|
LỜI
TỰA
-- *** --
Giác Mê Tâm Kệ,
là quyển thứ tư, Đức Thầy viết ngày 20 tháng 9 năm 1939, mở đầu
với câu: “Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện” rồi bàng bạc suốt
chiều dài 846 câu, Người phơi bày nỗi niềm ray rứt, xót xa
đầy tâm huyết của nhà đạo đức học và xã hội học; sang lãnh vực
tinh thần, với lòng từ ái Bồ Tát quyết tâm chấn hưng Phật giáo,
Người thắp lên ngọn đưốc thiêng chánh pháp đốt cháy màn vô
minh, đưa ánh sáng trí huệ xoá tan lạc lầm, mê tín dị đoan ẩn tàng
bên trong một số cửa già lam.
Chúng ta thử đọc vài
đoạn:
… Tiên xử kỷ hậu lai xử
bỉ,
Bắt lỗi người phải xét
lỗi mình …
… Dòm trước
mắt thấy điều hồ mị
Nên động tình bác ái dạy
răn.
Réo những ai lợi dụng
làm xằng
Cho suy sụp chơn nhơn mờ
mịt
Nào có khác mây đen phủ
bít
Rồi dắt nhau đến chỗ dại
ngây …
Lời Phật dạy: “Tìm
thấy lỗi người thì dễ, mà tìm ra lỗi mình quả là khó”…
Đức Thầy khơi dậy niềm
tự hào dân tộc, nhắc nhở kẻ hậu sinh nhớ và biết từ ngàn xưa, khắp
đất nước Việt Nam, ngoài chiến địa, trai thì kiêu hùng bất khuất,
vào gia đình là người con hiếu thảo hiền ngoan, người cha gương
mẫu, người chồng thủy chung, nữ giới cũng không hiếm những bực anh
thư liệt nữ cỡi đầu voi dữ, tay kiếm tay cờ dọc ngang giữa trăm
tướng ngàn quân, vì độc lập tự do xem mạng sống nhẹ tợ lông hồng,
trở về khuê trung thuần khiết, mẫu mực vợ hiền dâu thảo. Trong
quan hệ xử thế phân biệt rõ ràng trắng đen, tà chánh, hào sảng,
phóng khoáng, giàu lòng tương trợ, không ích kỷ nhỏ nhen, nam cũng
như nữ sẵn sàng dùng máu xương vẽ biên cương, bảo vệ Tổ Quốc, Quê
hương.
… Trọng mẹ cha kính nể
Phật Trời,
Đừng nhiều tiếng nghinh
ngang mang lỗi,
Tánh ngay thẳng ta không
dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt
chẳng màng …
… Dầu không siêu
cũng đặng về Thần
Nhờ hai chữ trung quân
ái quốc …
Không như :
… Trong tâm thì chứa
chữ gian tà
Chớ
chẳng chứa tấm lòng bác ái.
Học chữ nghĩa cho
thông cho thái,
Đặng xuê xang đài các
xe tàu.
Tiếng chào mừng cửa
miệng làm màu,
Trong tâm ý mưu mô đủ
thế...
… Bọn gái mới ra
đường tha thướt
Bỏ hết trơn nề nếp
ông cha…
Mà phải :
… Dọn bề trong mới
gọi đẹp xinh,
Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt …
Đức Thích Ca vì thế
nhân mà dâng hiến kiếp sống cho giáo lý cứu khổ, nếu người đời chỉ
học một phần nhỏ trong đức Từ của Phật, biết thương yêu, biết tha
thứ và giữ giới, dầu chỉ là giới luật ở bước khai tâm, cũng giảm
cho đời bao nhiêu tội ác, bớt không ít đau khổ vì thù hận, chia ly
…
Giáo lý nhà Phật đâu
phải :
… Mõ
chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường
thông nghĩa lý …
Cho nên:
… Cả ngàn năm nhơn
tâm xao xuyến,
Sao tu hoài chẳng
thấy ai thành.
Bởi chữ tu liền với
chữ hành
Hành bất chánh người
đời mới nói.
Bởi tăng chúng quá
ham chùa ngói,
Nên tởi khuyên khắp
chốn cùng làng,
Phật nào ham tượng
cốt phết vàng …
Phật giáo là đạo giác ngộ, chỉ giác
ngộ mới diệt được tận gốc nguyên nhân sanh ra đau khổ.
Đi đến giác ngộ phải qua các chặng
đường rèn lòng, luyện tánh, giữ tâm ý vắng lặng sáng trong cho trí
huệ hiển lộ. Trí huệ thăng hoa hành giả mới thấy tâm Phật, tức
Giác ngộ. Phật ở lòng mình chớ kiếm đâu xa:
… Tu đầu tóc không cần
phải cạo,
Miễn cho rồi cái đạo làm người …
… Mài gươm trí cho
tinh cho khiết
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không …
… Cái chữ Tâm là
Quỉ hay Ma
Tiên hay Phật cũng là
tại nó …
Tóm lại, trong Giác
Mê Tâm Kệ, Đức Thầy minh giải Thập Tam Ma - Bát Nhẫn
- Bát Chánh Đạo để phá vở tâm chúng sanh cho người tu học,
tiếp đến Tứ Diệu Đề và 12 nhơn duyên cho hành giả
làm khuôn thước và kim chỉ nam thẳng đến cõi vô sanh, nhập cảnh
giới Niết Bàn…
Hồ minh Châu

GIÁC MÊ TÂM KỆ
Quyển
thứ tư
LUẬN GIẢI
-- *** --
1.-"Khai
ngọn đuốc từ bi chí thiện - Tìm con lành dắt lại Phật đường
-
Thương dân hiền giáo đạo Nam phương - Đặng chỉ ngõ làm lành lánh
dữ ".
(dòng
1 tới 4, trang 89)
(Từ đây chúng tôi dùng chữ Người thay
2 chữ Đức Thầy).
Luận giải:
Đến từ phương Nam, bằng
tấm lòng bác ái bao la, Người thắp sáng lên ngọn
đuốc tình thương chỉ cho thế nhân thấy điều đúng sai, tội phước mà
làm lành tránh dữ dọn lòng đi vào Phật Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Giác mê tâm kệ:
bài kệ soi sáng lòng người; bài kệ đánh thức lòng người mê tối.
Kệ: những
bài thi ca kể công đức của Phật, Bồ Tát. Nghĩa ở đây là lời dạy
của đấng Bồ Tát.
Khai ngọn đuốc:
thắp sáng ngọn đuốc.
Đuốc: vật
liệu khô nhẹ được bó chặt lại, đốt lên có ánh sáng soi đường đi
trong đêm tối.
Từ bi: lòng
thương yêu và đau xót:
Từ: thương
tưởng, dốc làm lợi ích, an vui cho chúng sanh. Bi:
đau xót trước cảnh khổ, hoạn nạn, đau buồn của chúng sanh mà dốc
lòng cứu vớt. Phật thương chúng sanh như thương con nên kêu là
Từ. Phật thấy chúng sanh chịu các nỗi khổ mà động lòng
thương, muốn cứu vớt họ ra khỏi các tai nạn, nên kêu là Bi.
Chí thiện:
rất hiền lành, thật tốt.
Giáo đạo: chỉ
dạy lý lẽ chân chánh của tôn giáo.
--
*** --
2.-"Sách
Thánh đạo ghi trong Tam Tự - Người mới sanh tánh thiện Trời dành -
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh - Nên tật xấu che mờ thiện tánh -
Thiếu giáo dục thiếu thêm đức hạnh - Ta quyết lòng nhắc lại tánh
xưa".
Luận giải:
(dòng 5 tới 10, trang 89)
Lời ghi trong sách
Tam Tự, con người mới sanh ra lòng dạ vốn hiền lành, ngay thật,
nhưng lớn lên ham danh mê lợi nên bị thói hư tật xấu che mờ tánh
tốt, đức hạnh vì đó cũng mất luôn. Tai hại này ngày càng nhiều là
bởi thiếu người dạy dỗ, không ai chỉ dẫn đạo lý và cách diệt trừ
thói hư tật xấu, nên Người quyết lòng soi sáng đường mê tối,
đánh thức tánh hiền lành ngay thật sẵn có và làm sống lại đức hạnh
cao đẹp của con người.
Nghĩa chữ khó:
Sách Thánh đạo:
chỉ sách của đức Khổng Tử, vị tổ đạo nho được đời xem là vị
Thánh.
Tam tự:
sách chữ
nho, mỗi câu ba chữ, do Vương Ứng Lâm đời Tống soạn dùng dạy trẻ
con.
Tánh thiện
hay Thiện tánh:
tánh hiền lành, ngay thật.
Nhiễm: bị
hư xấu bên ngoài nhập, dính vào làm mất sự trong sạch.
Danh lợi:
danh tiếng và tên tuổi được nhiều người biết, khi có danh thì dễ
dàng kiếm lợ.
Giáo dục:
dạy dỗ, rèn luyện chữ nghĩa, đức hạnh, thể chất; dạy đủ mọi
ngành nghề.
Đức: đạo
đức nghiêm chỉnh, tánh ngay thẳng, lòng dạ hiền hoà, ưa làm việc
lành.
Hạnh: gắng
sửa mình, giữ đạo lý, thương giúp người nghèo khổ, tánh hoà dịu,
lễ độ.
Phụ giải:
Đạo lý:
nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo. Những phép tắc các bực Thánh
Hiền lưu lại được xã hội thừa nhận làm mẫu mực trong quan hệ đối
xử.
--
*** --
3.-"Mặc
tình đời gièm siểm ghét ưa - Rừng kinh kệ ít người hay chữ - Quá
mắc mỏ bởi chưng Phạn ngữ - Nên người đời khó kiếm cho ra - Mõ
chuông bày đọc tụng ó la - Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý
".
Luận giải:
(dòng 11 tới 16, trang 89)
Mặc tình người đời
ghét hay ưa hoặc muốn nghĩ sao cũng được, Người phải nói
thẳng ra rằng, trong giới tu hành ngày nay, tuy tay mõ tay chuông,
miệng tụng kinh ê a nhưng ít gười hiểu rành nghĩa lý, bởi hầu hết
kinh sách là chữ Hán và chữ Phạn.
Nghĩa chữ khó:
Gièm siểm: chê
người vắng mặt để nịnh bợ người khác.
Kinh: những bài
Đức Phật giảng giải về đạo lý, được chư dệ tử gom kết lại thành
tập.
Kệ: những bài thi
ca kể về công đức của chư Phật, Bồ tát.
Phạn ngữ: Sancrit,
chữ Phạn bên Thiên Trước; kinh sách Phật giáo hày hết viết bằng
thứ chữ này.
Hiếm kẻ: ít người.
Tường thông: biết
và hiểu một cách thông suốt.
Phụ giải:
*
Phật: tiếng Phạn
Bouddha (scr) là Giác, người sáng
suốt.
Bồ tát: tiếng
Phạn Bodhisattva (scr) bực đắc quả Phật song còn làm
chúng sanh để độ đời.
-- *** --
4.-"Dòm
trước mắt thấy điều hồ mị - Nên động tình bác ái dạy răn - Réo
những ai lợi dụng làm xằng - Cho suy sụp chơn nhơn mờ mịt - Nào có
khác mây đen phủ bít - Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây - Lấy tinh
thần hiệp vén ngút mây - Trong bổn đạo tự thân phải xử".
Luận giải:
(dòng 17 tới 24, trang 89)
Với tấm lòng thương
đời bao la bát ngát, Người không thể lặng yên nhìn những
trò dối trá lừa gạt lòng tin của dân chúng, nên phải nói trắng ra
vừa để cảnh giác vừa răn dạy người đời. Người lớn tiếng kêu
gọi những ai quen sống bằng gạt lường, bằng lợi dụng, hãy mau mau
từ bỏ, đừng tiếp tục làm sai quấy nữa, vì cuộc sống đó, hành động
đó chẳng những trái đạo lý mà còn làm tiêu mòn lòng nhơn tánh
thiện của mình để rồi đi lần tới chỗ dại ngây, không còn phân biệt
được điều sai việc đúng, tương lai sẽ mờ mịt. Xin những ai trong
gia đình nhà Phật nên vận dụng trí óc sáng suốt phân đoán sự việc
đồng thời giúp phá giải mê muội cho người chưa tỉnh thức.
Nghĩa chữ khó:
Hồ mị hay
hồ mỵ: tán tỉnh, nịnh hót, làm say mê người.Dùng thủ
đoạn nhũn nhặn lừa người.
Bác ái:
hiền lành, lòng yêu thương thật rộng rãi đối với người cũng như
với sanh vật.
Làm xằng:
làm bậy, quấy, sai trái với lẽ phải.
Chơn nhơn:
tánh ngay thật, hiền lành sẵn có của mỗi người. Theo nghĩa nhà
Phật, chơn nhơn là cái thiệt thân trong giả thân. Nói cách khác,
là Phật tánh sẵn có ở mỗi người.
-- *** --
5.-"Xuống
dương thế dạo trong lê thứ - Thấy bá gia gặp lúc não nùng - Cảnh
trần gian nhiều nỗi lao lung - Việc tu tỉnh ít người hiểu lý
".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 89)
Người
xuống thế gian đi khắp nơi tìm hiểu đời sống của dân chúng, thấy
cảnh người đời đang sống vô cùng đau khổ, khác nào trong chốn ngục
tù, còn về ý nghĩa chân thật, đứng đắn của việc tu hành cũng chẳng
có mấy người hiểu rành lý lẽ.
Nghĩa chữ khó:
Dương thế - Trần gian:
cõi đời, thế giới loài người, nhân gian, cõi thế, nơi con người
sống.
Lê thứ:
hạng dân thường không chức phận.
Bá gia:
trăm nhà, chỉ một xã hội; tất cả người trong nước.
Não nùng:
nỗi đau buồn xót xa, ray rứt.
Lao lung:
ngục tù, chuồng và lồng nhốt thú vật.
Tu tỉnh: tự
xét thấy lỗi lầm của mình mà từ bỏ, cải sửa.
-- *** --
6.-"Trong
bá tánh muốn nơi cao quí - Phải truy tầm huyền bí nơi cơ - Từ sấm
kinh cho đến thi thơ - Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu
".
Luận giải:
(dòng 1 tới 4, trang 90)
Ngưòi đời nếu muốn sau này có cuộc sống thảnh
thơi, an nhàn, cao quí, được thế nhân thương yêu kính mến, thì
phải cố gắng tìm hiểu những điều quan trọng, huyền bí của máy Trời
tàng ẩn trong rừng kinh, sấm, thi thơ, rồi nương theo đó duỡng
tánh tu tâm.
Nghĩa chữ khó:
Bá tánh - Bách tính:
trăm họ, chỉ chung người trong nước.
Truy tầm: tìm kiếm.
Huyền bí: mầu nhiệm, bí ẩn, khó hiểu; hay ho nhưng căn cội mơ hồ không lấy
mắt thường thấy được, không dùng trí óc bình thường hiểu và đủ lời
giải thích được.
Huyền bí nơi cơ:
bí ẩn trong máy Trời; sự huyền diệu, bí mật sắp xếp của máy
Trời.
Sấm: những
điều đoán trước về những việc lớn sẽ xảy ra có quan hệ tới nước
non và vận số của dân tộc bằng những câu văn tối nghĩa, khó hiểu.
Khi chuyện xảy ra mới biết.
Kinh:
xin xem số 3.
Thi:
bài văn gồm nhiều câu có vần có điệu, có niêm luật, do cảm hứng
đặt ra.
Thơ, thư:
ý nghĩ, hay tin tức viết trên giấy trao gởi nhau.
Trọng yếu:
hết sức quan trọng và thật cần thiết.
Tàng ẩn:
giấu giếm, không phơi bày ra.
-- *** --
7.-"Tạo
làm chi những trung với hiếu ! - Ấy là người bổn phận phải trau -
Khuyên dương trần đừng nệ cần lao - Cũng rán sửa rán trau nền đạo
- Tu đầu tóc không cần phải cạo - Miễn cho rồi cái đạo làm người
".
Luận giải:
(dòng 5 tới 10, trang 90)
Một người xứng đáng, sống đúng nghĩa một con
người, phải có bổn phận giữ tròn trung với hiếu, cũng như phải
siêng năng làm việc nhưng vẫn không xao lãng học hỏi kệ kinh, trau
giồi đạo đức. Việc tu là sửa tánh, răn lòng, từ bỏ ý nghĩ xấu nuôi
dưỡng ý nghĩ tốt, chớ không phải ở các hình thức bên ngoài, cạo
tóc hay không, không cần thiết miễn giữ cho tròn cái đạo làm người,
không sai trái luật đạo và thi hành đúng những điều Phật dạy.
Nghĩa chữ khó:
Trung hiếu:
Trung: biết liều mình giữ gìn Tổ Quốc, Quê hương, hoặc hết
sức bảo vệ
(che chở, giữ gìn)
vị chỉ huy, vị chủ tướng tài ba đức độ
(giỏi và đủ đạo đức)
Hiếu: chăm
sóc, dưỡng nuôi, nghe lời Ông Bà, Cha Mẹ, không làm điều gì hư xấu
để các Ngài buồn lòng, bị nhục.
Trau: giồi
mài, sửa chửa cho tốt hơn, hay hơn, giỏi hơn.
Dương trần:
Dương: mặt trời, Trần: bụi cát. Chỉ cõi đời
nơi loài người đang sống.
Cần lao:
chuyên cần lao lực; làm việc bằng tay chân. Ở đây còn nghĩa siêng
năng làm việc.
-- *** --
8.-"Kể
từ nay lỡ khóc lỡ cười - Vì buồn bực thấy đời biến chuyển - Các
chư Phật từ đây lựa tuyển - Coi ai là đức hạnh hiền từ - Lời sách
xưa cận thủy tri ngư - Cận sơn lãnh trần gian tri điểu - Trong sấm
giảng nếu ai không hiểu - Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường".
Luận giải:
(dòng 11 tới 18, trang 90)
Từ nay người đời đau
khổ nhiều hơn vui cười, vì máy Trời xếp đặt những cuộc đổi thay to
lớn để lọc lừa lòng dạ, đức hạnh thế nhân, do đó, chư Phật xuống
trần tìm chọn những bực lương hiền. Lời sách xưa dạy: “Gần sông
nước mới biết rành tánh cá. Sống ở núi rừng mới hiểu được
tiếng chim”.
Nếu ai đọc sấm giảng còn có điều chưa thông suốt hãy tìm Kệ này sẽ
thấy Người chỉ rõ đường lối tu hành của Đạo Phật.
Nghĩa chữ khó:
Biến chuyển:
thay đổi.
Đức: làm
xong việc lành, tu cho thành đạo là Hạnh, giải theo
nghĩa Phật giáo.
Đức: đạo đứ,
ngay thẳng, hiền hoà, làm mọi việc lành.
Hạnh: cố
gắng sửa mình, giữ đạo lý, xa điều dữ, giúp người nghèo khổ, tánh
hoà dịu, lễ độ.
-- *** --
9.-"Quyết
dạy trần nên nói lời thường - Cho sanh chúng đời nay dễ biết -
Trời dông gió sái mùa sái tiết - Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi -
Khuyên dương gian bỏ các việc tồi - Đặng lo liệu cho tròn phận sự
".
Luận giải:
(dòng 19 tới 24, trang 90)
Quyết lòng chỉ dạy kẻ
thế gian nên Người dùng lời lẽ rõ ràng dễ hiểu. Ngày nay
gió dông thường sái mùa sai tiết, nắng và mưa cũng không còn giống
thuở xưa kia, đó là dấu hiệu của Trời Phật báo trước ngày tàn của
nhân thế. Người khuyên dân mau mau tỉnh thức, cải tánh sửa
lòng, rán làm lành, lánh xa việc dữ, sớm tối tìm học kệ kinh, khép
mình làm theo lời Phật dạy.
-- *** --
10.-"
Thấy trần
thế hãy còn lưỡng lự
- Muốn tu mà còn
hỡi chần chờ - Việc thế gian như thể cuộc cờ - Thắng
với thối một hai nước tướng - Nào Ai có gạt dân nói bướng
- Mà dương trần liệu lượng chánh tà - Ta mến yêu
những kẻ thiệt thà - Nghe cơ giảng thiết tha lo liệu
".
Luận giải:
(dòng 25 tới 32, trang 90)
Chuyện thế gian ngày
nay giống như một cuộc cờ, thắng hay thua tùy thuộc vào một hai
nước chiếu, người đời cũng vậy, phải biết chọn đúng đường đi mới
được sống còn. Vì quyết ý cứu dân, Người đã nói hết những
gì có thể nói, nhằm đánh thức cơn mê muội của con người để sớm
biết ăn năn, cải hối làm lành lánh dữ lo tu, chớ nào phải nói càn
nói bướng dối gạt chi ai, vậy mà có một số người chưa nghĩ suốt,
muốn tu nhưng còn nghi ngờ, lưõng lự, chần chờ. Người mến
yêu những ai ngay thẳng thật thà, tôn trọng đạo lý, nghe lời
khuyên dạy sốt sắng sửa tánh răn lòng tìm về Phật Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Lưỡng lự:
suy tính, cân nhắc giữa nên hay
không nên, chần chờ chưa quyết định dứt khoát.
Nói bướng:
nói càn, nói đại dầu không đúng sự thật miễn sao được việc của
mình thì thôi.
Liệu lượng:
toan tính, cân nhắc sự lợi hại, việc đúng sai trước khi quyết định
việc gì.
Cơ giảng:
giảng giải những điều xảy ra thuộc về sự sắp xếp của máy Trời.
-- *** --
11.-
"Học đạo lý
như đờn trúng điệu
- Hoà bản rồi thì
cứ làm theo - Lũ Tam Bành trong bụng còn đeo - Đoàn
Lục Tặc ta mau sớm giết - Mài gươm trí cho tinh cho khiết
- Diệt tâm trần kiếm chữ sắc không
".
Luận giải:
(dòng 33 - 36, trang 90 – dòng 1- 2,
trang 91)
Biết đời vô thường,
thân ta là giả, sao không tìm lối thoát khỏi vòng lẫn quẩn hợp
tan, sanh diệt ? Hiểu biết Đạo rồi khác nào bản đờn trúng điệu,
nhịp nhàng như suối chảy như thông reo, người tu cũng vậy, sáng
suốt biết vận dụng gươm trí huệ và sức mạnh tinh thần diệt tận gốc
Tham-Sân- Si và vô hiệu hoá sáu tên cướp:
Sắc-Thinh-Hương-Vị-Xúc-Pháp không để chúng ảnh hưởng đến
Mắt-Tai-Mũi-Lưỡi-Thân-Ý thì mức thành Đạo không xa.
Nghĩa chữ khó:
Vô thường:
con người cũng như sanh vật đều không chừng, không bền vững, có đó
mất đó. Có hình thể tất bị hủy diệt, sanh ra rồi phải chết, bởi
xác thân này do sự kết hợp của Đất, Nước, Lửa và Gió nên không tồn
tại lâu bền.
Tam bành:
Tham – Sân (nóng giận) – Si (mê muội,
không phân biệt phải trái, đúng sai) Người xưa cho Tam bành là 3
vị hung thần trong mỗi người: Bành Kiêu – Bành Chất – Bành Bành Cư,
chia nhau ở trong óc, trán và bụng để giục người nóng tánh làm bậy
rồi cứ đến ngày Canh Thân lên tâu với Ngọc Hoàng. (tiếng Tam bành
thường dùng cho đàn bà)
Lục tặc: 6
kẻ cướp: lời ví dụ chỉ ngoại lục nhập là Lục trần:
Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc
(đụng chạm thân xác),
Pháp
(ý nghĩ) và nội Lục nhập là
Lục căn: Mắt, Tai, Mũi, Luỡi, Thân, Ý. Sáu cảnh ngoài
rình xâm nhập sáu căn trong của ta.
Sắc Không:
Sắc là có hình thể, Không là không hình thể.
Có hình thể tất phải bị hủy diệt theo lẽ tự nhiên. Thấu đạt
Sắc Không là thấy được Tâm Chơn Thật
của mình, tức thấy được Tánh Phật. Bổ Khuyết Tâm
Kinh chép: “Cái Sắc không khác với cái
Không, cái Không không khác với cái
Sắc; Sắc tức Không, Không
tức là Sắc”. Nếu còn chấp Sắc chấp
Không, phân biệt Có với Không
là còn phàm phu, chưa hiểu Đạo.
-- *** --
12.-"
Đức Di Đà
Phật Tổ ngóng trông - Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ - Theo Phật
giáo từ kim chí cổ - Gốc ông cha ta cũng tu hành - Mà ngày nay cứ
mãi tranh giành - Danh với lợi của tiền quyền tước
".
(dòng 3 tới 8, trang 91)
Luận giải:
Khi lòng dạ người đời
không còn vướng mắc Tham - Sân - Si là thoát được nỗi triền miên
đau khổ, chừng ấy, người tu Phập mới thật sự bước chân vào cửa Đạo,
điều mà Đức Phật Tổ A Di Đà hằng mong đợi. Từ ngàn xưa, Ông Cha ta
cũng tu hành, tôn trọng đạo lý, làm lành lánh dữ, sao nay chúng ta
bỏ quên nền nếp cũ mà ham mê danh lợi cùng của tiền quyền tước để
rồi thẳng tay tranh giành đến phải giết hại lẫn nhau.
-- *** --
13.-"Thấy
trần thế ai ai cũng ước - Đời sau không tới phứt cho rồi - Nay khổ
lao khó đứng khôn ngồi - Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn - Làm ác
đức nhiều điều quanh quẩn - Như gà cồ ăn bẩn cối xay - Thấy người
hiền nói đắng nói cay - Sau mới biết thân ai lao khổ
".
Luận giải:
(dòng 9 tới16, trang 91)
Người đời chịu quá
nhiều thứ đau khổ nên đa số muốn thế gian này tiêu tan phứt cho
rồi, vì vậy cứ buông xuôi cuộc sống phó mặc dòng đời đưa đẩy,
không cần biết rồi sẽ tới đâu? Cũng không ít kẻ nghĩ rằng trước
sau gì cũng chết, mà chết là hết, thì sống ngày nào phải làm sao
được hưởng thụ sung sướng đủ đầy, dầu phải gây điều tàn ác. Cuộc
sống đó có khác gì con gà cồ lười biếng chỉ biết quanh quẩn ăn lúa
gạo có sẵn bên cối xay mặc cho chủ nhà đánh đuổi. Còn một hạng
người hễ thấy những ai yên phận thủ thường, không thích đua chen
giành giựt thì vội chê là khờ dại rồi sau này mới biết thân ai lao
khổ.
-- *** --
14.-"Nhớ
thuở trước oai linh Phật Tổ - Phép thần thông trừ lũ Ma Vương -
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương - Tìm đạo lý hiến cho trần thế
- Hiệu Lão Sĩ ra đời thật tế - Đem lời vàng dạy dỗ dương trần -
Khuyên chúng sanh khuya sớm chuyên cần - Tìm nguồn cội diệt trừ Tứ
Khổ ".
(dòng 17 tới 24, trang 91)
Luận giải:
Nhớ thuở trước, lúc
Phật Tổ phơi nắng dầm sương ngồi suy nghiệm tìm đường giải thoát
cho chúng sanh, Ngài phát huy ý chí và sức mạnh tinh thần khiến Ma
Vương khiếp sợ. Khi thành Đạo Ngài vào đời với danh hiệu Lão Sĩ
khuyên dạy người trần sớm khuya siêng năng tu học, sửa tâm rèn
tánh để tự mình dọn một lối đi thoát ra ngoài vòng
Sanh-Lão-Bịnh-Tử.
Nghĩa chữ khó:
Oai linh:
trang nghiêm và oai thế linh diệu mạnh mẽ không thể lường.
Thần thông:
Thần: sự linh diệu
(hay ho), là nghị lực cao siêu
không lường được. Thông: không bị ngăn trở.
Phật dùng thần thông biến hoá theo ý, theo tâm thức,
(tâm thức là toàn
thể tinh thần, sự sống về phần hồn) và
nghị lực. Thần thông:
có khả năng hiểu thấu mọi việc.
Ma Vương:
chuá tể loài ma.
Đạo lý:
nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo. Những phép tắc các bực Thánh
Hiền từ xưa lưu lại được xã hội thừa nhận làm mẫu mực trong quan
hệ đối xử.
Tứ khổ: Sanh,
Già, Bịnh và Chết.
Phụ giải:
Phát huy: làm
cho cái hay, tốt tăng thêm hiệu lực và thúc đẩy tiếp tục nảy nở
thêm.
15.-"Bịnh
với Tử từ kim chí cổ - Sanh với Già hai chữ hoài hoài - Đức Thích
Ca xưa ở lâu đài - Nghiệm Tứ Khổ nên Ngài tầm Đạo
".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 91)
Bịnh
với Chết,
Sanh với Già từ xưa nay mấy ai tránh khỏi, Đức Thích Ca
khi xưa dầu tột bực giàu sang nhưng Ngài suy nghĩ phải tìm cách
tiêu trừ bốn nỗi khổ này cho nhân thế.
-- *** --
16.-"Lo
tu tỉnh mặc ai khinh ngạo - Diệt Lục Căn đừng nhiễm Lục Trần - Chữ
Sắc Thinh chớ khá hầu gần - Hương với Vị xác trần nên lánh - Chữ
Xúc Pháp treo gương Hiền Thánh
- Tránh
Sáu Đường cũng đặng về Thần - Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần - Mà lê
thứ không lo chẳng liệu".
(dòng 29 tới 36, trang 91)
Luận giải:
Rán sửa tánh răn lòng
mặc ai khi dể cười chê, phận mình cố gắng tiêu diệt những lung
lăng, loạn động của Lục Căn không cho phát triển về những chiều
hướng xấu, ác, đồng thời ngăn chận Lục Trần thừa cơ xâm nhập: đừng
ham mê màu sắc; không để vào lòng tiếng quyển giọng kèn; đừng để
hương da thịt, mùi phấn son cùng vị ngọt ngon thơm béo quyến rủ
mình; tránh đụng chạm cọ sát thân thể với người khác phái để khỏi
phát sanh tư tưởng cùng ý nghĩ thiếu thẳng ngay. Nên noi gương các
bực Thánh Hiền ngày xưa dùng nghị lực và trí sáng suốt làm chủ lấy
mình. Không buông lỏng cho Lục Căn dính mắc với Lục Trần là dứt
đau khổ để ngày chung cuộc khỏi qua sáu nẻo luân hồi, được về Thần.
Xưa nay Người chỉ dạy nhiều lần mà trần thế có mấy ai lo
liệu.
Nghĩa chữ khó:
Lục căn:
Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân và Ý tức 6 cảnh ở nơi thân tâm ta, là
sáu căn cội có sức nảy sanh, như mắt
(nhãn)
nảy sanh sự thấy, là nhãn căn; nhĩ căn: căn của
tai; tỹ căn là căn của
mũi; thiệt căn là căn của lưỡi; thân
căn là căn của thân thể; ý căn là căn của
ý nghĩ.
Lục trần:
Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và Pháp, là 6 cảnh ở ngoài thân tâm
ta. Sáu cảnh bên ngoài này có thể nhiễm dơ thân tâm ta, kêu là lục
trần: sắc là màu sắc; thinh, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng ca, lời
ngon ngọt dụ dỗ … hương, mùi thơm; vị, vị ngon béo của thịt cá…xúc,
sự đụng chạm với quần áo, với da thịt mịn màng mà mình ưa thích…pháp,
những phương thế, những tư tưởng xâm nhập cái ý, khiến cho tâm ý
sanh ra những phán đoán, phân biệt, có ưa có ghét, khen chê theo
sở thích của mình.
Về ý nghĩa Lục trần:
a/- Sắc là những màu sắc xanh,
vàng, đỏ, trắng, cùng hình thể của người của vật.
b/- Thinh là tiếng kèn, trống,
nhạc, tiếng ca, câu hát, cùng những lời nói êm dịu ngot ngào của
người ta làm cho mình xiêu lòng, mê thích.
c/- Hương là mùi thơm của món ăn, mùi thơm phấn sáp, mùi
thơm dầu thơm, hương vị của phụ nữ, làm cho mình mê thích.
d/- Vị là mùi vị của thức ăn, vật
uống, vị ngon béo của thịt cá mà người ta thích ăn.
e/- Xúc là sự đụng chạm với quần
áo, đồ vật mịn màng mà mình ưa, thân thể của người nam kẻ nữ cọ
sát với nhau làm mình mê thích, không chịu rời bỏ.
f/- Pháp là những tư tưởng xâm nhập vào cái Ý;
đối với 5 trần trên có những tư tưởng khiến cho tâm ý mình sanh
ra những sự phán đoán, phân biệt, ưa, ghét, khen, chê tùy theo sở
thích của mình, suy tính mọi việc sao cho vừa ý mình.
Sáu đường: hay Lục đạo,
hay sáu nẻo Luân hồi, sáu đường về sáu cõi: Tiên,
Thần A Tu La, Người, Súc sanh, Ngạ quỉ (quỉ đói) và Địa ngục. (nhà
tù ở cõi chết)
Lê thứ: hạng dân thường không chức
phận gì trong xã hội. Nghĩa bóng chỉ chung người đời.
Phụ giải:
Luân hồi: Luân là bánh xe, quay
theo vòng tròn. Hồi: quay lại, trở về. Theo nhà Phật,
con người bị xoay vần mãi trong vòng: Sanh, Già, Bịnh, Chết, rồi
đầu thai cũng lẩn quẩn trong sáu đường: Tiên, Thần, Người, Súc
sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục.
-- *** --
17.-"Nhãn
thấy sắc thường hay bận bịu - Tai ưa nghe những điệu âm thinh -
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh - Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu - Đồ thơm
tho nó ưa nó chịu - Chốn xạ hương hay lết lại gần - Lưỡi ưa ngon
là chuyện ân cần - Đồ ngọt béo nó ưa nó mến - Thân tham sướng muốn
tiền của đến - Đặng ăn xài cho phỉ tấm tình - Ý thì ưa sửa sắc soi
hình - Với chức phận cho cao cho quí".
(dòng 1 tới 12, trang 92)
Luận giải:
Mắt ưa nhìn sắc đẹp, tai
thích nghe giọng hát tiếng đờn cùng những lời lẽ dịu dàng; còn lỗ
mũi chịu mùi thơm ngon êm dịu; lưỡi ưa nếm thức ăn ngọt béo; xác
thân tham sung sướng muốn có nhiều của tiền tiêu xài cho thoả ưóc
mơ; còn ý thì hay sửa sắc soi hình cùng chức phận cho cao cho quí.
Nghĩa chữ khó:
Xạ hương: chất có hương thơm ở các
loài hưu và một số loại cầy (chồn hương) dùng làm thuốc hoặc nước
hoa.
Phỉ tấm tình: thoả mãn trong lòng.
-- *** --
18.-"Sáu
đường ấy ở trong tâm ý - Ta mau mau dứt nó cho rồi - Nếu tỉnh tâm
nào có mấy hồi - Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác - Dứt được nó ấy là
giải thoát - Thì xác trần mới khỏi đọa đày".
(dòng 13 tới 18, trang 92)
Luận giải:
Nguồn gốc của sáu điều
ham muốn đó ở trong tâm ý của ta. Muốn có cuộc sống an bình, nhẹ
nhàng thong thả ta phải cố gắng lắng lòng rồi tận dụng trí sáng
suốt và sức mạnh tinh thần đuổi chúng ra ngoài. Dứt được nó thì
không còn tưởng bậy nghĩ quấy, không toan tính điều sai trái, nhờ
đó thể xác trần mới thoát khỏi đau khổ đọa đày.
Nghĩa chữ khó:
Sáu đường ấy: là sáu lối của
Lục căn tiếp xúc với Lục trần.
Xin xem số 16.
Tỉnh tâm: Tỉnh: xét kỹ, hiểu
rõ được. Tâm: lòng. Tâm trí thức dậy, tỉnh dậy sau
cơn mê, ngu muội, biết mình làm điều sai lạc nên quyết cải sửa.
-- *** --
19.-"Cả
tiếng kêu những kẻ trí tài - Hãy yên lặng bình tâm suy nghĩ - Tiên
xử kỷ hậu lai xử bỉ - Bắt lỗi người phải xét lỗi mình - Vậy mới là
phải bực công bình - Nẻo chánh trực chỉ người quân tử
".
(dòng 19 t |