|
LỜI
TỰA
-- *** --
Ngày 12 tháng 9 năm 1939 Đức Thầy viết Quyển KỆ
DÂN của NGƯỜI KHÙNG, 476 câu, tức quyển thứ nhì, mở đầu
bằng mấy dòng thơ dào dạt tình thương:
Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,
Thấy dân mang sưu thuế mà thương …
…Thương hại bấy lê dân
đứt ruột
Thảm vợ con đói rách đùm đeo …
Người xót xa trước
một xã hội đảo điên, đang trên đà băng hoại :
… Cuộc dương thế ngày nay mỏng mảnh
Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn …
… Học ai mà ngang ngược nhiều lời,
Phụ mẹ cha, khinh dể Phật Trời …
… Hiếm những kẻ không nhà không đất
Mà sang giàu chẳng xót thương giùm
Có lỡ lầm chưởi mắng um sùm
Thêm đánh đập khác nào con vật
Ăn không hết lo dành lo cất
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi ?
… Chẳng làm phước để làm hung dữ
Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ …
Phật Giáo ra đời với mục đích mang tình thương và
hạnh phúc cho con người. Con người nếu không được giáo dục thì đạo
đức lần hồi vắng bóng, đó là nỗi bất hạnh và mối nguy lớn cho xã
hội, vì vậy Đức Thầy tha thiết:
…
Trung với hiếu ta nên trau trỉa,
Hiền với lương bổn đạo rèn lòng ...
... Hãy thương xót những người tàn tật
Thấy nghèo hèn chớ khá khinh người ...
... Rán giữ gìn phong hoá nước nhà
Câu tam tùng bọn gái nước ta
Chữ hiếu nghĩa trẻ trai cho vẹn ...
... Trai nhỏ tuổi kính thành trưởng lão
Gái bé thơ biết trọng tuổi già ...
Phần đông người đời cũng như một số không ít tu sĩ
chưa nhận diện được đạo Phật là đạo giác ngộ, giáo lý của Đức Thế
Tôn dạy tỉnh thức nội tâm, phát triển tinh thần, thăng hoa trí
huệ.
Để làm sáng tỏ hoài bảo của Đức Thế Tôn, Đức Thầy
thắp lên ngọn đuốc chánh pháp nhằm xoá tan màn mê tối, xây dựng
lại nếp sống Phật giáo:
…
Học tả đạo làm điều tà mị
Theo dị đoan cúng
kiếng tinh tà ...
… Tu hành mà vị kỷ quá chừng
... Tu vô vi chớ cúng chè xôi
Phật
chẳng muốn chúng sanh lo lót …
... Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,
Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu ...
... Kẻ
nghèo khó tu hành ngay thẳng
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao ?
… Tham, Sân, Si chớ để trong lòng
… Phải giữ lòng cho được sạch trong ..
… Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu
Hãy tìm kiếm cái không mới có …
… Phật tại tâm chớ có đâu xa
Mà tìm
kiếm ở trên Non Núi …
Vì kiếp nhân sinh ngắn ngủi nên con người mới nuôi
nhiều dục vọng, đó là nguồn gốc của mọi khổ đau, chỉ có trí huệ
mới ngăn chận và tiêu diệt được màn mê tối do dục vọng ngăn che.
Nên Đức Thầy dạy tránh việc ác, làm mọi điều lành, giữ gìn tâm ý
phẳng lặng, trong sạch cho trí huệ phát sinh, khi trí huệ hiển lộ
người học Phật mới thấy được tâm chúng sanh và tâm chơn chánh của
mình. Tâm chơn chánh là tâm Phật mà từ lâu bị bỏ quên, bị lu mờ
bởi dục vọng, bởi mê tối, nay nhờ trí huệ thăng hoa mới soi sáng
tâm Phật vốn mình sẵn có.
Kinh Pháp Cú, câu 42 : "Không có kẻ thù nào làm
hại ta bằng chính những tư tưởng Tham dục, Sân hận
và Ganh ghét của mình". Đó là Ba Độc.
Đọc Quyển KỆ DÂN nếu chúng ta xót xa được
nỗi ưu tư của Đức Thầy trong nỗ lực bức phá màn vô minh của người
tu Phật mà cố gắng tu tập theo lời Người chỉ dạy, lắng lòng
trong sạch, điều tiết tâm trí, chắc chắn chúng ta sẽ thấy nguyên
nhân gây ra đau khổ mà vận dụng nghị lực tiêu diệt Ba Độc,
dầu chưa đạt đến Bồ Đề tâm, vượt thoát bốn chặng đường Sanh, Già,
Bịnh, Chết, cũng vơi được phần phiền não, sống thanh thản an nhàn
…
Hồ Minh Châu

QUYỂN
HAI
KỆ
DÂN CỦA NGƯỜI KHÙNG
Luận giải
-- *** --
1.-"Ngồi
Khùng trí đoái nhìn cuộc thế - Thấy dân mang sưu thuế mà thương -
Chẳng qua là Nam Việt vô vương - Nên tai ách xảy ra thảm thiết".
(dòng
1 tới 4, trang 53)
Luận giải:
Nhìn cuộc thế thấy
dân chúng bị sưu cao thuế nặng mà Người xót xa lòng, chẳng
qua vì quê hương bị nước ngoài cai trị nên đời sống dân Nam Việt
phải chịu nạn tai đau khổ.
(từ đây chúng tôi dùng chữ
Người thay hai
từ Đức Thầy)
Nghĩa chữ khó:
Khùng - Điên:
tâm trí không đuợc bình thường. Trong Kinh Giảng Đức Thầy luôn
xưng Khùng - Điên, cũng như Đức Phật Thầy Tây An, vị
Giáo tổ phái BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - tạm dịch: "Hương lạ trên non báu"
- hay Đức Phật Trùm, và Ông Sư Vải Bán Khoai
(một hoá thân của Đức
Phật Thầy Tây An), các Ngài xuống trần
giảng dạy Đạo đều xưng Khùng -
Điên. Theo chúng tôi, danh xưng này có hai ý nghĩa:
a.- người đời quá khôn mà độc ác, còn các
Ngài xưng Khùng-Điên nhưng lòng Bồ tát đầy tình
thương, xuống trần dạy Đạo cứu dân.
b.- Việt
Nam thời bấy giờ đang bị thực dân
Pháp cai trị, nên các Ngài phải giả Khùng-Điên để
tránh sự nghi ngờ của nhà cầm quyền.
Trí: phần
sáng suốt, sự hiểu biết, sự suy nghĩ, phần nhận xét của con người.
Đoái:
ngoảnh lại, nhìn lại; nghĩ tới, tưởng nhớ lại.
Cuộc thế:
Cuộc: việc xảy ra nghe thấy được như giặc cướp, sấm, sét,
giông bảo, động đất … Thế: cõi sống, đời người.
Cuộc thế: chỉ những sự việc lớn xảy ra trong đời sống
con người.
Sưu thuế:
Sưu:
(miền Nam nói là xâu)
là góp công sức vào những việc xây dựng cho ích lợi chung. Ở
các nước vắng Tự do Dân chủ, người dân, phái nam, tuổi từ 18 đến
60 phải đóng góp việc nặng nhọc này mà không được trả tiền công.
Thuế: số tiền dân phải nạp cho Nhà nước như thuế đất, thuế
nhà, thuế lợi tức
(thuế về việc làm
kiếm ra tiền). Thời thực dân Pháp cai
trị, người dân phái nam, tuổi từ 18 đến 60 bị bắt buộc đóng thuế
thân, tức thuế con người. Thuế này chia nhiều hạng:
a/- không đất vườn.
b/- có đất vườn ít.
c/- có đất vườn nhiều.
Vô vương:
nuớc không vua, nghĩa bóng chỉ Việt
Nam bị người Pháp cai trị.
Tai ách:
việc nguy hiểm, việc rủi ro có hại cho mạng sống, cho tài sản ...
Thảm thiết:
hết sức xót xa, quá cực khổ, thật đau đớn trong lòng.
-- *** --
2.-"
Bạc không
cánh đổi thay chẳng biết -Vàng bị nghèo mấy chiếc chẳng còn - Mới
mấy năm sao quá hao mòn - Mùa màng thất,
đói đau không thuốc".
(dòng 5 tới 8, trang 53)
Luận giải:
Tiền bạc tuy không
cánh nhưng vừa có đó rồi bay mất hồi nào không hay biết, còn vàng
dành dụm cất giấu bấy lâu, vì nghèo nên mấy chiếc cũng bán lần đến
hết. Mới mấy năm mà đời sống ngày càng thêm xấu tệ, mùa màng ruộng
hay vườn đều thất bại, đâu đâu cũng thấy dân chúng sống thiếu ăn,
đau không thuốc uống.
Nghĩa chữ khó:
Mùa màng:
chỉ chung về số lợi thâu được về lúa, khoai, bắp, cây ăn trái ...
trong năm.
Thất bại:
không kết quả tốt, được chút ít hay không có gì.
-- *** --
3.-"Thương
hại bấy lê dân đứt ruột - Thảm vợ con đói rách đùm đeo - Gẫm chữ
nghèo thường mắc chữ eo - Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc
".
Luận
giải:
(dòng 9 tới 12, trang 53)
Trước cảnh dân chúng
áo quần rách rưới cột đùm, vợ thì lưng cỏng, tay bồng con, chồng
thì vai mang gói to gói nhỏ, đi lang thang, cơm ăn không đủ no,
lạnh không áo mặc đủ ấm, còn giá lúa gạo mỗi ngày cứ tăng lên vùn
vụt, đời sống kẻ nghèo vốn đã eo hẹp nay càng thêm thiếu thốn, khổ
sở, Người thấy mà thương xót vô cùng.
Nghĩa chữ khó:
Lê dân: dân
đen, dân không chức phận gì trong làng xã.
Đùm đeo: áo
quần hay vật dụng cột túm lại thành bọc, đi lang thang, là hình
ảnh dân nghèo không nhà, vợ chồng tay xách nách mang, vai đeo gói
to gói nhỏ, con cái áo quần rách không có vải vá phải cột chùm lại,
sống chui rúc dưới gầm cầu hay bụi cây, góc chợ.
Eo: chỗ tóp,
thắt hẹp ở giữa, như eo lưng. Nghĩa bóng là quá túng thiếu, thắt
ngặt.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo:
đã nghèo còn gặp nhiều việc khó, như bịnh, đâu có tiền uống
thuốc, cứ chịu lây lất ngày này qua ngày khác, bịnh càng nặng, rồi
chết...
4.-"Nhìn
cuộc thế đổi thay quá gắt - Máy Thiên cơ mỗi phút mỗi thay - Nẻo
thạnh suy như thể tên bay - Đường vinh nhục rủi may một lát".
Luận giải:
(dòng 13 tới 16, trang 53)
Cuộc thế trải qua
nhiều thay đổi lớn lao mà không ai đoán trước được cơ Trời, mỗi
phút mỗi khác, việc giàu nghèo, chuyện nhục vinh, lên voi hay
xuống chó chỉ rủi may trong chốc lát.
Nghĩa chữ khó:
Gắt: khắt
khe, quá lắm, kịch liệt, dữ dội.
Thiên cơ:
máy Trời, sự sắp đặt của Trời.
Thạnh suy:
Thạnh: hên, phát lên tốt đẹp. Suy: xui,
sụp, rớt xuống chỗ thấp, xấu đi.
Vinh: vẻ
vang, sung sướng, được đời kính trọng
(lên voi).
Nhục:
bị mất hết
(xuống chó).
-- *** --
5.-"Ai
phú quí vào đài ra các - Ta Điên Khùng thương hết thế trần -
Khuyên chúng sanh chẳng biết mấy lần - Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo".
(dòng 17 tới 20, trang 53)
Luận giải:
Mặc tình ai giàu
sang, nhà cao cửa rộng, còn Người tuy với vẻ Điên Khùng
nhưng lòng thương yêu tất cả chúng sanh. Người đi khắp nơi
khuyên dạy, nhắc nhở việc tu hành, vậy mà chẳng được mấy ai biết
suy nghĩ bỏ mê tối tìm đường về với Phật đạo.
Nghĩa chữ khó:
Phú qúi:
giàu có sang trọng.
Đài các:
nền nhà cao, nhà có lầu gác, chỉ sự giàu sang.
Tỉnh tâm:
Tỉnh: xét kỹ. Tâm: lòng. Có nghĩa tâm
trí tỉnh dậy sau cơn mê, lầm lạc, biết mình sai quấy mà sửa đổi.
Thế trần -
Trần thế:
Thế là cõi đời. Trần: bụi cát;
cõi đời cát bụi, cũng chỉ người đời.
Đạo:
a.- Lẽ phải, con đường đúng đắn,
phép tắc của người xưa đặt ra được xã hội thừa nhận làm mẫu mực
trong quan hệ đối xử giữa con người với nhau.
b.- Nền tảng của tôn giáo, dạy
con người trau sửa tâm tánh, ở ăn ngay thật.
Giác ngộ:
bực sáng suốt, thông suốt đạo lý, lòng không còn vướng mắc những
thứ tình cảm: buồn vui, thương, yêu, giận, ghét, ham muốn như
người thường ...
-- *** --
6.-"Trai
trung liệt đáng trai hiền thảo - Gái tiết trinh mới gái Nam trào -
Lời Thánh Hiền để lại biết bao - Sao trai gái chẳng coi mà sửa ?
Đời tận thế mà còn lần lựa - Chẳng chịu mau cải dữ về lành".
(dòng 21 tới 26, trang 53)
Luận giải:
Thân trai ngoài trách
nhiệm giữ gìn Tổ Quốc Quê hương dầu phải hy sinh tánh mạng, còn
phải thành kính với Ông Bà, hiếu thảo cùng Mẹ Cha; về đời sống,
bất luận ở hoàn cảnh nào cũng trong sạch, ngay thẳng, rộng rãi tha
thứ, sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó hoạn nạn. Bổn phận người phụ nữ
Việt Nam phải biết trân trọng giữ gìn danh tiết. Gương cao quí
cũng như lời hay lẽ phải của Thánh Hiền để lại rất nhiều, trai gái
nên noi theo mà sửa tánh răn lòng ? Đời đã cạn cùng, đừng chần chờ
nữa, hãy ăn năn cải sửa.
Nghĩa chữ khó:
Trung liệt:
người hết lòng thương yêu tổ quốc, kính trọng chủ tướng, thẳng
ngay với mọi người, dầu nghèo khổ, nguy hiểm hay trước cái chết
vẫn không thay lòng đổi dạ.
Hiền thảo:
hiếu kính Ông Bà Cha Mẹ, giúp đỡ và đối xử tốt với mọi người,
thương sanh vật.
Danh tiết:
danh dự và tiết trinh, chỉ sự trong sạch, đạo đức của phụ nữ.
Nam trào:
nước Việt Nam ở thời kỳ có vua
cai trị.
Lần lựa:
trì hoản, chần chờ, hẹn lần lần.
Thánh Hiền:
chỉ những vị tài đức được đời sau tôn kính.
Đời tận thế:
ngày tận cùng của thế giới.
Cải dữ là
sửa chửa, không làm điều hung dữ, xấu ác nữa.
-- *** --
7.-"
Làm Phật Nhi
phải được lòng thành -Thì mới đặng vãng sanh Cực Lạc".
Luận giải:
(dòng 1 và 2, trang 54)
Người tu Phật lòng
lúc nào cũng thành kính, siêng học kinh kệ, giữ luật Đạo, thì đời
sống sẽ an vui, hạnh phúc, khi chết linh hồn nhẹ nhàng vãng sanh
lạc cảnh.
Nghĩa chữ khó:
Phật:
Bouddha, tiếng Phạn (scr) đọc trọn: Phật đà, là bực sáng
suốt tức Giác ngộ hoàn toàn.
Phật Nhi:
con Phật, chỉ chung những người tu học Phật.
Vãng sanh Cực Lạc:
sanh về nơi tột cùng vui sướng.
-- *** --
8.-"Tương
với muối cháo rau đạm bạc - Nghèo lương hiền biết niệm Di Đà - Mà
mai sau thoát khỏi tinh ma - Lại được thấy cảnh Tiên nhàn hạ".
(dòng 3 tới 6, trang 54)
Luận giải:
Người nghèo, ăn uống
sơ sài cháo rau tương muối mà lòng lúc nào cũng giữ ngay thẳng
hiền lành, luôn tin tưởng và niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Niệm
Phật là để lắng lòng, ngăn chận tạp niệm. Nhờ tu học tinh thần mới
vững mạnh, ý chí trong sáng không bị lạc lầm, không bị Tam Ma:
Tham – Sân – Si lôi kéo vào tội ác. Tham – Sân – Si bị diệt, tâm
trí an nhàn, cuộc sống sẽ thảnh thơi hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Đạm bạc:
chỉ sự ăn uống sơ sài, ở mức cần thiết cho sự sống, không cần món
ngon mắc tiền.
Lương hiền:
người hiền lành, ngay thẳng; tốt bụng, thương, giúp người đau khổ.
Niệm: là tưởng
nhớ. Lòng thành kính tưởng nhớ công đức của Phật, của Ông Bà, Cha
Mẹ. Niệm Di Đà: thành kính đọc thầm danh hiệu Đức
Phật A Di Đà, học và rán noi theo 4 đức lớn Từ-Bi-Hỷ-Xả của Phật.
Niệm Phật là để
trừ tạp niệm, bởi trong tâm con người quá nhiều tạp niệm nên lòng
chẳng an vui mới bị phiền não ngăn che làm cho chơn tâm mờ ám.
Nên, hễ thành tâm niệm Phật thì tâm không còn loạn, dứt được lòng
ham muốn và các niệm chúng sanh cũng bị tiêu diệt.
- Từ: lòng hiền lành, thương yêu tất cả
chúng sanh, sẵn sàng giúp cho tất cả được vui sướng, được lợi ích
về vật chất và tinh thần. Phật đối với chúng sanh như mẹ với con
nên kêu là Từ, lúc nào cũng lo lắng đến, hết lòng
dìu dắt, dạy dỗ, không nỡ để chúng sanh sa vào đường tội lỗi mà
chịu khổ não.
- Bi: thương xót cảnh khổ của chúng sanh
mà cố gắng cứu giúp, cố gắng trải lòng ra làm những gì có thể làm
được lợi ích, bớt sự đau khổ của chúng sanh. Nếu chúng sanh
nào dạy dỗ chẳng nghe, làm điều độc ác để phải tội thì Phật chẳng
vì thế mà ghét bỏ, lại thương xót vô cùng muốn cứu vớt họ ra khỏi
các tai nạn, nên kêu là Bi.
- Hỷ: sẵn sàng mang niềm vui đến cùng
vui với người đời.
- Xả: tha thứ cho người; đem những vật
cần thiết của mình cho chúng sanh, không phân biệt kẻ oán người
thân, người thương kẻ ghét, lòng luôn an tịnh, thanh thản.
Phật A Di Đà:
theo Kinh, Ngài thường hiện thân đón tiếp những người tu hiền về
cõi tịnh độ .
Phụ giải
- Sân: khi bị người xúc phạm giận dữ la
hét như điên. Sau cơn giận lòng còn thù hận..
- Si: tâm mê muội, không phân biêt lẽ
chánh tà, làm sai lạc gây tội lỗi, gây nghiệp ác..
Nhàn hạ:
thong thả, rảnh rang.
-- *** --
9.-"Trên
Bảy Núi còn nhiều báu lạ - Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời - Coi là
coi được Phật được Trời - Coi phép lạ của Tiên của Thánh
".
Luận
giải:
(dòng
7 tới 10, trang 54)
Trên Bảy Núi có nhiều
báu lạ, rán sửa tánh răn lòng, ăn ở hiền lành, khép mình tu học
Phật để được sống còn nhìn Phật, Trời và thấy phép lạ của Tiên
Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Bảy núi: hay Thất
sơn, tức bảy ngọn núi ở tỉnh Châu Đốc, miền Tây Nam Việt, tên như
sau:
-
1.-
Anh Vũ sơn
(núi
Két)
-
2.-
Ngũ Hồ sơn
(núi Giài hay núi
Dài
5 giếng, gần núi Két)
-
3.-
Thiên Cẩm sơn
(núi
Gấm
hay núi
Cấm)
-
4.-
Liên Hoa sơn
(núi
Tượng)
-
5.-
Thủy Đài sơn
(núi
Nước,
gần núi Tượng)
-
6.-
Ngọa Long sơn
(núi
Dài)
- 7.- Phụng Hoàng Sơn
(núi
Tô)
Một giải thích khác, Bảy Núi gồm: núi Trà Sư,
núi Két, núi Bà Đội Om, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng và núi Tô.
Thực ra, dãy Thất sơn có trên mười ngọn núi, không chỉ có 7 như đã
kể.
(Thất Sơn Huyền Bí:
Dật Sĩ &
Nguyễn văn Hầu).
Tu tâm dưỡng tánh:
sửa tánh, gìn lòng yên tịnh, không đua chen danh lợi.
Tiên: người
tu theo đạo Lão, không chen mình vào vòng danh lợi, sống an nhàn
thong thả.
Thánh: là
danh hiệu người đời tặng các bực sáng suốt, có tài và đạo đức hay
những vị có công nghiệp về văn hoặc võ, vượt trội hơn người đồng
thời, sau khi chết, như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Khổng tử,
vị tổ của đạo Nho hay Khổng giáo... Theo quan niệm Phật giáo,
Thánh là người đã thoát khỏi mọi phàm tánh ở thế gian
này.
-- *** --
10.-"Cuộc
dương thế ngày nay mỏng mảnh - Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn -
Phải xả thân tầm Bát Nhã thoàn - Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt
".
(dòng 11 tới 14, trang 54)
Luận giải:
Thấy thế nhân không
tin là trần gian sắp đến ngày tiêu diệt nên lắm người giàu sang
còn hiếp đáp kẻ nghèo khó, nên Người khuyên các nhà có tiền
của hãy mở lòng thương giúp đỡ người đói khổ, nên tha thứ, xả bỏ
oán thù, quên đi giận ghét, sớm chiều sửa tánh răn lòng khép mình
vào Phật Đạo mới hy vọng sau này sống được yên vui. Hiểu nghĩa
bóng: người ăn ở hiền, không gây oán nên khỏi sợ bị trả thù.
Nhờ dày công tu sẽ tránh được họa chết người – khỏi bị bọn người
độc ác hảm hại ?
Nghĩa chữ khó:
Dương thế:
Thế gian, trần gian đều chỉ cõi đời nơi con người sống, cũng chỉ
người đời.
Xả có 4
cách:
a.- Tài xả: đem của cải cho,
giúp người nghèo khổ.
b.- Pháp xả: chỉ rõ đạo lý
cho người.
c.- Vô úy xả: dạy người sự
gan bền, không sợ quyền lực, nguy hiểm, hy sinh cả mạng sống..
d.- Phiền não xả: xả bỏ hết
buồn phiền để lòng nhẹ nhàng thong thả.
Bát nhã:
tiếng Phạn Prajnâ (scr) là Huệ, Trí
huệ. Danh từ đặc biệt về Phật pháp.
Bát Nhã Thoàn là thuyền Bát nhã. Theo nhà Phật, đời là biển
khổ, con người ngụp lặn trong biển khổ, Phật và Bồ Tát dùng thuyền
Bát nhã cứu độ, đưa chúng sanh qua bến bờ an lạc. Nghĩa rộng là
khi hiểu rõ Phật pháp thì tâm trí thoát ra ngoài tham - sân - si
(
Sân:
cơn giận dữ.
Si:
mê muội không phân biệt được đúng sai)
dứt các điều phiền muộn, tự mình thông hiểu, sáng suốt, tức giác
ngộ. Nghĩa bóng câu: "Phải
xả thân tầm Bát Nhã thoàn" là khuyên nên sửa
tánh, rèn lòng, giúp đỡ người, dẹp bỏ phiền muộn, lo tu, giữ lòng
trong sáng, thanh tịnh cho trí huệ phát sinh.
-- *** --
11.-"Đến
chừng đó bốn phương có giặc - Khắp hoàn cầu thiết thiết tha
tha-Vậy sớm mau kiếm chữ Ma Ha - Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa
".
Luận
giải:
(dòng 15 tới 18, trang 54)
Sẽ đến một thời kỳ
máu đổ thây phơi khắp cùng mặt đất, dân chúng phải chịu muôn ngàn
đau khổ, vì vậy, Người khuyên thế nhân rán sửa tánh, răn
lòng tìm về nền chánh đạo, nhờ tu Phật, biết thương yêu, tha thứ,
giúp đỡ nhau thể theo đức từ bi của Phật, chắc chắn người đời sẽ
vơi bớt hận thù, nhờ đó mới nhẹ phần giết hại lẫn nhau.
Nghĩa chữ khó:
Thiết thiết tha tha:
sự đau khổ mà hết sức cầu mong được cứu giúp.
Ma Ha: Mahâ,
tiếng Phạn (scr) có nghĩa rộng lớn. Ở đây chỉ nền đạo lớn, tức đạo
Phật.
Khói lửa:
nghĩa bóng chỉ giặc giả chết chóc.
-- *** --
12.-"Tưởng
nhớ Phật như ăn cơm bửa -Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu - Chữ Nam
Mô dẹp được lòng sầu - Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh".
(dòng 19 tới 22, trang 54).
Luận giải:
Niệm tưởng Phật như
nhớ bửa ăn hằng ngày, niệm tưởng để học gương Bi-Trí-Dũng
của Phật, nghĩ nhớ công ơn Tổ Tiên, Ông, Bà, Cha Mẹ và noi theo
những hay tốt của các Ngài, tránh làm điều ác để Ông Bà khỏi phải
mang tiếng xấu. Lòng luôn có Phật thì những ý nghĩ xấu, hung dữ
cũng như các lo buồn đều tiêu tan hết, tâm hồn nhờ đó nhẹ nhàng,
thơ thới an vui, cuộc sống đó khác nào ở cảnh Tiên nhà Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Cửu Huyền:
chín đời Ông Bà hai bên nội ngoại. Thất Tổ: bảy bực
Tổ đầu đời của dòng họ.
Vọng:
tưởng nhớ công ơn và gương hay tốt của Ông Bà.
Nam Mô:
Namah, tiếng Phạn (scr) là qui y, qui mạng, chí tâm hướng
về Phật, có nghĩa quyết vâng lời Phật dạy, cung kính nương theo và
gởi đời mình cho Phật, xả bỏ hết mọi lo rầu …
-- *** --
13.-"Ghét
những đứa giàu sang kiêu hãnh -Thương những người đói rách cơ hàn
- Cảnh phồn hoa khó sánh lâm san - Sau sẽ có nhiều điều vinh hạnh
".
(dòng 21 tới 24, trang 54)
Luận giải:
Ở đời không ai ưa
người giàu ỷ nhiều tiền của coi thường kẻ đói rách, nghèo khổ, vì
vậy, nên mở rộng lòng thương giúp đỡ những người thiếu may mắn,
hoạn nạn. Cảnh thành thị ồn ào khó tu tâm dưỡng tánh, sao bằng nơi
không khí trong sạch, vắng vẻ ở núi rừng. Người ngay thật, bền chí
tu sẽ có cuộc sống an vui và được đời kính trọng.
Nghĩa chữ khó:
Kiêu hãnh:
cậy mình giàu, tài giỏi mà coi thường người khác; coi không ai
bằng mình.
Cơ hàn: đói
và lạnh.
Phồn hoa:
cảnh giàu sang ở thành thị, nơi đông đảo, nhiều người lui tới.
Lâm san:
rừng núi.
Vinh hạnh:
vinh dự, vẻ vang được người đời kính trọng.
-- *** --
14.-"Cõi
trần thế hết suy tới thạnh - Hết lâm nguy đến lúc khải hoàn - Tuy
tu hành chịu chữ nghèo nàn - Sau đắc đạo gặp điều cao quí
".
Luận
giải:
(dòng 25 tới 28, trang 54)
Người đời mấy ai giàu
suốt kiếp hay nghèo khổ trọn đời, nếu biết cố gắng sẽ vượt qua khổ
cực để vươn lên. Tuy nhiên, nếu biết đời là vô thường, thân này là
giả và theo lẽ tự nhiên hễ có sanh thì phải bị diệt, không gì bền
bĩ, nên người tu, hiểu Đạo, vui sống nghèo trong sạch, giữ lòng
thanh thản sớm chiều kinh kệ, bền chí tu hành, chắc chắn sẽ đạt
Đạo và được đời kính trọng.
Nghĩa chữ khó:
Khải hoàn:
thắng trận trở về. Nghĩa ở đây: được thành công; gặp vui; được
giàu và có danh.
Suy thạnh:
Suy: suy sụp, rớt xuống chỗ thật thấp. Thạnh
là giàu có, cuộc sống vui, tốt đẹp. Chỉ sự nghèo và giàu, xui và
hên ở đời.
Vô thường:
tất cả chúng sanh đều không chừng, không bền vững, có đó mất đó.
Đắc đạo - đạt đạo:
tu được thành đạo, được sáng suốt, giác ngộ, lòng không còn ham
muốn tiền của, không còn thương, ghét, hận thù như người thường ở
đời.
-- *** --
15.-"Mặc
bá tánh đời này dị nghị -Ta Điên Khùng mà tánh lương hiền - Lòng
yêu dân chẳng trọng bạc tiền - Mà dương thế cứ theo biếm nhẻ - Sau
lập Hội thì già hoá trẻ - Khắp hoàn cầu đổi xác thay hồn".
Luận
giải:
(dòng 29 tới 34, trang 54)
Mặc tình đời nhỏ to
bàn tán, Người xưng Điên Khùng mà tâm tánh hiền lành, lòng
tha thiết thương dân, không coi trọng bạc tiền, vậy mà phần đông
cứ theo cười chê nhạo báng, chẳng mấy ai chịu nghĩ suy, tìm hiểu.
Sau này, tới ngày lập Hội, thế nhân mới biết Người là ai,
chừng đó khắp thế giới con người sẽ hiểu biết và cải sửa đời sống
vật chất lẫn tinh thần.
Nghĩa chữ khó:
Dị nghị: so
sánh, bàn tán.
Lương hiền:
xin xem số
8.
Biếm nhẻ:
chê bai, nhạo báng, cười cợt coi thường.
-- *** --
16.-"Đức
Ngọc Hoàng mở cửa thiên môn - Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh
- Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh - Sách Thánh Hiền dạy Đạo
làm người
".
(dòng 1 tới 4, trang 55)
Luận giải:
Chỉ những người hiền,
tốt mới được sống còn nhìn cảnh Trời mở cửa khai đại hội ban
thưởng chư Phật, Tiên, Thánh. Vì thế, nên Người khuyên trai
gái rán học theo sách dạy đạo lý làm người của các vị Thánh Hiền,
Khổng tử và Mạnh tử.
Nghĩa chữ khó:
Ngọc Hoàng:
theo dân gian là Trời, vị chúa tể tạo ra con người và muôn
loài vạn vật.
Khổng:
Khổng Phu tử, tên Khổng Khâu hay Khổng Khưu
(551-479 trước Chúa
giáng sinh) người nước Lỗ, nay thuộc
tỉnh Sơn Đông
(Tàu), vị tổ của đạo Nho
(Khổng giáo).
Về đời sống đạo lý của con người, Ngài dạy:
- Tu thân: sửa mình ngay
thẳng, trong sạch, đối xử tốt với mọi người.
-
Tề gia: sắp đặt việc nhà cho đàng hoàng, trên thuận dưới
hoà,
- Trị quốc: điều hành việc quốc
gia, làm cho dân giàu nước mạnh.
- Bình thiên hạ: làm cho thiên hạ
yên ổn
(trị nước).
Mạnh: tức Mạnh
Kha
(372-289 trước Chúa giáng sinh) một vị đại
hiền thời Chiến Quốc, người đất Châu, thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay
(Tàu),
người có công làm sáng tỏ đạo Nho được đời sau tôn trọng xem là
bực Á thánh, (vị
Thánh thứ hai) sau đức Khổng Phu tử.. Ở
Việt Nam, một số điều trong đạo Khổng đuợc xem như khuôn vàng
thước ngọc để mọi người noi theo.
-- *** --
17.-"Xem
truyện thơ chẳng biết hổ ngươi - Mà làm thói Điêu Thuyền Lữ Bố".
Luận giải:
(dòng 5 và 6, trang 55)
Xem truyện thơ sao không
biết mắc cở mà học theo thói hư xấu của Điêu Thuyền và bắt chước
tuồng phản bội, sớm theo chiều bỏ của Lữ Bố.
Nghĩa chữ khó:
Điêu Thuyền: ca
nữ (con
hát), con gái nuôi của Vương Doãn có sắc
đẹp, được Vương Doãn dùng "kế mỹ nhơn" để diệt Đổng Trác, một gian
thần đời nhà Đông Hán
(Tàu). Vương Doãn hứa gả Điêu Thuyền cho Lữ
Bố, con nuôi của Đổng Trác, rồi lại ngầm đưa Điêu Thuyền cho Đổng
Trác, để gây chia rẻ giữa hai cha con nhà này. Kết quả hai người
vì ghen mà giết nhau.
Lữ Bố: đời Đông
Hán, tự Phụng Tiên, giỏi võ, sức mạnh ít người đánh lại. Ban đầu
Lữ Bố theo Đinh Nguyên, sau ham danh lợi, giết Đinh Nguyên qua làm
con nuôi Đổng Trác. Vì "kế mỹ nhơn" của Vương Doãn, Lữ Bố say mê
Điêu Thuyền, ghen giết Đổng Trác rồi theo làm tướng cho Viên
Thuật, sau bỏ Viên Thuật qua phò tá Viên Thiệu. Cuối cùng thua Tào
Tháo, Lữ Bố tự tử. Công tâm mà xét, Điêu Thuyền vì vai trò bắt
buộc phải lẳng lơ, một lúc lấy hai chồng. Lữ Bố và Đổng Trác thì
quá tệ, hai người mê gái đến giết lẫn nhau, riêng Lữ Bố, dầu là
tướng mạnh, nhưng luôn thay lòng đổi dạ, sớm theo chiều phản.
Hổ ngươi: mắc cở.
Phản bội: quay
lưng lại, quên ơn, nghịch lại, trái lại, hại người ơn có tình
nghĩa với mình.
-- *** --
18.-"Sau
kẻ ấy làm mồi mãnh hổ - Cảnh Núi Non nhiều thú dị kỳ - Nó trọng ai
hiền đức nhu mì - Sát phạt kẻ bội cha phản chúa - Đến chừng đó
thiên la lưới bủa - Mới biết rằng Trời Phật công bằng
".
(dòng 7 tới 12, trang 55)
Luận giải:
Hạng gái không biết
giữ gìn đạo lý, tiết trinh, cũng như loại người phản bội quên ơn
bỏ nghĩa, sớm thương chiều ghét, đổi dạ thay lòng như thay đổi áo,
sau này sẽ làm mồi cho cọp dữ. Trên Non Núi có nhiều thú lạ kỳ,
biết kính trọng người hiền đức nhưng không tha bè lũ bỏ Cha phản
Chúa, (người
tu, bực hiền đức đôi mắt rất sáng và có ánh sáng hiện quanh đầu,
mắt thường khó thấy?)
Lưới Trời tuy thưa
nhưng không kẻ gian xấu, độc ác nào thoát khỏi, bấy giờ người đời
mới thấy rõ sự công bằng của Trời Phật.
Nghĩa chữ khó:
Mãnh hổ:
cọp mạnh, dữ.
Núi Non:
chỉ chung những núi liền nhau, có cao có thấp.
Dị kỳ: lạ
thường.
Bội Cha phản Chúa:
xử tệ, quên công ơn, quên bỏ tình nghĩa của Cha, của Chúa.
Hiền đức:
tánh hiền, ngay thật, hay tha thứ, thương giúp đỡ người, thương
sanh vật.
Nhu mì: dịu
dàng, lời lẽ chững chạc, đứng đắn.
Sát phạt:
đánh giết.
Thiên la: lưới
Trời.
Công bằng – công bình:
ngay và bằng. Tánh ngay thẳng.
-- *** --
19.-"Nếu
dương trần sớm biết ăn năn - Làm hiền đức khỏi đường lao lý - Học
tả đạo làm điều tà mị - Theo dị đoan cúng kiếng tinh tà - Thì sau
này gặp chuyện thiết tha - Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu"..
Luận giải:
(dòng 13 tới 18, trang 55)
Người
khuyên dân sớm ăn năn, làm hiền lành tránh xa điều hung ác, sửa
tánh răn lòng mới tránh được tội tù khổ sở. Nên sáng suốt xa lánh
các đạo chuyên vẽ bùa đọc chú, thờ cúng tà thần, ma quỉ, bày những
trò mê tín, dị đoan, những ai đã lỡ theo, nên sớm rời bỏ, tìm về
chánh đạo, kẻo ngày sau gặp nguy hiểm Người không cứu được.
Nghĩa chữ khó:
Dương trần:
Dương: mặt trời. Trần: bụi cát -
chỉ cõi đời và cũng chỉ chung con người.
Lao lý: tội
tù, sự bị giam hảm, không có tự do. Lao là chuồng
nuôi thú vật, nhà tù. Lý: ở trong. Nghĩa bóng
chỉ cảnh mất tự do, đau khổ, nguy hiểm, chết chóc.
Tả đạo:
đường không đúng; Đạo không được coi là chánh, dùng bùa phép gạt
người dễ tin.
Dị đoan:
chuyện khó tin, không hợp lý, không chánh đáng.
Tinh tà:
chỉ chung ma quỉ, loại phá khuấy đời.
Thiết tha:
có tình cảm sâu sắc, gắn bó. Nghĩa ở đây chỉ việc ngặt nghèo cần
được cứu giúp.
--***--
20.-"Thấy
bá tánh nghinh tân yểm cựu - Học ai mà ngang ngược nhiều lời - Phụ
mẹ cha khinh dể Phật Trời - Chẳng có kể công sanh dưỡng dục
".
(dòng 19 tới 22, trang 55)
Luận giải:
Người đời ham chạy
theo cái mới quên bỏ những lời dạy bảo hay, tốt của Thánh Hiền,
của Tổ tiên, bắt chước bọn người hư xấu, học tập thói ngang ngược
hỗn láo, lớn tiếng nhiều lời khinh dể Phật Trời, phụ bỏ Mẹ Cha,
không kể gì công ơn mang nặng đẻ đau dưỡng nuôi cực khổ.
Nghĩa chữ khó:
Nghinh tân yểm cựu:
đón cái mới quên bỏ cái cũ.
Dưỡng dục:
nuôi nấng và dạy bảo.
Ngang ngược:
trái với lẽ phải; không kể gì lẽ phải trái.
Phụ: làm
trái ngược, quên công ơn người đã cứu giúp.
Khinh dể:
coi không ra gì, xem thường, coi như rơm rác.
Dưỡng dục:
nuôi dạy - nuôi nấng và dạy bảo.
-- *** --
21.-"Thương
lê thứ bày tường trong đục - Mặc ý ai nghe phải thì làm - Lời của
người di tịch Núi Sam - Chớ chẳng phải bày điều huyễn hoặc".
(dòng 23 tới 26, trang 55)
Luận giải:
Thương dân Người
đã nói hết lời, chỉ dạy rõ ràng những điều đúng sai, phải trái, ai
nghĩ suy thấy đúng thì làm, chớ không nài ép. Người cho
biết đó là những lời của Đức Phật Thầy để lại, không phải Người
đặt bày nói chuyện khó tin.
Nghĩa chữ khó:
Lê thứ: dân
thường không chức phận trong làm xóm.
Huyễn hoặc:
chuyện khó tin.
Di tịch:
lời của người chết để lại. Bực tu đắc đạo chết gọi là tịch. Đức
Phật Thầy Tây An tịch diệt, nhục thân Ngài chôn tại Núi Sam.
-- *** --
22.-"Cảnh
Thiên Trước thơm tho nồng nặc - Chẳng ở yên còn xuống phàm trần -
Ấy vì thương trăm họ vạn dân - Nên chẳng kể tấm thân lao khổ
".
(dòng 27 tới 30, trang 55)
Luận giải:
Người
không đành ngồi yên ở Thiên Trúc, nơi không khí trong lành, bốn
mùa hương sen ngào ngạt, vì lòng thương dân đang ngụp lặn trong
đau khổ, mới xuống trần chịu khó nhọc đi khắp nơi chỉ dạy cho
người đời hiểu biết về Đạo Phật nhằm mang an vui hạnh phúc cho thế
nhân.
Nghĩa chữ khó:
Thiên trước:
các nước chung quanh nước Tàu đều gọi Ấn Độ là Thiên trước.
Hiện nay các nhà tu Phật vẫn gọi như vậy. Ngoài tiếng Thiên trước,
Thiên trúc, còn kêu Tây vực.
Nồng nặc: Nghĩa
ở đây là hương thơm lan tỏa rộng ra.
Phàm trần:
nơi con người đang sống; cũng chỉ người đời.
Lao khổ:
cực nhọc, tốn nhiều sức lực, mệt mỏi.
-- *** --
23.-"Giả
Quê Dốt khuyên người tỉnh ngộ - Giả Bán Buôn thức giấc người đời -
Rằng ngày nay có Phật có Trời - Kẻo dân thứ nhiều người kiêu ngạo".
(dòng 31 tới 34, trang 55)
Luận giải:
Người
giả Quê
Dốt đi khắp nơi khuyên dạy dân bỏ mê tối theo về đường sáng;
giả người Buôn Bán chỉ rõ đạo lý cho người trần hiểu biết
việc sai điều đúng mà chừa bỏ tánh ngang ngược để từ đây biết có
Phật có Trời.
Nghĩa chữ khó:
Tỉnh ngộ:
hết mê tối, biết ra mà sửa chửa điều sai trái .
Dân thứ - Thứ dân:
dân thường, dân không chức quyền.
Kiêu ngạo:
chê, chế nhạo; cho mình hơn mà khi người. Không tin có Trời Phật,
Thánh Thần.
-- *** --
24.-"Xuống
mượn xác nhằm năm Kỷ Mão - Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng - Nếu
trẻ già ai biết thì dùng - Chẳng có ép có nài bá tánh - Nghe Điên
dạy sau này thơi thảnh - Đây chỉ đường Cực Lạc vãng sanh - Đừng có
ham lên mặt hùng anh - Sa địa ngục uổng thân uổng kiếp"
(dòng 35 - 36, trang 55 và dòng 1
tới 6, trang 56)
Luận giải:
Vì cứu đời, năm Kỷ
Mão (1939)
Người
xuống thế gian mượn
xác phàm trần, chịu cực khổ đi khắp nơi dạy Đạo, vậy mà dân ở xóm
làng không hiểu biết nỡ lòng ghét Người. Với mấy lời khuyên
này, già với trẻ ai nghe mà biết sửa tánh răn lòng, làm việc hiền
xa điều dữ thì đời sống sẽ thong thả yên vui; đây là Người
chỉ dạy đường tu chớ không nài không ép. Người chỉ mong kẻ
thế trần đừng ham ra vẻ tài ba, cho mình hay giỏi mà khi dể mọi
người rồi ngày sau rơi xuống địa ngục mà uổng thân uổng kiếp.
Nghĩa chữ khó:
Ép nài hay
nài ép: mời, đòi cho được; cố nói
lý lẽ cho người nghe theo.
Bá tánh:
trăm họ, chỉ chung người trong nước.
Thơi thảnh hay
thảnh thơi: hoàn toàn không vướng
bận, không phải lo nghĩ ...
Cực lạc vãng sanh:
sanh về nơi an vui, sung sướng.
Lên mặt: làm
phách, làm cao, lúc nào cũng tỏ ra hơn người, coi thường người
chung quanh.
Hùng anh:
tài giỏi hơn người.
Địa ngục:
nơi trừng phạt hồn người ở cõi chết; cũng chỉ nơi tận cùng của đau
khổ.
Uổng: mất
đi một cách vô ích.
Kiếp: đời
người, khoảng ngày giờ khi con người sanh ra tới lúc chết.
-- *** --
25.-"Theo
đạo lý nhứt tâm mới kịp - Ngày nay đà gặp dịp tu hành - Niệm Di Đà
rán niệm cho rành - Thì mới được sống coi Tiên Thánh
".
Luận
giải:
(dòng 7 tới 10, trang 56)
Thế gian sắp tới kỳ
tiêu diệt, vì ngày tháng không còn nhiều nên Người chỉ dạy
pháp môn Tịnh Độ, nếu quyết tâm sớm chiều niệm tưởng Đức Phật A
Di Đà giữ lòng yên tịnh, không để tạp niệm lăng xăng lộn xộn mới
khỏi bị phiền não ngăn che chơn tâm, nhờ vậy trí huệ mới phát sanh.
Khi tâm trí sáng suốt thì ham muốn và dục tính không còn. Đây là
dịp may, phải rán bền lòng tu học mới có đời sống thảnh thơi hạnh
phúc, còn được tận mắt nhìn Tiên với Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Đạo lý:
nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo. Những phép tắc các bực Thánh
Hiền từ xưa lưu lại được xã hội thừa nhận làm mẫu mực để người đời
đối xử với nhau.
Nhứt tâm:
một lòng, quyết giữ một lòng không thay đổi.
Tu hành: Tu:
- sửa, sắp đặt lại
cho tốt hơn truớc.
- sửa mình: theo đạo lý mà sửa đổi việc
ăn ở, tánh tình, lời nói,cách đối xử với mọi người.
Hành: làm
đúng những điều Phật dạy, giữ đứng đắn cách thức của người tu.
Niệm - Niệm Di Đà:
xin xem số
8.
Tiên: người
tu theo đạo Lão, sống an nhàn ở núi non. Nghĩa bóng:
những vị dứt bỏ danh lợi, không vướng bận những ghét ưa, thương
giận, oán thù, lánh mình nơi non cao an dưỡng tinh thần, cuộc sống
đó là tiên.
Thánh:
xin xem số 9.
Phụ giải:
Pháp môn:
cách dạy tu học. Các lý lẽ mà đức Phật dạy, chư đệ tử của Phật lấy
đó làm phép tắc, gọi là pháp, do pháp đó mà tu học và thành Đạo,
gọi là môn.
Tịnh độ có
hai nghĩa:
a/- Pháp
môn dạy niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà và cầu được sanh về cõi
Tịnh độ.
b/- Cõi
đất trong sạch của Đức Phật A Di Đà ở Tây phương, yên lành, không
bị nhiễm dơ.
-- *** --
26.-"Đức
Minh Chúa chẳng ai dám sánh - Xưa mạt Thương phụng gáy non Kỳ -
Bởi Võ Vương đáng bực tu mi - Nay trở lại khác nào đời trước".
(dòng 11 tới 14, trang 56)
Luận giải:
Nước Tàu ngày xưa khi
nhà Thương sắp mất, chim phụng gáy ở non Kỳ báo hiệu vua hiền ra
đời, đó là Châu Võ Vương, một anh hùng, một vì vua tài đức hơn
người. Đời nay cũng giống như thời kỳ nhà Châu lập quốc, Việt Nam
sẽ có vị vua tài đức ra đời.
Nghĩa chữ khó:
Minh Chúa:
vị vua sáng suốt, hiền đức hết lòng thương và chăm lo đời sống cho
dân.
Mạt Thương:
nghĩa là nhà Thương
sắp dứt
(1783-1135 trước Tây
lịch). Nhà
Thương do vua Thành Thang sáng lập,
truyền đến vua Trụ, đời thứ 28, một vua độc ác, tham dâm, hiếu sắc,
không lo cho dân; trều đại được 644 năm thì mất về nhà Châu, tức
Châu Võ Vương Cơ Phát.
Phụng hay
phượng: giống chim linh, được xem là chúa loài chim,
nhưng ít người thấy
(có thể do người xưa
tưởng tượng?) Phượng:
chim trống, Hoàng - Loan: chim mái.
Tu mi: Tu:
râu. Mi: chơn mày, chỉ đàn ông con trai. Ngày xưa
(Tàu)
đàn ông mới để chơn mày, đàn bà thì nhổ hết. Nghĩa bóng ngầm chỉ
người đàn ông xứng đáng, có tài.
Đức: vui thích làm
điều lành; hay tha thứ, thương giúp người, thương sanh vật, ở phải
đạo.
-- *** --
27.-"Kẻ
gian ác bị gươm ba thước - Nơi pháp tràng trị kẻ hung đồ - Được
thảnh thơi nhờ chữ Nam Mô - Khuyên bổn đạo rán mà trì chí".
Luận giải:
(dòng 15 tới 18, trang 56)
Kẻ gian ác và bọn người
hung dữ ngang ngược sau này bị xử chém bằng gươm. Người
khuyên các vị tu học Phật rán bền lòng chặt dạ tin tưởng nơi giáo
lý của đức Thế Tôn. Đạo Phật ra đời cứu khổ cho người đời, nên
người tu học phải giữ gìn giới luật, nếu tất cả mọi người đều làm
lành, xa dữ, thì xã hội này, thế giới này được sống trong an lành
và hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Gươm ba thước:
thanh gươm dài ba thước
(một thước ngày xưa là
ba tấc ba mươi ba: 03.33 mét)
Pháp tràng hay
pháp trường: nơi xử người bị tội chết.
Hung đồ: đảng dữ,
phe nguời hung dữ.
Thảnh thơi:
rảnh, thung dung, không bận lo nghĩ.
Trì chí:
bền chí, bền lòng; dầu gặp khó khăn nguy hiểm lòng vẫn không
thay đổi.
--
*** --
28.-"Xưa
Tây Bá thất niên Dũ lý - Huống chi ta sao khỏi tiếng đời - Dòm
biển trần cảnh khổ vơi vơi - Lao với khổ,
khổ lao chẳng xiết
".
Luận giải:
(dòng 19 tới 22, trang 56)
Ngày xưa Tây Bá hầu, một
bực đại hiền còn phải chịu tù oan bảy năm ở Dũ lý, nên sá gì miệng
đời bàn tán, khen chê, Người hết lòng mang nền Đạo lành của
Đức Thích Ca vào đời giảng dạy, mong giải cứu thế nhân đang lặn
hụp, ngập chìm trong biển trần khổ minh mông, cảnh khổ đau mà
không lời lẽ, không bút mực nào kể hết được.
Nghĩa chữ khó:
Tây Bá: tên Cơ
Xương, vua một nước nhỏ thời mạt Thương
(Tàu),
là một bực hiền, được người thời bấy giờ xem như vị Thánh. Ông
biết số mạng mình phải bị tù oan bảy năm, nên dằn lòng chịu giam
nơi Dũ lý. Con Ông là Cơ Phát hội binh với các nước nhỏ cùng đánh
Trụ, tức nhà Thương
(xin xem Mạt Thương, số
26). Dẹp xong nhà Thương, Cơ Phát lên ngôi
vua, xưng Châu Võ Vương, phong cho cha là Cơ Xương, tước Châu Văn
Vương
Biển trần: nhà
Phật ví đời là biển khổ.
Vơi vơi: vời vợi,
diệu vợi, xa xôi, minh mông, sâu lắm.
Lao khổ:
xin xem s ố
22.
-- *** --
29.-"Ghét
bạo chúa là xưa Trụ - Kiệt - Mất cơ đồ lại bị lửa thiêu - Thương
Minh Vương bắt chước Thuấn Nghiêu - Lòng hiền đức nào ai có biết".
(dòng 23 tới 26, trang 56)
Luận giải:
Ghét hai vua tàn ác
ngày xưa là Trụ và Kiệt, không thương dân, ham vui chơi, thích
giết người mới mất nước, rồi kẻ phải đốt mình, người bị tù đày. Vị
Minh Vuơng sẽ noi gương hai vua Thuấn – Nghiêu, lòng hiền đức của
Ngài bây giờ chưa ai hay biết.
Nghĩa chữ khó:
Bạo chúa:
vua hung ác xem rẻ mạng người.
Trụ:
(xin xem Mạt
Thương số 26)
Kiệt: vua nhà Hạ
(Tàu), có sức
mạnh, giỏi võ nhưng tham ác, ăn xài quá mức, ham rượu và gái, say
mê nàng Muội Hỷ bỏ bê việc nước, bị vua Thang đem quân đánh bắt
đày ra Nam Sào, dứt nhà Hạ, lập nên nhà Thương mà vua Trụ làm mất
sau này.
Cơ đồ: sự nghiệp
lớn, chỉ về đất nước.
Lửa thiêu: vua
Trụ tự đốt mình tự tử, không để bị bắt.
Minh Vương: vị
vua sáng suốt, tài đức, mà tín đồ PGHH tin Ngài là vị vua tương
lai của Việt Nam.
Thuấn - Nghiêu:
(Tàu -
2357-2256) trước Tây lịch. Vua Nghiêu họ Y
Kỳ, tên Phong Huân, đóng đô ở Bình Dương, là vị vua hiền, thương
và lo cho dân, sáng suốt, ngay thẳng, nước nhà thời đó rất yên
vui. Vua Nghiêu thấy Thuấn
(2256-2208),
tên Trùng Hoa, người hiền nên truyền ngôi cho Thuấn mà không giao
ngôi cho con. Vua Thuấn đóng đô ở Bồ Bản, tỉnh Sơn Tây ngày nay
(Tàu).
Hiền đức: hiền,
ngay thật, hay tha thứ, thương và giúp người, thương sanh vật.
Bạo chúa: vua ác,
thích chém giết, không lo cho dân.
Phụ giải:
Đóng đô: nơi vua
đặt bộ máy cai trị.
-- *** --
30.-"Thương
trần thế kể sao cho xiết - Mượn xác trần bút tả ít hàng - Kể rõ
ràng những việc lầm than - Mặc làng xóm muốn nghe thì chép - Việc
tu tỉnh Khùng không có ép - Cho giấy vàng Điên chẳng có nài
".
Luận giải:
(dòng 27 tới 32, trang 56)
Vì thương dân, Người
xuống trần mượn xác phàm đi khắp nơi dạy Đạo cứu độ người đời,
ngoài những lời giảng giải, Người còn viết rõ ra trên giấy
trắng mực đen những điều hay lẽ phải, cách tạo cuộc sống hạnh phúc
an vui. Người không nài ép hay bắt buộc ai phải ăn năn cải
sửa, tu hành. Nhưng trong xóm làng, nếu ai tin tưởng thì chép lại
dành khi rảnh rổi lấy ra xem, Người cũng không nệ hà việc
dùng giấy vàng trị bịnh, vì đây chỉ là phương tiện nhằm gây niềm
tin để hướng dẫn người đời vào Phật Đạo mà thôi.
Nghĩa chữ khó:
Trần thế:
xin xem số 5.
Lầm than: đói
khổ, chịu đựng quá nhiều khó khăn.
Tu tỉnh: xét kỹ
lại lòng mình thấy lỗi lầm mà ráng từ bỏ, ráng sửa đổi.
--
*** --
31.-"Lòng
yêu dân chẳng nệ vắn dài - Cho bổn đạo giải khuây niệm Phật - Việc
xảy đến Đây truyền sự thật -Ấy là lời của Phật giáo khuyên".
Luận giải:
(dòng 33 tới 36, trang 56)
Lòng thương yêu dân
Người không nệ hà khó khăn, cực khổ, đi khắp nơi nhắc nhở làm
lành xa dữ, khuyên dạy niệm Phật tu hành và báo trước những việc
sẽ xảy ra, Người mong sao ai nấy đều hiểu rằng những lời
này là của Phật, không bao giờ sai trật.
Nghĩa chữ khó:
Nệ: quản ngại, e
ngại.
Niệm Phật:
xin xem số 8.
Giáo khuyên -
Khuyên nhủ hay Khuyến nhủ: chỉ dạy với lời lẽ
dịu dàng mà không bắt buộc.
-- *** --
32.-"Rán
nghe lời của kẻ Khùng Điên - Phật,
Tiên,
Thánh hãy nên trọng kỉnh - Bịnh ôn dịch cũng đừng mời thỉnh - Cõi
ngũ hành chẳng khá réo kêu - Hãy gìn lòng chớ khá dệt thêu - Nói
xiên xỏ cũng không no béo".
Luận giải:
(dòng 1 tới 6, trang 57)
Người
khuyên dân rán nghe lời của Người mà kính trọng Phật, Tiên,
Thánh; đừng kêu mời bịnh ôn dịch hay réo gọi ngũ hành về giết hại
người; lòng lúc nào cũng phải giữ ngay thật, đừng nói thêm, nói
bớt hoặc nói xéo nói xiên, đó là một thói xấu nên tránh.
Nghĩa chữ khó:
Phật - Tiên – Thánh:
xin xem số 7 và 9.
Ôn dịch:
ói mửa, tiêu chảy không ngừng, bịnh hay lây, dễ chết người vì cơ
thể khô nước. Người nhà quê tin là thần ôn dịch làm ra, nên cúng
heo, bò, gà, vịt cầu xin tha thứ.
Ngũ hành: năm
chất cần thiết cho sự sinh hoá và sống còn của muôn loài vạn vật:
Kim, hướng Tây, Mộc, hướng
Đông, Thủy, hướng Bắc, Hoả,
hướng Nam, Thổ, Trung ương. Người xưa
tin theo chuyện Tàu, có năm vị Thần Tiên cai quản: Kim
(kim loại) ở hướng Tây, thuộc Diêu
Trì Kim Mẫu; Mộc
(cây
thuộc Đông Huê Đế Quân; Thủy
(nước)
thuộc Bắc Huê Đế Quân;
Hỏa
(lửa)
thuộc Nam Huê Đế Quân;
Thổ
(đất)
thuộc Trung Huê Đế Quân. Năm vị ở 5 hướng, rất có
quyền, nên các bà hung ác hay kêu mời về trừng trị kẻ nào bị các
bà thù, ghét.
Dệt thêu: việc
làm khéo tay của phụ nữ. Nghĩa bóng chỉ những bịa đặt có ác ý,
khéo thêm bớt, chuyện không nói có gây ra chuyện cho người tin mà
giận hờn, thù ghét nhau.
Nói xiên xỏ: nói
quanh co châm chọc ai đó nhưng không chỉ ngay người.
-- *** --
33.-"Đời
Nguơn Hạ ngày nay mỏng mẻo - Khuyên thế trần hãy rán kiêng dè -
Mặc tình ai lên ngựa xuống xe - Ta chẳng có ham nơi phú qúi
".
(dòng 7 tới 10, trang 57)
Luận giải:
Vì đời Hạ Nguơn sắp dứt,
nên Người khuyên dân hãy rán dè dặt, giữ gìn, mặc cho ai
lên ngựa xuống xe, bởi công danh, sự nghiệp, tiền tài không phải
là yếu tố gây cho đời sống được hạnh phúc. Hãy nên yên phận đừng
ham của tiền, danh vọng mà làm điều sai trật.
Nghĩa chữ khó:
Nguơn Hạ hay
Hạ Ngươn hay
Hạ Nguyên: theo lịch số Đông phương
(Bảng ghi
ngày giờ năm tháng vận chuyển theo mặt trăng và một số ngôi sao)
chia làm ba nguơn, mỗi nguơn là một thời
kỳ, con người mỗi ngươn có cuộc sống khác biệt về đạo đức, về tánh
tình:
- Thượng nguơn, con người hoàn toàn
tốt, thế giới trong sạch, yên vui.
- Trung nguơn, con người bắt đầu hư,
lơ là việc dưỡng tánh tu tâm, đời khởi sự có bụi dơ.
- Hạ nguơn, là hiện chúng ta đang
sống, con người quá tệ bạc, quá gian ác, xấu xa ... theo
Phật giáo, thì cõi đời này là hạ ngươn, sắp chấm dứt để lập lại
thượng ngươn.
Thế trần:
xin xem số 5.
Kiêng dè: giữ gìn
ý tứ, dè dặt, e dè.
Lên ngựa xuống xe:
chỉ sự giàu có sang trọng.
Phú qúi: giàu
tiền của, sống sang trọng.
Phụ giải:
Sang trọng: vẻ
cao quý, ăn xài rộng rãi; người có chức phận được kính trọng.
-- *** --
34.-"Trong
bổn đạo từ nay kim chỉ - Đói với nghèo sắp đến bây giờ - Vì thương
đời nên Lão kể sơ - Cho bá tánh rõ lời châu ngọc
".
Luận
giải:
(dòng 11 tới 14, trang 57)
Anh chị em trong gia
đình nhà Phật từ nay nên cần kiệm, đói với nghèo sắp tới bây giờ.
Dầu thương dân nhưng vì không thể nói rõ sự sắp đặt của Trời,
Phật, Người chỉ kể sơ để người đời rán mà tìm hiểu ý nghĩa
trong những lời khuyên quí báu này.
Nghĩa chữ khó:
Bổn đạo: đạo nhà.
Nghĩa rộng, người trong đạo Phật, trong gia đình nhà Phật.
Kim chỉ: cây kim
và sợi chỉ may tuy là vột nhỏ mọn, không đáng giá nhưng cũng nên
gìn giữ, ngoài việc nói về sự khéo tay may vá của phụ nữ, ở đây
còn ngụ ý khuyên nên cần kiệm, việc đáng mới xài, tiền của phải
dành để phòng khi có việc cần, hoặc dùng giúp đỡ người.
Phụ giải:
Cần kiệm: tánh
tốt của người biết xài tiền, xài đúng lúc và cần thiết.
-- *** --
35.-"Nước
Nam Việt ai là thằng ngốc - Người đời nay như ốc mượn hồn - Chim
tìm cây mới gọi chim khôn - Người hiền đức mới là người trí
".
(dòng 15 tới 18, trang 57)
Luận giải:
Nhiều người chẳng lo
nghĩ gì về tương lai đất nước, không quan tâm gìn giữ đạo lý của
Tổ Tiên, không cần biết ngày mai sẽ ra sao, sống thu mình như loài
ốc mượn hồn. Con chim khôn còn biết chọn cây to, cành chắc đậu,
người khôn có trí óc phải xét nhìn thời thế, vận mạng quê hương
dân tộc, tìm người tài đức theo giúp, hoặc chọn cho mình cuộc sống
trong sạch, đạo đức, biết tìm Đạo chánh tu thân và trau sửa tâm
hồn.
Nghĩa chữ khó:
Ngốc: ngu dại,
kém trí khôn, kém suy xét và xử sự.
Ốc mượn hồn: một
loại tôm nhỏ, có đủ: râu, mắt, càng, que, nhưng thân mình là một
cục thịt, không vỏ cứng nên phải tìm vỏ ốc trống chui vào tránh
các sinh vật khác ăn thịt. Tiếng Ốc mượn hồn chỉ
hạng người yếu đuối, lúc nào cũng cần sự che chở; sống co rút tìm
yên thân.
Chim khôn: theo ý
hai câu thơ xưa: "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi"
(ngựa Hồ
hí gió bắc, chim Việt làm ổ cành Nam).
Giống ngựa ở các xứ phương bắc nước Tàu bị đưa ra khỏi nước, khi
gió bắc thổi, nhớ quê hương hí lên. Giống chim nước Việt thường
làm ổ ở cành cây phía Nam, tức về hướng đất Việt. Nghĩa bóng:
không quên nơi sanh đẻ và nguồn gốc của mình. Theo chuyện: Hớn Võ
đế được nước Hồ
(phía bắc nước Tàu) tặng con ngựa hay; ngựa
đó nhớ xứ, buồn ít ăn uống và hí thê thảm mỗi khi có gió bắc. Đời
Hùng Vương tặng vua Tàu một con trĩ trắng; chim ấy luôn chọn những
cành cây mọc chỉ về hướng Nam mà đậu.
Câu này theo chúng tôi, có nhiều ý:
- Người khôn không chạy theo những kẻ giàu sang
có nhiều quyền thế mà gian ác;
- Người khôn không nên chạy theo sống nhờ với
quân giặc cuớp đất nước mình;
- Nguời khôn biết chọn Chúa hiền để thờ, chọn
Đạo chánh mà theo;
- Người khôn biết chọn cho mình cuộc sống và
nghề nghiệp ngay thẳng, luôn giữ gìn đạo đức.
Phụ giải:
Tương lai: những
việc sắp tới.
-- *** --
36.-"Theo
Phật Giáo sau này cao quí - Được nhìn xem Ngọc Đế xử phân - Lại
dựa kề Bệ Ngọc Các Lân - Cảnh phú quí nhờ ơn Phật Tổ".
Luận giải:
(dòng 19 tới 22, trang 57)
Bực tu hành ngay thật
chắc chắn sẽ có cuộc sống an vui, được người đời quí trọng và ngày
sau còn gần gũi, nhìn tận mắt sự phán xét của Ngọc Đế, đó là nhờ
ơn Phật Tổ.
Nghĩa chữ khó:
Ngọc Đế hay
Ngọc Hoàng, theo niềm tin dân gian là vua Trời đấng tạo
ra muôn loài vạn vật.
Bệ Ngọc: bực thềm
lên chỗ Ngọc Đế ngồi có cẩn ngọc.
Các Lân: gác chạm
hình kỳ lân. Bệ ngọc các lân: chỉ nơi vua Trời ngồi.
Phú quí:
xin xem số 33.
-- *** --
37.-"Thấy
bá tánh nhiều điều tai khổ - Khùng thương dân nên phải hết lời -
Dạo Lục Châu chẳng có nghỉ ngơi -Mà lê thứ nào đâu có biết".
Luận giải:
(dòng 23 tới 26, trang 57)
Thương người đời nhiều
nạn khổ, Người đi khắp sáu tỉnh miền Nam, hết lời giảng dạy
Đạo đến nỗi không có thì giờ nghỉ ngơi vậy mà có mấy ai hay biết.
Nghĩa chữ khó:
Tai khổ: tai họa
và lao khổ: là điều thiệt hại xảy đến cho đời sống.
Lục châu: năm
1831 vua Minh Mạng ký sắc lịnh thành lập sáu châu ở miền Nam Việt
Nam mà sau này kêu là tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh
Long, An Giang và Hà Tiên.
Lê thứ:
xin xem số 21.
Phụ giải:
Lục Châu đến
thời Pháp cai trị đổi thành 20 tỉnh: 1.-
Gia Định. 2.- Châu Đốc.
3.- Hà Tiên. 4.- Rạch Giá. 5.-
Trà Vinh. 6.- Sa Đéc. 7.- Bến Tre. 8.- Long Xuyên.
9.- Tân An. 10.- Sóc Trăng. 11.- Thủ Dầu
Một. 12.- Tây Ninh. 13.- Biên Hoà. 14.-
Mỹ Tho. 15.- Bà Rịa. 16.- Chợ Lớn. 17.-
Vĩng Long. 18.-
Gò Công. 19.- Cần Thơ. 20.- Bạc Liêu.
-- *** --
38.-"Dạy
Đạo chánh vì thương Nam Việt - Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng - Trở
về Nam đặng có sửa sang - Cho thiện tín đuợc rành chơn lý".
(dòng 27 tới 30, trang 57)
Luận giải:
Vì thương dân Việt nên
Người hết lòng giảng dạy về nền Đạo của Đức Thích Ca, còn
thời gian ở Cao Miên là mến vua nước này. Nay Người trở về
Nam tiếp tục chỉ dạy cho người tin Phật hiểu biết thêm lý lẽ chơn
chánh cùng ý nghĩa cao sâu của Phật giáo.
Nghĩa chữ khó:
Đạo Chánh: đường
ngay; đạo chơn chánh.
Cao Miên:
Cam Bốt - Khờ Me hoặc Campuchia ngày
nay.
Tần Hoàng:
chỉ vua Cao Miên.
Thiện tín:
người hiền lành tin tưởng đạo Phật.
Chơn lý: lẽ
thiệt, lẽ đúng đắn của sự việc, của nền đạo.
-- *** --
39.-"Trong
Sáu Tỉnh nhiều điều tà mị - Tu hành mà vị kỷ quá chừng - Thì làm
sao thoát khỏi trầm luân - Khuyên bổn đạo rán tầm nẻo chánh -
Chừng lập Hội xác thân mới rảnh - Nếu không thời khó thấy Phật
Trời
".
Luận giải:
(dòng 31 tới 36, trang 57)
Miền Nam có nhiều nhà
tu làm điều sai trật, gian dối, chỉ biết lo nghĩ riêng cho mình,
tu cách đó tránh sao khỏi ngập chìm trong biển khổ. Người
khuyên những ai tu Phật nên rán giữ gìn đường ngay lẽ chánh, một
lòng thành thật sớm tối kệ kinh làm đúng lời Phật dạy, được như
vậy, đến ngày lập Hội thân xác mới còn, bằng không, khó sống để
thấy sự thưởng phạt của Phật Trời.
Nghĩa chữ khó:
Tà mị: gian
dối.
Lập Hội:
Hội của Phật Trời lựa chọn người hiền đức lập đời mới. Nghĩa bóng
ám chỉ người tu cũng phải trải qua một cuộc "thi cử" gay go, ai
thiếu tài đức không qua được Hội này. Theo PGHH, Hội Long Vân -
Hội Mây Rồng - Hội Long Hoa chọn người hiền đức. Theo Phật Giáo,
Hội Long Hoa, do Phật Di Lạc khai hội dưới cội Long hoa.
Vị kỷ: ích
kỷ, chỉ lo cho riêng mình.
Trầm luân:
chìm đắm; chìm trong biển khổ nhiều kiếp.
-- *** --
40.-"Khùng
dạy dân chẳng dám nghỉ ngơi - Đi chẳng kể tấm thân già cả - Cảnh
trần thế mặc ai thong thả - Chớ lòng ta chẳng đắm hồng trần".
(dòng 1 tới 4, trang 58)
Luận giải:
Thương dân Người
không nài cực khổ, chẳng kể thân già yếu, đi khắp nơi dạy Đạo
không dám nghỉ ngơi. Ở thế gian mặc ai tìm hưởng sang giàu, thong
thả, riêng lòng Người không dính chút bụi hồng.
Nghĩa chữ khó:
Đắm: chìm
xuống đáy nước. Nghĩa bóng là mê mết, say sưa, mê say.
Hồng trần:
bụi cát đỏ hung hung, bụi hồng. Nghĩa bóng chỉ cõi đời bụi cát,
lăn xăn, ồn ào.
-- *** --
41.-"Có
thân thì rán giữ lấy thân - Để đến việc ăn năn chẳng kịp - Yêu
những kẻ tâm đầu ý hiệp - Mến những ai biết kiếm Đạo mầu - Cảnh
Tây Thiên báu ngọc đầy lầu - Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng
".
(dòng 5 tới 10, trang 58)
Luận giải:
Người đời phải giữ
gìn cuộc sống của mình cho lành mạnh, để về sau khỏi ăn năn hối
tiếc. Nên mến yêu bạn đồng tâm ý, biết sống đạo hạnh để cùng nhau
đạt đến an vui, thảnh thơi sung túc.
Nghĩa chữ khó:
Ăn năn:
tiếc đã làm lỗi nên quyết cải sửa.
Tâm đầu ý hiệp:
hợp ý và hiểu nhau; cùng những tình cảm và cách suy nghĩ giống
nhau.
Tu tỉnh: tự
xét thấy lỗi lầm nên quyết tâm sửa đổi.
Tây Thiên:
Trời Tây, hay Tây Trúc, Thiên Trúc, Tây vực, là nơi Đức Phật giáng
sanh. Nghĩa bóng chỉ nơi hoàn toàn trong sạch, không lo buồn,
không đau khổ !
An dưỡng:
nghỉ ngơi, tâm trí rảnh rang.
-- *** --
42.-"Kẻ
hiền đức sau này được hưởng - Phép Thần Linh của Đức Di Đà - Lại
được thêm thoát khỏi Ta Bà - Khỏi luân chuyển trong vòng Lục Đạo
".
(dòng
11 tới 14, trang 58)
Luận giải:
Đạo Phật ra đời là để
cứu khổ người đời, nên các bực tu hành hiền đức, thành lòng học
Đạo sẽ nhờ ơn Đức Phật A Di Đà cứu độ thoát cõi Ta Bà, khỏi phải
chịu luân chuyển trong sáu đường luân hồi nữa.
Nghĩa chữ khó:
Hiền đức:
hiền, ngay thật, biết tha thứ và rộng lòng thương giúp người, cứu
vật.
Thần linh:
sức mạnh vô hình; chỉ tài phép của chư Phật.
Ta Bà: theo nhà
Phật là Kham nhẫn. Kham:
có thể chịu đựng được. Nhẫn: nhận chịu, cam chịu. Vì
cõi ta bà này quá nhiều người tham ác, một thế giới bụi dơ, rất
khó tu, do đó cần có đức kiên nhẫn chịu đựng được mọi sự khổ.
Luân chuyển:
thay đổi, xoay chuyển như bánh xe quay giáp vòng rồi lại tiếp
tục.
Lục Đạo:
sáu đường luân hồi:
1.-
Thiên
(Tiên).
2.-
A tu la
(Thần).
3.-
Nhơn
(Người)
4.-
Địa ngục
(Nhà tù cõi âm phủ).
5.- Ngạ quỉ
(Ma đói).
6.-
Súc sanh
(Thú vật).
Phụ giải:
Luân hồi: Luân:
bánh xe quay theo vòng tròn.
Hồi: quay lại,
trở về.
--
*** --
43.-"Đức
Diêm Chúa yêu người hiền thảo - Trọng những ai biết niệm Di Đà -
Lại được gần Bệ ngọc Long Xa - Coi chư quốc tranh giành châu báu".
(dòng 15 tới 18, trang 58)
Luận giải:
Đức Diêm Vương thương
mến người hiền đức và hiếu thảo, Ngài cũng trọng những ai thành
lòng niệm tưởng Phật, ngay thật tu hành, vì những vị này ngày sau
sẽ được dựa kề bệ ngọc xem các nước tranh giành quyền lợi.
Nghĩa chữ khó:
Diêm Chúa: vị vua
cai trị cõi Âm phủ, thế giới người chết.
Long xa: xe chạm
rồng của vua dùng.
-- *** --
44.-"Trai
nhỏ tuổi kính thành trưởng lão - Gái bé thơ biết trọng tuổi già -
Rán tỉnh tâm dẹp được lòng tà - Thì được thấy Phật,
Tiên,
Thần,
Thánh".
(dòng
19 tới 22, trang 58)
Luận giải:
Người
khuyên trai cùng gái phải biết kính trọng các bực tu hành và người
cao tuổi. Người cũng khuyên thế nhân nên tỉnh tâm xét kỹ
lại lòng sửa bỏ điều sai trái, rán tu và làm hiền, được vậy mới hy
vọng sống còn để sau này nhìn Phật, Tiên, Thần, Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Trưởng lão: chỉ
các vị đạo đức cao; người già nhiều tuổi.
Tỉnh tâm:
xin xem s ố 5.
Lòng tà: lòng
không ngay thẳng; tính toán gian dối, suy nghĩ điều sai quấy, tính
điều ác.
-- *** --
45.-"Việc
hung dữ hãy nên xa lánh -Theo gương hiền trau sửa làm người - Sau
tà tinh ăn sống nuốt tươi - Mà bá tánh chẳng lo cải thiện
".
Luận giải:
(dòng
23 tới 26, trang 58)
Đừng làm điều hung ác,
noi theo gương các bực Thánh Hiền mà sửa tánh răn lòng để trở
thành người xứng đáng. Sau này dân chúng sẽ vô cùng đau khổ vì bị
một loại người mang trái tim của quỉ dữ, độc ác giết hại; chỉ
những ai tu hành hiền đức mới hy vọng tránh khỏi tai nạn vô cùng
to lớn này để sống còn.
Nghĩa chữ khó:
Gương hiền: gương
hay tốt của các bực Thánh hiền được đời kính trọng -
xin xem số 6.
Cải thiện: sửa
đổi cho tốt hơn.
Hiền: người hiền
lành, ngay thật, hay tha thứ và thương giúp đỡ người, thương sanh
vật.
-- *** --
46.-"Miệng
dương thế hay bày nói huyễn - Sách Thánh Hiền ghét kẻ nhiều lời -
Khuyên chúng sanh niệm Phật coi đời - Cõi Hạ Giái rồng mây chơi
giỡn ". (dòng
27 tới 30, trang 58)
Luận giải:
Người đời vì tánh
hiếu kỳ thường bày truyền miệng với nhau những mẫu chuyện tưởng
tượng, khó tin, sách Thánh Hiền đâu có khen kẻ nhiều lời đó. Vì
vậy, Người khuyên dân niệm Phật để tỉnh tâm, ở ăn ngay thật,
suy nghĩ kỹ và lựa lời trước khi nói; cố gắng làm hiền, tránh xa
việc dữ, khép mình vào đường tu Phật thì cõi trần thế này sẽ hài
hòa, an vui và hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Huyễn:
Chuyện viễn vông không có thật, chuyện khó tin.
Hạ giái:
cõi trần, nơi người đời sống.
Rồng mây chơi giỡn:
sự hài hòa, vui vẻ, vì theo lòng tin dân gian, rồng mây gặp
nhau sẽ đem mưa móc cho đời.
Phụ giải:
Hiếu kỳ: ưa
thích việc lạ, tọc mạch tò mò.
Hài hòa: sự
kết hợp tốt đẹp giữa các thành phần; vừa ý.
Mưa móc:
mưa và sương, nghĩa bóng ơn trên ban xuống.
-- *** --
47.-"Ở
chòm xóm đừng cho nhơ bợn - Rán giữ gìn phong hóa nước nhà - Câu
tam tùng bọn gái nước ta - Chữ hiếu nghĩa trẻ trai cho vẹn - Ghét
những kẻ có ăn bỏn sẻn - Thương những người đói rách lương hiền".
Luận giải:
(dòng 31
tới 36, trang 58)
Ở với xóm làng đừng
có bụng tham xin món này vật nọ; rán giữ gìn những thói quen, lệ
luật tốt của nước nhà. Người phụ nữ Việt Nam khi còn ở nhà phải
phụng thờ Cha Mẹ, lúc có chồng thì hết dạ lo cho chồng con, lo cho
Cha Mẹ chồng, chẳng may chồng chết, phải lo đạo hiếu thay chồng và
dạy dỗ các con. Phận làm trai, ngoài đạo hiếu còn trách nhiệm gìn
giữ Tổ quốc quê hương, ở ăn ngay thật, mở rộng lòng thương giúp đỡ
và sẵn sàng binh vực người yếu thế, người nghèo đói, người thiếu
may mắn. Ở đời không ai ưa hạng người tánh ý hẹp hòi, có của tiền
dư mà keo kiệt, ai sống chết mặc tình.
Nghĩa chữ khó:
Nhơ bợn:
xin xỏ, nhờ vả đến mức độ hèn hạ; cũng chỉ hạng người tham và hay
cắp vặt.
Phong hóa:
thói quen tốt, hay, trong đời sống lâu ngày thành nề nếp của đất
nước, xóm làng.
Tam tùng:
theo đạo Khổng - vẫn còn giá trị đến nay - người đàn bà có ba điều
phải giữ:
1.-
Ở nhà: nghe lời chỉ dạy của cha
(tại gia tòng phụ)
2.-
Có chồng: nghe theo chồng
(xuất giá tòng phu)
3.-
Chồng chết: sống với con
(phu tử tòng tử)
Hiếu nghĩa:
hiếu thảo và đạo nghĩa.
Bỏn sẻn:
keo kiệt, hà tiện quá mức, xấu bụng về tiền bạc.
Lương hiền:
xin xem số
8.
Trách nhiệm:
điều phải làm, phải nhận lấy về mình.
Phụ giải:
Hiếu thảo:
chăm sóc, dưỡng nuôi, kính trọng, không làm điều gì để Ông Bà Cha
Mẹ buồn.
Đạo nghĩa:
điều hợp với lẽ phải và đạo lý.
-- *** --
48.-"Muốn
tu hành thì phải cần chuyên - Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi - Kẻ
phú quí đừng vong cơm nguội - Sau đói lòng chẳng có mà dùng
".
(dòng 1 tới 4, trang 59)
Luận giải:
Muốn tu trước hết
phải thành ý và nghiêm chỉnh hành đạo, siêng năng, giữ đúng giờ
niệm tưởng Phật, lòng lúc nào cũng ghi nhớ lời Phật dạy. Về đời
sống cần phải tiết kiệm, đừng bỏ cơm dư kẻo ngày sau đói lòng e
không có cơm nguội mà ăn.
Nghĩa chữ khó:
Cần chuyên:
để hết tâm ý vào việc làm, không xao lãng.
Vong: quên.
Nghĩa ở đây là đổ bỏ cơm dư.
Phú quí:
xin xem số
33.
Phụ giải:
Tiết kiệm:
ăn xài dè dặt, biết dành để, không xài bừa bãi.
-- *** --
49.-"Ta
yêu đời than thở chẳng cùng - Mà bá tánh chẳng theo học hỏi - A Di
Đà nhìn xem khắp cõi - Đặng trông chờ mong mỏi chúng sanh".
(dòng 5 tới 8, trang 59)
Luận giải:
Người
thương dân nên không
ngớt lời khuyên dạy nhưng chẳng mấy ai chịu nghe mà lo học Phật.
Đức Phật A Di Đà dùng huệ nhãn nhìn khắp nơi mỏi lòng mong chúng
sanh sớm thức tỉnh lo tu hành.
Nghĩa chữ khó:
Chúng sanh:
những loài có sanh có chết rồi lại sanh. Chỉ chung con người và
sanh vật có sự sống, biết đau buồn.
Phụ giải:
Huệ nhãn:
mắt huệ, sự thấy bằng trí huệ.
Tỉnh thức
hay Thức tỉnh:
gợi ra, làm thức dậy cái tư tưởng hay tình cảm tiềm tàng trong
lòng. Nghĩa nhà Phật là Giác ngộ. Nghĩa thông thường là thức dây,
tỉnh dậy sau cơn mê, thấy biết mình sai lầm mà sửa đổi.
Tiềm tàng:
ở tình trạng còn ẩn giấu, chưa bộc lộ ra.
-- *** --
50.-"Hiện
hào quang ngũ sắc hiền lành - Đặng tìm kiếm những người hiền đức -
Kẻ tâm trí mau mau tỉnh thức - Kiếm Đạo mầu đặng có hưởng nhờ".
(dòng 9 tới 12, trang 59)
Luận giải:
Đức Phật A Di Đà
phóng hào quang năm sắc soi khắp bốn phương tìm độ những người
ngay thật, hiền lành, dày công tu niệm về cõi an vui của Ngài. Con
người sáng suốt nhứt trong muôn loài vạn vật, bởi con người có trí
huệ, nên dùng trí huệ suy nghĩ, sớm thức tỉnh tìm chánh Đạo tu
hành để được hưởng nhờ ngày sau.
Nghĩa chữ khó:
Hào quang:
Ánh sáng tỏa ra bốn bên. Ánh sáng trí huệ của các bực tu đắc đạo.
Ngũ sắc:
năm màu.
Hiền đức:
người ngay thật, biết tha thứ và rộng lòng thương giúp đỡ người,
thương sanh vật.
Đạo mầu:
đạo lý cao sâu, hay quí khó có đủ lời giải thích.
-- *** --
51.-"Chốn
hồng trần nhiều cảnh nhuốc nhơ - Rán hiểu rõ huyền cơ mà tránh -
Chốn tửu điếm ta nên xa lánh - Tứ đổ tường đừng có nhiễm vào -
Người tránh xa mới gọi trí cao - Sa bốn vách mang điều nhơ nhuốc
".
Luận giải:
(dòng 13
tới 18, trang 59)
Chốn dương trần có
quá nhiều hư xấu, người đời nên suy nghĩ nhìn xa, tìm hiểu luật
Trời mà gìn giữ thân mình, người cao trí tránh xa bốn điều hư xấu:
uống rượu say sưa, ham mê gái đẹp, đánh bạc và ghiền thuốc phiện.
Ai sa vào là
chuốc lấy nhuốc nhơ.
Nghĩa chữ khó:
Nhơ nhuốc - nhuốc nhơ:
dơ bẩn, tồi tệ, xấu xa.
Huyền cơ:
máy trời, sự sắp đặt của Trời Phật.
Tửu điếm:
quán bán rượu.
Nhiễm: bị
các thứ hư xấu dính vô làm cho tâm hồn cũng như thân xác không còn
trong sạch.
Tứ đổ tường:
bốn điều hư xấu có hại: rượu; mê gái đẹp; cờ bạc; ghiền thuốc
phiện.
-- *** --
52.-"Muốn
tu tỉnh nay đà gặp cuộc - Đức Di Đà truyền mở Đạo lành - Bởi vì
Ngài thương xót chúng sanh - Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy - Nên
khổ lao Khùng không có nại - Miễn cho đời hiểu đặng Đạo mầu".
Luận
giải:
(dòng 19 tới 24, trang 59)
Nay gặp dịp may, Đức
Phật A Di Đà thương chúng sanh nên truyền mở nền Đạo chánh,
Người được lịnh xuống trần giảng dạy cho dân, vì vậy dầu khó
khăn khổ cực Người vẫn vui lòng, miễn sao người đời sớm
hiểu biết mà tu học theo Phật Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Không nại:
không ngại, không buồn lòng, vui với cực khổ,
Sắc lịnh:
lịnh của một vị cao cấp; lịnh của Phật.
Khổ lao
hay lao
khổ:
xin xem số 22.
Nại
hay nệ:
xin xem số 31.
-- *** --
53.-"Ai
muốn tầm Đạo cả cao sâu - Thì hãy dẹp tánh tình ích kỷ - Mau trở
lại đừng theo tà quỉ - Tham,
Sân,
Si chớ để trong lòng".
Luận
giải:
(dòng 25 tới 28, trang 59)
Tu học theo Đạo chánh của Phật thì phải dẹp bỏ tánh ích kỷ, vì ở
đời không ai có thể sống lẻ loi, hãy mở rộng lòng thương yêu, tha
thứ, cùng nương nhau trong cuộc sống, cùng dìu dắt nhau, giúp nhau
sửa đổi thói hư tật xấu. Nếu hiểu đời là vô thường, thân ta cũng
vô thường, rán giữ lòng trong sáng thì
ba độc Tham - Sân -
Si
tự nhiên không còn. Tâm lặng yên thì tạp niệm không sanh, bụi trần
không gợn, lòng như mặt nước hồ thu dầu có quỉ tà cũng không dẫn
dắt được.
Nghĩa chữ khó:
Ích kỷ: chỉ
biết lo riêng mình, ai đau khổ cũng mặc kệ.
Tham: ham
tiền của không kể gì phải trái hay bị chê cười.
Sân: giận
dữ khi bị ai làm trái ý hay nói chạm tới mình.
Si: tâm
tánh mê muội, không thấy lẽ phải mới đi vào đường hư xấu.
Phụ giải:
Vô thường:
tất cả chúng sanh, loài vật đều không chừng, không bền vững, có đó
mất đó.
-- *** --
54.-"Phải
giữ lòng cho được sạch trong - Mới thoát khỏi trong vòng bịnh khổ
- Lớp đau chết kể thôi vô số - Thêm tà ma yêu quái chật đường".
(dòng 29 tới 32, trang 59)
Luận giải:
Giữ tâm hồn luôn
trong sáng, sống một cuộc đời có chừng mực, ngay thẳng hiền hòa,
không gian tham, không hung dữ thì chắc chắn tránh được phiền muộn
và khỏi bị khổ đau. Số người chết bịnh do sống thiếu lành mạnh
cũng như bọn lòng dạ độc ác sau này thây nằm chật đường không thể
nào đếm hết.
-- *** --
55.-"Chốn
hồng trần nhiều nỗi thảm thương - Làm sao cứu những người hung ác
- Khắp thế giới cửa nhà tan nát - Cùng xóm làng thưa thớt quạnh
hiu".
(dòng 33 tới 36, trang 59)
Luận giải:
Máy Trời đã sắp đặt
thế gian này tiêu diệt để đổi cuộc đổi đời, vì thế, chúng sanh
phải chịu nhiều khổ đau chết chóc, Phật cũng không sao cứu đuợc
những kẻ lòng dạ ác gian mà không chịu cải sửa. Khắp thế giới sẽ
cửa nhà tan nát, cùng xóm cuối làng vắng vẻ buồn hiu vì bực tu
hiền quá ít nên người sống còn chẳng được bao nhiêu.
Nghĩa chữ khó:
Quạnh hiu:
vắng vẻ, buồn tanh.
-- *** --
56.-"Bấy
lâu nay nuôi duỡng chắc chiu - Nay tận diệt lập đời trở lại - Khắp
lê thứ biến vi thương hải - Dùng phép mầu lập lại Thượng Nguơn".
(dòng 1 tới 4, trang 60)
Luận giải:
Chúng sanh lâu nay
được Phật Trời chăm sóc dưỡng nuôi, nhưng càng ngày càng có quá
nhiều kẻ hư xấu, hung ác mà không chịu ăn năn cải sửa nên phải bị
tiêu diệt; khắp thế gian rồi sẽ tan tành thành biển, chỉ những ai
hiền lành, lòng dạ ngay thật mới sống còn, và đời Thượng nguơn
được lập lại theo sự xếp đặt của Trời Phật.
Nghĩa chữ khó:
Chắc chiu - chắt chiu:
nuông chiều, chăm sóc kỹ.
Lê thứ: nghĩa
ở đây là con người khắp mọi nơi.
Biến vi thương hải:
biến thành biển xanh, chỉ sự thay đổi lớn trong đời. Do câu "thương
hải biến vi tang điền" trong truyện thần tiên, bà Ma Cô thấy ba
lần biển xanh thành ruộng dâu.
Thượng nguơn:
xin xem số
33.
-- *** --
57.-"Việc
Thiên Cơ Khùng tỏ hết trơn - Cho trần hạ tường nơi lao lý - Lão
nào có bày điều ma mị - Mà gạt lường bổn đạo chúng sanh".
Luận
giải:
(dòng
5 tới 8, trang 60)
Việc sắp đặt của Trời
Phật điều nào nói được Người đã nói, mong sao dân chúng
hiểu rằng kiếp sống của thế nhân ngày nay không khác nào ở chốn
ngục tù, đây là những lời khuyên thành thật chớ không phải
Người bày điều nói gạt người đời.
Nghĩa chữ khó:
Thiên cơ:
xin xem số 4.
Lao lý:
xin xem số 19.
Ma mị: bày
chuyện gạt người.
Bổn đạo:
xin xem số
34.
-- *** --
58.-"Đức
Minh Vương ngự chốn Nam thành - Đặng phân xử những người bội nghĩa
-Trung với hiếu ta nên trau trỉa -Hiền với lương bổn đạo rèn lòng".
(dòng 9 tới 12, trang 60)
Luận giải:
Sau này Đức Minh
Vương ngự ở thành Nam phân xử những kẻ quên ơn bỏ nghĩa, vì vậy,
Người khuyên thế nhân phải giữ tròn Trung với hiếu, ăn ở
hiền, lòng dạ ngay thật; mong sao anh chị em trong Đạo rán tu sửa
theo lời khuyên này.
Nghĩa chữ khó:
Minh Vương:
xin xem số
29.
Bội:
nghĩa là quên bỏ ơn nghĩa.
Trung:
xin xem số 6.
Trau trỉa - trau tria:
trau giồi cho tốt hơn, cho hay hơn.
Hiền lương - Lương hiền:
xin xem số
8.
-- *** --
59.-"Thường
nguyện cầu siêu độ Tổ Tông - Với bá tánh vạn dân vô sự - Đời Nguơn
Hạ nhiều người hung dữ - Nên xảy ra lắm sự tai ương - Đức Di Đà
xem thấy xót thương - Sai chư Phật xuống miền dương thế
".
Luận giải:
(dòng 13
tới 18, trang 60)
Người tu lúc nào cũng
thành lòng cầu nguyện Tổ tiên, Ông Bà (Cha Mẹ đã chết) linh hồn
sớm về cõi yên vui; cũng không quên nguyện cầu tất cả chúng sanh
biết thương yêu và tha thứ nhau để được sống bình an thong thả.
Đời Hạ Nguyên lắm kẻ hung ác gây quá nhiều tai họa cho dân, Đức
Phật Di Đà xem thấy xót thương, mới cho chư Phật xuống thế gian
dạy Đạo và cứu vớt những bực tu hành ngay thật.
Nghĩa chữ khó:
Siêu độ:
được chư Phật cứu về cõi an vui.
Tổ Tông - Tổ tiên:
ông bà trong một dòng họ từ các đời trước.
Vạn dân:
vạn là mười ngàn. Ở đây chỉ chung người đời.
Vô sự - Bình an:
không có chuyện gì phải lo buồn.
Nguơn hạ
hay Hạ nguơn:
xin xem số: 33.
Tai ương - Tai họa:
bị nguy hiểm; việc rủi ro có hại đến sanh mạng, tài sản.
Dương thế:
xin xem
số 10.
-- *** --
60.-"Tu
kíp kíp nếu không quá trễ - Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng -
Cứu lương hiền chẳng cứu người hung - Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt".
(dòng 19 tới 22, trang 60)
Luận giải:
Hãy sớm lo tu kẻo
không còn kịp nữa, nếu chần chờ chừng gặp nguy hiểm khó kiếm
Người. Người chỉ cứu những ai ngay thật hiền lành chớ
không cứu được kẻ hung dữ mà chẳng chịu ăn năn cải hối. Bọn gian
ác ngày sau sẽ không một ai sống sót.
Nghĩa chữ khó:
Kíp kíp:
gấp gấp, mau mau.
Đối đầu:
nghĩa ở đây là gặp phải việc khổ, khó trước mắt mà mình không muốn.
Gian ác:
bất chấp lẽ phải, hung dữ, độc hiểm, gian dối.
-- *** --
61.-"Nay
trở lại như đời Trụ - Kiệt - Hãy tu nhơn chớ có tranh giành - Tuy
nghèo hèn mà chí cao thanh - Được hồi phục nhờ ơn chư Phật".
(dòng 23 tới 26, trang 60)
Luận giải:
Thời nay lộn xộn, dân
chúng đau khổ, chết chóc không khác gì đời hai vua Trụ và Kiệt
ngày xưa. Để được sống còn, Người khuyên thế nhân rán sửa
tánh, răn lòng, ở ăn ngay thật, yên phận giữ tròn đạo làm người,
không nên tranh danh giành lợi, dầu nghèo nhưng tâm ý lúc nào cũng
phải sáng trong cao thượng và nghiêm chỉnh khép mình theo lời Phật
dạy, cuộc sống đó ngày sau chắc chắn sẽ an lành, hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Trụ-Kiệt:
hai vua tàn ác của Tàu ngày xưa -
xin xem số 29.
Tu nhơn:
trau giồi tâm ý, sửa mình giữ tròn đạo lý.
Chí: ý,
lòng quyết định làm một việc gì không bỏ cuộc
Cao thanh:
cao thượng
(trong sạch)
và thanh nhã (cao
đẹp), không để ai coi thường mình.
Hồi phục:
được lại cái đã mất, ở đây có nghĩa được ơn ban thưởng.
-- *** --
62.-"Hãy
thương xót những người tàn tật - Thấy nghèo hèn chớ khá khinh cười
- Trên Năm Non rồng phụng tốt tươi - Miền Bảy Núi mà sau báu quí
".
(dòng 27 tới 30, trang 60)
Luận giải:
Hãy mở rộng lòng
thương giúp đỡ những người thiếu may mắn, tàn tật, gặp tai nạn.
Mình có phước được hưởng đời sống đầy đủ thì đừng khinh khi người
nghèo khó. Người cho biết trên Năm Non miền Bảy Núi có rồng
có phụng, cảnh vật tốt tươi, đặc biệt nơi đó còn chứa đựng nhiều
điều quí báu mà bây giờ chưa thể nói ra.
Nghĩa chữ khó:
Tàn tật -
tật nguyền: một hay nhiều bộ phận trong thân thể hư, mất
hoặc không dùng được.
Năm Non:
năm chỏm cao của Núi Cấm, còn gọi là vồ:
1.-
Vồ Bò Hong, ở hướng Tây, cao 716 mét.
(nơi đây ít người lui
tới nên giống bò hong - giống như con muổi, nhưng nhỏ hơn - sanh
nở nhiều.)
2.-Vồ
Đầu, cao 584 mét, ở hướng Tây Bắc
(phải chăng là cái vồ
đầu tiên mà người ta gặp được, khi lên núi do ngã chợ Thum Chưn ?)
3.-
Vồ Bà, cao 579 mét, ở hướng
Nam.
(vì có điện thờ bà
Chúa Xứ).
4.-
Vồ Ông Bướm, cao 480 mét, hướng Bắc
(ngày xưa có hai nhân
vật: ÔngBướm và Ô. Vôi ở.)
5.-
Vồ Thiên Tuế, cao 514 mét, ở hướng Đông
(có nhiều cây thiên
tuế)
Bảy Núi
hay
Thất sơn -
xin xem số 9.
-- *** --
63.-"Mặc
trai gái trẻ già có nghĩ - Thì khoan cười tôi rất cám ơn - Khùng
ra đời truyền dạy thiệt hơn - Chư bổn đạo chớ nên khinh rẻ
".
Luận
giải:
(dòng 31 tới 34, trang 60)
Thế nhân nghĩ sao
cũng được, nhưng xin đừng vội cười, Người rất cám ơn.
Người xuống thế là để rao truyền, khuyên dạy người đời tu hành
theo giáo lý của Đức Thích Ca, mong chư vị trong gia đình nhà Phật
chớ khá khinh khi.
Chú thích:
Rao truyền:
bằng mọi cách miển sao được nhiều người hay biết và làm theo điều
mình muốn.
-- *** --
64.-"Nay
Khùng đã hết già hoá trẻ - Nên giữa đồng bổng lại có sông - Ở Tây
Phương chư Phật ngóng trông - Chờ bá tánh rủ nhau niệm Phật
".
(dòng 35-36, trang 60 và dòng 1-2, trang 61)
Luận giải:
Người
là bồ Tát xuống trần mượn thân xác một thanh niên, mang nghĩa lý
cao quí của Phật giáo chỉ dạy người đời tu tâm dưỡng tánh, thấy rõ
điều hoạ phước, đúng sai. Việc làm cao đẹp này như luồng gió mát
thổi tan hơi nóng bức, như một dòng sông đầy nước trong, ngọt ngào
chảy vào cánh đồng khô khan nứt nẻ! Chư Phật, chư Bồ Tát bao giờ
cũng mong người đời sửa tánh răn lòng, làm lành lành dữ, sớm tối
lo tu.
Phụ giải:
Bồ Tát: chữ
Phạn Bodhisattva (scr) chỉ bực tu hành đắc quả Phật
còn vào đời cứu độ chúng sanh.
Đắc quả:
công tu đã được thành, được kết quả, đắc đạo..
Đạo đức:
Đạo là lẽ phải, đường ngay chánh, phép tắc làm khuôn thước cho
người đời noi theo. Nền tảng của tôn giáo, dạy con người trau sửa
tâm tánh để trở nên hiền lành ngay thật. Đức: làm
hết những điều lành; lòng dạ ưa thích làm lành, thương người, cứu
vật.
-- *** --
65.-"Làm
nhơn ái ắt tiêu bịnh tật - Vậy hãy mau tầm Đạo Thích Ca - Phật tại
tâm chớ có đâu xa - Mà tìm kiếm ở trên Non Núi
".
Luận
giải:
(dòng
3 tới 6, trang 61)
Làm việc lành sẽ thấy
lòng dạ nhẹ nhàng, tinh thần khoan khoái nhờ đó ít sanh bịnh tật.
Gíáo lý nhà Phật dạy lắng lòng không cho tạp niệm phát sanh. Giữ
tâm ý trong sáng, yên lặng thì hiển lộ trí huệ. Khi trí huệ thăng
hoa là Giác ngộ. Giác ngộ tức thấy tánh Phật của mình, tại lòng
mình, khỏi nhọc công kiếm tìm Phật trên Non trên Núi.
-- *** --
66.-"Chúng
đục đẻo những cây với củi - Đắp xi măng sơn phết đặt tên - Ngục A
Tỳ dựa kế một bên - Chờ những kẻ tu hành giả dối
".
Luận giải:
(dòng 7 tới 10, trang 61)
Phật trong lòng mình
chớ không phải ở những hình cây tượng đất hay xi măng sơn phết đặt
tên, cửa ngục A Tỳ đang mở rộng chờ đón những người tu giả dối.
Nghĩa chữ khó:
Ngục A Tỳ:
chữ Phạn
Avichi
(scr) dịch
Vô gián tức không ngừng nghỉ, kẻ bị tội chịu hành
hạ không lúc nào ngưng.
-- *** --
67.-"Khuyên
sư vãi mau mau cải hối - Làm vô vi chánh Đạo mới mầu - Đạo Thích
Ca nhiều nẻo cao sâu - Hãy tìm kiếm cái không mới có
".
Luận giải:
(dòng 11 tới 14, trang 61)
Người
khuyên các vị sư vị ni nào trót lỡ lầm làm sai trái nên mau ăn năn
cải sửa, trở về Đạo chánh của Đức Thích Ca. Đạo Phật dạy sửa tánh,
rèn lòng, trau giồi trí huệ chớ không dạy tin tưởng các hình thức
bên ngoài. Người tu nên tìm học hiểu lẽ cao sâu trong Phật lý. Ai
cũng có tánh Phật, tánh Phật mình có mà bỏ quên vì mê tối và không
biết đến vì cho là không có. Tìm cái không đó mới thấy cái có Phật
tánh mình.
Nghĩa chữ khó:
Cải hối: hối hận
– giận mình đã làm sai nên quyết lòng sửa đổi cho đúng.
Vô vi:
nghĩa thường là không cố ý làm ra, xuôi theo tự nhiên. Tu là dọn
sửa lòng chứ chẳng phải tụng kinh mà không hiểu ý nghĩa hay tin
tưởng các hình thức bên ngoài
.
-- *** --
68.-"Ngôi
Tam Bảo hãy thờ Trần Đỏ - Tạo làm chi những cốt với hình - Khùng
nói cho già trẻ làm tin - Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú
".
Luận
giải:
(dòng 15 tói 18, trang 61)
Thờ ba ngôi báu nên
tượng trưng bằng một bức Trần Đỏ, vì tu là dọn sửa tánh, sửa lòng,
tìm học hiểu ý nghĩa trong những lời của Phật dạy, phải bền lòng
rèn luyện tâm ý để phát triển tinh thần và trí huệ mới đi đến giác
ngộ chớ không phải lạy quì cầu xin ân phước trước những cốt với
hình. Người chỉ cho người đời biết là nên học theo cách tu
của Đức Lục Tổ chớ đừng bắt chước Đại sư Thần Tú.
Nghĩa chữ khó:
Tam bảo: ba
ngôi báu: Phật - Pháp - Tăng.
Phật: tiếng
Phạn (Ấn
độ) là bực sáng suốt.
Pháp: đạo
lý, lời dạy của Phật.
Tăng: những
nam tu sĩ rời bỏ gia đình, vào chùa học đạo lý rồi mang lời dạy
của Phật rao truyền cho nhiều người hiểu biết.
Lục Tổ Huệ Năng
và Đại sư Thần Tú cùng theo học Ngũ tổ
Hoàng Nhẫn. Đại sư Thần Tú đặt nặng về
phần hình thức, khác hơn Lục tổ. Lục tổ dạy:
"Phật ở lòng mình, tìm kiếm ở núi non vô ích, nên trau sửa và giữ
cái Tâm luôn ngay thẳng, trong sạch không chấp mắc, khi biết rõ
cái Tâm mình, thấy được Tánh mình là thành Đạo"..
Phụ giải:
Tượng trưng:
mượn một vật có hình thể thay thế vật không hình thể. Ví dụ, lá
quốc kỳ là tượng trưng của Tổ quốc.Phát triển: mở
rộng thêm ra.
Tinh thần: chỉ
chung những hoạt động thuộc nội tâm của con người, như ý nghĩ,
tình cảm, sự sáng suốt, ý chí ... Ý nghĩa đẹp của việc làm.
-- *** --
69.-"Khuyên
bổn đạo chớ nên mê ngủ - Thức dậy tìm Đạo chánh của Khùng - Đặng
sau xem liệt quốc tranh hùng - Được sanh sống nhờ ơn Chín Bệ - Hóa
phép lạ biết bao mà kể - Chín từng mây nhạc trổi tiêu thiều - Kẻ
tà gian sau bị lửa thiêu - Người tu niệm sống đời thượng cổ".
(dòng 19 tới 26, trang 61)
Luận
giải:
Người
khuyên những ai trong gia đình nhà Phật nên sáng suốt tìm hiểu về
nền Đạo chánh của Người, bởi Người xuống trần mang
giáo lý cao đẹp của Đức Thích Ca chỉ dạy người đời sửa tánh, răn
lòng đi đường chánh vào cửa Phật hầu giảm bớt được phần nào đau
khổ trong khi thế gian đã quá nhiều đau khổ. Nếu ai cũng biết giữ
gìn giới cấm của nhà Phật thì thế gian này đâu còn cảnh tranh
giành, chém giết, đời sẽ rộn ràng tiếng nhạc chào mừng cảnh thanh
bình hạnh phúc. Kẻ gian ác sẽ cùng nhau thiêu thân trong khói lửa,
chỉ người tu hiền ngay thật mới được sống còn.
Nghĩa chữ khó:
Liệt quốc:
các nước giàu mạnh.
Tranh hùng:
đọ sức với nhau để giành thế mạnh, làm kẻ đàn anh.
Chín bệ:
chín bực thang lên chỗ vua ngồi. Nghĩa bóng chỉ vị có quyền lực
cao nhứt.
Tiêu thiều:
chỉ chung các loại nhạc trổi lên nhịp nhàng cùng một lúc.
Thượng cổ:
thời thật xa xưa, trước thời trung cổ, đời sống không có hận thù,
con người đủ đầy đạo đức, thế giới trong sạch, yên vui.
-- *** --
70.-"Khùng
vưng lịnh Tây Phương Phật Tổ - Nền giáo truyền khắp cả Nam Kỳ -
Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi - Người hiền đức đặng phò chơn Chúa".
(dòng
27 tới 30, trang 61)
Luận giải:
Người
vâng lịnh Đức Phật Tổ phương Tây mang ý nghĩa cao đẹp của nền Đạo
chánh đi truyền dạy khắp miền Nam, đồng thời tìm chọn người hiền
tài, đức độ đề cử vào Hội Long Hoa để giúp vị lãnh đạo đất nước
sau này.
Nghĩa chữ khó:
Giáo truyền:
dạy dỗ làm cho nhiều người cùng hiểu biết.
Nam Kỳ:
thời Pháp cai trị, Việt Nam bị
chia ba phần, Bắc - Trung - Nam. Nam là Nam kỳ.
Hội Long Hoa:
xin xem
số:39.
Tu mi:
xin xem số 26.
-- *** --
71.-"Khuyên
những kẻ giàu sang có của - Hãy mở lòng thương xót dân nghèo -
Cảnh vinh hoa lại quá cheo leo - Nhà giàu có sau nhiều tai ách -
Hởi bá tánh rừng sâu có mạch - Tuy u minh mà có đền vàng
".
(dòng
31 tới 36, trang 61)
Luận giải:
Người
khuyên những ai nhiều tiền của nên mở rộng lòng giúp đỡ kẻ nghèo
khó. Giàu sang chức lớn quyền cao tuy sung sướng đó nhưng dễ mất,
rất mỏng manh, khó giữ được lâu dài; nhứt là kẻ giàu mà không biết
thương người, sau này sẽ bị nhiều tai ách. Người nói cho
dân chúng biết, trong rừng sâu bao giờ cũng có dòng nước chảy
ngầm, ngày nay tuy tối tăm mù mịt nhưng sau này sẽ có gác ngọc đền
vàng. Phải chăng nghĩa bóng chỉ người nghèo khổ mà biết giữ tâm
hồn trong sáng, bền chí tu hành, cuộc sống đó mới thật cao quí,
chắc chắn sẽ đuợc người đời kính trọng.
Nghĩa chữ khó:
Vinh hoa: giàu
sang, có chức quyền, có cuộc sống sung sướng mà nhiều người ham
muốn.
Cheo leo: cao mà
không vững, dễ bị rơi ngả, nguy hiểm.
Mạch: đường nước
chảy ngầm dưới đất.
Tai ách: rủi ro
lớn có hại cho của cải, hay sanh mạng.
U minh: tối tăm,
mù mịt.
Đền vàng: nhà to,
rộng, cao lớn được sơn phết hoặc mạ vàng của các bực vua chúa.
-- *** --
72.-"Lịnh
Quan Âm dạy biểu Khùng troàn - Cho bổn đạo rõ nguồn chơn lý - Lũ
thầy đám hay bày trò khỉ - Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền -
Chốn Diêm Đình ghi tội liên miên - Mà tăng chúng nào đâu có rõ".
Luận giải:
(dòng
1 tới 6, trang 62)
Người
vâng lịnh Đức Phật Quan Âm giải thích cho người trong gia đình nhà
Phật hiểu biết rõ nguồn gốc và sự thật về các người được gọi là
thầy đám, thầy cúng: họ là những người tuy mặc áo nhà tu, cũng cạo
tóc nhưng sống với nghề tụng kinh mướn, lãnh các đám cúng cầu siêu
lấy tiền, họ khoe khoang khoác lác gạt đời rằng nhờ họ tụng kinh
nên hồn người chết mới hết tội còn được về cõi Phật. Họ tụng kinh
nhiều hay ít, lâu hay mau là tùy theo số tiền chủ nhà bỏ ra trả
công cho họ. Tội của bọn dối đời này quá nhiều, được ghi chép đầy
đủ ở Diêm đình mà các vị tu hành ngay thật nào ai hay
biết.
Nghĩa chữ khó:
Troàn: là truyền,
tiếng dân gian miền Nam, có nghĩa làm cho nhiều người hay biết.
Thầy đám – Thầy
cúng: mặc áo nhà tu nhưng không hẳn là các vị tu ở chùa,
chuyên nhận mối đi tụng kinh mướn cho các đám cúng, các tuần chay
của những người không hiểu biết gì về Đạo Phật. Chính bọn thầy đám
này làm cho đạo Phật bị người đời hiểu lầm không ít.
Chơn lý: lẽ
thiệt, lẽ đúng đắn, lẽ chính chắn của sự việc.
Mượn Kinh luân tụng mướn:
mượn kinh kệ luân phiên nhau tụng mướn (tụng kinh mướn).
Diêm Đình: nơi
vua cõi Âm
(cõi chết)
xét xử các hồn.
Tăng chúng: chỉ
chung những vị xuất gia tu Phật.
Phụ giải:
Khoác lác: dóc,
láo; bịa chuyện ra nói để khoe khoang.
Nguồn: nơi phát
khởi con sông, ngọn suối. Ví dụ: "Sông Cữu Long bắt nguồn từ Tây
Tạng".
-- *** --
73.-"Theo
Thần Tú tạo nhiều chuông mõ - Từ xưa nay có mấy ai thành ?
Phật từ bi độ tử
độ sanh - Là độ kẻ hiền lương nhơn ái - Xá với phướn là trò kỳ
quái - Làm trai đàn che miệng thế gian - Kẻ vinh hoa phú quí giàu
sang - Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu - Thương bá tánh vì không
rõ hiểu - Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn".
(dòng 7 tới 16, trang 62)
Luận giải:
Tu theo môn phái của
Đại sư Thần Tú có nhiều chuông mõ, thờ cốt với hình. Tu mà tin
tưởng vào hình tượng từ xưa đến nay có mấy ai thành Đạo ? Phật
thương cứu độ người sống lẫn người chết nếu thực hành đúng điều
Phật dạy, ăn ở hiếu thảo, hiền lành, lòng dạ ngay thật, hay tha
thứ, thương và sẵn sàng cứu giúp kẻ nghèo khó, trọng mạng sống con
người cũng như của sanh vật. Còn bày việc đốt xe hơi nhà lầu bằng
giấy, đốt hình tôi tớ, đốt tiền giả, đốt giấy vàng cho nguời chết
tiêu xài, đó là trò dối đời, làm hao tốn tiền chớ không ích lợi gì.
Chỉ những người quyền cao chức lớn có nhiều tiền mà không hiểu
biết gì về Đạo Phật mới làm đám cúng to, giết sanh vật đãi đằng
nhiều ngày, nhiều tháng, mời thật đông thầy cúng tới tụng
kinh, vừa khoe lòng hiếu vừa khoe của tiền, trong khi Cha Mẹ còn
sống thì bỏ bê
không chăm sóc, chẳng ngó ngàng gì tới ! Thương người đời không
hiểu, tưởng làm như vậy là báo hiếu cho Ông Bà, Cha Mẹ.!
Nghĩa chữ khó:
Từ: Phật
đối với chúng sanh như mẹ với con nên kêu là Từ, lúc
nào cũng lo lắng đến, hết lòng dìu dắt, dạy dỗ, không nỡ để chúng
sanh sa vào đường tội lỗi chịu khổ não.
Bi: nếu
chúng sanh nào dạy dỗ chẳng nghe, làm điều độc ác để phải tội thì
Phật chẳng vì thế mà ghét bỏ, lại thương xót, muốn cứu vớt họ ra
khỏi các tai nạn, nên kêu là Bi.
Nhơn ái:
lòng thương người.
Độ: theo
nhà Phật là dìu dắt đưa chúng sanh từ bến mê đến bờ giác, tức đưa
chúng sanh từ chỗ khổ qua nơi an vui, vì đời là biển khổ, đạo Phật
như thuyền, môt phương tiện độ (đưa) nhơn sanh vượt qua biển khổ
đến bờ an vui.
Hiền lương hay
Lương hiền:
xin xem số 8.
Xá: xá mã, xá hạc
(ngựa giấy, hạc giấy) mang sớ về Tây phương. Phướn:
cờ giấy hướng dẫn hồn về Tây phương.
Trai đàn: nhiều
thầy đám thầy cúng tựu lại tụng kinh mà các người không hiểu Đạo
Phật cho là báo hiếu, cầu xin phước cho hồn người chết.
Nhơn nghĩa: lòng
thương yêu, giúp đỡ người, thương sanh vật, xử sự đúng theo đạo
lý.
-- *** --
74.-"Thấy
lạc lầm Đây động lòng son - Khuyên bổn đạo hãy nên tỉnh ngộ - Ở
dương thế tạo nhiều cảnh khổ - Xuống huỳnh tuyền Địa Ngục khảo
hình - Tuy lưới Trời thưa rộng thinh thinh - Chớ chẳng lọt những
người hung ác".
Luận giải:
(dòng 17 tới 22, trang 62)
Thấy trong gia đình nhà
Phật nhiều người còn lầm lạc vì không hiểu biết, Người
động lòng thương mới cạn lời chỉ dẫn, mong sao bỏ mê tối sửa chửa
điều sai trật. Những kẻ lúc sống làm xấu, ác, gây đau khổ cho đời,
khi chết hồn xuống suối vàng phải chịu tra khảo, hành hình. Lưới
Trời tuy rộng, tuy thưa nhưng không kẻ hung ác nào thoát lọt.
Nghĩa chữ khó:
Tỉnh ngộ:
xin xem số 23.
Huỳnh tuyền: suối
vàng; chỉ cõi chết.
Địa ngục: nhà tù
ở cõi chết.
-- *** --
75.-"Khi
nhắm mắt hồn lìa khỏi xác - Qủi Vô Thường dắt xuống Diêm Đình -
Sổ sách kia tội phước đinh ninh - Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ
- Tìm Cực Lạc,
Đây rành đường ngõ
- Hãy mau mau tu tỉnh mới mầu
".
Luận giải:
(dòng 23 tới 28, trang 62)
Khi tắt thở, hồn vừa rời
khỏi xác liền bị Quỉ Vô Thường dắt xuống Diêm Đình chịu thưởng
phạt tùy theo những việc đã làm phước hay tội, được ghi chép rõ
ràng. Riêng những ai muốn tìm về nơi tột cùng vui sướng
Người sẽ chỉ đường cho, tức bỏ mê tối, sửa tánh răn lòng khép
mình tu học làm đúng lời Phật dạy.
Nghĩa chữ khó:
Quỉ Vô Thường:
quỉ dắt hồn người. Những kẻ suốt đời làm ác, lúc tắt hơi
cảm thấy có quỉ đến bắt mình đi. Nên gọi cái chết là Vô thường, Vô
thường qủi.
Diêm đình:
xin xem số 72..
Đinh ninh: tin
chắc việc đó phải xảy ra; việc chắc chắn.
Cực lạc: vui
sướng tột cùng. Nước cực lạc là thế giới yên vui của Đức Phật A Di
Đà.
Tu tỉnh:
xin xem số 41.
-- *** --
76.-"Tận
thế gian còn có bao lâu - Mà chẳng chịu làm tròn nhơn đạo - Kẻ
nghèo khó hụt tiền thiếu gạo - Mở lòng nhơn tiếp rước mới là- Làm
hiền lành hơn tụng hơ hà - Hãy tưởng Phật hay hơn ó ré".
(dòng 29 tới 34, trang 62)
Luận giải:
Ngày thế gian tiêu
diệt đã cận kề vậy mà thế nhân chưa tỉnh thức để lo trọn đạo làm
người; hãy mở rộng lòng thương và vui vẻ tiếp giúp cơm tiền cho kẻ
hoạn nạn, nghèo khổ. Biết tha thứ, thật lòng thương người, siêng
học kinh kệ, làm đúng lời Phật dạy hay hơn đọc tụng kinh hơ hà mà
không hiểu nghĩa lý.
Nghĩa chữ khó:
Tận thế gian:
ngày thế giới bị tiêu diệt.
Nhơn đạo:
đạo làm người.
Lòng nhơn:
lòng biết tha thứ và thương yêu, giúp đỡ người, thương sanh vật.
-- *** --
77.-"Đã
chánh Đạo thêm còn sức khoẻ - Đặng nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn -
Vẹn mười ơn mới đạo làm con - Lúc sanh sống chớ nên phụ bạc
".
(dòng 35-36, trang 62, và dòng 1-2, trang 63)
Luận giải:
Biết tu đúng theo
chánh Đạo thì tâm hồn được thanh thản nhẹ nhàng; biết giữ nếp sống
có chừng mực thì thân xác không đau ốm, sức khoẻ được đầy đủ để
trước hết làm tròn đạo Hiếu. Khi Cha Mẹ còn sống, phận làm con
phải hết lòng chăm sóc, dưỡng nuôi, không làm điều gì sai trái để
Cha Mẹ buồn lòng ... (Sách dạy làm người của Việt Nam viết: "Công
Cha như núi Thái sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".
Công ơn của Cha Mẹ đối với con vô cùng to lớn, không sao nói hết
được) ở đây Người chỉ kể sơ mười ơn mà phận
làm con phải ghi nhớ, lo báo đáp.
Nghĩa chữ khó:
Mười ơn:
(1)
Sanh đẻ chịu khổ -
(2)
Bồng ẵm giữ gìn -
(3)
Uống đắng nhổ ngọt -
(4)
Nhường chỗ khô nằm chỗ ướt -
(5)
Sanh được con mừng mà quên rầu
- (6)
Rửa ráy mọi điều dơ bẩn -
(7)
Bú mớm nuôi nấng -
(8)
Vì con nhiều khi Cha Mẹ phải làm điều chẳng
lành -
(9)
Đi xa thì nhớ tưởng
-
(10)
Mẹ thương con không có cái thương nào bằng. (Để
hiểu PGHH của Ô.Ô.Thanh Sĩ và Vương Kim).
Phụ bạc: quên
bỏ ơn nghĩa, đối xử xấu với người ơn mình.
-- *** --
78.-"Nếu
làm đám được về Cực Lạc - Thì giàu sang được trọn hai bề - Ỷ tước
quyền làm ác ê hề - Khi bỏ xác nhiều tiền lo lót".
Luận giải:
(dòng 3 tới 6, trang 63)
Nếu nhờ mấy đám người
tụng kinh mướn mà hồn người chết khỏi tội còn được về nơi tột cùng
vui sướng thì những kẻ giàu tiền của, chức lớn quyền cao sẽ được
lợi cả hai bề: lúc còn sống cứ làm hung làm dữ khi chết có cháu
con bỏ tiền ra mướn nhiều "thầy cúng – thầy đám" tới tụng kinh,
cúng kiếng lo lót là hồn hết sạch tội còn được về Tây phương ?!
Vậy, những người nghèo trong sạch, ăn ở thẳng ngay thật dạ tu hành
mà không tiền mướn người tụng kinh rồi Trời Phật bỏ hay sao ?
--***--
79.-"Kinh
với sám tụng nghe thảnh thót - Lũ nhưn bông tập luyện đã rành -
Đẩu với đờn,
kèn,
trống,
nhịp sanh - Làm ăn rập đặng đòi cao giá".
(dòng 7 tới 10, trang 63)
Luận
giải:
Một số người mặc áo
nhà tu dày công tập dượt, múa may rất nhịp nhàng, gọi là "nhưn
bông" hiệp với "thầy cúng" rồi nào mỏ, nào đờn, kèn, trống, nhịp
sanh xen lẫn tiếng tụng kinh trông vui mắt. Số người này càng đông
thì chủ nhà phải trả tiền mướn nhiều.
Nghĩa chữ khó:
Nhưn bông:
chỉ đám "thầy cúng" có tập thêm cái trò "dâng hoa" trong lễ cúng,
tiếng người miền Nam nói "dưng bông" rồi lần hồi thành ra "nhưn
bông".
Đẩu: cái mỏ
nhỏ cầm gọn trong lòng bàn tay.
Sanh: hai
miếng tre nhỏ cầm trong tay để gỏ nhịp.
-- *** --
80.-"Tâm
trần tục còn phân nhơn ngã - Thì làm sao thoát khỏi luân hồi -
Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi - Chớ có đốt tốn tiền vô lý -
Xưa Thần Tú bày điều tà mị - Mà dắt dìu bá tánh đời Đường
".
(dòng11 tới 16, trang 63)
Luận giải:
Tu mà trong lòng còn
phân biệt người với ta, còn lo nghĩ tính toan riêng cho mình, bày
điều lừa gạt kẻ mê tối để kiếm lợi, hạng tu này không sao thoát
khỏi luân hồi. Người khuyên dân nên chừa bỏ các điều mê tín
như đốt giấy tiền vàng bạc, nhà kho ... tốn tiền mà không ích lợi
gì, đó là trò của Đại sư Thần Tú bày ra từ thời nhà Đường, bên Tàu.
Nghĩa chữ khó:
Nhơn ngã:
sự phân biệt người và ta.
Luân hồi:
xin xem số
42.
Giấy tiền, vàng bạc:
người mê tín tin là đốt loại tiền giả, giấy mạ vàng này như
chuyển tiền thiệt xuống âm phủ cho người thân xài ...
Tà mị:
chuyện dối gạt người; chuyện không ngay thật.
Nhà Đường:
618-907,
một triều đại nước Tàu, gồm 19 đời vua, cộng 290 năm, đạo Phật rất
được kính trọng, nhưng gần cuối đời Đường, thời Võ Hậu, bà này rất
tin Thần Tú.
Phụ giải:
Mê tín: tin
tưởng mù quáng, không thực tế; thiếu suy xét.
-- *** --
81.-"Thấy
chúng sanh lầm lạc đáng thương - Cõi Âm Phủ đâu ăn của hối - Đúc
Phật lớn chùa cao bối rối - Mà làm cho Phật giáo suy đồi - Tu Vô
Vi chớ cúng chè xôi - Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót
".
(dòng 17 tới 22, trang 63)
Luận giải:
Thấy người đời không
hiểu biết, dễ tin làm điều sai lạc thật đáng thương. Ở Âm Phủ đâu
ăn hối lộ, đâu xài tiền giả mà gởi giấy vàng, tiền giả xuống; hay
xin tiền đúc tượng Phật cho lớn, cất chùa thật to chỉ làm tốn công
hao của những người thành lòng tin Phật; cũng không ít kẻ thiếu
nghiêm chỉnh trong việc tiêu xài tiền đúc tượng, tiền cất chùa,
khiến người tu hành ngay thật chịu tiếng xấu lây. Phật chứng lòng
thành chớ không cần hình thức bề ngoài; Phật cũng chẳng ăn chè xôi
mà cúng rồi cầu xin ơn phước, hình thức lo lót đó không đúng lý lẽ
chơn chánh của Đạo Phật.
-- *** --
82.-"Tăng
với chúng ưa ăn đồ ngọt - Nên bày ra cúng kiếng hoài hoài - Ỷ
nhiều tiền chẳng biết thương ai - Cúng với lạy khó trừ cho đặng -
Kẻ nghèo khó tu hành ngay thẳng - Không cầu siêu Phật bỏ hay sao ?
Lập trai đàn chạy chọt lao xao - Bôi lem mặt làm tuồng hát Phật
".
Luận giải:
(dòng 23 tới 30, trang 63)
Chư vị tăng, ni ưa
thích ăn đồ ngọt nên bày ra cúng xôi chè chứ Phật đâu có dùng.
Những kẻ ỷ tiền nhiều, quyền cao chức lớn, không thương người
nghèo khổ còn hung ác chà đạp kẻ dưới tay rồi đến chùa lạy tượng
Phật, dâng cúng bạc tiền cũng đâu trừ được tội. Còn người tu hành
ngay thật nghèo không tiền mướn "thầy cúng" tụng kinh, cầu siêu
rồi Phật bỏ hay sao ? Ỷ có của tiền nhiều bày lập đàn cao, giết
nhiều trâu, bò, heo, gà vịt, mời đông người tới ăn uống và coi mấy
"thầy cúng" cùng phe cánh bôi vẽ mặt mày làm tuồng "hát Phật",
việc làm này hao của tốn tiền mà không ích lợi gì còn mang thêm
tội sát sanh.
Nghĩa chữ khó:
Tăng chúng:
chữ Phạn và Hán đồng nghĩa, chỉ các vị cùng tu một ngôi chùa, cùng
một Giáo hội của đạo Phật.
Cầu siêu:
cầu xin cho hồn người chết khỏi tội và được về cảnh an vui.
Trai đàn:
đám cúng chay.
Hát Phật:
các "thầy cúng" bày hát tuồng như Tam Tạng đi thỉnh kinh, Mục Liên
Thanh Đề …
-- *** --
83.-"Nay
nhằm lúc mùa màng ngập thất - Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan - Rán giữ
gìn luân lý tam cang - Tròn đức hạnh mới là báu quí - Nay gần đến
long phi xà vĩ - Cảnh gian nan bá tánh hầu kề
".
(dòng
31 tới 36, trang 63)
Luận giải:
Năm nay bị mùa nước
ngập lụt phá hại lúa và cây trái, trong cảnh mất mùa, nghèo khổ,
Người khuyên dân nên dành dụm tiền bạc, cân nhắc xét suy
việc làm của mình, đừng mù quáng tin những gì không có ý nghĩa xác
thật. Rán giữ cho tròn đạo làm người mới là điều quí. Năm Thìn và
cuối năm Tỵ người đời sẽ phải chịu nhiều đau khổ.
Nghĩa chữ khó:
Dị đoan:
chuyện không hợp lý, không đáng tin, không chính đáng.
Luân lý: sự
dạy dỗ con người theo một lề lối tốt, đối xử phải đạo giữa người
với người.
Tam cang
hay Tam cương
là ba giềng mối theo quan niệm của Khổng giáo, chỉ về trật tự,
khuôn phép để giữ gìn đạo lý nước nhà:
1.-
Giềng vua tôi:
(Quân thần cương)
Vua: lấy lễ đối đãi bầy tôi. Tôi: hết dạ
trung với vua.
2.- Giềng cha con:
(Phụ tử cương)
Cha: dạy dỗ, chăm sóc đời sống vật chất lẫn tinh thần
cho con; con lớn lên lo dựng vợ gả chồng cho chúng. Con:
một lòng thờ kính, nghe lời dạy dỗ của Cha Mẹ, không làm điều
gì cho Cha Mẹ trái ý, buồn phiền.
3.-
Giềng chồng vợ:
(Phu thê cương)
Vợ Chồng: kính trọng lẫn nhau, giữ lòng thương yêu trước
sau như một, không vì nghèo khổ hay giàu sang mà phụ bỏ nhau.
Đức hạnh:
Đức: lòng dạ, tánh tình ngay thẳng, hiền lành, ở theo đạo
lý.
Hạnh: cố
gắng sửa mình, giữ gìn tròn đạo làm người, thương giúp người nghèo
khổ, hoạn nạn, tánh hoà dịu, giữ lễ với mọi người.
Long phi xà vĩ:
rồng bay, đuôi rắn, nghĩa bóng chỉ năm Thìn
(1940)
đến cuối năm Tỵ
(1941).
Đức Thầy viết quyển này ngày 12 tháng 9 năm Kỹ Mão
(1939)
Trận giặc thế giới thứ hai khởi ngày 02/9/1939.
Năm 1940, bảo lụt lớn ở tỉnh Gò Công –1940-1941 quân Nhựt tràn qua
Bắc Việt gây ra nạn đói chết hai triệu người năm 1945?
Gian nan:
rất nhiều khó khăn.
Phụ giải:
Sấm Trạng Trình có câu: “Long vĩ xà đầu khởi
chiến tranh”: có nghĩa: cuối năm Thìn đầu năm Tỵ chiến tranh khởi
sự, cùng nghĩa với câu Long phi xà vĩ của Đức Thầy.
-- *** --
84.-"Thấy
chúng sanh còn hỡi say mê - Khùng chỉ rõ đường tà nẻo chánh - Ta
là kẻ vô hình hữu ảnh - Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca
".
Luận
giải:
(dòng 1 tới 4, trang 64)
Thấy người đời còn mê
tối nên Người chỉ đường ngay lối chánh, giảng rõ việc đúng
điều sai và cho biết không như người phàm, có bóng mà không hình -
ngầm chỉ là vị Bồ tát - mượn xác trần để làm sáng tỏ nền
Đạo của Đức Phật Thích Ca.
-- *** --
85.-"Làm
gian ác là qủi là ma - Làm chơn chánh là Tiên là Phật - Hiếm những
kẻ không nhà không đất - Mà sang giàu chẳng xót thương giùm - Có
lỡ lầm chưởi mắng um sùm - Thêm đánh đập khác nào con vật - Ăn
không hết lo dành lo cất - Đem bạc trăm cúng Phật làm chi ?"
(dòng 5 tới 12, trang 64)
Luận giải:
Làm gian ác là ma là
quỉ, lòng trong sáng, thương yêu, tha thứ, giúp đỡ người, sống
ngay thẳng, hiền lành là Tiên là Phật. Còn người giàu dư tiền của
sao chẳng suy nghĩ mà thương những kẻ không nhà, không đất, khi họ
bị lỡ lầm lại nặng lời mắng chửi, đánh đập như đối với con vật;
thức ăn không hết thì cất để dành, mặc kệ người bụng đói thiếu ăn;
keo kiệt với người nghèo khổ, hoạn nạn mà dám đem bạc trăm dưng
cúng Phật xin ơn, xin phước. Phật đâu xài tiền ?
Nghĩa chữ khó:
Chơn chánh:
ngay thẳng, thật thà, đúng đắn.
Phụ giải:
Keo kiệt:
hà tiện quá đáng đến mức xấu về tiền bạc.
-- *** --
86.-"Phật
Tây Phương vốn tánh từ bi - Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi - Khùng
cả tiếng kêu dân ơi hỡi - Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm - Đến loạn
ly khổ hạnh khỏi lâm - Còn hơn đúc chuông đồng Phật bự
".
(dòng 13 tới 18, trang 64)
Luận
giải:
Phật ở Tây Phương là
đấng từ bi, đâu cần tiền mà xin mà mượn. Người lớn tiếng
kêu gọi những ai dư tiền dư của nên mở rộng lòng thương giúp đỡ kẻ
nghèo đói, nhờ lòng tốt đó, đến lúc loạn ly sẽ được ơn trên chư
Phật cứu độ tai qua nạn khỏi. Dùng của tiền cứu giúp người khổ nạn
quí hơn là đúc chuông đồng Phật lớn.
Nghĩa chữ khó:
Quơ: vay
mượn. Tởi: kêu đóng góp, xin mỗi nơi một ít.
Loạn ly:
Loạn: rối, mất trật tự.
Ly: lìa,
rời ra. Nghĩa là giặc giả lộn xộn chạy lạc nhau.
Khổ hạnh khỏi lâm:
khỏi bị cực khổ, nguy hiểm.
-- *** --
87.-"Chẳng
làm phước để làm hung dữ - Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ - Phật Tây
Phương có lẽ hiểu dư - Dụng tâm ý chớ không dụng vật".
(dòng 19 tới 22, trang 64)
Luận
giải:
Không có lòng thương
cứu giúp người nghèo khổ, cứ làm hung ác rồi vào chùa lạy Phật xin
tha tội, xin ơn phước. Phật ở Phương Tây dư biết, chỉ chứng những
ai lòng thành thật, tu hành ngay thẳng, chớ Phật không dụng của
lót xôi chè, lễ vật mà tha thứ tội.
-- *** --
88.-"Muốn
bổn đạo tánh tình chơn chất - Rèn lòng hiền thương xót lẫn nhau -
Kể từ rày vàng lộn với thau - Phật,
Tiên,
Thánh cùng nhau xuống thế - Cứu bá tánh không cần lễ mễ - Để dắt
dìu đạo lý rành đường
".
Luận
giải:
(dòng 23 tới 28, trang 64)
Người
khuyên tất cả anh chị em trong gia đình nhà Phật nên giữ tánh hiền
lành ngay thật, mở rộng lòng thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Trước
mọi việc phải dùng trí óc cân nhắc nghĩ suy, vì từ nay chánh tà
lẫn lộn, Phật, Tiên, Thánh xuống trần dắt dìu bá tánh, những vị
này vì lòng từ bi cứu độ chúng sanh hoàn toàn bất vụ lợi, không
nhận hưởng lễ vật dưng cúng rườm rà đâu.
Nghĩa chữ khó:
Lễ mễ: khệ
nệ ôm mang lễ vật. Nghĩa ở đây là không cần phải dưng cúng lễ vật.
Đạo lý:
xin xem số 25.
Chơn chất:
thật thà, ngay thẳng.
--***--
89.-"Nước
Nam Việt nhằm cõi Trung Ương - Sau sẽ có Phật Tiên tại thế -
Khuyên sư vãi bớt dùng của thế - Gắng công tu đặng có xem đời
".
Luận giải:
(dòng 29 tới 32, trang 64)
Theo Sám Giảng, ngày
sau Phật Tiên mở Hội lớn ở Việt Nam xét chọn người hiền đức để lập
đời mới, nên Người khuyên các vị sư và ni bớt xài tiền của
người thế gian, hãy rán gắng công tu hành ngay thật để được sống
còn mà nhìn đời.
-- *** --
90.-"Tu
thật tâm thì được thảnh thơi - Tu giả dối thì lao thì lý - Khùng
khuyên hết kẻ ngu người trí - Rán tĩnh tâm suy nghĩ Đạo mầu
".
Luận
giải:
(dòng
32 tới 36, trang 64)
Người thật dạ tu hành,
tâm sạch trong, lòng phẳng lặng mới phát huy được trí huệ, có trí
huệ mới thấu hiểu giáo lý, mới tiêu trừ được Tham - Sân – Si. Tham
sân si không còn thì tâm hồn nhẹ nhàng thư thái, còn kẻ tu giả dối
mặc áo đạo để lừa gạt người đời, nếu lương tâm không dày vò cũng
bị dân chúng rủa nguyền hoặc luật pháp thế gian trừng phạt.
Người khuyên tất cả, từ bực trí thức đến kẻ tầm thường, nên
lắng lòng yên tịnh mà suy nghĩ tìm hiểu giáo lý cứu khổ của Đạo
Thích Ca.
Chú thích:
Thảnh thơi:
nhẹ nhàng, thư thái không bị ràng buộc hoặc phải lo nghĩ điều gì.
Lao lý:
xin xem số 19.
Tĩnh tâm:
giữ lòng yên lặng.
Đạo mầu:
nền đạo cao sâu nhưng không đủ ý, đủ lời để giãi thích rõ được.
Phụ giải:
Lương tâm:
lòng dạ tốt, hiền lành mỗi con người đều có.
-- *** --
91.-"Chuyện
huyền cơ bí hiểm cao sâu - Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh - Các
chư Phật không khi nào rảnh - Tâm từ bi vẫn nhớ chúng sanh".
(dòng 1 tới 4,trang 65)
Luận giải:
Vì máy Trời quá bí
hiểm cao sâu khó tìm hiểu, nhưng chúng ta hãy suy xét, cân nhắc
lợi, hại của hai đường tà với chánh mà chọn cho mình một cuộc sống
hiền hòa, đạo đức. Chư Phật với lòng Từ Bi, không lúc nào mà không
nhớ, không thương chúng sanh.
Nghĩa chữ khó:
Huyền cơ:
máy trời mầu nhiệm người thường không thể đoán biết trước được.
Bí hiểm:
kín đáo, những vấn đề bên trong khó hiểu.
Từ bi:
xin xem số 73.
-- *** --
92.-"Các
chư Thần tuần vãng năm canh - Về Thượng Giái tâu qua Thượng Đế -
Sổ tội ác thì vô số kể - Còn làm nhơn thì quá ít oi - Hội công
đồng xem xét hẳn hòi - Sai chư tướng xuống răn tr
|