Ôn Măn Giác,
H́nh Ảnh
Con Voi Già Trong Kinh
Pháp Cú
Tâm Hà Lê Công Đa

Cố Hoà Thượng Măn Giác


1. Trong lối xưng hô của người Phật tử Việt Nam
đối với những bậc cao tăng yêu kính của ḿnh có một danh
xưng rất mực thân thương: Ôn. Nhiều khi để tỏ
ḷng tôn kính, Phật tử c̣n tránh gọi thẳng pháp hiệu của
qúy ngài mà bằng cái tên của ngôi chùa của vị đó trú tŕ.
Chẳng hạn như khi nói đến Ôn Thiên Mụ, th́ ai cũng biết
là người ta muốn nói đến Hoà Thượng Đôn Hậu, Ôn Già Lam
có nghĩa là ngài Trí Thủ, Ôn Từ Đàm th́ có nghĩa là Hoà
Thượng Thiện Siêu… Hoà Thượng Măn Giác cũng đă được
những Phật tử yêu quư ngài gọi bằng cái tên thân thương
như thế: Ôn Măn Giác.
Ôn là bậc tôn túc thứ ba trong hàng giáo phẩm của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây đă ra đi
theo tiếng gọi của lẽ vô thường. Trước đây là Ôn Thiền
Định (nguyên Tổng Vụ Trưởng Kiến Thiết), rồi đến Ôn
Huyền Vi (nguyên Tổng Vụ Trưởng Hoằng Pháp) và bây giờ
là Ôn Măn Giác (nguyên Tổng Vụ Trưởng Văn Hoá). Là một
bậc long tượng trong hàng ngũ tăng già, sự ra đi lần này
của Ôn Măn Giác đă để lại một dấu ấn sâu đậm và nỗi tiếc
thương trong hàng ngũ Phật tử ở khắp nơi, một mất mát
không ǵ bù đắp nỗi. Tổ quốc Việt Nam từ nay mất đi một
người con thủy chung với đất nước. Phật Giáo Việt Nam
đă mất đi không những một tăng tài mà c̣n là một nhà thơ,
nhà giáo dục, nhà văn hoá tài ba.
Là một nhân vật nổi tiếng, và là một người luôn nặng
ḷng với quê hương dân tộc, tất nhiên Ôn Măn Giác cũng
không thể nào tránh khỏi những ganh ghét, đố kỵ của thế
nhân, và là đích nhắm của những thế lực vô minh, phi dân
tộc. Ôn đă từng bị mạ lỵ, bị chụp mũ, bị biểu t́nh, với
đủ thứ tội, tuy nhiên trong cung cách của một Thiền sư,
lần nào Ôn cũng đă hoá giải những chống đối một cách
thật nhẹ nhàng. Một lần, vào đầu thập niên 1980, khi chủ
tŕ Đại Hội Hoằng Pháp tổ chức lần đầu tiên tại thành
phố Seattle, một nhóm biểu đă t́nh tụ tập ở ngoài đường
không ngừng la ó với những ngôn từ khiếm nhă. Họ tố cáo
Ôn là người chủ trương “không chào cờ Quốc Gia”. Phật tử
ở địa phương th́ không xa lạ ǵ với những kẻ biểu t́nh,
biết rơ ai đứng đằng sau họ và với mục đích ǵ, thế nên
đă khuyên Ôn không cần phải quan tâm đến nhóm người này.
Tuy nhiên Ôn vẫn bước ra đường nói chuyện với họ. Bằng
ngôn ngữ khiêm cung nhă nhặn của một tăng sĩ và sau một
“thời pháp” bất đắc dĩ, Ôn đă kết thúc cuộc nói chuyện
bằng một lời mời, đại ư, “Quư vị tố cáo rằng Thầy không
chào cờ Quốc Gia, th́ bây giờ có sẵn cờ Quốc Gia đây,
mời qúy vị đứng vào với Thầy chụp chung một bức h́nh kỷ
niệm.” Lúng túng trước đề nghị bất ngờ này, nhóm biểu
t́nh không biết làm ǵ khác hơn là líu ríu đứng vào
chung quanh Ôn. Những khuôn mặt mới đằng đằng sát khí
trước đây bây giờ đang cố nặn ra những nụ cười thật tươi,
thật “ăn ảnh”. Và sau đó th́ nhóm biểu t́nh cuốn cờ dẹp
trống kéo đi, trả lại cái không khí yên tĩnh cho Đại Hội
Hoằng Pháp.
Một lần khác, một chiến dịch được tung ra có tính cách
quy mô bài bản hơn, tố cáo Ôn là đă viết bài nhiệt thành
ca tụng Cộng Sản. Họ trưng ra tất cả những bằng chứng
với thủ bút và chữ kư của Ôn. Th́ ra nội dung của cái
bài viết được mô tả là “ca tụng cộng sản” này không ǵ
khác hơn là bài “thu hoạch” của Ôn sau khi dự khoá “bồi
dưỡng chính trị” của toàn bộ giáo chức miền Nam sau ngày
30-4-75. Như mọi người đều biết, khi miền Nam thay ngôi
đổi chủ, tất cả giáo chức miền Nam từ cấp Tiểu học đến
Đại học-ngoại trừ thành phần sĩ quan biệt phái- đều phải
đi tham dự một khoá học tập chính trị ngắn ngày, và cuối
khoá học, mỗi người đều phải viết một bài “thu hoạch” để
tổng kết nhận thức về những bài chính trị mà ḿnh đă học.
Ôn nguyên là giáo sư của cả hai Trường Đại học Văn Khoa
và Vạn Hạnh th́ cũng phải đi “học tập” chung với mọi
người và hành xử như mọi người thôi. Khi khoá học kết
thúc, ở vào cái thời điểm mà không một ai biết rơ được
“hàng thần lơ láo phận ḿnh ra sao”, để được yên thân,
để khỏi bị những rắc rối phiền hà về sau, hầu như tất cả
các thầy cô giáo đều viết những bài “thu hoạch” bọc xuôi
theo những bài chính trị đă được giảng dạy. Bài “thu
hoạch chính trị” của Ôn cũng được viết ra cùng một thứ
ngôn ngữ như thế. Trước luồng sóng chống đối đang dậy
lên một cách ồn ào này, Ôn chỉ b́nh thản mĩm cười nêu
lên một câu hỏi rất nhẹ nhàng với những người đánh phá:
“Làm sao mà qúy vị có được bài ‘thu hoạch chính trị’ này?”
Có lẽ không cần phải giải thích dài ḍng ở đây, mọi
người hẵn cũng đă biết ai là người có quyền lưu trữ
những bài thu hoạch chính trị này và bây giờ được mang
ra với dụng ư ǵ. Câu hỏi của Ôn như là một cơn mưa dập
tắt ngay một đám cháy rừng âm ỉ.
Ở trên chỉ là một vài thí dụ nhỏ trong trăm ngàn thí dụ
khác mà Ôn đă ứng xử với đời trong mấy chục năm qua.
Trong cái cơi trần gian đầy hệ lụy này, giữa những mưu
đồ và thế lực yêu ma đang cḥng chéo lẫn nhau thao túng
sân chơi hải ngoại thiếu vắng trọng tài, Ôn đă đón nhận
tất cả những ḥn tên mũi đạn đến từ mọi phía -ngoại thù
lẫn nội thù - tất cả đều được núp dưới những nhân danh
cao đẹp, những vỏ bọc hoa mỹ. Nói ngoại thù, nội thù là
nói theo cái tâm thế gian c̣n sân si của chúng ta, c̣n
Ôn là Trưởng Tử của Như Lai, Ôn đă vượt ra khỏi thế gian,
vượt ra khỏi những hận thù vây bủa nên đă đón nhận chúng
một cách thản nhiên, như h́nh ảnh con voi già xung trận
mà Đức Thế Tôn đă mô tả trong bài kinh Pháp Cú:
Ta như voi giữa trận
hứng chịu cung tên rơi
chịu đựng mọi phỉ báng
ác giới rất nhiều người.
(Kinh Pháp Cú.320. HT Minh Châu dịch)
2. Là một người nhiệt tâm với đạo pháp, ngay khi
mới đặt chân đến đất Hoa Kỳ, Ôn đă bắt tay ngay vào công
việc hoằng pháp lợi sanh. Đại Hội Hoằng Pháp lần đầu
tiên tại Seatle đă thổi bùng lên một luồng sinh khí mới
cho những hoạt động Phật sự của người Việt xa quê mà
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ do Ôn làm Hội Chủ
là một nhân tố tích cực. Năm 1992 -nếu tôi nhớ không lầm-
Đại Hội VI của Tổng Hội được tổ chức tại thành phố
Olympia, thủ phủ của Tiểu Bang Washington dưới sự chủ
tŕ của Ôn và Hoà Thượng Hộ Giác, lúc đó là Chủ Tịch Ủy
Ban Đại Diện của Tổng Hội. Đây là một Đại Hội rất mực
hoành tráng mà Lễ Bế Mạc được tổ chức ngay tại Đại Sảnh
Đường của toà nhà Tiểu Bang, với sự tham dự của một số
lớn giới chức lập pháp, hành pháp tại địa phương.
Trong Đại Hội này đă xảy ra một biến cố quan trọng, khi
một đệ tử của Ôn Thiên Mụ, Đại Đức Hạnh Tuấn, công bố
bức Thông Điệp kêu gọi Phật giáo đồ hải ngoại đoàn kết
lại để đóng góp vào công việc phụng sự Đạo Pháp và Dân
Tộc một cách thiết thực. Cả Đại Hội đă không ai cầm được
nước mắt trước lời kêu gọi thống thiết này của Ôn Đôn
Hậu, Rất nhiều người đă bật khóc và người khóc nhiều
nhất, khóc với tất cả nỗi trầm thống bi thương tận đáy
ḷng không ai khác hơn là Ôn Măn Giác. Phải chăng tâm
hồn nhạy cảm của một nhà thơ thường dễ dàng rung động
trước nỗi đau nhân thế nên Ôn là người rất dễ khóc? Cái
tính dễ khóc này cũng là một đề tài cho nhiều người chỉ
trích -kể cả những người tự xưng ḿnh là Phật tử. Họ lên
tiếng dè bỉu Ôn: “Đă tu đến ngôi vị Hoà Thượng, sao lại
c̣n để cho thất t́nh lục dục chi phối, hở ra một tí là
khóc!” Đối với những vị “Phật tử” khó tính này chắc rồi
ra trên thế gian sẽ không c̣n ai “Thấy vui muốn cười là
cười, thấy buồn muốn khóc là khóc…” nữa. Họ ngăn cấm cả
những gịng nước mắt chảy ra cho đời, cho đạo. Chắc họ
quên mất rằng một vị Hoà Thượng cũng là con người. Họ
cũng quên mất hay là đă không biết rằng đâu có phải chỉ
có Hoà Thượng mà ngay cả những bậc đă đắc quả A la hán,
đă tận diệt mọi phiền năo thế gian cũng vẫn c̣n khóc như
thường. Cái ngày mà Đức Phật nhập diệt đó, bao nhiêu vị
A la hán đă khóc than thảm thiết. Những cái khóc rất
người. Thế nên đối với tôi một vị Hoà Thượng c̣n nước
mắt vẫn đáng yêu hơn là một người không c̣n nước mắt.
Không nước mắt th́ là gỗ đá vô tri rồi c̣n ǵ. Tu để mà
trở thành gỗ đá vô tri th́ tu để làm ǵ? Làm sao mà c̣n
chia xẻ được những nỗi khổ đau của nhân thế?
Trở lại với Đại Hội VI của Tổng Hội, bức Thông Điệp của
Ôn Đôn Hậu đă đánh dấu một biến cố rất có ư nghĩa đối
với đa số Phật giáo đồ Việt Nam hải ngoại. Trong tinh
thần “y giáo phụng hành,” Đại Hội này đă có đề cập đến
việc h́nh thành một Uỷ Ban Vận Động để tiến đến công
cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên,
Thông điệp của Ôn Thiên Mụ cũng đồng thời đă được sự
hưởng ứng của những tổ chức Phật giáo đang hành hoạt tại
Hoa Kỳ và sau đó một Uỷ Ban Vận Động khác đă được h́nh
thành, từ đây khai sinh ra Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ. Một số cộng sự viên của
Ôn trong Tổng Hội đă bước lên chiếc thuyền mới, c̣n Ôn,
người thuyền trưởng, v́ cơ duyên chưa đủ, vẫn c̣n ở lại
với chiếc thuyền cũ của ḿnh. Nhưng thuyền nào th́ cũng
là thuyền Bát Nhă thôi.
Chính từ Đại Hội này mà tôi đă có dịp sinh hoạt gần gũi
hơn với Ôn Măn Giác. Thế nên từ chỗ quen biết thân t́nh
đó mà sau này nhân dịp tổ chức ngày thất tuần cho Bác sĩ
Nguyễn Duy Tài, nguyên Chủ Tịch Tổng Hội Phật Tử Việt
Nam, chúng tôi đă thỉnh mời Ôn đến làm chủ lễ và biết
chắc một điều là Ôn sẽ hoan hỉ nhận lời. Lúc này th́ Ôn
đă yếu lắm rồi, đi đâu cũng phải có hai thị giả theo
nâng đỡ ở hai bên. Trong cái nắng gió của mùa hè Cali,
trong cái chuyển động chóng mặt của thành phố bị ách tắc
giao thông vào bậc nhất Hoa Kỳ này, Ôn vẫn cố gắng để
đến rất đúng giờ. Sự có mặt của Ôn, những lời lẽ chí
t́nh của Ôn phát biểu trong buổi lễ là một an ủi rất lớn
cho Ban Tổ Chức cũng như gia quyến và những thân nhân,
bằng hữu của cố Bác Sĩ Nguyễn Duy Tài, một người cư sĩ
đă tận tụy cống hiến cả cuộc đời ḿnh cho Dân Tộc và Đạo
Pháp. Ôn là người luôn luôn cư xử có t́nh, có nghĩa, có
thủy, có chung như thế. Là người mang nặng tinh thần và
lối xử thế của đạo học Đông Phương, Ôn rất trân trọng
t́nh nghĩa. Ôn biết rất rơ rằng, Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất –trong đó Ôn là một thành viên của Hội
Đồng Giáo Phẩm Trung Ương- được xây dựng lên là thành
quả của hằng hàng lớp lớp Tăng Ni, Phật tử. Trong những
đóng góp mồ hôi nước mắt và máu xương đó, có cả máu
xương của những người cư sĩ. Lịch sử của đạo hay đời ǵ
cũng thế. Nhất tướng công thành vạn cốt khô. Ôn đă không
để cho Bác sĩ Nguyễn Duy Tài ra đi trong tẻ lạnh.
Là người trân trọng t́nh nghĩa như thế, Ôn cũng đă không
để cho Đại Tướng Dương Văn Minh ra đi trong tẻ lạnh khi
đứng ra nhận lời làm chủ lễ cho tang lễ của Đại Tướng.
Có rất nhiều người tự nhận ḿnh là Phật tử nhưng lại
không dám thẳng thắn bày tỏ ḷng thiện cảm của ḿnh đối
với một người đă từng dang tay cứu vớt Phật Giáo Việt
Nam ra khỏi cơn nước lửa. Có thể họ không phải là những
kẻ vong ân bội nghĩa nhưng đă không đủ can đảm để đón
nhận những mũi tên độc đến từ những miệng lưỡi thị phi.
Thân Cộng. Đầu hàng cộng sản. Hay như mới đây, “Con rối
của Mỹ và Cộng Sản”. Đại loại như thế. Lịch sử đă phơi
bày ra rơ ràng trước mắt mà vẫn c̣n có những âm mưu đổi
trắng thay đen. Mỹ bỏ miền Nam rồi. Ông Thiệu bỏ chạy
rồi. Ông Minh c̣n làm được ǵ trước một vận nước đến hồi
tang thương như thế? Nói ông Minh là con rối của Mỹ th́
hoá ra tất cả những nhà lănh đạo miền Nam đều là con rối
của Mỹ? Như vậy tại sao lại c̣n có những kẻ cam tâm đi
làm con rối cho những con rối? Nói ông Minh là “con rối
của cộng sản” th́ có phải ông Hương -người thân cận bậc
nhất của ông Thiệu- trong cái ngày mưa buồn cuối tháng
Tư đó, cũng đă nhỏ lệ để thỉnh cầu “Đại Tướng đứng ra
cứu nước”? Như vậy hoá ra những nhà lănh đạo miền Nam
đều là những “con rối của cộng sản”? Chẳng qua là:
Gíó đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
Nhưng có một người t́nh nguyện đứng ra để chia xẻ những
lời đắng cay đó là Ôn Măn Giác. Đă là con voi già xung
trận th́ Ôn c̣n sá ǵ những miệng lằn lưỡi mối của thế
gian! Thế nên, sự ra đi của Ôn là một mất mát không thể
đền bù. Từ đây hàng ngũ Phật tử Việt Nam đă mất đi một
con “voi già”, một nhân cách sáng ngời rực rỡ.
3. Mỗi lần có dịp về Cali hầu như tôi đều tự dặn
ḷng là phải ghé thăm Ôn. Nếu không dặn ḿnh như thế th́
giữa sự lôi kéo của bằng hữu, giữa bề bộn của công việc
không khéo có khi lại quên mất. Thế nên lần nào cũng vậy,
hễ đến Cali việc làm trước tiên của tôi là điện thoại
đến chùa để lấy hẹn thăm Ôn. Được Ôn xem là “người nhà”,
lần nào cũng thế, lời hẹn thường được mở đầu bằng một
câu vỏn vẹn: “Trưa nay tụi con xin phép được đến thăm Ôn”.
Hẹn theo kiểu này có nghĩa là khách muốn ṿi vĩnh được
ăn trưa cùng Ôn. Dĩ nhiên là Ôn hiểu điều này và lần nào
cũng sửa soạn chu đáo một bửa cơm chay “thịnh soạn” để
chờ khách. Qua đó buổi hàn huyên giữa thầy tṛ thường
được kéo dài trong suốt bửa ăn, rồi qua trà đàm và có
thể kéo dài thêm vài giờ sau đó nếu Ôn không bận rộn
chuyện Phật sự.
Nếu người Việt thường nói, “Miếng trầu là đầu câu chuyện”,
th́ đối với Ôn, buổi cơm chay đạo vị có lẽ là một nhập
đề tốt nhất cho bao nhiêu câu chuyện đạo, đời tiếp nối
theo sau. Trong cái không khí thân t́nh của bửa ăn, con
người rất dễ trăi ḷng ra với nhau. Đây có lẽ cũng là
một trong những nét đặc biệt trong cung cách đối xử của
Ôn với tha nhân, phảng phất phong thái của một thiền sư,
một nhà thơ và một nhà văn hoá. Th́ ẩm thực cũng là một
khía cạnh của văn hoá chứ c̣n ǵ nữa. Tính chất văn hoá
đó cũng đă được thể hiện trong mâm cơm chay đặc sệt Huế
mà Ôn đải khách. Tôi đă được đọc một bài viết của một
tác giả nào đó nói về những nàng dâu xứ Huế thuộc những
gia đ́nh quyền quư trước đây, trong đó có đề cập đến
cách thức họ nấu cổ, sắp xếp cổ bàn trong những ngày giổ,
Tết. Tất cả mọi chi tiết đều được kể ra rất chi li, ngay
cả việc món ăn phải được múc vào ngay ở trong ḷng dĩa
không được dây một chút ra ngoài. Bửa cơm chay mà Ôn đải
khách cũng mang một phong vị như thế. Có một cái ǵ đó
rất Huế trong cách nấu nướng và bày biện các món ăn. Nói
rằng Ôn đải khách bằng một bửa cơm chay thịnh soạn là
không ngoa chút nào. Có đến hàng chục món ăn khác nhau,
mỗi thứ một ít sắp xếp xinh xắn gọn ghẽ trên bàn. Ăn
xong là cứ muốn ăn nữa. Và lần sau lại cứ muốn đến thăm
Ôn.
Trong những lần được ăn cơm với Ôn như thế, khách được
nghe Ôn kể đủ tất cả những mẫu chuyện đạo đời. Từ những
giai thoại trong chốn Thiền môn, đến cả những chuyện về
thế thái nhân t́nh –khi Ôn thấy đủ thân t́nh. Nhưng Ôn
không hề hàm chứa trách móc, chê bai một ai. Qua Ôn tôi
mới biết là Mật Tông cũng đă có mặt ở miền Trung rất lâu
đời với những nhà sư pháp thuật cao cường, có người đă
mang cả một ngôi chùa từ bờ sông bên này sang bờ sông
bên kia, cứ như là chuyện thần thoại. Trong những lần
nói chuyện như thế, Ôn cũng đă nhắc đến tên hai người
với tất cả ḷng cảm mến, đó là thầy Nhật Từ và Lư Khôi
Việt. Nghĩ rằng tôi không quen biết với Việt, Ôn c̣n
giải thích thêm ư nghĩa của bút hiệu Lư Khôi Việt là ǵ…
Thế nhưng bây giờ Ôn đă ra đi, có nghĩa là từ nay mỗi
lần về Cali tôi sẽ không c̣n dịp nào để được hầu chuyện
với Ôn nữa.
Ôn đă ra đi, nhưng Ôn vẫn c̣n đó, trong ḷng người Phật
tử Việt Nam. Mặc cho những tang thương dâu biển, những
lớp sóng phế hưng, bóng dáng của Ôn, nhà thơ Huyền Không,
vẫn măi tồn tại trong anh, trong chị, trong chúng ta với
hai câu thơ bất hủ:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của tổ tiên”
(Thơ Huyền Không. Chùa Xưa. 1949)
Thơ của Ôn phảng phất mối t́nh son sắt với quê hương dân
tộc, với mái tranh nghèo, với mái chùa xưa. Cho đến cuối
đời, tôi biết là Ôn vẫn luôn nặng ḷng với đất tổ quê
cha. Quê hương miền Trung khốn cùng, đói nghèo đó làm
sao mà Ôn lại không thương cho được. Nhưng cái vùng đất
nắng lửa mưa dầu này cũng đă sản xuất ra không biết bao
nhiêu tăng tài cho Phật Giáo Việt Nam. Từng ngày qua,
tôi biết Ôn vẫn để cho hồn ḿnh dơi theo những đám mây
Hàng, và cho đến hôm nay th́ có lẽ Ôn đă biến thành một
vầng mây trắng, bay thong dong trở lại quê nhà, nhập vào
những vầng mây thanh thản trên bầu trời quê hương, của
hàng ngàn năm trước, và của hàng ngàn năm sau. Đó là
những ǵ mà Ôn đă để lại cho chúng ta, cho cơi đời trầm
luân tràn ngập oán thù này. Một bài học của yêu thương,
không thù hận:
Vui thay, chúng ta sống
Không hận giữa hận thù
giữa những người thù hận
ta sống không hận thù!
(Kinh Pháp Cú.197. HT Minh Châu dịch)
Chân thành kính bái giác linh Ôn.
Tâm Hà Lê Công Đa