|
LỜI
TỰA
-- *** --
Ngày 12 tháng 9 năm 1939 Đức Thầy viết Quyển KỆ
DÂN của NGƯỜI KHÙNG, 476 câu, tức quyển thứ nhì, mở đầu
bằng mấy dòng thơ dào dạt tình thương:
Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,
Thấy dân mang sưu thuế mà thương …
…Thương hại bấy lê dân
đứt ruột
Thảm vợ con đói rách đùm đeo …
Người xót xa trước
một xã hội đảo điên, đang trên đà băng hoại :
… Cuộc dương thế ngày nay mỏng mảnh
Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn …
… Học ai mà ngang ngược nhiều lời,
Phụ mẹ cha, khinh dể Phật Trời …
… Hiếm những kẻ không nhà không đất
Mà sang giàu chẳng xót thương giùm
Có lỡ lầm chưởi mắng um sùm
Thêm đánh đập khác nào con vật
Ăn không hết lo dành lo cất
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi ?
… Chẳng làm phước để làm hung dữ
Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ …
Phật Giáo ra đời với mục đích mang tình thương và
hạnh phúc cho con người. Con người nếu không được giáo dục thì đạo
đức lần hồi vắng bóng, đó là nỗi bất hạnh và mối nguy lớn cho xã
hội, vì vậy Đức Thầy tha thiết:
…
Trung với hiếu ta nên trau trỉa,
Hiền với lương bổn đạo rèn lòng ...
... Hãy thương xót những người tàn tật
Thấy nghèo hèn chớ khá khinh người ...
... Rán giữ gìn phong hoá nước nhà
Câu tam tùng bọn gái nước ta
Chữ hiếu nghĩa trẻ trai cho vẹn ...
... Trai nhỏ tuổi kính thành trưởng lão
Gái bé thơ biết trọng tuổi già ...
Phần đông người đời cũng như một số không ít tu sĩ
chưa nhận diện được đạo Phật là đạo giác ngộ, giáo lý của Đức Thế
Tôn dạy tỉnh thức nội tâm, phát triển tinh thần, thăng hoa trí
huệ.
Để làm sáng tỏ hoài bảo của Đức Thế Tôn, Đức Thầy
thắp lên ngọn đuốc chánh pháp nhằm xoá tan màn mê tối, xây dựng
lại nếp sống Phật giáo:
…
Học tả đạo làm điều tà mị
Theo dị đoan cúng
kiếng tinh tà ...
… Tu hành mà vị kỷ quá chừng
... Tu vô vi chớ cúng chè xôi
Phật
chẳng muốn chúng sanh lo lót …
... Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,
Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu ...
... Kẻ
nghèo khó tu hành ngay thẳng
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao ?
… Tham, Sân, Si chớ để trong lòng
… Phải giữ lòng cho được sạch trong ..
… Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu
Hãy tìm kiếm cái không mới có …
… Phật tại tâm chớ có đâu xa
Mà tìm
kiếm ở trên Non Núi …
Vì kiếp nhân sinh ngắn ngủi nên con người mới nuôi
nhiều dục vọng, đó là nguồn gốc của mọi khổ đau, chỉ có trí huệ
mới ngăn chận và tiêu diệt được màn mê tối do dục vọng ngăn che.
Nên Đức Thầy dạy tránh việc ác, làm mọi điều lành, giữ gìn tâm ý
phẳng lặng, trong sạch cho trí huệ phát sinh, khi trí huệ hiển lộ
người học Phật mới thấy được tâm chúng sanh và tâm chơn chánh của
mình. Tâm chơn chánh là tâm Phật mà từ lâu bị bỏ quên, bị lu mờ
bởi dục vọng, bởi mê tối, nay nhờ trí huệ thăng hoa mới soi sáng
tâm Phật vốn mình sẵn có.
Kinh Pháp Cú, câu 42 : "Không có kẻ thù nào làm
hại ta bằng chính những tư tưởng Tham dục, Sân hận
và Ganh ghét của mình". Đó là Ba Độc.
Đọc Quyển KỆ DÂN nếu chúng ta xót xa được
nỗi ưu tư của Đức Thầy trong nỗ lực bức phá màn vô minh của người
tu Phật mà cố gắng tu tập theo lời Người chỉ dạy, lắng lòng
trong sạch, điều tiết tâm trí, chắc chắn chúng ta sẽ thấy nguyên
nhân gây ra đau khổ mà vận dụng nghị lực tiêu diệt Ba Độc,
dầu chưa đạt đến Bồ Đề tâm, vượt thoát bốn chặng đường Sanh, Già,
Bịnh, Chết, cũng vơi được phần phiền não, sống thanh thản an nhàn
…
Hồ Minh Châu

QUYỂN
HAI
KỆ
DÂN CỦA NGƯỜI KHÙNG
Luận giải
-- *** --
1.-"Ngồi
Khùng trí đoái nhìn cuộc thế - Thấy dân mang sưu thuế mà thương -
Chẳng qua là Nam Việt vô vương - Nên tai ách xảy ra thảm thiết".
(dòng
1 tới 4, trang 53)
Luận giải:
Nhìn cuộc thế thấy
dân chúng bị sưu cao thuế nặng mà Người xót xa lòng, chẳng
qua vì quê hương bị nước ngoài cai trị nên đời sống dân Nam Việt
phải chịu nạn tai đau khổ.
(từ đây chúng tôi dùng chữ
Người thay hai
từ Đức Thầy)
Nghĩa chữ khó:
Khùng - Điên:
tâm trí không đuợc bình thường. Trong Kinh Giảng Đức Thầy luôn
xưng Khùng - Điên, cũng như Đức Phật Thầy Tây An, vị
Giáo tổ phái BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - tạm dịch: "Hương lạ trên non báu"
- hay Đức Phật Trùm, và Ông Sư Vải Bán Khoai
(một hoá thân của Đức
Phật Thầy Tây An), các Ngài xuống trần
giảng dạy Đạo đều xưng Khùng -
Điên. Theo chúng tôi, danh xưng này có hai ý nghĩa:
a.- người đời quá khôn mà độc ác, còn các
Ngài xưng Khùng-Điên nhưng lòng Bồ tát đầy tình
thương, xuống trần dạy Đạo cứu dân.
b.- Việt
Nam thời bấy giờ đang bị thực dân
Pháp cai trị, nên các Ngài phải giả Khùng-Điên để
tránh sự nghi ngờ của nhà cầm quyền.
Trí: phần
sáng suốt, sự hiểu biết, sự suy nghĩ, phần nhận xét của con người.
Đoái:
ngoảnh lại, nhìn lại; nghĩ tới, tưởng nhớ lại.
Cuộc thế:
Cuộc: việc xảy ra nghe thấy được như giặc cướp, sấm, sét,
giông bảo, động đất … Thế: cõi sống, đời người.
Cuộc thế: chỉ những sự việc lớn xảy ra trong đời sống
con người.
Sưu thuế:
Sưu:
(miền Nam nói là xâu)
là góp công sức vào những việc xây dựng cho ích lợi chung. Ở
các nước vắng Tự do Dân chủ, người dân, phái nam, tuổi từ 18 đến
60 phải đóng góp việc nặng nhọc này mà không được trả tiền công.
Thuế: số tiền dân phải nạp cho Nhà nước như thuế đất, thuế
nhà, thuế lợi tức
(thuế về việc làm
kiếm ra tiền). Thời thực dân Pháp cai
trị, người dân phái nam, tuổi từ 18 đến 60 bị bắt buộc đóng thuế
thân, tức thuế con người. Thuế này chia nhiều hạng:
a/- không đất vườn.
b/- có đất vườn ít.
c/- có đất vườn nhiều.
Vô vương:
nuớc không vua, nghĩa bóng chỉ Việt
Nam bị người Pháp cai trị.
Tai ách:
việc nguy hiểm, việc rủi ro có hại cho mạng sống, cho tài sản ...
Thảm thiết:
hết sức xót xa, quá cực khổ, thật đau đớn trong lòng.
-- *** --
2.-"
Bạc không
cánh đổi thay chẳng biết -Vàng bị nghèo mấy chiếc chẳng còn - Mới
mấy năm sao quá hao mòn - Mùa màng thất,
đói đau không thuốc".
(dòng 5 tới 8, trang 53)
Luận giải:
Tiền bạc tuy không
cánh nhưng vừa có đó rồi bay mất hồi nào không hay biết, còn vàng
dành dụm cất giấu bấy lâu, vì nghèo nên mấy chiếc cũng bán lần đến
hết. Mới mấy năm mà đời sống ngày càng thêm xấu tệ, mùa màng ruộng
hay vườn đều thất bại, đâu đâu cũng thấy dân chúng sống thiếu ăn,
đau không thuốc uống.
Nghĩa chữ khó:
Mùa màng:
chỉ chung về số lợi thâu được về lúa, khoai, bắp, cây ăn trái ...
trong năm.
Thất bại:
không kết quả tốt, được chút ít hay không có gì.
-- *** --
3.-"Thương
hại bấy lê dân đứt ruột - Thảm vợ con đói rách đùm đeo - Gẫm chữ
nghèo thường mắc chữ eo - Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc
".
Luận
giải:
(dòng 9 tới 12, trang 53)
Trước cảnh dân chúng
áo quần rách rưới cột đùm, vợ thì lưng cỏng, tay bồng con, chồng
thì vai mang gói to gói nhỏ, đi lang thang, cơm ăn không đủ no,
lạnh không áo mặc đủ ấm, còn giá lúa gạo mỗi ngày cứ tăng lên vùn
vụt, đời sống kẻ nghèo vốn đã eo hẹp nay càng thêm thiếu thốn, khổ
sở, Người thấy mà thương xót vô cùng.
Nghĩa chữ khó:
Lê dân: dân
đen, dân không chức phận gì trong làng xã.
Đùm đeo: áo
quần hay vật dụng cột túm lại thành bọc, đi lang thang, là hình
ảnh dân nghèo không nhà, vợ chồng tay xách nách mang, vai đeo gói
to gói nhỏ, con cái áo quần rách không có vải vá phải cột chùm lại,
sống chui rúc dưới gầm cầu hay bụi cây, góc chợ.
Eo: chỗ tóp,
thắt hẹp ở giữa, như eo lưng. Nghĩa bóng là quá túng thiếu, thắt
ngặt.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo:
đã nghèo còn gặp nhiều việc khó, như bịnh, đâu có tiền uống
thuốc, cứ chịu lây lất ngày này qua ngày khác, bịnh càng nặng, rồi
chết...
4.-"Nhìn
cuộc thế đổi thay quá gắt - Máy Thiên cơ mỗi phút mỗi thay - Nẻo
thạnh suy như thể tên bay - Đường vinh nhục rủi may một lát".
Luận giải:
(dòng 13 tới 16, trang 53)
Cuộc thế trải qua
nhiều thay đổi lớn lao mà không ai đoán trước được cơ Trời, mỗi
phút mỗi khác, việc giàu nghèo, chuyện nhục vinh, lên voi hay
xuống chó chỉ rủi may trong chốc lát.
Nghĩa chữ khó:
Gắt: khắt
khe, quá lắm, kịch liệt, dữ dội.
Thiên cơ:
máy Trời, sự sắp đặt của Trời.
Thạnh suy:
Thạnh: hên, phát lên tốt đẹp. Suy: xui,
sụp, rớt xuống chỗ thấp, xấu đi.
Vinh: vẻ
vang, sung sướng, được đời kính trọng
(lên voi).
Nhục:
bị mất hết
(xuống chó).
-- *** --
5.-"Ai
phú quí vào đài ra các - Ta Điên Khùng thương hết thế trần -
Khuyên chúng sanh chẳng biết mấy lần - Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo".
(dòng 17 tới 20, trang 53)
Luận giải:
Mặc tình ai giàu
sang, nhà cao cửa rộng, còn Người tuy với vẻ Điên Khùng
nhưng lòng thương yêu tất cả chúng sanh. Người đi khắp nơi
khuyên dạy, nhắc nhở việc tu hành, vậy mà chẳng được mấy ai biết
suy nghĩ bỏ mê tối tìm đường về với Phật đạo.
Nghĩa chữ khó:
Phú qúi:
giàu có sang trọng.
Đài các:
nền nhà cao, nhà có lầu gác, chỉ sự giàu sang.
Tỉnh tâm:
Tỉnh: xét kỹ. Tâm: lòng. Có nghĩa tâm
trí tỉnh dậy sau cơn mê, lầm lạc, biết mình sai quấy mà sửa đổi.
Thế trần -
Trần thế:
Thế là cõi đời. Trần: bụi cát;
cõi đời cát bụi, cũng chỉ người đời.
Đạo:
a.- Lẽ phải, con đường đúng đắn,
phép tắc của người xưa đặt ra được xã hội thừa nhận làm mẫu mực
trong quan hệ đối xử giữa con người với nhau.
b.- Nền tảng của tôn giáo, dạy
con người trau sửa tâm tánh, ở ăn ngay thật.
Giác ngộ:
bực sáng suốt, thông suốt đạo lý, lòng không còn vướng mắc những
thứ tình cảm: buồn vui, thương, yêu, giận, ghét, ham muốn như
người thường ...
-- *** --
6.-"Trai
trung liệt đáng trai hiền thảo - Gái tiết trinh mới gái Nam trào -
Lời Thánh Hiền để lại biết bao - Sao trai gái chẳng coi mà sửa ?
Đời tận thế mà còn lần lựa - Chẳng chịu mau cải dữ về lành".
(dòng 21 tới 26, trang 53)
Luận giải:
Thân trai ngoài trách
nhiệm giữ gìn Tổ Quốc Quê hương dầu phải hy sinh tánh mạng, còn
phải thành kính với Ông Bà, hiếu thảo cùng Mẹ Cha; về đời sống,
bất luận ở hoàn cảnh nào cũng trong sạch, ngay thẳng, rộng rãi tha
thứ, sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó hoạn nạn. Bổn phận người phụ nữ
Việt Nam phải biết trân trọng giữ gìn danh tiết. Gương cao quí
cũng như lời hay lẽ phải của Thánh Hiền để lại rất nhiều, trai gái
nên noi theo mà sửa tánh răn lòng ? Đời đã cạn cùng, đừng chần chờ
nữa, hãy ăn năn cải sửa.
Nghĩa chữ khó:
Trung liệt:
người hết lòng thương yêu tổ quốc, kính trọng chủ tướng, thẳng
ngay với mọi người, dầu nghèo khổ, nguy hiểm hay trước cái chết
vẫn không thay lòng đổi dạ.
Hiền thảo:
hiếu kính Ông Bà Cha Mẹ, giúp đỡ và đối xử tốt với mọi người,
thương sanh vật.
Danh tiết:
danh dự và tiết trinh, chỉ sự trong sạch, đạo đức của phụ nữ.
Nam trào:
nước Việt Nam ở thời kỳ có vua
cai trị.
Lần lựa:
trì hoản, chần chờ, hẹn lần lần.
Thánh Hiền:
chỉ những vị tài đức được đời sau tôn kính.
Đời tận thế:
ngày tận cùng của thế giới.
Cải dữ là
sửa chửa, không làm điều hung dữ, xấu ác nữa.
-- *** --
7.-"
Làm Phật Nhi
phải được lòng thành -Thì mới đặng vãng sanh Cực Lạc".
Luận giải:
(dòng 1 và 2, trang 54)
Người tu Phật lòng
lúc nào cũng thành kính, siêng học kinh kệ, giữ luật Đạo, thì đời
sống sẽ an vui, hạnh phúc, khi chết linh hồn nhẹ nhàng vãng sanh
lạc cảnh.
Nghĩa chữ khó:
Phật:
Bouddha, tiếng Phạn (scr) đọc trọn: Phật đà, là bực sáng
suốt tức Giác ngộ hoàn toàn.
Phật Nhi:
con Phật, chỉ chung những người tu học Phật.
Vãng sanh Cực Lạc:
sanh về nơi tột cùng vui sướng.
-- *** --
8.-"Tương
với muối cháo rau đạm bạc - Nghèo lương hiền biết niệm Di Đà - Mà
mai sau thoát khỏi tinh ma - Lại được thấy cảnh Tiên nhàn hạ".
(dòng 3 tới 6, trang 54)
Luận giải:
Người nghèo, ăn uống
sơ sài cháo rau tương muối mà lòng lúc nào cũng giữ ngay thẳng
hiền lành, luôn tin tưởng và niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Niệm
Phật là để lắng lòng, ngăn chận tạp niệm. Nhờ tu học tinh thần mới
vững mạnh, ý chí trong sáng không bị lạc lầm, không bị Tam Ma:
Tham – Sân – Si lôi kéo vào tội ác. Tham – Sân – Si bị diệt, tâm
trí an nhàn, cuộc sống sẽ thảnh thơi hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Đạm bạc:
chỉ sự ăn uống sơ sài, ở mức cần thiết cho sự sống, không cần món
ngon mắc tiền.
Lương hiền:
người hiền lành, ngay thẳng; tốt bụng, thương, giúp người đau khổ.
Niệm: là tưởng
nhớ. Lòng thành kính tưởng nhớ công đức của Phật, của Ông Bà, Cha
Mẹ. Niệm Di Đà: thành kính đọc thầm danh hiệu Đức
Phật A Di Đà, học và rán noi theo 4 đức lớn Từ-Bi-Hỷ-Xả của Phật.
Niệm Phật là để
trừ tạp niệm, bởi trong tâm con người quá nhiều tạp niệm nên lòng
chẳng an vui mới bị phiền não ngăn che làm cho chơn tâm mờ ám.
Nên, hễ thành tâm niệm Phật thì tâm không còn loạn, dứt được lòng
ham muốn và các niệm chúng sanh cũng bị tiêu diệt.
- Từ: lòng hiền lành, thương yêu tất cả
chúng sanh, sẵn sàng giúp cho tất cả được vui sướng, được lợi ích
về vật chất và tinh thần. Phật đối với chúng sanh như mẹ với con
nên kêu là Từ, lúc nào cũng lo lắng đến, hết lòng
dìu dắt, dạy dỗ, không nỡ để chúng sanh sa vào đường tội lỗi mà
chịu khổ não.
- Bi: thương xót cảnh khổ của chúng sanh
mà cố gắng cứu giúp, cố gắng trải lòng ra làm những gì có thể làm
được lợi ích, bớt sự đau khổ của chúng sanh. Nếu chúng sanh
nào dạy dỗ chẳng nghe, làm điều độc ác để phải tội thì Phật chẳng
vì thế mà ghét bỏ, lại thương xót vô cùng muốn cứu vớt họ ra khỏi
các tai nạn, nên kêu là Bi.
- Hỷ: sẵn sàng mang niềm vui đến cùng
vui với người đời.
- Xả: tha thứ cho người; đem những vật
cần thiết của mình cho chúng sanh, không phân biệt kẻ oán người
thân, người thương kẻ ghét, lòng luôn an tịnh, thanh thản.
Phật A Di Đà:
theo Kinh, Ngài thường hiện thân đón tiếp những người tu hiền về
cõi tịnh độ .
Phụ giải
- Sân: khi bị người xúc phạm giận dữ la
hét như điên. Sau cơn giận lòng còn thù hận..
- Si: tâm mê muội, không phân biêt lẽ
chánh tà, làm sai lạc gây tội lỗi, gây nghiệp ác..
Nhàn hạ:
thong thả, rảnh rang.
-- *** --
9.-"Trên
Bảy Núi còn nhiều báu lạ - Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời - Coi là
coi được Phật được Trời - Coi phép lạ của Tiên của Thánh
".
Luận
giải:
(dòng
7 tới 10, trang 54)
Trên Bảy Núi có nhiều
báu lạ, rán sửa tánh răn lòng, ăn ở hiền lành, khép mình tu học
Phật để được sống còn nhìn Phật, Trời và thấy phép lạ của Tiên
Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Bảy núi: hay Thất
sơn, tức bảy ngọn núi ở tỉnh Châu Đốc, miền Tây Nam Việt, tên như
sau:
-
1.-
Anh Vũ sơn
(núi
Két)
-
2.-
Ngũ Hồ sơn
(núi Giài hay núi
Dài
5 giếng, gần núi Két)
-
3.-
Thiên Cẩm sơn
(núi
Gấm
hay núi
Cấm)
-
4.-
Liên Hoa sơn
(núi
Tượng)
-
5.-
Thủy Đài sơn
(núi
Nước,
gần núi Tượng)
-
6.-
Ngọa Long sơn
(núi
Dài)
- 7.- Phụng Hoàng Sơn
(núi
Tô)
Một giải thích khác, Bảy Núi gồm: núi Trà Sư,
núi Két, núi Bà Đội Om, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng và núi Tô.
Thực ra, dãy Thất sơn có trên mười ngọn núi, không chỉ có 7 như đã
kể.
(Thất Sơn Huyền Bí:
Dật Sĩ &
Nguyễn văn Hầu).
Tu tâm dưỡng tánh:
sửa tánh, gìn lòng yên tịnh, không đua chen danh lợi.
Tiên: người
tu theo đạo Lão, không chen mình vào vòng danh lợi, sống an nhàn
thong thả.
Thánh: là
danh hiệu người đời tặng các bực sáng suốt, có tài và đạo đức hay
những vị có công nghiệp về văn hoặc võ, vượt trội hơn người đồng
thời, sau khi chết, như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Khổng tử,
vị tổ của đạo Nho hay Khổng giáo... Theo quan niệm Phật giáo,
Thánh là người đã thoát khỏi mọi phàm tánh ở thế gian
này.
-- *** --
10.-"Cuộc
dương thế ngày nay mỏng mảnh - Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn -
Phải xả thân tầm Bát Nhã thoàn - Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt
".
(dòng 11 tới 14, trang 54)
Luận giải:
Thấy thế nhân không
tin là trần gian sắp đến ngày tiêu diệt nên lắm người giàu sang
còn hiếp đáp kẻ nghèo khó, nên Người khuyên các nhà có tiền
của hãy mở lòng thương giúp đỡ người đói khổ, nên tha thứ, xả bỏ
oán thù, quên đi giận ghét, sớm chiều sửa tánh răn lòng khép mình
vào Phật Đạo mới hy vọng sau này sống được yên vui. Hiểu nghĩa
bóng: người ăn ở hiền, không gây oán nên khỏi sợ bị trả thù.
Nhờ dày công tu sẽ tránh được họa chết người – khỏi bị bọn người
độc ác hảm hại ?
Nghĩa chữ khó:
Dương thế:
Thế gian, trần gian đều chỉ cõi đời nơi con người sống, cũng chỉ
người đời.
Xả có 4
cách:
a.- Tài xả: đem của cải cho,
giúp người nghèo khổ.
b.- Pháp xả: chỉ rõ đạo lý
cho người.
c.- Vô úy xả: dạy người sự
gan bền, không sợ quyền lực, nguy hiểm, hy sinh cả mạng sống..
d.- Phiền não xả: xả bỏ hết
buồn phiền để lòng nhẹ nhàng thong thả.
Bát nhã:
tiếng Phạn Prajnâ (scr) là Huệ, Trí
huệ. Danh từ đặc biệt về Phật pháp.
Bát Nhã Thoàn là thuyền Bát nhã. Theo nhà Phật, đời là biển
khổ, con người ngụp lặn trong biển khổ, Phật và Bồ Tát dùng thuyền
Bát nhã cứu độ, đưa chúng sanh qua bến bờ an lạc. Nghĩa rộng là
khi hiểu rõ Phật pháp thì tâm trí thoát ra ngoài tham - sân - si
(
Sân:
cơn giận dữ.
Si:
mê muội không phân biệt được đúng sai)
dứt các điều phiền muộn, tự mình thông hiểu, sáng suốt, tức giác
ngộ. Nghĩa bóng câu: "Phải
xả thân tầm Bát Nhã thoàn" là khuyên nên sửa
tánh, rèn lòng, giúp đỡ người, dẹp bỏ phiền muộn, lo tu, giữ lòng
trong sáng, thanh tịnh cho trí huệ phát sinh.
-- *** --
11.-"Đến
chừng đó bốn phương có giặc - Khắp hoàn cầu thiết thiết tha
tha-Vậy sớm mau kiếm chữ Ma Ha - Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa
".
Luận
giải:
(dòng 15 tới 18, trang 54)
Sẽ đến một thời kỳ
máu đổ thây phơi khắp cùng mặt đất, dân chúng phải chịu muôn ngàn
đau khổ, vì vậy, Người khuyên thế nhân rán sửa tánh, răn
lòng tìm về nền chánh đạo, nhờ tu Phật, biết thương yêu, tha thứ,
giúp đỡ nhau thể theo đức từ bi của Phật, chắc chắn người đời sẽ
vơi bớt hận thù, nhờ đó mới nhẹ phần giết hại lẫn nhau.
Nghĩa chữ khó:
Thiết thiết tha tha:
sự đau khổ mà hết sức cầu mong được cứu giúp.
Ma Ha: Mahâ,
tiếng Phạn (scr) có nghĩa rộng lớn. Ở đây chỉ nền đạo lớn, tức đạo
Phật.
Khói lửa:
nghĩa bóng chỉ giặc giả chết chóc.
-- *** --
12.-"Tưởng
nhớ Phật như ăn cơm bửa -Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu - Chữ Nam
Mô dẹp được lòng sầu - Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh".
(dòng 19 tới 22, trang 54).
Luận giải:
Niệm tưởng Phật như
nhớ bửa ăn hằng ngày, niệm tưởng để học gương Bi-Trí-Dũng
của Phật, nghĩ nhớ công ơn Tổ Tiên, Ông, Bà, Cha Mẹ và noi theo
những hay tốt của các Ngài, tránh làm điều ác để Ông Bà khỏi phải
mang tiếng xấu. Lòng luôn có Phật thì những ý nghĩ xấu, hung dữ
cũng như các lo buồn đều tiêu tan hết, tâm hồn nhờ đó nhẹ nhàng,
thơ thới an vui, cuộc sống đó khác nào ở cảnh Tiên nhà Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Cửu Huyền:
chín đời Ông Bà hai bên nội ngoại. Thất Tổ: bảy bực
Tổ đầu đời của dòng họ.
Vọng:
tưởng nhớ công ơn và gương hay tốt của Ông Bà.
Nam Mô:
Namah, tiếng Phạn (scr) là qui y, qui mạng, chí tâm hướng
về Phật, có nghĩa quyết vâng lời Phật dạy, cung kính nương theo và
gởi đời mình cho Phật, xả bỏ hết mọi lo rầu …
-- *** --
13.-"Ghét
những đứa giàu sang kiêu hãnh -Thương những người đói rách cơ hàn
- Cảnh phồn hoa khó sánh lâm san - Sau sẽ có nhiều điều vinh hạnh
".
(dòng 21 tới 24, trang 54)
Luận giải:
Ở đời không ai ưa
người giàu ỷ nhiều tiền của coi thường kẻ đói rách, nghèo khổ, vì
vậy, nên mở rộng lòng thương giúp đỡ những người thiếu may mắn,
hoạn nạn. Cảnh thành thị ồn ào khó tu tâm dưỡng tánh, sao bằng nơi
không khí trong sạch, vắng vẻ ở núi rừng. Người ngay thật, bền chí
tu sẽ có cuộc sống an vui và được đời kính trọng.
Nghĩa chữ khó:
Kiêu hãnh:
cậy mình giàu, tài giỏi mà coi thường người khác; coi không ai
bằng mình.
Cơ hàn: đói
và lạnh.
Phồn hoa:
cảnh giàu sang ở thành thị, nơi đông đảo, nhiều người lui tới.
Lâm san:
rừng núi.
Vinh hạnh:
vinh dự, vẻ vang được người đời kính trọng.
-- *** --
14.-"Cõi
trần thế hết suy tới thạnh - Hết lâm nguy đến lúc khải hoàn - Tuy
tu hành chịu chữ nghèo nàn - Sau đắc đạo gặp điều cao quí
".
Luận
giải:
(dòng 25 tới 28, trang 54)
Người đời mấy ai giàu
suốt kiếp hay nghèo khổ trọn đời, nếu biết cố gắng sẽ vượt qua khổ
cực để vươn lên. Tuy nhiên, nếu biết đời là vô thường, thân này là
giả và theo lẽ tự nhiên hễ có sanh thì phải bị diệt, không gì bền
bĩ, nên người tu, hiểu Đạo, vui sống nghèo trong sạch, giữ lòng
thanh thản sớm chiều kinh kệ, bền chí tu hành, chắc chắn sẽ đạt
Đạo và được đời kính trọng.
Nghĩa chữ khó:
Khải hoàn:
thắng trận trở về. Nghĩa ở đây: được thành công; gặp vui; được
giàu và có danh.
Suy thạnh:
Suy: suy sụp, rớt xuống chỗ thật thấp. Thạnh
là giàu có, cuộc sống vui, tốt đẹp. Chỉ sự nghèo và giàu, xui và
hên ở đời.
Vô thường:
tất cả chúng sanh đều không chừng, không bền vững, có đó mất đó.
Đắc đạo - đạt đạo:
tu được thành đạo, được sáng suốt, giác ngộ, lòng không còn ham
muốn tiền của, không còn thương, ghét, hận thù như người thường ở
đời.
-- *** --
15.-"Mặc
bá tánh đời này dị nghị -Ta Điên Khùng mà tánh lương hiền - Lòng
yêu dân chẳng trọng bạc tiền - Mà dương thế cứ theo biếm nhẻ - Sau
lập Hội thì già hoá trẻ - Khắp hoàn cầu đổi xác thay hồn".
Luận
giải:
(dòng 29 tới 34, trang 54)
Mặc tình đời nhỏ to
bàn tán, Người xưng Điên Khùng mà tâm tánh hiền lành, lòng
tha thiết thương dân, không coi trọng bạc tiền, vậy mà phần đông
cứ theo cười chê nhạo báng, chẳng mấy ai chịu nghĩ suy, tìm hiểu.
Sau này, tới ngày lập Hội, thế nhân mới biết Người là ai,
chừng đó khắp thế giới con người sẽ hiểu biết và cải sửa đời sống
vật chất lẫn tinh thần.
Nghĩa chữ khó:
Dị nghị: so
sánh, bàn tán.
Lương hiền:
xin xem số
8.
Biếm nhẻ:
chê bai, nhạo báng, cười cợt coi thường.
-- *** --
16.-"Đức
Ngọc Hoàng mở cửa thiên môn - Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh
- Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh - Sách Thánh Hiền dạy Đạo
làm người
".
(dòng 1 tới 4, trang 55)
Luận giải:
Chỉ những người hiền,
tốt mới được sống còn nhìn cảnh Trời mở cửa khai đại hội ban
thưởng chư Phật, Tiên, Thánh. Vì thế, nên Người khuyên trai
gái rán học theo sách dạy đạo lý làm người của các vị Thánh Hiền,
Khổng tử và Mạnh tử.
Nghĩa chữ khó:
Ngọc Hoàng:
theo dân gian là Trời, vị chúa tể tạo ra con người và muôn
loài vạn vật.
Khổng:
Khổng Phu tử, tên Khổng Khâu hay Khổng Khưu
(551-479 trước Chúa
giáng sinh) người nước Lỗ, nay thuộc
tỉnh Sơn Đông
(Tàu), vị tổ của đạo Nho
(Khổng giáo).
Về đời sống đạo lý của con người, Ngài dạy:
- Tu thân: sửa mình ngay
thẳng, trong sạch, đối xử tốt với mọi người.
-
Tề gia: sắp đặt việc nhà cho đàng hoàng, trên thuận dưới
hoà,
- Trị quốc: điều hành việc quốc
gia, làm cho dân giàu nước mạnh.
- Bình thiên hạ: làm cho thiên hạ
yên ổn
(trị nước).
Mạnh: tức Mạnh
Kha
(372-289 trước Chúa giáng sinh) một vị đại
hiền thời Chiến Quốc, người đất Châu, thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay
(Tàu),
người có công làm sáng tỏ đạo Nho được đời sau tôn trọng xem là
bực Á thán |