|
LỜI NÓI ĐẦU
-- ***
--
Ngày kia, Đức Phật chỉ
trăng, nói với các đệ tử: "Kia là mặt trăng; ngó theo ngón
tay ta thì thấy. Nhưng, các con nên nhớ ngón tay ta không phải là
trăng. Những lời ta giảng về Đạo cũng như vậy, hãy tìm Đạo trong
lời giảng, đừng nghĩ rằng những lời giảng là Đạo ".
Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng
đã viết:
" Nhìn Phật Giáo
mà tìm cái lý
Coi tại sao ta
phải tu hành
".
Sấm
là những lời tiên tri, dĩ nhiên không thể nói trắng ra, bởi “Thiên
cơ bất khả lậu”, còn Giảng, nhiều trường hợp người đọc nên
hiểu nghĩa bóng hay ẩn dụ, vì thời bấy giờ Việt Nam còn bị thực
dân Pháp cai trị.
Lòng từ ái của Đức Thầy
trải dài theo những cuộc hành trình khắp nẻo đường đất nước, khi
bằng thực thể, khi dụng tâm linh, được thể hiện trung thực trong
quyển Sấm Giảng này những nét chấm phá vô cùng sinh động về thực
trạng xã hội thời bấy giờ : kẻ thống trị lo vơ vét, bóc lột; lớp
người cộng tác với thực dân Pháp có địa vị thì tiếp tay với chủ đè
đầu bóp cổ dân đen; kẻ giàu có chỉ biết sống với lòng vị kỷ; hàng
ngũ tăng ni thay vì làm nhiệm vụ hướng dẫn tinh thần thì đa số tha
hoá biến cửa già lam thành nơi buôn thần bán thánh; một lớp người
không ít, dối thế gạt đời vẽ bùa đọc chú, thượng xác cởi đồng, thờ
cúng quỉ ma, sái đậu thành binh, phóng dao bay tung kiếm lượn …
làm cho giáo lý của Đức Thế Tôn bị đánh giá sai lạc,
khiến đại chúng xa rời
Phật giáo; còn tuyệt đại đa số dân nghèo thường xuyên bị bóc lột
trong xã hội thì mù chữ hoặc ít học, thiếu hiểu biết, họ sống
không có ngày mai, chẳng giữ gìn giềng mối kỷ cương, không kể gì
đạo lý nghĩa nhơn, buông lỏng cho lòng tham đánh mất tình người …
Lòng thiết tha cứu vớt
người đời và cảnh giác thế nhơn, suốt hành trình giảng dạy Đạo lý,
Đức Thầy không ngớt báo trước những thảm cảnh chết chóc vì chiến
họa, nhà tan cửa nát, tử biệt sanh ly, đời sống ngày càng thêm
nhiều khó khăn do lòng dạ độc ác và tánh tham không giới hạn của
con người ...
Tinh thần vị tha từ ái
của Đức Thầy bàng bạc trải dài 912 câu, nấu nung một hoài bảo xây
dựng lại xã hội Việt Nam đang trên đà băng hoại, đánh thức lương
tri con người, hướng dẫn họ trở về nguồn gốc đạo lý dân tộc, nhắc
nhở họ làm lành lánh dữ, sửa tánh răn lòng đi vào chánh Đạo để
cùng nhau chấn hưng Phật pháp.
Muốn được góp chút công
trong việc làm sáng tỏ lý tưởng cao đẹp đó của Đức Thầy, sau những
trăn trở, chúng tôi cố gắng luận giải quyển Sám Giảng "KHUYÊN
NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM"
theo cách suy nghĩ và sự hiểu biết có giới hạn của mình, kính mong
được quý đồng Đạo, các bực cao minh vui lòng chỉ dẫn những sai lầm
và bổ khuyết phần thiếu sót, chúng tôi vô cùng cảm
kích.
Pháp quốc, ngày
1/7//2006 – 6 tháng 6 nhuận Bính Tuất.
Hồ Minh Châu.
ÍT DÒNG VỀ LUẬN GIẢ
-- *** --
Ông Hồ Minh Châu sinh
năm 1927, tại Quận Châu Thành Rạch Giá, Kiên Giang ngày nay, ông
là con một trong gia đình kỳ cựu của PGHH. Thân sinh Ông, cụ Hồ
văn Sang, tức cư sĩ Hiền Đức, là một trong những vị trưởng lão tín
đồ PGHH cùng Tướng Nguyễn Giác Ngộ trùng tu ngôi Tây An Cổ Tự ở xã
Long Kiến Chợ Mới An Giang. Cụ Hiền Đức trách nhiệm phần vụ tiếp
khách từ ngày ngôi Tây An Cổ Tự mới khởi công sửa chửa đến ngày cụ
lìa đời vào thượng tuần tháng 3/1978, sau nhiều tháng ngày bị cộng
sản giam cầm tra tấn.
Ông Hồ Minh Châu hoạt
động trong hàng ngũ của PGHH ngay những ngày đầu Nam Bộ kháng
chiến, từ Quận bộ Châu Thành PGHH rồi Tỉnh Bộ Dân Xã Đảng Rạch Giá.
Năm 1948, ông trở thành chiến sĩ thuộc Bộ Tham Mưu lực lượng
NGUYỄN TRUNG TRỰC, kháng chiến chống thực dân, chống độc tài cộng
sản đến năm 1950, lực lượng NGUYỄN TRUNG TRỰC được Quốc Trưởng Bảo
Đại chánh qui hoá thành một bộ phận quân sự của Quân Đội Quốc Gia
Việt Nam. Ông tốt nghiệp khoá 6, Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt,
năm 1952, tiền thân của Trường Võ Bị Quốc Gia Viêt Nam ; năm 1955,
ông tốt nghiệp khoá 5 Sĩ Quan Tham Mưu, Trường Đại học quân sự
thuộc Bộ Quốc Phòng QLVNCH.
Sau Hiệp định Genève
1954, ông Hồ Minh Châu giải ngũ, hành nghề tự do, sống với ngòi
bút, vừa viết chuyện ngắn cho các báo vừa là soạn giả, sáng tác
trên 20 ca kịch phẩm và trách nhiệm kỹ thuật cho nhiều đoàn ca vũ
nhạc kịch cải lương Saigon dưới bút hiệu Tây Giang Tử. Ông được
lịnh tái ngũ đầu năm 1962, về làm việc ở Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu
QLVNCH, rồi Tiểu Khu Kiên Giang, đơn vị sau cùng là Tiểu Khu Sa
Đéc.
Sau ngày 30 tháng 4
năm 1975, không tuân phục cộng sản, ông kéo quân vào Thất sơn tiếp
tục chiến đấu; đến năm 1983 vượt biên với gia đình định cư vùng
ngoại ô Paris. Khi cuộc sống tạm ổn, ông cùng cộng đồng người Việt
ở Pháp tiếp tục tranh đấu cho Tự Do Nhân Quyền Việt Nam và đại
diện chánh thức Giáo Hội PGHH Hải Ngoại tại Âu Châu. Từ năm 1992,
ông là thành viên của Phái đoàn Việt Nam Tự Do Tín Ngưỡng kiêm
Trưởng Phái Đoàn Tù Nhân Chánh Trị, qua sự bảo trợ của Pax Romana,
bên cạnh Giáo Sư Lương Thị Nga, một tín đồ Công Giáo thuần thành
đặc trách Á Châu Sự Vụ của Pax Romana, Chủ tịch Ban Bảo Trợ Phế
Binh VNCH, kiêm Trưởng Phái Đoàn Nhơn Quyền Phụ Nữ Việt Nam cùng
Luật Sư Phạm Thanh Dân, luật sư Toà Thượng Thẩm Paris, Giảng sư
Đại học Sorbonne, Cố vấn Chánh trị và Quốc tế pháp, tranh đấu cho
Nhơn Quyền - Tự Do Dân Chủ, Tự Do Tín Ngưỡng trước Diễn Đàn Liên
Hiệp Quốc ở Genève liên tục đến cuối năm 1999.
Tưởng cũng nên nhắc,
hai Phái đoàn này đóng góp rất nhiều trong việc LHQ hai lượt cử
báo cáo viên qua Việt Nam điều tra về vi phạm Nhơn Quyền trong
lãnh vực Tôn Giáo và Tù Nhơn Chánh Trị, cũng như kêu gọi LHQ thành
lập Toà Án Hình Sự Quốc Tế.
Ông Hồ Minh Châu đã dành
nhiều thì giờ luận giải 5 quyển Sấm Giảng của Đức Thầy, mà trước
mắt quý vị, Quyển thứ nhứt "KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM" 912 câu, Đức
Thầy viết khoảng đầu năm 1939, ở làng Hoà Hảo.
Với tư cách chiến hữu
của ông, cùng nhau trải qua những thăng trầm theo vận nước và nỗi
thạnh suy của đoàn thể PGHH hơn nửa thế kỷ qua, chúng tôi không đi
vào nội dung chi tiết, chỉ phác họa đôi nét về luận giả, vì tôi
nghĩ rằng công trình đóng góp này của ông Hồ Minh Châu xứng đáng
được xem là một thiện chí phục vụ đoàn thể PHẬT GIÁO HÒA HẢO, nên
trân trọng giới thiệu với đồng Đạo.
Ngày 1 tháng 7 năm 2006.
Tu sĩ Thái Hoà,
Nguyên Hội trưởng Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội
PHẬT GIÁO HÒA HẢO Hải Ngoại,
Trưởng Phái đoàn VIỆT NAM TỰ DO TÍN NGƯỠNG,
Hội Trưởng Danh Dự Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo
Hội PGHH Hải Ngoại.
SẤM
GIẢNG
"KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM"
Quyển1.
(Số ghi ở đầu câu là thứ
tự của phần Chú giải.)
-- *** --
1.- Hạ nguơn nay đã hết
đời,
Phong ba biến
chuyển đổi dời gia cang.
2.- Năm Mèo Kỹ Mão rõ ràng,
Khắp trong
trần hạ nhộn nhàng xiết chi.
3.- Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
Bá gia khổ
não vậy thì từ đây.
4.- Cơ trời thế cuộc đổi
xây,
Điên mới
theo Thầy xuống chốn phàm gian.
5.- Thấy đời ly loạn bất
an,
Khắp trong
các nước nhộn nhàng đao binh.
6.- Kẻ thời phụ nghĩa bố kình,
Nguời thời
trung hiếu chẳng gìn vẹn hai.
7.- Nên Điên khuyên nhủ bằng nay,
Xin trong
lê thứ ngày rày tỉnh tâm.
8.- Cơ thâm thì họa diệc
thâm,
Nào trong
sách sử có lầm ở đâu.
9.- Người khôn nghe nói càng rầu,
Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
10.- Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
Khắp trong bá tánh hiểm nghèo đáng thương.
11.- Điên này vưng lịnh Minh
Vương,
Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
12.- Thấy trong bá tánh phàm
trần,
Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.
13.- Mặc ai bàn tán gần
xa,
Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Kẻ xa thì mến đức ân,
Làm cho người gần ganh ghét khinh khi.
14.- Nam mô, mô Phật từ
bi,
Miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian.
15.- Khắp trong bá tánh trần
hoàn,
Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên.
16.- Điên này xưa cũng như
ai,
Vào các ra đài tột bực giàu sang.
17.- Nghĩ suy danh lợi chẳng
màng,
Bèn lên ẩn dật lâm san tu trì.
18.- Nhờ Trời may mắn một khi,
Thẩn thơ lại gặp Đức Thầy Bửu Sơn.
19.- Cúi đầu Điên tỏ nguồn cơn,
Động lòng bác ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,
Nội trong sáu khắc biết liền Thiên cơ.
20.- Chuyện này thôi nói sơ sơ,
Để
rộng thì giờ nói chuyện chơn tu.
Dương
trần kẻ trí người ngu,
Ham
võng ham dù danh lợi xuê xang.
21.- Cờ đà đến nước bất an,
Chẳng
lo tu niệm tham gian làm gì.
Phật,
Trời thương kẻ nhu mì,
Trọng
cha, yêu Chúa kính vì tổ tông.
22.- Ngồi buồn nói chuyện bông lông,
Khắp
trong trần hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng
nào mới đặng thảnh thơi,
Dậu
Phật ra đời thế giới bình yên.
23.- Điên này Điên của Thần Tiên,
Ở
trên Non Núi xuống miền Lục Châu.
Đời
còn chẳng có bao lâu,
Rán
lo tu niệm đặng chầu Phật Tiên.
24.- Thế gian ít kẻ làm hiền,
Nhiều
người tàn bạo làm phiền Hoá Công.
Thế
gian chuyện có nói không,
Đến
hội Mây Rồng thân chẳng toàn thây.
25.- Việc đời đến lúc cấn gay,
Mà
cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương
trần tội ác liên miên,
Sau
xuống huỳnh tuyền Địa ngục khó ra.
26.- Điên này nói việc gần xa,
Đặng
cho lê thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm
phù,
Khỏi
sa Địa ngục ngao du Thiên đài.
27.- Đường đời chẳng có bao dai,
Nên
viết một bài cho bá tánh coi.
Tuồng
đời như pháo châm ngòi,
Bá
gia yên lặng mà coi Khùng này.
28.- Khùng thời ba Tớ một Thầy,
Giảng
dạy dẫy đầy rõ việc Thiên cơ.
Điên
đây còn dại còn khờ,
Yên
lặng như tờ coi chúng làm sao.
29.- Bá gia kẻ thấp người cao,
Chừng
thấy máu đào chúng mới chịu tu.
Bây
giờ giả dại giả ngu,
Cũng
như Nhơn Quiù ở tù ngày xưa.
30.- Lúc này kẻ ghét người ưa,
Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.
Dương
trần biếm nhẻ gần xa,
Nói
quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
31.- Ngồi buồn nhớ chuyện xa xăm,
Dạo
trong Bảy Núi cười thầm sư mang.
32.- Nói rằng lòng chẳng ham
sang,
Sao
còn ham của thế gian làm gì ?
Việc
này thôi quá lạ kỳ,
Cũng
trong Phật giáo sao thì chê khen.
33.- Lúc này tâm trí rối beng,
Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá gia.
Hết
gần rồi lại tới xa,
Dân
sự nhà nhà bàn tán cười chơi.
34.- Chuyện này cũng lắm tuyệt vời,
Giả
như Hàn Tín đợi thời lòn trôn.
Đến
sau danh nổi như cồn,
Làm
cho Hạng Võ mất hồn mấy khi.
35.- Chuyện xưa thanh sử còn ghi,
Khen
anh Hàn Tín vậy thì mưu cao.
36.- Chuyện đời phải có trước sau,
Điên
Khùng khờ dại mà cao tu hành.
37.- Bá gia phải rán làm lành,
Niệm
Phật cho rành đặng thấy Thần Tiên.
38.- Thương đời trong dạ chẳng yên,
Khắp
trong lê thứ thảm phiền từ đây.
Ngày
nay thế cuộc đổi xây,
Rán
lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
39.- Mảng theo danh lợi ốm o,
Sẵn
của hét hò đứa ở ngưởi ăn.
40.- Đừng khi nhà lá một căn,
Mà
biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
Giàu
sang như nước trên nguồn,
Gặp
cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
41.- Cửu Huyền Thất Tổ chẳng thờ,
Để
thờ những Đạo ngọn cờ trắng phau.
42.- Dương trần bụng dạ nhiều màu,
Thấy
cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
43.- Lời xưa người cổ còn ghi,
Những
việc lạ kỳ nay có hay chưa ?
Chưa
là với kẻ chẳng ưa,
Chớ
người tâm đạo biết thừa tới đâu.
44.- Bá gia mau kíp lo âu,
Để
sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
45.- Việc đời nói riết thêm nhây,
Nếu
muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
46.- Mèo kêu bá tánh lao xao,
Đến
chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
Con
ngựa lại đá con dê,
Khắp
trong trần hạ nhiều bề gian lao.
47.- Khỉ kia cũng bị xáo
xào,
Canh
khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
48.- Nói ra nước mắt rưng rưng,
Điên
biểu dân đừng làm dữ làm hung.
49.- Việc đời nói chẳng có cùng,
Đến
sau mới biết đây dùng kế hay.
50.- Bây giờ mắc việc tà tây,
Nên
mới làm vầy cho khỏi ngại nghi.
51.- Thiên cơ số mạng biết tri,
Mà
sao chẳng chịu chạy đi cho rồi ?
52.- Những người giả đạo bồi
hồi,
Còn
chi linh thính mà ngồi mà nghe.
Việc
đời như nước trong khe,
Nó
tưởng đặt vè nói biếm người hung.
53.- Điên này nối chí theo Khùng,
Như
thể dây dùn đặng cứu bá gia.
54.- Sau này kẻ khóc người la,
Vài
ba năm nữa biết mà tà tinh.
Điên
biết chẳng lẽ làm thinh,
Nói
cho bá tánh mặc tình nghe không.
55.- Việc Điên, Điên xử chưa xong,
Lục
Châu chưa giáp mà lòng ủ ê.
Người
nghe đạo lý thì mê,
Kẻ
lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.
56.- Thấy nghèo coi thể rác
rơm,
Rồi
sau mới biết rác rơm của Trời.
Vì
Điên chưa đến cái thời,
Nên
còn ẩn dạng cho người cười chê.
57.- Từ đây sắp đến thảm thê,
Con
lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
Tới
chừng đến việc ngóng trông,
Trách
rằng Trời Phật không lòng từ bi.
58.- Di Đà lục tự rán ghi,
Niệm
cho tà quỉ vậy thì dang ra.
Khuyên đừng xài phí xa hoa,
Ăn
cần ở kiệm đặng mà lo tu.
Đừng
khinh những kẻ đui mù,
59.- Đến sau sẽ khổ gấp mười mù đui.
Đời
nay xét tới xem lui,
Chừng
gặp tuổi Mùi bá tánh biết thân.
Tu
hành sau được đức ân,
Nhờ
Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
60.- Nói ra trong dạ chẳng yên,
Điên
gay chèo quế dạo miền Lục Châu.
Tới
đâu thì cũng như đâu,
Thêm
thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
61.- Bá gia ai biết thì ưa,
Tôi
chẳng nói thừa những việc Thiên cơ.
62.- Khi già lúc lại trẻ thơ,
Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
63.- Đi nhiều càng thảm càng
phiền,
Lên
doi xuống vịnh nào yên thân Già.
64.- Tay chèo miệng lại hát ca,
Ca
cho bá tánh biết đời loạn ly.
A Di Đà Phật từ
bi,
Ở bên
Thiên Trước chứng tri lòng này.
65.- Từ ngày thọ giáo với Thầy,
Dẹp
lòng vị kỷ đầy lòng yêu dân.
Ngày
nay chẳng kể tấm thân,
Miễn
cho bá tánh được gần Bồng Lai.
66.- Đời này vốn một lời hai,
Khắp
trong trần hạ mấy ai tu trì.
Đời
này giành giựt làm chi,
Tới
việc ly kỳ cũng thả trôi sông.
67.- Thuyền đưa Tiên cảnh Non
Bồng,
Mấy
ai mà có thiềng lòng theo đây.
68.- Cứ lo làm việc tà tây,
Bắt
ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
Chừng
đau niệm Phật lăng xăng,
Phật
đâu chứng kịp lòng người ác gian.
69.- Thấy đời mê muội lầm than,
Ăn bạ
nói càn tội lỗi chỉn ghê.
70.- Chữ tu không phải lời thề,
Mà
không nhớ đến đặng kề Tiên bang.
71.- Nói nhiều trong dạ xốn
xang,
Cùng
hết xóm làng tàn ác nhiều hơn.
Thầy
chùa như thể cây sơn,
Ngoài
da coi chắc trong thời mối ăn.
72.- Buồn thay cho lũ ác tăng,
Làm
điều dối thế cho hư Đạo mầu.
Di Đà
Phật Tổ thêm rầu,
Giận
trong tăng chúng sao lừa dối dân.
73.- Có thân chẳng liệu lấy
thân,
Tu
như lối cũ mau gần Diêm vương.
74.- Bá gia lầm lạc đáng
thương,
Nên
trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
Dương
trần nhiều kẻ ham sân,
Cứ
theo biếm nhẻ xa gần người Điên.
75.- Lòng buồn mượn lấy bút
nghiên,
Viết
cho trần hạ bớt phiền lo tu.
Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
Buồn
cho bá tánh hết mù tới đui.
76.- Có chi mà gọi rằng vui,
Khắp
trong bá tánh gặp hồi gian lao.
Từ
đây hay ốm hay đau,
Rán
tu đem được Phật vào trong tâm.
77.- Lời hiền nói rõ họa thâm,
Đặng
cho bá tánh tỉnh tâm tu hành.
Ngày
nay Điên mở Đạo lành,
Khắp
trong lê thứ được rành đường tu.
78.- Nay đà gần cuối mùa thu,
Hết
ngu tới dại công phu gần thành.
Xác
trần đạo lý chưa rành,
Mấy
ai mà được lòng thành với Điên.
79.- Điên này sẽ mở xích xiềng,
Dắt
dìu bá tánh gần miền Tiên bang.
Không ham danh lợi
giàu sang,
Mong
cho bá tánh được nhàn tấm thân.
80.- Thường về chầu Phật tấu
trần,
Cầu
xin Phật Tổ ban lần đức ơn.
Nay
đà bày tỏ nguồn cơn,
Cho
trong trần hạ thiệt hơn tỏ tường.
81.- Phật, Trời thấy khổ thời
thương,
Muốn
cho lê thứ thường thường làm nhơn.
Đừng
ham tranh đấùu thiệt hơn,
Tu
niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi !
82.- Hồng trần biển khổ thấy
rồi,
Rán
tu nhơn đạo cho tròn mới hay.
83.- Đừng ham nói đắng nói cay,
Cay
đắng sau này đau đớn, sầu bi.
Tu
hành tâm trí rán trì,
Sau
này sẽ thấy việc gì trên mây.
84.- Đừng làm tàn ác ham gây,
Sẽ có
người này cứu vớt giùm cho.
Dương
trần lắm chuyện đôi co,
Phải
dẹp vị kỷ mà lo tu hành.
85.- Kệ kinh tưởng niệm cho
sành,
Ngày
sau thấy Phật đành rành chẳng sai.
Lúc
này thế giới bi ai,
Chẳng
nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
86.- Mấy lời khuyên nhủ chẳng
lầm,
Từ
đây đạo hạnh được mầm thanh cao.
Hồng
trần lao khổ xiết bao,
Khuyên trong lê thứ bước vào đường tu.
87.- Xưa nay đạo hạnh quá lu,
Ngày
nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
Mặc
tình kẻ ghét người ưa,
Điên
chẳng nói thừa lại với thứ dân.
88.- Quan trường miệng nói vang
rân,
Mà
tâm dính chặt hồng trần bụi nhơ.
89.- Buồn đời nên mới làm thơ,
Cũng
còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
Người
đời lòng dạ bất tri,
Trông
cho làm bịnh dị kỳ nó coi.
90.- Dương gian chậu úp được
soi,
Giấu
đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
Nói
nhiều mà dạ chẳng nguôi,
Việc
tu bá tánh bắn lùi như tôm.
Tưởng
Phật được lúc đầu hôm,
Đêm
khuya muốn giựt nồi cơm của người.
91.- Thế gian nhiều việc nực cười,
Tu
hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
Người
già ham muốn gái xinh,
Đến
sau chẳng biết thân mình ra sao ?
Xác
thân cọp xé beo quào,
Còn
người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
92.- Tu hành hiền đức thảnh
thơi,
Ngay
cha thảo Chúa Phật, Trời cứu cho.
Bá gia hãy rán mà
lo,
Kiếm
Lão Đưa Đò nói chuyện huyền cơ.
93.- Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
Nay
viết ít tờ trần hạ tỉnh tâm.
Đến
sau khổ hạnh khỏi lâm,
Nhờ
công tu niệm âm thầm quá hay.
Chừng
nào chim nọ biếng bay,
Cá
kia biếng lội khổ này mới yên.
94.- Nhắc ra quá thảm quá
phiền,
Bể
khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
Ngọn
đèn chơn lý hết lu,
Khắp
trong lê thứ ao tù từ đây.
95.- Thấy trong thời cuộc đổi
xây,
Đời
nay trở lại khác nào đời Thương.
Nhắc
ra thêm ghét Trụ Vương,
Ham
mê Đắc Kỷ là phường bội cha.
96.- Hết gần Điên lại nói xa,
Nói
cho bá tánh biết mà người chi.
Lời
lành khuyên hãy gắn ghi.
Dương
trần phải rán tu trì sớm khuya.
97.- Đừng ham làm chức nắc nia,
Ngày
sau như khoá không chìa dân ôi !
Tu
hành như thể thả trôi,
Nay
lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
98.- Mưu sâu thì họa cũng thâm,
Ngày
sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
Hùm
beo tây tượng bộn bề,
Lại
thêm ác thú mãng xà, rít to.
99.- Bá gia ai biết thì lo,
Gác
tai gièm siểm đôi co ích gì !
Hết
đây rồi đến dị kỳ,
Sưu
cao thuế nặng vậy thì thiết tha.
100.- Dân nay như thể không cha,
Chẳng ai dạy dỗ thiệt là thảm thương.
Thứ này đến thứ Minh Vương,
Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ ê.
101.- Cảm thương trần hạ nhiều bề,
Bởi chưng tàn bạo khó kề Phật Tiên.
Chúng ham danh lợi điền viên,
Ngày sau đến việc lụy phiền suốt canh.
102.- Kệ kinh tụng niệm đêm
thanh,
Ấy là châu ngọc để dành ngày sau.
Bây giờ chưa biết vàng thau,
Đời sau kính trọng người cao tu hành.
103.- Nam mô miệng niệm lòng
lành,
Bá gia phải rán biết rành đường tu.
Thương ai ham võng ham dù,
Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
104.- Khuyên đời như vá múc
thêm,
Mảng lo tranh đoạt thù hềm với nhau.
Đến chừng có ốm có đau,
Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
105.- Dương trần tiếng nhỏ tiếng
to,
Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
Tưởng rằng thân nó là vinh,
Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Điên.
106.- Nói ra trong dạ chẳng yên,
Bây giờ nói chuyện cỡi thuyền khuyên dân.
Đêm ngày chẳng nại tấm thân,
Nắng mưa chẳng quản tảo tần ai hay.
107.- Chừng sau đến hội Rồng
Mây,
Người đời mới biết Điên này là ai.
Lui thuyền chèo quế tay gay,
Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.
108.- Xa xa chẳng biết làng
nào,
Thiệt làng Long Khánh ít người nào tu.
Tớ Thầy liền giả đui mù,
Bèn đi ca hát kiếm xu dương trần.
109.- Bá gia tựu lại rần rần,
Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.
Nực cười trần hạ một khi,
Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
110.- Bình minh vừa buổi chợ
đông,
Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
Cho thiên hạ tựu đông vầy,
Rồi mới ra bài hát việc Thiên cơ.
111.- Tới đây bá tánh làm ngơ,
Buồn cho lê thứ kịp giờ ra đi.
Lìa xa Hồng Ngự một khi,
Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân Thành.
112.- Tới đây ra mặt người
rành,
Nói chuyện thiệt sành thông lảu Đạo nho.
Nhiều người xúm lại đôi co,
Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
113.- Thấy đời động tánh từ bi,
Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
114.- Khoan khoan chơn nọ bước ra,
Giáp rạch Cả Cái rồi ra ngoài vàm.
Đoái nhìn mây nọ trắng lam,
Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.
115.- Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
Tân An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
Giả người bán cá bằng nay,
Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
116.- Tới lui giá cả vừa xong,
Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
Có người chẳng chịu ngang cân,
Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
Nực cười trần hạ lắm ôi !
Giảng cho bá tánh một hồi quá lâu.
117.- Thân già thức suốt canh
thâu,
Nói cho lê thứ quày đầu mới thôi.
Nhiều người nghe hết phủi rồi,
118.- Quày thuyền trở lại bồi hồi sầu
bi.
Giả người tàn tật một khi,
Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
Một người nhà lá hẩm hiu,
Mà biết đạo lý mời Cùi lên chơi.
119.- Bàn qua kim cổ một hồi,
Cùi xuống giữa vời Châu Đốc thẳng xông.
Đến nơi thiên hạ còn đông,
Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
120.- Thấy dân ở chợ nực cười,
Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẩn ngơ,
Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
121.- Phố phường nhiều kẻ tới lui,
Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
Đời nay quý trọng người sang,
Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
122.- Tây, Nam, Chà, Chệt, chú,
thầy,
Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
123.- Xuống thuyền quày quả một
khi,
Chèo lên Vĩnh Tế vô thì núi Sam.
Đi ngang chẳng ghé
chùa am,
Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
124.- Xem qua đầu tóc u xù,
Cũng như người tội ở tù mới ra.
Chèo ghe rao việc gần xa,
Bồng Lai Tiên cảnh ai mà đi không ?
Nhiều người tâm đạo ước mong,
Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
125.- Ấy là tại lịnh Phương Tây,
Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
Có ngưới nói xéo nói xiên,
Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.
126.- Thoáng nghe lời nói thiết tha,
Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc Dưng.
Tay chèo miệng
cũng rao chừng,
Đường đi tiên cảnh ai từng biết chưa ?
127.- Khúc thời nhắc lại đời xưa,
Lúc chàng Lý Phủ đổ thừa Trọng Ngư.
Nhà anh có của tiền dư,
Sao chẳng hiền từ thương xót bá gia ?
128.- Bấy giờ gặp việc thiết
tha,
Bạc vàng có cứu anh mà hay không ?
Hết tây Điên lại nói đông,
Có ai thức tỉnh để lòng làm chi !
129.- Mặc Dưng mất dạng Từ Bi,
Thuyền đi trở ngược về thì Vàm Nao.
Dòm xem thiên hạ lao xao,
Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
130.- Con sông nước chảy vòng
cầu,
Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha.
Chừng ấy nỗi dậy phong ba,
Có con nghiệt thú nuốt mà người
hung.
131.- Đến chừng thú ấy phục tùng,
Bá gia mới biết người Khùng là ai.
Bây giờ phải chịu tiếng tai,
Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
132.- Đời như màn nọ bằng the,
Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên.
Khỏi vàm Điên mới quày thuyền,
Xuống miền Cao Lãnh lại phiền lòng thêm.
133.- Tới đây ca hát ban đêm,
Ai có thù hềm chưởi mắng cũng cam.
Cho tiền cho bạc chẳng ham,
Quyết lòng dạy dỗ dương trần mà thôi.
134.- Nghe rồi thì cũng phủi
rồi,
Nào ai có biết đây là người chi.
Trở về Phong Mỹ một khi,
Thuyền đi một mạch tới thì Rạch Chanh.
135.- Ghe chèo khúc quẹo khúc
quanh,
Ở đây có một người lành mà thôi.
Nhắc ra tâm trí bồi hồi,
Khó đứng không ngồi thương xót bá gia.
136.- Kiến Vàng làng nọ chẳng
xa,
Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
Xứ này nhà cửa ít oi,
Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
& |