...... ... .  . .  .  .

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

 

 

 

 

 

SÁM GIẢNG

 

Quyển Thứ Ba

 

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

 

                                

 

 

 

 

LUẬN GIẢI

 

                                

 

 

LỜI TỰA

 

 

-- *** --

 

 

 

Sám Giảng là quyển thứ ba, Đức Thầy viết năm 1939, 612 câu gói ghém những trăn trở âu lo về truyền thống luân lý, đạo đức, phong hoá, kỷ cương ngàn đời của Tổ Tiên đang bị tàn phá, bị hủy diệt bởi các đợt sống mới tràn tới từ trời Âu. Đức Thầy cũng ray rứt xót xa cho trình độ dân trí bị kềm hảm, bị đầu độc từ chánh sách ngu dân của thực dân Pháp, khiến những tệ trạng xã hội gia tăng và mê tín dị đoan lan tràn khắp cùng đất nước, vào đến cửa thiền, làm cho đạo Phật ngày càng xa rời tinh hoa giáo lý của Đức Thế Tôn.

 

Đức Thầy không ngớt lời khuyên nhắc :

 

     … Tu là tâm trí nhu mì,

Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.

Tu cầu cứu vớt Tổ Tông,

Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi.

Tu cầu Cha Mẹ thảnh thơi,

Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.

Tu đền nợ thế cho rồi,

Thì sau mới được đứng ngồi toà sen.

Người tu phải lánh hơi men,

Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.

Tu là sửa trọn ân tình,

Tào khang chồng vợ bố kình đừng phai.

Tu cầu Đức Phật Như Lai,

Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi này ...

 

     … Ở cùng cô bác làm sao cho tròn,

Kính yêu nào phải hao mòn,

Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.

Nghinh ngang hổn ẩu phải chừa,

Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.

Xóm diềng phải ở thật thà,

Dầu không quen biết cũng là như quen.

Ở cho Cha Mẹ ngợi khen,

Gặp người lâm nạn đua chen giúp giùm …

 

Những Tứ đức, Tam tùng, Công - Dung - Ngôn - Hạnh từ tư tưởng Khổng - Mạnh được Đức Thầy tinh lọc, dùng như kim chỉ nam cho trai gái áp dụng trong đời sống cùng thái độ cư xử thích nghi với người chung quanh.

 

Đức Thầy dạy, giá trị con người không phải ở địa vị, danh vọng, tiền của hay huyết thống mà chính ở tinh thần vị tha và đạo đức, bởi tất cả con người trên cõi đời này đều có sự hổ tương quan hệ, đó là lý do cần thíết phải thương nhau, phải đoàn kết để cùng sống hài hoà hạnh phúc, và đó cũng là ý nghĩa của Ân Đồng Bào và Nhơn Loại, một trong Tứ đại trọng Ân ...

 

Chọn đường tu là để ngăn chận những tư tưởng xấu xuất phát từ Thân - Miệng - Ý, nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, không nói dữ, không làm ác, an phận sống ngay thẳng, trong sạch, làm mọi điều lành.

 

Đang khổ mà vẫn sẵn sàng chia xẻ áo cơm vui buồn với mọi người, hoà mình sống trong tình thương đó tự nhiên chúng ta thấy được niềm vui. Sân hận không giải quyết được gì, đời sống xây dựng trên sự đồng cảm và tha thứ mới bền vững.

 

Như vậy, nguồn gốc đau khổ phải chăng do chúng ta tự tạo, chúng ta để Tham Sân Si lôi cuốn, dẫn dắt vào nẻo vô minh. Dẹp Tham - Sân - Si, rèn luyện tâm ý, sống cao thượng, chắc chắn chúng ta tìm được những tháng ngày thanh thản an vui.

 

Mê muội là rừng đêm, giáo lý của Đức Thế Tôn là đuốc soi đường, hướng dẫn hành giả lắng lòng trong sáng, luyện tâm ý phẳng lặng cho trí huệ phát sanh phá tan màn mê tối, nhờ đó, hành giả thấy được tâm chúng sanh. Thấy tâm chúng sanh là giác ngộ, là thấy lại Phật tánh bị bỏ quên từ lâu. Phật tại tâm, không phải nơi hình tượng hay ở tây phương hoặc trên non núi !

 

Chúng ta là những chúng sanh đang ngụp lặn, chơi vơi giữa biển trần khổ, Đức Thầy xông thuyền ra cứu vớt, đó là lòng từ bi và hành động Bồ Tát của Người, còn lên được thuyền hay không tùy thuộc ở thiện duyên hay ác nghiệp của chúng ta tích lũy và đang tạo dựng!

 

Hồ Minh Châu

 

 

SẤM GIẢNG

 

Quyển Thứ Ba

 

LUẬN GIẢI

-- *** --

 

1.-"Ngồi trên đảnh núi liên đài - Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời - Lan thiên một cõi xa chơi - Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng-  Hiu hiu gió thổi lạnh lùng - Phất phơ liểu yếu lạnh lùng tòng mai". (dòng 1tới 6, trang 69)

 

(từ đây chúng tôi dùng chữ Người thay hai chữ Đức Thầy)

 

Luận giải:

 

Trên đỉnh núi hình đài sen Người ngồi suy gẫm ý nghĩa cao sâu của đạo Phật, chờ đúng thời cơ sẽ vào đời cứu độ chúng sanh. Lúc nhàn nhã Người dạo cảnh Lan thiên nghe gió núi, ngắm mây ngàn, vui cùng liễu yếu và mấy cội tòng mai ...

 

Nghĩa chữ khó:

 

Đảnh núi Liên đài: chóp núi giống hình đài sen.

Tu hành:

Tu:    

   - sửa, sắp đặt lại cho tốt hơn truớc.

   - sửa mình: noi theo đạo lý mà sửa chửa việc ăn ở, tánh tình, lời nói, về thân thể, đi đứng, nằm ngồi; cách đối xử với mọi người.

Hành: tập và làm đúng những điều Phật dạy, giữ đứng đắn cách thức của người tu.

Một mai: mai này, mai sau, sau này. Khi thời cơ đến ...

Lan thiên: đỉnh núi Tà Lơn (núi Popok-vil, đỉnh là Bockor, thuộc tỉnh Kampot – Miên) có nhiều hoa Lan. Cuối thế kỷ XIX phong trào chống Pháp tan rã, Ông Cử Đa một chiến sĩ Cần vương không chịu sống với giặc nên ngao du, chờ cơ phục quốc, sau cùng Ông tu ở đỉnh núi Tà Lơn và đặt tên nơi đây là cõi Lan Thiên.                                                     

Đảnh thượng: trên chóp núi.

Thảnh thơi: hoàn toàn không vướng bận, không lo nghĩ.

 

-- *** --

 

2.-"Mùa xuân hứng cảnh lầu đài - Lúc còn xác thịt thi tài hùng anh - Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh - Bồng Lai một cõi hữu danh chữ đề - Kể từ Tiên cảnh Ta về - Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm". (dòng 7 tới 12, trang 69)

 

Luận giải:

 

Trước kia, trong thân xác người trần, sống giữa cảnh đài cao lầu rộng thường tranh tài cao thấp với đời mỗi khi xuân đến. Bao nhiêu năm nay xa lánh bụi hồng Người về Tiên cảnh Bồng Lai, nơi bốn phương mây đẹp như phủ nhiễu.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lầu đài: nhà to nhiều từng, nền cao; chỉ cảnh giàu sang.

Thi tài: đem hết tài năng cùng sự hiểu biết ra so với người, cùng hơn thua với người.

Hùng anh: tài giỏi hơn người.

Tứ vi: bốn bên.

Mây phủ nhiễu đoanh: mây có những tia sáng cùng màu sắc đẹp như bức tranh.

Bồng Lai: tên núi có Tiên ở theo lời truyền trong dân gian.

Hữu danh: có danh tiếng lớn ai cũng biết.

 

-- *** --

 

3.-"Dạo chơi tầm bực tri âm - Nay vì thương chúng trần gian phản hồi - Nghĩ mình trong sạch đã rồi - Đào tiên tạm thực về ngồi cõi xa - Phong trần tâm đã rời ra - Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh -Ngày ra chơi chốn rừng xanh-   Tối về kinh kệ cửi canh mặc người ".

 

Luận giải(dòng 13 tới 20, trang 69)

 

Từ lâu xa lánh chuyện đời, Ngọc Thanh là hiệu, lòng sạch trong, sớm dạo rừng xanh tìm bạn đồng tâm ý, đói ăn đào tiên, khát uống nước suối, tối về nghiền ngẫm kệ kinh, việc canh cửi mặc cho đời. Nay thời cơ đến và vì thương xót chúng sanh nên phải trở lại thế trần.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tri âm: bạn thân, hạp tánh tình, biết rõ lòng dạ của nhau.

Phản hồi: trở lại; trở về.

Tạm thực: ăn tạm, ăn đỡ lòng.

Phong trần: gió bụi. Nghĩa bóng chỉ cõi đời cực khổ.

Kinh kệ: Kinh: là những bài giảng giải về đạo lý do Đức Phật nói ra rồi chư đệ tử gom lại đóng thành tập.

Kệ là những bài thi ca kể công đức của Phật, Bồ Tát.

Cửi canh: việc quay tơ, dệt vải, ngầm chỉ việc làm ăn.                                                       

 

-- *** --

 

4.-"Xuống trần lỡ khóc lỡ cười - Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong - Chừng nào sấu nọ hoá long - Trần gian mới rõ tấm lòng Thần Tiên".  (dòng 21 tới 24, trang 69)

 

Luận giải

 

Người xuống trần giữa cảnh thế nhơn lỡ cười lỡ khóc, ít ai biết giữ gìn đạo lý, phần đông ham vui chơi, sớm mận tối đào. Chừng nào sấu nọ thành rồng trần gian mới rõ được lòng dạ của Người.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Đào mận: chỉ tình cảm trai gái không đứng đắn. 

Sấu nọ hoá long: sấu nọ thành rồng. Đây là câu sấm. Trần gian: Trần là buị. Gian: khoản giữa cõi đời. Chỉ cõi đời và cũng chỉ con người.

Thần: những vị lúc sống là anh hùng của đất nước, của dân tộc, hoặc có công lớn với xã hội nên sau khi chết được người đời nhớ ơn, thờ kính.

Tiên: người tu theo đạo Lão, sống an nhàn ở núi non. Nghĩa bóng: những vị dứt bỏ danh lợi, không vướng bận tình cảm thường tình, ghét ưa, thương giận, oán thù, lánh mình nơi non cao an dưỡng tinh thần, cuộc sống đó là tiên.

 

Phụ giải:

 

Đạo lý: nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo. Những phép tắc từ xưa lưu lại được xã hội thừa nhận làm mẫu mực trong quan hệ đối xử với nhau.                                                 

-- *** --

 

5.-"Thương đời ta mượn bút nghiên - Thở than ít tiếng giải phiền lòng son - Bắt đầu cha nọ lạc con - Thân Này thương chúng hao mòn từ đây".

 

Luận giải:  (dòng 25 tới 28, trang 69)

 

Thương đời Người mượn viết mực bày tỏ nỗi xót xa về cảnh khổ của dân, từ đây hao mòn, nhiều gia đình tan nát, kẻ mất người còn, cha con chồng vợ lạc nhau.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bút nghiên: ngòi viết bằng lông và dĩa đựng mực tàu; nghĩa bóng chỉ văn chương, chữ nghĩa.

Lòng son: lòng của Người vẫn một mực thương xót kẻ thế trần không lúc nào xao lãng.   

 

-- *** --

6.-"Minh Hoàng chưa ngự đài mây - Gẫm trong thế sự còn đầy gian truân - Đò đưa cứu kẻ trầm luân - Đặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi".

 

Luận giải: (dòng 1 tới 4, trang 70)

 

Minh Vương chưa xuống thế nên dân chúng còn phải chịu nhiều đau khổ. Người đi dạy Đạo nhằm cứu vớt người đời thoát cảnh trầm luân chờ ngày vui lớn hợp mặt chúa tôi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Minh hoàng chưa ngự đài mây: chỉ Minh vương chưa xuất hiện. Tín đồ PGHH tin Minh Vương là vị vua sáng suốt, tài đức, sau này Ngài xuống cứu nước Việt Nam.

Gian truân: lận đận lao đao, hết sức khổ sở.

Trầm luân: chìm trong biển khổ, vì đời là biển khổ.

 

Phụ giải:

 

Luân hồi: Luân là bánh xe, quay theo vòng tròn. Hồi: quay trở lại, trở về. Theo nhà Phật, con người bị xoay vần mãi trong vòng: Sanh, Già, Bịnh, Chết.

 

-- *** --

 

7.-"Thảm thương thế sự lắm ôi - Dẫy đầy thê thảm lắm hồi mê ly -Dạo chơi Lục tỉnh một khi-   Rước đưa người tục tu trì xa khơi - No chiều rồi lại đói mơi - Dương trần sắp vướng bịnh Trời từ đây". (dòng 5 tới 10, trang 70)

 

Luận giải:

 

Hết sức thương xót thế nhân vì mê si nên phải chịu quá nhiều đau khổ, Người đi Lục tỉnh vừa dạy Đạo vừa dìu dắt người tu hành ngay thật. Người cho biết từ đây dân chúng sẽ sáng đói chiều no lại còn vướng thêm nhiều thứ bịnh ngặt nghèo không thuốc trị (hiểu ngầm những bịnh này là bị Trời phạt ).

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thế sự: chuyện đời. Nghĩa bóng ở đây chỉ người đời.

Thê thảm: buồn, đau thương vô cùng.

Mê ly: say mê đắm đuối việc nào đó không còn tha thiết điều gì khác.

Lục tỉnh: do sắc lịnh của vua Minh Mạng ký năm 1831, miền Nam có 6 Châu, sau này là 6 tỉnh, đó là Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. 

Tu trì: sửa thân tâm, siêng học kinh kệ, giữ gìn luật đạo, lòng không nghĩ điều hư xấu .

Dương trần: Dương: mặt trời. Trần: bụi cát. Nghĩa bóng chỉ cõi đời, nơi con người sống.

 

-- *** --

 

8.-"Khuyên trần sớm liệu bắp khoai - Cháo rau đỡ dạ tháng ngày cho qua - Nhắn cùng bổn đạo gần xa - Tu hành trì chí mới là liễu mai ".

 

Luận giải:  (dòng 11 tới 14, trang 70)

 

Người khuyên dân dầu nghèo cũng phải giữ lòng trong sạch, vui với cháo rau, khoai bắp, đừng ham tranh danh giành lợi bằng những việc làm không ngay thẳng, chẳng những chuốc oán gây thù còn mang thêm tội. Người nhắn cùng đồng Đạo xa gần, nên rán trì chí tu hành, giữ lòng trong sach, yên tịnh mới tìm ra lý Đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Trì chí: bền chí, bền lòng.

Liễu mai: hai giống cây trồng làm cảnh, chịu đựng nỗi mọi thời tiết. Nghĩa bóng là tu hành bền chí, giữ lòng được thanh tịnh mới có thể thành Đạo.   

 

-- *** --

 

9.-"Nguyện cầu qua khỏi nạn tai - Đặng coi Tiên Thánh lầu đài quốc vương - Niệm Phật nào đợi mùi hương - Miễn tâm thành kính toà chương cũng gần".  (dòng 15 tới 18, trang 70)

 

Luận giải

 

Tu nguyện cầu tai qua nạn khỏi để sống còn nhìn cảnh hay lạ sau này. Niệm Phật không cần đốt nhang xông trầm, chỉ cần bền chí với lòng thành kính mới mong thành Đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tòa chương: nhà cao cửa rộng lộng lẫy, rực rỡ. Nghĩa bóng chỉ cảnh Tiên - Phật.

-- *** --

 

10.-"Lao xao bể Bắc non Tần - Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua -Tranh phân cho rõ tài ba-  Cùng nhau giành giựt mới là thây phơi ".

 

Luận giải: (dòng 19 tới 22, trang 70)

 

Giặc lộn xộn từ biển Bắc tới non Tần, (Phải chăng ngầm chỉ cảnh Việt cộng đưa quân chiếm Cao miên và tranh nhau lấy của cải vàng bạc ở hoàng cung và các chùa, năm 1978 ?) tranh giành quyền lợi gây nên cảnh máu đổ thây phơi ?!.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Non Tần: chỉ nước Cao Miên – Cam-pu-Chia ngày nay.

Quân Phiên: người Tàu ngày xưa gọi các sắc dân da trắng là Phiên. Ở đây chỉ nước lớn ỷ giàu mạnh hiếp nước yếu, và cũng chỉ nhóm người không đạo đức?.

Tranh phân: tranh tài với nhau để giành quyền lợi.  

 

Phụ giải:                                                   

 

Quyền lợi: quyền hành và tiền của. Có quyền dễ kiếm lợi. 

 

-- *** --

 

11.-"Khổ lao đà sắp đến nơi - Thế gian bớt miệng kêu mời cõi âm - Dầu cho có ở xa xăm - Cũng là rán tới viếng thăm dương trần".

 

Luận giải:  (dòng 23 tói 26, trang 70)

 

Khổ sở sắp đến nơi, Người khuyên dân nên giữ lời, đừng réo kêu chư vị ở cõi âm - người khuất mặt - vì khi nghe lời mời gọi, dầu ở nơi xa, các vị ấy cũng tới.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thế gian - Thế trần -Trần gian - Dương trần: cõi đời; cũng chỉ người đời.

Cõi âm: thế giới của người khuất mặt, của người chết.

                                                        

-- *** --

 

12.-"Ngũ Hành cùng các chư Thần - Từ đây sắp đến xuống gần chúng sanh - Chuông kia treo sợi chỉ mành - Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong - Hiếu trung hãy liệu cho xong - Đến chừng gặp Chúa mới mong trở về".

 

Luận giải:  (dòng 27 tới 32, trang 70)

 

Ngày tận thế đã gần, chư Thần và các vị khuất mặt thường cận kề với dân chúng. Còn kiếp sống con người cũng như chỉ mành treo chuông nặng, nên Người khuyên trai gái rán tu, đừng ham mê điều ong bướm, rán giữ gìn cuộc sống trong sạch, thẳng ngay, nhứt là phải lo tròn trung với hiếu để được đáng mặt tôi hiền sau này giúp Chúa thánh.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Ngũ Hành: năm chất cần thiết cho sự sinh hoá và sống còn của muôn loài vạn vật: hướng Tây thuộc Kim (Kim loại), hướng Đông thuộc Mộc (Cây), hướng Bắc thuộc Thủy (Nước), hướng Nam thuộc Hoả (Lửa). Trung ương thuộc Thổ (Đất). Người xưa ảnh hưởng bởi truyện Tàu, nên tin có năm vị Thần Tiên cai quản: Kim thuộc Diêu Trì Kim Mẫu; Mộc thuộc Đông Huê Đế Quân; Thủy thuộc Bắc Huê Đế Quân; Hỏa thuộc Nam Huê Đế Quân; Thổ thuộc Trung Huê Đế Quân, rất có quyền, vì vậy các người hung dữ, nhứt là các bà, hay kêu mời về trừng trị kẻ nào bị họ thù, ghét.

Ong bướm: hai loại sanh vật chuyên hút nhụy hoa. Nghĩa bóng chỉ hạng đàn ông, thanh niên thiếu đạo đức, thiếu suy nghĩ, ham sắc dục mà phá hoại sự trong trắng của phụ nữ.

Hiếu trung: Hiếu: chăm sóc, dưỡng nuôi, không làm điều hư xấu để Ông Bà, Cha Mẹ buồn lòng. Trung: biết liều mình giữ gìn Tổ Quốc, Quê hương, hết lòng với vị chủ tướng tài đức.    

-- *** --

 

13.-"Bây giờ kẻ Sở người Tề - Hiền lương đến Hội cũng kề với nhau - Phật Trời chẳng luận nghèo giàu - Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên ".  (dòng 33 tới 36, trang 70)

 

Luận giải:

 

Bây giờ dầu ở xa cách nhưng đến ngày Hội lớn, các người hiền, tu hành ngay thật sẽ gặp nhau. Phật Trời không phân biệt giàu nghèo chỉ quý trọng ai nhiều phước đức.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Sở: nước nhỏ thời Đông Châu, thuộc tỉnh Hồ Bắc (Tàu) ngày nay, cách xa nước Tề.

Tề: nước nhỏ thời Xuân thu (722-479 trước Thiên Chúa) nay thuộc tỉnh Sơn Đông (Tàu).

Hiền lương: hiền, biết tha thứ và thương người, thương vật, xử sự tốt với mọi người.

Phước đức: thường làm việc tốt nên hưởng được may mắn, yên vui, gọi đó là phước đức                                                    

 

-- *** --

14.-"Hữu phần thì cũng hữu duyên - Sửa tâm hiền đức cõi Tiên cũng gần - Ta mang mình thịt xác trần - Ra tay dắt chúng được gần Bồng Lai".

 

Luận giải(dòng 1 tới 4, trang 71)

 

Mọi sự đều có duyên do. Rán giữ lòng hiền lành, có đức hạnh và độ lượng, sẽ sống an vui như cõi Tiên. Người mượn thân xác phàm vào đời chia xẻ khổ cực với thế nhân, nhằm khuyên dạy, dìu dắt dân chúng xây dựng thế gian này như là cảnh Bồng Lai.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hữu phần-hữu duyên: có phần và có duyên.

Hiền đức - Hiền: tánh dịu dàng, rộng lòng tha thứ, thương và giúp đỡ người. Đức: thương người, tha thứ, giúp đỡ kẻ nghèo khó hoạn nạn, luôn làm lành; ăn ở phải đạo.

Bồng Lai: xin xem số 2. 

 

Phụ giải:                                                  

 

Đức hạnh: Đức: đạo đức nghiêm chỉnh, tánh ngay thẳng, hiền hoà, làm mọi việc lành.

Hạnh: giữ đạo lý, xa điều dữ, thương giúp người hoạn nạn, tánh hoà dịu, lễ độ.

Độ lượng: xét suy rộng rãi, hay tha thứ người.

 

-- *** --

 

15.-"Mai sau nhiều cuộc đất cày - Đua nhau mà chạy lầu đài cũng xa - Lập rồi cái Hội Long Hoa

Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu - Gian tà hồn xác cũng tiêu - Thảm thương bá tánh chín chiều ruột đau - Mặc ai tranh luận thấp cao - Thương trong lê thứ xáo xào từ đây".

 

Luận giải: (dòng 5 tới 12, trang 71)

 

Sau này, bom đạn cày xới khắp nơi trên mặt đất, người đời chạy giặc lầu đài gì cũng bỏ miễn sao giữ được mạng sống. Chừng xong Hội Long Hoa, bấy giờ chỉ người hiền đức mới sống còn, kẻ gian ác chết tiêu tan hồn xác. Vì thương dân từ đây phải chịu nhiều đau khổ nên Người khuyên đừng ham tranh đua, đừng nhiều lời hơn thua, hãy thương yêu tha thứ cho nhau.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hội Long Hoa: Hội Long Hoa tuyển chọn bực hiền đức.

Với Phật giáo, Bồ Tát Di Lạc khai Hội dưới cội Long Hoa.

Hiền đức: xin xem số 14.

Bá tánh: trăm họ, chỉ chung người trong nước.

Chín chiều ruột đau: chỉ sự đau khổ cùng cực.

Tranh luận: tìm lý lẽ cải để giành phần hơn về mình.

Lê thứ: dân đen, dân không chức quyền trong xã hội.

Xáo xào: lộn xộn, rối loạn không yên.

 

-- *** --

 

16.-"Chinh chinh bóng xế về tây - Đoái nhìn trần thế xác thây ê hề - Thương trần Ta cũng rán thề  Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân - Tu hành chẳng được đức ân - Thì Ta chẳng phải xác thân người đời - Phật truyền Ta dạy mấy lời - Đặng cho trần thế thức thời tu thân".

 

Luận giải:  (dòng 13 tới 20, trang 71)

 

Những buổi chiều buồn, vầng dương chênh chếch về tây, ngoảnh nhìn trần thế trong cảnh máu đổ thây phơi, Người quá thương, nên thề với dân chúng rằng, các điều chỉ dạy sau đây đều là lời phán truyền của Phật, mong thế nhân tỉnh thức, nếu tu hành mà không hưởng được ơn đức về sau thì xác phàm Người đang mang đây quyết chẳng phải thân thể của người đời.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chinh ching bóng xế về tây: trời về chiều, có nghĩa cuộc đời này gần đến kỳ tiêu diệt.

Trần thế xác thây ê hề: xác thây người đời chết nằm ngổn ngang, nhiều lắm.                                                      

-- *** --

 

17.-"Nào là luân lý Tứ Ân - Phải lo đền đáp xác thân mới còn - Ai mà sửa đặng vuông tròn - Long Vân đến hội lầu son dựa kề - Thương đời văn vật say mê - Làm điều gian ác thảm thê sau này ". (dòng 21 tới 26, trang 71)

 

Luận giải:

 

Ai giữ tròn đạo Tứ Ân, sống cuộc đời ngay thật, sạch trong mới hy vọng qua được đại Hội Long Vân mà hưởng hạnh phúc. Thương người đời vì quá ham mê văn minh vật chất nên trí óc lu mờ làm nhiều điều gian ác để ngày sau phải chịu đau khổ thảm thê.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tứ Ân: bốn ơn lớn mà tín đồ PGHH nhứt định phài làm tròn, là: Ơn Đất nước, Ơn Tổ tiên Cha Mẹ, Ơn Tam Bảo Ơn đồng bào nhơn loại.

Long Vân: Mây Rồng: đại hội của Phật Thánh Tiên phán xét tội phước của người đời. Nghĩa theo văn học là cơ hội lập công danh. Điển tích văn học: cuộc thi cá chép hoá thành rồng. Ví dụ hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài Chí làm trai:"Rồng mây khi gặp hội ưa duyên. Đem quách cái sở tồn làm sở dụng". Nghĩa bóng ám chỉ người tu cũng phải trải qua một cuộc "thi cử" gay go, ai thiếu tài thiếu đức chắc chắn không vượt qua được cuộc thi này.

Văn vật: Văn minh vật chất:

   - Văn: sự học hỏi, lời văn, lễ phép, dáng vẻ bên ngoài.

   - Minh: sáng sủa, nghĩa rộng là ánh sáng của văn hoá. Nghĩa rộng của văn hóa: mọi cần dùng về đời sống có tổ chức của một dân tộc ( tổ chức là sắp xếp thành những bộ phận riêng biệt, có trật tự - như kinh tế là việc sửa nước, cứu đời - luật pháp - mỹ thuật - văn chương ….) Nhìn chung, văn hóa là những sinh hoạt trong cuộc sống: từ việc ăn uống, nói chuyện, đi đứng, cách đối xử với nhau … đều mang hình thức văn hoá.

Vật chất: các thứ có hình thể con người cảm nhận ra được.

Văn vật: ở đây có nghĩa chạy theo cái mới về vật chất quên bỏ đạo lý dân tộc.

Say mê: ham thích và bị cuốn hút vào việc gì đó đến mức không rời bỏ được.

Thảm thê: đau đớn buồn rầu vô cùng.

                                                          

-- *** --

 

18.-"Kể từ hầu hạ bên Thầy - Vào ra chầu chực đài mây cũng gần - Tuy là nương dựa non Tần - Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam ".

 

Luận giải: (dòng 27 tới 30, trang 71)

 

Từ ngày Người theo hầu Thầy đã từng ra vào chầu chư Phật. Tuy nương dựa ở non Tần, nhưng thời cơ đến Người cũng sẽ về Việt Nam.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Đài mây: nghĩa bóng chỉ cảnh Phật, cảnh Tiên, nơi hoàn toàn yên vui.

Non Tần: núi ở xứ Cao Miên – núi Tà Lơn - nơi Người tu lúc chưa xuống trần ?

Thế cuộc: Thế: đời, đời người. Cuộc: hiện tượng, tình hình, hoàn cảnh. Chỉ chung những sự việc to lớn xảy ra trong đời người …   

-- *** --

19.-"Qua sông nhờ được cầu Lam - Tu hành nào đợi chùa am làm gì - Bây giờ bạc lộn với chì - Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê - Bớ dân chớ có say mê - Trung lương chánh trực dựa kề đài mây ". (dòng 31 tới 36, trang 71)

 

Luận giải:

 

Tu hành không nhứt thiết phải vào ở chùa ở am, người có lòng thành, biết sửa mình, ăn ở hiền lành, giữ lòng trong sạch, làm đúng lời Phật dạy, đó là gây duyên lành, chắc chắn sẽ được ân thưởng, như chuyện Bùi Hàng ngày xưa, nhờ có phước duyên, Tiên chỉ đường đến cầu sông Lam cưới được vợ hiền. Đời bây giờ thiệt giả lộn xộn, khó phân biệt, ngày sau lọc lại kẻ có chút vít tì cũng bị chê, vì thế, Người khuyên dân chớ ham mê danh lợi rồi làm điều hư xấu, giữ gìn nếp sống ngay thẳng thật thà, chắc chắn sẽ được hưởng yên vui, hạnh phúc. Còn người trung lương ngay thẳng tên tuổi sau này được ghi chạm ở đài mây.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Cầu Lam: cây cầu bắc ngang qua sông Lam, tỉnh Thiểm Tây (Tàu). Bùi Hàng, đời nhà Đường được Tiên dạy đến cầu sông Lam sẽ gặp duyên nợ. Theo lời, Bùi Hàng đến cầu Lam, vào quán nước, bà chủ bảo con gái, tên Vân Anh mang nước ra, Bùi Hàng thấy vừa ý, h