của ta càng ngày càng u tối
thêm.
Còn có lòng lành
mà thiếu đức tin vào công việc từ thiện của mình thì
lòng lành ấy thường hay thối chuyển vậy.
Vậy đồng thời với đức
tin và lòng trí lành phải đi cặp luôn luôn.
Có đức tin và lòng
lành rồi thì dùng trí huệ mà bình đoán cái Đạo của ta đang học hay
sẽ học một cách xác thực, tìm hiểu cho rõ ràng cái mục đích ấy,
như thế mới mong thoát khỏi tà kiến gạt gẫm ta đem đức tin, lòng
lành cống hiến vào chỗ thấp hèn hay một ông thầy mê dốt.
Người học Đạo muốn mở
mang trí huệ cần phải tìm phương pháp diệt cái vô minh (tối tăm
ngu muội).
Muốn diệt cái vô minh
trước hết phải điêu luyện khối tinh thần cho mạnh mẽ đặng tự lập
con đường rõ ràng, duy nhứt của mối Đạo mình đang học để lấy đó
làm cương mục mà bài trừ những thành kiến, cố chấp, thói quen, sự
chần chờ, lòng ham muốn, tánh kiêu ngạo, tật đố, gièm siểm, dua
nịnh, ích kỷ tư tâm, sự gây gổ, mê đắm trong bể dục tình và sự
phiền não nó làm cho náo loạn cõi lòng. Nên bài trừ được nó rồi
trí huệ tất mở mang vậy.
Người có tâm nếu
không tập suy gẫm cho mở trí thì hay dễ bị lường gạt.
Người có trí mà vô
tâm thì hay xảo trá. Nên trí và tâm của người học Đạo cần tìm cách
làm cho nó được phát triển cả hai để lấy tâm làm chủ trì mọi việc,
lấy trí phán xét mọi việc trước khi ta sắp đưa cho tâm chủ trì.
Được như thế chắc chắn ta học Đạo mau thành công đắc quả.
Đừng thấy ai theo mối
Đạo nào đông đảo rồi ta cũng vội vàng theo Đạo ấy mà lúc đó ta
chưa hiểu giáo lý ấy như thế nào.
Cũng đừng thấy người
ta thờ Phật rồi vội vã lập bàn thờ Phật, mà chưa hiểu ông Phật thế
nào và tại sao phải thờ kính Đức Phật. Nếu tu như thế, thờ Phật
như thế, thì càng tu càng thờ bao nhiêu càng tỏ ra cho thiên hạ
thấy rõ ta mê tín bấy nhiêu. Đó cũng là cái đích để cho người vô
Đạo nhắm đó mà bài bác, nhạo chê hủy báng và cũng rất uổng cho cái
công trình thành kính lễ bái của ta vậy.
Cho được tránh những
điều ấy, trước khi thờ, học Đạo nào, hay theo ông thầy nào, ta hãy
suy gẫm, phán đoán kỹ càng; chừng hiểu biết rõ ràng ta sẽ hành
theo Đạo ấy, Thầy ấy. Chẳng được như vậy, dầu mình theo Đạo rất
chánh đáng, ông Thầy rất thông minh cũng chẳng có ích chi cho mình
cả.
Sự đầu tiên của người
hành Đạo là cốt sửa những tư tưởng, tìm cách đánh đổ tư tưởng xấu
xa, đem thay vào những tư tưởng ôn hòa, đạo đức.
(trang 398 –
400, Quyển SGTVTB ấn bản năm 1998 - tái bản kỳ 8 tại Hải ngoại)
LỜI KHUYÊN BỔN
ĐẠO.-
(Tám điều răn
cấm)
Khi đã coi giảng thì
phải tự xét mình và sửa sang những thói hư tật xấu, mình lầm lỗi
thì rứt bỏ và giữ những điều răn cấm sau đây:
Điều thứ nhứt:
Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm,
phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.
Điều thứ nhì:
Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo
tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi
cho nhau trong khi nóng giận.
Điều thứ ba:
Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà
đành qưên nhơn nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu
sang, phụ người nghèo khó.
Điều thứ tư:
Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hoặc nguyền rủa,
vì Thần Thánh không can phạm đến ta.
Điều thứ năm:
Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò và không nên sát sanh hại vật
mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà
tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn
đồ cúng kiếng mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi
thì nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.
Điều thứ sáu:
Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô
lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng
không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những
người lỡ đường, đói rách, tàn tật.
Điều thứ bảy:
Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay đạo đức, ta phải suy xét cho
minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.
Điều thứ tám:
Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn
nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về
nơi cõi Tây phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại
cứu vớt chúng sanh.
Tất cả thiện nam tín
nữ trong Tôn giáo nhà Phật lúc rảnh việc nên thường coi kệ giảng
mà giữ gìn phong hóa nước nhà, giữ những tục lệ chơn chánh, bỏ tất
cả những dị đoan mê tín thái quá mà làm cho đạo đức suy đồi.
…
Đạo pháp thường hay
dung với hoà,
Xét người cho tột,
xét thân ta.
Nếu người rõ phận vui
lòng thứ,
Ta thứ được người,
người thứ ta …
(trang 178 - 179,
Quyển SGTVT ấn bản năm 1998)
lV.- HỌC PHẬT – TU
NHÂN.-
A.- HỌC PHẬT
1.-TRÁNH NHỮNG TỘI
LỖI DO TAM NGHIỆP:
(Luận về Tam Nghiệp)
Sanh ra ở đời, con
người dầu muốn hay không, cũng phải chịu sự chi phối của định luật
thiên nhiên. Định luật ấy gồm vào một chữ Đạo. Đạo của con người
kêu bằng “Đạo Nhân”, và nó là một con đường, đi trúng thì
sống, bước trật tất chết.
Muốn làm tròn Nhân
Đạo, phải giữ vẹn Tứ Ân. Nhưng trước hết hãy tránh
Tam Nghiệp và chừa Thập Ác, cũng như muốn làm giàu phải
tránh đừng thiếu nợ.
Mỗi người đều có ba
nghiệp chướng sau đây :
- Thân nghiệp:
tội lỗi do xác thịt gây nên.
- Khẩu nghiệp:
tội lỗi do miệng lưỡi gây nên.
- Ý nghiệp:
tội lỗi do ý tưởng gây nên.
Ba nghiệp chướng ấy
khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:
- Thân nghiệp
sanh 3 điều ác :
1.-
Sát sanh,
2.-
Đạo tặc,
3.-
Tà dâm.
- Khẩu nghiệp
sanh 4 điều ác:
1.-
Lưỡng thiệt,
2.-
Ỷ ngôn,
3.-
Ác khẩu,
4.-
Vọng ngữ.
- Ý nghiệp
sanh 3 điều ác:
1.-
Tham lam,
2.-
Sân nộ,
3.-
Mê si.
Sát Sanh:
Con người mới sanh ra ở
đời đều có tánh hiền lành cả. Song đến lúc lớn khôn vì phải sống
chung chạ với thế giới người hung tàn bạo ngược, tánh nết liền ô
nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn.
Loài người giết nhau vì
tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hềm, vì
háo thắng … nghĩa là họ giết nhau vì sự ích lợi của một người, của
một nhóm người, của một đẳng cấp xã hội, của một quốc gia; họ muốn
tiêu diệt tất cả nhân loại, không một ai có quyền sống sanh cùng
họ cả.
Tại trào nội, sự mà vua
coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh vua như thể địch thù đã làm
nguyên nhân cho biết bao cuộc tương tàn tương sát. Ngoài lê thứ
thì con giết mẹ cha, tớ hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết
nhau, đệ huynh xâu xé. Những cuộc tương tàn rất thường xảy ra
trong nhân loại không ngoài các lý do đã kể trên. Đó là người đối
với người.
Người đối với thú cầm,
sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì miếng ăn, vì
sự dị đoan mê tín, vì sự vui thích. Đành rằng mình không thể dứt
tuyệt việc giết các sanh vật (gà, vịt, heo …) để nuôi thân
sống, nhưng chẳng khá dựa vào lý “ vật dưỡng nhơn ” (thú
vật sanh ra đặng nuôi con người) mà giết nó một cách quá đáng.
Chỉ cần dùng nó vừa đúng theo sự nhu cầu cần thiết của các món
thực phẩm mình thôi và không nên hoang phí hy sinh nó, nếu sự hy
sinh ấy không ích lợi cho mình lắm. Nhứt là chẳng khá giết các thú
vật trong khi tế lễ. Người ta tưởng rằng khi mình phạm tội với
Thánh, Thần, Trời Đất có thể sát sanh hại vật cúng tế cầu cho tội
quả tiêu trừ. Sự tin tưởng đó rất sai lầm, huyễn hoặc, vì đứng vào
bực siêu hình cao cả như chư vị Thánh - Thần, có lý nào vì một
tình riêng làm sai chạy lẽ công. Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi
ro đau ốm, con người không chịu thuốc thang, khẩn vái Phật Trời
cầu cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế Thần cúng Thánh,
kêu cốt, kêu đồng. Họ không chịu tìm nguyên nhân các sự họa hoạn,
không chịu tìm hiểu rằng những tai biến xảy ra đều do căn tiền báo
quả hậu, và không chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền. Trong
khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ
chưa đền các tội ác trước được.
Chẳng những vậy thôi, họ
còn giết các thú vật vì sự vui thích của mình; kẻ bắn chim đang
bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước. Họ bắt thú vật
làm tấm bia cho họ nhắm trong những khi cao hứng, quên hẳn rằng
sanh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống
còn như nhân loại vậy.
Thế nên, hãy tha thứ cho
chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhứt là đối với các gia súc: trâu,
bò, ngựa, chó, mèo … chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho
ta trong các việc sanh hoạt hằng ngày. Tóm lại, không có sự sát
sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt
hãy cử hẳn.
Đạo
tặc:
Câu “Bần cùng sanh
đạo tặc” cần phải là một câu chửa mình của bọn bất lương vô
Đạo. Những kẻ này ngày vẩn vơ đầu đường xó chợ, tối khoét vách đào
tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc. Lớp người cặn
bã của xã hội này, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui,
phá rối sự an ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của,
đoạt giựt tài sản lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu
giọt mồ hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được. Họ là giống
sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong
những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo sự
khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người.
Cơ hàn đói khổ, thay vì
phải làm lụng như những kẻ khác mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi
này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng
biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân chủng. Lưới Trời tuy thưa
nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài
người phân xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành vi đen
tối, nếu họ không chịu ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói
vô nghì, lánh điều phi nghĩa.
Tà dâm:
“Muôn việc lành hiếu
thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà dâm đứng trước”. Sách sử
thường bảo như thế.
Lần dở xem sử sách, thời
thấy tội ác ấy lan diễn khắp nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ
trong gia đình đến kẻ xa người lạ; nó là mầm gây ra biết bao thảm
trạng ! Gương của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quý
Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế ? Giàu ỷ của hiếp dâm kẻ khó,
quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn. Gian phu, dâm phụ, từ xưa đến
nay luôn luôn đều có.
Muốn tránh sự bại hoại
nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế, phải
đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau giồi lòng hiếu
trung, trinh tiết.
Lưỡng thiệt:
Đứng đầu các tội ác
do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên cớ cho những
sự hiểu lầm nhau, những sự cãi vã, gây gổ sanh oán sanh thù. Sự
phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã
tạo những |