|
LỜI
TỰA
-- *** --
Giác Mê Tâm Kệ,
là quyển thứ tư, Đức Thầy viết ngày 20 tháng 9 năm 1939, mở đầu
với câu: “Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện” rồi bàng bạc suốt
chiều dài 846 câu, Người phơi bày nỗi niềm ray rứt, xót xa
đầy tâm huyết của nhà đạo đức học và xã hội học; sang lãnh vực
tinh thần, với lòng từ ái Bồ Tát quyết tâm chấn hưng Phật giáo,
Người thắp lên ngọn đưốc thiêng chánh pháp đốt cháy màn vô
minh, đưa ánh sáng trí huệ xoá tan lạc lầm, mê tín dị đoan ẩn tàng
bên trong một số cửa già lam.
Chúng ta thử đọc vài
đoạn:
… Tiên xử kỷ hậu lai xử
bỉ,
Bắt lỗi người phải xét
lỗi mình …
… Dòm trước
mắt thấy điều hồ mị
Nên động tình bác ái dạy
răn.
Réo những ai lợi dụng
làm xằng
Cho suy sụp chơn nhơn mờ
mịt
Nào có khác mây đen phủ
bít
Rồi dắt nhau đến chỗ dại
ngây …
Lời Phật dạy: “Tìm
thấy lỗi người thì dễ, mà tìm ra lỗi mình quả là khó”…
Đức Thầy khơi dậy niềm
tự hào dân tộc, nhắc nhở kẻ hậu sinh nhớ và biết từ ngàn xưa, khắp
đất nước Việt Nam, ngoài chiến địa, trai thì kiêu hùng bất khuất,
vào gia đình là người con hiếu thảo hiền ngoan, người cha gương
mẫu, người chồng thủy chung, nữ giới cũng không hiếm những bực anh
thư liệt nữ cỡi đầu voi dữ, tay kiếm tay cờ dọc ngang giữa trăm
tướng ngàn quân, vì độc lập tự do xem mạng sống nhẹ tợ lông hồng,
trở về khuê trung thuần khiết, mẫu mực vợ hiền dâu thảo. Trong
quan hệ xử thế phân biệt rõ ràng trắng đen, tà chánh, hào sảng,
phóng khoáng, giàu lòng tương trợ, không ích kỷ nhỏ nhen, nam cũng
như nữ sẵn sàng dùng máu xương vẽ biên cương, bảo vệ Tổ Quốc, Quê
hương.
… Trọng mẹ cha kính nể
Phật Trời,
Đừng nhiều tiếng nghinh
ngang mang lỗi,
Tánh ngay thẳng ta không
dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt
chẳng màng …
… Dầu không siêu
cũng đặng về Thần
Nhờ hai chữ trung quân
ái quốc …
Không như :
… Trong tâm thì chứa
chữ gian tà
Chớ
chẳng chứa tấm lòng bác ái.
Học chữ nghĩa cho
thông cho thái,
Đặng xuê xang đài các
xe tàu.
Tiếng chào mừng cửa
miệng làm màu,
Trong tâm ý mưu mô đủ
thế...
… Bọn gái mới ra
đường tha thướt
Bỏ hết trơn nề nếp
ông cha…
Mà phải :
… Dọn bề trong mới
gọi đẹp xinh,
Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt …
Đức Thích Ca vì thế
nhân mà dâng hiến kiếp sống cho giáo lý cứu khổ, nếu người đời chỉ
học một phần nhỏ trong đức Từ của Phật, biết thương yêu, biết tha
thứ và giữ giới, dầu chỉ là giới luật ở bước khai tâm, cũng giảm
cho đời bao nhiêu tội ác, bớt không ít đau khổ vì thù hận, chia ly
…
Giáo lý nhà Phật đâu
phải :
… Mõ
chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường
thông nghĩa lý …
Cho nên:
… Cả ngàn năm nhơn
tâm xao xuyến,
Sao tu hoài chẳng
thấy ai thành.
Bởi chữ tu liền với
chữ hành
Hành bất chánh người
đời mới nói.
Bởi tăng chúng quá
ham chùa ngói,
Nên tởi khuyên khắp
chốn cùng làng,
Phật nào ham tượng
cốt phết vàng …
Phật giáo là đạo giác ngộ, chỉ giác
ngộ mới diệt được tận gốc nguyên nhân sanh ra đau khổ.
Đi đến giác ngộ phải qua các chặng
đường rèn lòng, luyện tánh, giữ tâm ý vắng lặng sáng trong cho trí
huệ hiển lộ. Trí huệ thăng hoa hành giả mới thấy tâm Phật, tức
Giác ngộ. Phật ở lòng mình chớ kiếm đâu xa:
… Tu đầu tóc không cần
phải cạo,
Miễn cho rồi cái đạo làm người …
… Mài gươm trí cho
tinh cho khiết
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không …
… Cái chữ Tâm là
Quỉ hay Ma
Tiên hay Phật cũng là
tại nó …
Tóm lại, trong Giác
Mê Tâm Kệ, Đức Thầy minh giải Thập Tam Ma - Bát Nhẫn
- Bát Chánh Đạo để phá vở tâm chúng sanh cho người tu học,
tiếp đến Tứ Diệu Đề và 12 nhơn duyên cho hành giả
làm khuôn thước và kim chỉ nam thẳng đến cõi vô sanh, nhập cảnh
giới Niết Bàn…
Hồ minh Châu

GIÁC MÊ TÂM KỆ
Quyển
thứ tư
LUẬN GIẢI
-- *** --
1.-"Khai
ngọn đuốc từ bi chí thiện - Tìm con lành dắt lại Phật đường
-
Thương dân hiền giáo đạo Nam phương - Đặng chỉ ngõ làm lành lánh
dữ ".
(dòng
1 tới 4, trang 89)
(Từ đây chúng tôi dùng chữ Người thay
2 chữ Đức Thầy).
Luận giải:
Đến từ phương Nam, bằng
tấm lòng bác ái bao la, Người thắp sáng lên ngọn
đuốc tình thương chỉ cho thế nhân thấy điều đúng sai, tội phước mà
làm lành tránh dữ dọn lòng đi vào Phật Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Giác mê tâm kệ:
bài kệ soi sáng lòng người; bài kệ đánh thức lòng người mê tối.
Kệ: những
bài thi ca kể công đức của Phật, Bồ Tát. Nghĩa ở đây là lời dạy
của đấng Bồ Tát.
Khai ngọn đuốc:
thắp sáng ngọn đuốc.
Đuốc: vật
liệu khô nhẹ được bó chặt lại, đốt lên có ánh sáng soi đường đi
trong đêm tối.
Từ bi: lòng
thương yêu và đau xót:
Từ: thương
tưởng, dốc làm lợi ích, an vui cho chúng sanh. Bi:
đau xót trước cảnh khổ, hoạn nạn, đau buồn của chúng sanh mà dốc
lòng cứu vớt. Phật thương chúng sanh như thương con nên kêu là
Từ. Phật thấy chúng sanh chịu các nỗi khổ mà động lòng
thương, muốn cứu vớt họ ra khỏi các tai nạn, nên kêu là Bi.
Chí thiện:
rất hiền lành, thật tốt.
Giáo đạo: chỉ
dạy lý lẽ chân chánh của tôn giáo.
--
*** --
2.-"Sách
Thánh đạo ghi trong Tam Tự - Người mới sanh tánh thiện Trời dành -
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh - Nên tật xấu che mờ thiện tánh -
Thiếu giáo dục thiếu thêm đức hạnh - Ta quyết lòng nhắc lại tánh
xưa".
Luận giải:
(dòng 5 tới 10, trang 89)
Lời ghi trong sách
Tam Tự, con người mới sanh ra lòng dạ vốn hiền lành, ngay thật,
nhưng lớn lên ham danh mê lợi nên bị thói hư tật xấu che mờ tánh
tốt, đức hạnh vì đó cũng mất luôn. Tai hại này ngày càng nhiều là
bởi thiếu người dạy dỗ, không ai chỉ dẫn đạo lý và cách diệt trừ
thói hư tật xấu, nên Người quyết lòng soi sáng đường mê tối,
đánh thức tánh hiền lành ngay thật sẵn có và làm sống lại đức hạnh
cao đẹp của con người.
Nghĩa chữ khó:
Sách Thánh đạo:
chỉ sách của đức Khổng Tử, vị tổ đạo nho được đời xem là vị
Thánh.
Tam tự:
sách chữ
nho, mỗi câu ba chữ, do Vương Ứng Lâm đời Tống soạn dùng dạy trẻ
con.
Tánh thiện
hay Thiện tánh:
tánh hiền lành, ngay thật.
Nhiễm: bị
hư xấu bên ngoài nhập, dính vào làm mất sự trong sạch.
Danh lợi:
danh tiếng và tên tuổi được nhiều người biết, khi có danh thì dễ
dàng kiếm lợ.
Giáo dục:
dạy dỗ, rèn luyện chữ nghĩa, đức hạnh, thể chất; dạy đủ mọi
ngành nghề.
Đức: đạo
đức nghiêm chỉnh, tánh ngay thẳng, lòng dạ hiền hoà, ưa làm việc
lành.
Hạnh: gắng
sửa mình, giữ đạo lý, thương giúp người nghèo khổ, tánh hoà dịu,
lễ độ.
Phụ giải:
Đạo lý:
nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo. Những phép tắc các bực Thánh
Hiền lưu lại được xã hội thừa nhận làm mẫu mực trong quan hệ đối
xử.
--
*** --
3.-"Mặc
tình đời gièm siểm ghét ưa - Rừng kinh kệ ít người hay chữ - Quá
mắc mỏ bởi chưng Phạn ngữ - Nên người đời khó kiếm cho ra - Mõ
chuông bày đọc tụng ó la - Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý
".
Luận giải:
(dòng 11 tới 16, trang 89)
Mặc tình người đời
ghét hay ưa hoặc muốn nghĩ sao cũng được, Người phải nói
thẳng ra rằng, trong giới tu hành ngày nay, tuy tay mõ tay chuông,
miệng tụng kinh ê a nhưng ít gười hiểu rành nghĩa lý, bởi hầu hết
kinh sách là chữ Hán và chữ Phạn.
Nghĩa chữ khó:
Gièm siểm: chê
người vắng mặt để nịnh bợ người khác.
Kinh: những bài
Đức Phật giảng giải về đạo lý, được chư dệ tử gom kết lại thành
tập.
Kệ: những bài thi
ca kể về công đức của chư Phật, Bồ tát.
Phạn ngữ: Sancrit,
chữ Phạn bên Thiên Trước; kinh sách Phật giáo hày hết viết bằng
thứ chữ này.
Hiếm kẻ: ít người.
Tường thông: biết
và hiểu một cách thông suốt.
Phụ giải:
*
Phật: tiếng Phạn
Bouddha (scr) là Giác, người sáng
suốt.
Bồ tát: tiếng
Phạn Bodhisattva (scr) bực đắc quả Phật song còn làm
chúng sanh để độ đời.
-- *** --
4.-"Dòm
trước mắt thấy điều hồ mị - Nên động tình bác ái dạy răn - Réo
những ai lợi dụng làm xằng - Cho suy sụp chơn nhơn mờ mịt - Nào có
khác mây đen phủ bít - Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây - Lấy tinh
thần hiệp vén ngút mây - Trong bổn đạo tự thân phải xử".
Luận giải:
(dòng 17 tới 24, trang 89)
Với tấm lòng thương
đời bao la bát ngát, Người không thể lặng yên nhìn những
trò dối trá lừa gạt lòng tin của dân chúng, nên phải nói trắng ra
vừa để cảnh giác vừa răn dạy người đời. Người lớn tiếng kêu
gọi những ai quen sống bằng gạt lường, bằng lợi dụng, hãy mau mau
từ bỏ, đừng tiếp tục làm sai quấy nữa, vì cuộc sống đó, hành động
đó chẳng những trái đạo lý mà còn làm tiêu mòn lòng nhơn tánh
thiện của mình để rồi đi lần tới chỗ dại ngây, không còn phân biệt
được điều sai việc đúng, tương lai sẽ mờ mịt. Xin những ai trong
gia đình nhà Phật nên vận dụng trí óc sáng suốt phân đoán sự việc
đồng thời giúp phá giải mê muội cho người chưa tỉnh thức.
Nghĩa chữ khó:
Hồ mị hay
hồ mỵ: tán tỉnh, nịnh hót, làm say mê người.Dùng thủ
đoạn nhũn nhặn lừa người.
Bác ái:
hiền lành, lòng yêu thương thật rộng rãi đối với người cũng như
với sanh vật.
Làm xằng:
làm bậy, quấy, sai trái với lẽ phải.
Chơn nhơn:
tánh ngay thật, hiền lành sẵn có của mỗi người. Theo nghĩa nhà
Phật, chơn nhơn là cái thiệt thân trong giả thân. Nói cách khác,
là Phật tánh sẵn có ở mỗi người.
-- *** --
5.-"Xuống
dương thế dạo trong lê thứ - Thấy bá gia gặp lúc não nùng - Cảnh
trần gian nhiều nỗi lao lung - Việc tu tỉnh ít người hiểu lý
".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 89)
Người
xuống thế gian đi khắp nơi tìm hiểu đời sống của dân chúng, thấy
cảnh người đời đang sống vô cùng đau khổ, khác nào trong chốn ngục
tù, còn về ý nghĩa chân thật, đứng đắn của việc tu hành cũng chẳng
có mấy người hiểu rành lý lẽ.
Nghĩa chữ khó:
Dương thế - Trần gian:
cõi đời, thế giới loài người, nhân gian, cõi thế, nơi con người
sống.
Lê thứ:
hạng dân thường không chức phận.
Bá gia:
trăm nhà, chỉ một xã hội; tất cả người trong nước.
Não nùng:
nỗi đau buồn xót xa, ray rứt.
Lao lung:
ngục tù, chuồng và lồng nhốt thú vật.
Tu tỉnh: tự
xét thấy lỗi lầm của mình mà từ bỏ, cải sửa.
-- *** --
6.-"Trong
bá tánh muốn nơi cao quí - Phải truy tầm huyền bí nơi cơ - Từ sấm
kinh cho đến thi thơ - Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu
".
Luận giải:
(dòng 1 tới 4, trang 90)
Ngưòi đời nếu muốn sau này có cuộc sống thảnh
thơi, an nhàn, cao quí, được thế nhân thương yêu kính mến, thì
phải cố gắng tìm hiểu những điều quan trọng, huyền bí của máy Trời
tàng ẩn trong rừng kinh, sấm, thi thơ, rồi nương theo đó duỡng
tánh tu tâm.
Nghĩa chữ khó:
Bá tánh - Bách tính:
trăm họ, chỉ chung người trong nước.
Truy tầm: tìm kiếm.
Huyền bí: mầu nhiệm, bí ẩn, khó hiểu; hay ho nhưng căn cội mơ hồ không lấy
mắt thường thấy được, không dùng trí óc bình thường hiểu và đủ lời
giải thích được.
Huyền bí nơi cơ:
bí ẩn trong máy Trời; sự huyền diệu, bí mật sắp xếp của máy
Trời.
Sấm: những
điều đoán trước về những việc lớn sẽ xảy ra có quan hệ tới nước
non và vận số của dân tộc bằng những câu văn tối nghĩa, khó hiểu.
Khi chuyện xảy ra mới biết.
Kinh:
xin xem số 3.
Thi:
bài văn gồm nhiều câu có vần có điệu, có niêm luật, do cảm hứng
đặt ra.
Thơ, thư:
ý nghĩ, hay tin tức viết trên giấy trao gởi nhau.
Trọng yếu:
hết sức quan trọng và thật cần thiết.
Tàng ẩn:
giấu giếm, không phơi bày ra.
-- *** --
7.-"Tạo
làm chi những trung với hiếu ! - Ấy là người bổn phận phải trau -
Khuyên dương trần đừng nệ cần lao - Cũng rán sửa rán trau nền đạo
- Tu đầu tóc không cần phải cạo - Miễn cho rồi cái đạo làm người
".
Luận giải:
(dòng 5 tới 10, trang 90)
Một người xứng đáng, sống đúng nghĩa một con
người, phải có bổn phận giữ tròn trung với hiếu, cũng như phải
siêng năng làm việc nhưng vẫn không xao lãng học hỏi kệ kinh, trau
giồi đạo đức. Việc tu là sửa tánh, răn lòng, từ bỏ ý nghĩ xấu nuôi
dưỡng ý nghĩ tốt, chớ không phải ở các hình thức bên ngoài, cạo
tóc hay không, không cần thiết miễn giữ cho tròn cái đạo làm người,
không sai trái luật đạo và thi hành đúng những điều Phật dạy.
Nghĩa chữ khó:
Trung hiếu:
Trung: biết liều mình giữ gìn Tổ Quốc, Quê hương, hoặc hết
sức bảo vệ
(che chở, giữ gìn)
vị chỉ huy, vị chủ tướng tài ba đức độ
(giỏi và đủ đạo đức)
Hiếu: chăm
sóc, dưỡng nuôi, nghe lời Ông Bà, Cha Mẹ, không làm điều gì hư xấu
để các Ngài buồn lòng, bị nhục.
Trau: giồi
mài, sửa chửa cho tốt hơn, hay hơn, giỏi hơn.
Dương trần:
Dương: mặt trời, Trần: bụi cát. Chỉ cõi đời
nơi loài người đang sống.
Cần lao:
chuyên cần lao lực; làm việc bằng tay chân. Ở đây còn nghĩa siêng
năng làm việc.
-- *** --
8.-"Kể
từ nay lỡ khóc lỡ cười - Vì buồn bực thấy đời biến chuyển - Các
chư Phật từ đây lựa tuyển - Coi ai là đức hạnh hiền từ - Lời sách
xưa cận thủy tri ngư - Cận sơn lãnh trần gian tri điểu - Trong sấm
giảng nếu ai không hiểu - Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường".
Luận giải:
(dòng 11 tới 18, trang 90)
Từ nay người đời đau
khổ nhiều hơn vui cười, vì máy Trời xếp đặt những cuộc đổi thay to
lớn để lọc lừa lòng dạ, đức hạnh thế nhân, do đó, chư Phật xuống
trần tìm chọn những bực lương hiền. Lời sách xưa dạy: “Gần sông
nước mới biết rành tánh cá. Sống ở núi rừng mới hiểu được
tiếng chim”.
Nếu ai đọc sấm giảng còn có điều chưa thông suốt hãy tìm Kệ này sẽ
thấy Người chỉ rõ đường lối tu hành của Đạo Phật.
Nghĩa chữ khó:
Biến chuyển:
thay đổi.
Đức: làm
xong việc lành, tu cho thành đạo là Hạnh, giải theo
nghĩa Phật giáo.
Đức: đạo đứ,
ngay thẳng, hiền hoà, làm mọi việc lành.
Hạnh: cố
gắng sửa mình, giữ đạo lý, xa điều dữ, giúp người nghèo khổ, tánh
hoà dịu, lễ độ.
-- *** --
9.-"Quyết
dạy trần nên nói lời thường - Cho sanh chúng đời nay dễ biết -
Trời dông gió sái mùa sái tiết - Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi -
Khuyên dương gian bỏ các việc tồi - Đặng lo liệu cho tròn phận sự
".
Luận giải:
(dòng 19 tới 24, trang 90)
Quyết lòng chỉ dạy kẻ
thế gian nên Người dùng lời lẽ rõ ràng dễ hiểu. Ngày nay
gió dông thường sái mùa sai tiết, nắng và mưa cũng không còn giống
thuở xưa kia, đó là dấu hiệu của Trời Phật báo trước ngày tàn của
nhân thế. Người khuyên dân mau mau tỉnh thức, cải tánh sửa
lòng, rán làm lành, lánh xa việc dữ, sớm tối tìm học kệ kinh, khép
mình làm theo lời Phật dạy.
-- *** --
10.-"
Thấy trần
thế hãy còn lưỡng lự
- Muốn tu mà còn
hỡi chần chờ - Việc thế gian như thể cuộc cờ - Thắng
với thối một hai nước tướng - Nào Ai có gạt dân nói bướng
- Mà dương trần liệu lượng chánh tà - Ta mến yêu
những kẻ thiệt thà - Nghe cơ giảng thiết tha lo liệu
".
Luận giải:
(dòng 25 tới 32, trang 90)
Chuyện thế gian ngày
nay giống như một cuộc cờ, thắng hay thua tùy thuộc vào một hai
nước chiếu, người đời cũng vậy, phải biết chọn đúng đường đi mới
được sống còn. Vì quyết ý cứu dân, Người đã nói hết những
gì có thể nói, nhằm đánh thức cơn mê muội của con người để sớm
biết ăn năn, cải hối làm lành lánh dữ lo tu, chớ nào phải nói càn
nói bướng dối gạt chi ai, vậy mà có một số người chưa nghĩ suốt,
muốn tu nhưng còn nghi ngờ, lưõng lự, chần chờ. Người mến
yêu những ai ngay thẳng thật thà, tôn trọng đạo lý, nghe lời
khuyên dạy sốt sắng sửa tánh răn lòng tìm về Phật Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Lưỡng lự:
suy tính, cân nhắc giữa nên hay
không nên, chần chờ chưa quyết định dứt khoát.
Nói bướng:
nói càn, nói đại dầu không đúng sự thật miễn sao được việc của
mình thì thôi.
Liệu lượng:
toan tính, cân nhắc sự lợi hại, việc đúng sai trước khi quyết định
việc gì.
Cơ giảng:
giảng giải những điều xảy ra thuộc về sự sắp xếp của máy Trời.
-- *** --
11.-
"Học đạo lý
như đờn trúng điệu
- Hoà bản rồi thì
cứ làm theo - Lũ Tam Bành trong bụng còn đeo - Đoàn
Lục Tặc ta mau sớm giết - Mài gươm trí cho tinh cho khiết
- Diệt tâm trần kiếm chữ sắc không
".
Luận giải:
(dòng 33 - 36, trang 90 – dòng 1- 2,
trang 91)
Biết đời vô thường,
thân ta là giả, sao không tìm lối thoát khỏi vòng lẫn quẩn hợp
tan, sanh diệt ? Hiểu biết Đạo rồi khác nào bản đờn trúng điệu,
nhịp nhàng như suối chảy như thông reo, người tu cũng vậy, sáng
suốt biết vận dụng gươm trí huệ và sức mạnh tinh thần diệt tận gốc
Tham-Sân- Si và vô hiệu hoá sáu tên cướp:
Sắc-Thinh-Hương-Vị-Xúc-Pháp không để chúng ảnh hưởng đến
Mắt-Tai-Mũi-Lưỡi-Thân-Ý thì mức thành Đạo không xa.
Nghĩa chữ khó:
Vô thường:
con người cũng như sanh vật đều không chừng, không bền vững, có đó
mất đó. Có hình thể tất bị hủy diệt, sanh ra rồi phải chết, bởi
xác thân này do sự kết hợp của Đất, Nước, Lửa và Gió nên không tồn
tại lâu bền.
Tam bành:
Tham – Sân (nóng giận) – Si (mê muội,
không phân biệt phải trái, đúng sai) Người xưa cho Tam bành là 3
vị hung thần trong mỗi người: Bành Kiêu – Bành Chất – Bành Bành Cư,
chia nhau ở trong óc, trán và bụng để giục người nóng tánh làm bậy
rồi cứ đến ngày Canh Thân lên tâu với Ngọc Hoàng. (tiếng Tam bành
thường dùng cho đàn bà)
Lục tặc: 6
kẻ cướp: lời ví dụ chỉ ngoại lục nhập là Lục trần:
Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc
(đụng chạm thân xác),
Pháp
(ý nghĩ) và nội Lục nhập là
Lục căn: Mắt, Tai, Mũi, Luỡi, Thân, Ý. Sáu cảnh ngoài
rình xâm nhập sáu căn trong của ta.
Sắc Không:
Sắc là có hình thể, Không là không hình thể.
Có hình thể tất phải bị hủy diệt theo lẽ tự nhiên. Thấu đạt
Sắc Không là thấy được Tâm Chơn Thật
của mình, tức thấy được Tánh Phật. Bổ Khuyết Tâm
Kinh chép: “Cái Sắc không khác với cái
Không, cái Không không khác với cái
Sắc; Sắc tức Không, Không
tức là Sắc”. Nếu còn chấp Sắc chấp
Không, phân biệt Có với Không
là còn phàm phu, chưa hiểu Đạo.
-- *** --
12.-"
Đức Di Đà
Phật Tổ ngóng trông - Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ - Theo Phật
giáo từ kim chí cổ - Gốc ông cha ta cũng tu hành - Mà ngày nay cứ
mãi tranh giành - Danh với lợi của tiền quyền tước
".
(dòng 3 tới 8, trang 91)
Luận giải:
Khi lòng dạ người đời
không còn vướng mắc Tham - Sân - Si là thoát được nỗi triền miên
đau khổ, chừng ấy, người tu Phập mới thật sự bước chân vào cửa Đạo,
điều mà Đức Phật Tổ A Di Đà hằng mong đợi. Từ ngàn xưa, Ông Cha ta
cũng tu hành, tôn trọng đạo lý, làm lành lánh dữ, sao nay chúng ta
bỏ quên nền nếp cũ mà ham mê danh lợi cùng của tiền quyền tước để
rồi thẳng tay tranh giành đến phải giết hại lẫn nhau.
-- *** --
13.-"Thấy
trần thế ai ai cũng ước - Đời sau không tới phứt cho rồi - Nay khổ
lao khó đứng khôn ngồi - Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn - Làm ác
đức nhiều điều quanh quẩn - Như gà cồ ăn bẩn cối xay - Thấy người
hiền nói đắng nói cay - Sau mới biết thân ai lao khổ
".
Luận giải:
(dòng 9 tới16, trang 91)
Người đời chịu quá
nhiều thứ đau khổ nên đa số muốn thế gian này tiêu tan phứt cho
rồi, vì vậy cứ buông xuôi cuộc sống phó mặc dòng đời đưa đẩy,
không cần biết rồi sẽ tới đâu? Cũng không ít kẻ nghĩ rằng trước
sau gì cũng chết, mà chết là hết, thì sống ngày nào phải làm sao
được hưởng thụ sung sướng đủ đầy, dầu phải gây điều tàn ác. Cuộc
sống đó có khác gì con gà cồ lười biếng chỉ biết quanh quẩn ăn lúa
gạo có sẵn bên cối xay mặc cho chủ nhà đánh đuổi. Còn một hạng
người hễ thấy những ai yên phận thủ thường, không thích đua chen
giành giựt thì vội chê là khờ dại rồi sau này mới biết thân ai lao
khổ.
-- *** --
14.-"Nhớ
thuở trước oai linh Phật Tổ - Phép thần thông trừ lũ Ma Vương -
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương - Tìm đạo lý hiến cho trần thế
- Hiệu Lão Sĩ ra đời thật tế - Đem lời vàng dạy dỗ dương trần -
Khuyên chúng sanh khuya sớm chuyên cần - Tìm nguồn cội diệt trừ Tứ
Khổ ".
(dòng 17 tới 24, trang 91)
Luận giải:
Nhớ thuở trước, lúc
Phật Tổ phơi nắng dầm sương ngồi suy nghiệm tìm đường giải thoát
cho chúng sanh, Ngài phát huy ý chí và sức mạnh tinh thần khiến Ma
Vương khiếp sợ. Khi thành Đạo Ngài vào đời với danh hiệu Lão Sĩ
khuyên dạy người trần sớm khuya siêng năng tu học, sửa tâm rèn
tánh để tự mình dọn một lối đi thoát ra ngoài vòng
Sanh-Lão-Bịnh-Tử.
Nghĩa chữ khó:
Oai linh:
trang nghiêm và oai thế linh diệu mạnh mẽ không thể lường.
Thần thông:
Thần: sự linh diệu
(hay ho), là nghị lực cao siêu
không lường được. Thông: không bị ngăn trở.
Phật dùng thần thông biến hoá theo ý, theo tâm thức,
(tâm thức là toàn
thể tinh thần, sự sống về phần hồn) và
nghị lực. Thần thông:
có khả năng hiểu thấu mọi việc.
Ma Vương:
chuá tể loài ma.
Đạo lý:
nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo. Những phép tắc các bực Thánh
Hiền từ xưa lưu lại được xã hội thừa nhận làm mẫu mực trong quan
hệ đối xử.
Tứ khổ: Sanh,
Già, Bịnh và Chết.
Phụ giải:
Phát huy: làm
cho cái hay, tốt tăng thêm hiệu lực và thúc đẩy tiếp tục nảy nở
thêm.
15.-"Bịnh
với Tử từ kim chí cổ - Sanh với Già hai chữ hoài hoài - Đức Thích
Ca xưa ở lâu đài - Nghiệm Tứ Khổ nên Ngài tầm Đạo
".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 91)
Bịnh
với Chết,
Sanh với Già từ xưa nay mấy ai tránh khỏi, Đức Thích Ca
khi xưa dầu tột bực giàu sang nhưng Ngài suy nghĩ phải tìm cách
tiêu trừ bốn nỗi khổ này cho nhân thế.
-- *** --
16.-"Lo
tu tỉnh mặc ai khinh ngạo - Diệt Lục Căn đừng nhiễm Lục Trần - Chữ
Sắc Thinh chớ khá hầu gần - Hương với Vị xác trần nên lánh - Chữ
Xúc Pháp treo gương Hiền Thánh
- Tránh
Sáu Đường cũng đặng về Thần - Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần - Mà lê
thứ không lo chẳng liệu".
(dòng 29 tới 36, trang 91)
Luận giải:
Rán sửa tánh răn lòng
mặc ai khi dể cười chê, phận mình cố gắng tiêu diệt những lung
lăng, loạn động của Lục Căn không cho phát triển về những chiều
hướng xấu, ác, đồng thời ngăn chận Lục Trần thừa cơ xâm nhập: đừng
ham mê màu sắc; không để vào lòng tiếng quyển giọng kèn; đừng để
hương da thịt, mùi phấn son cùng vị ngọt ngon thơm béo quyến rủ
mình; tránh đụng chạm cọ sát thân thể với người khác phái để khỏi
phát sanh tư tưởng cùng ý nghĩ thiếu thẳng ngay. Nên noi gương các
bực Thánh Hiền ngày xưa dùng nghị lực và trí sáng suốt làm chủ lấy
mình. Không buông lỏng cho Lục Căn dính mắc với Lục Trần là dứt
đau khổ để ngày chung cuộc khỏi qua sáu nẻo luân hồi, được về Thần.
Xưa nay Người chỉ dạy nhiều lần mà trần thế có mấy ai lo
liệu.
Nghĩa chữ khó:
Lục căn:
Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân và Ý tức 6 cảnh ở nơi thân tâm ta, là
sáu căn cội có sức nảy sanh, như mắt
(nhãn)
nảy sanh sự thấy, là nhãn căn; nhĩ căn: căn của
tai; tỹ căn là căn của
mũi; thiệt căn là căn của lưỡi; thân
căn là căn của thân thể; ý căn là căn của
ý nghĩ.
Lục trần:
Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và Pháp, là 6 cảnh ở ngoài thân tâm
ta. Sáu cảnh bên ngoài này có thể nhiễm dơ thân tâm ta, kêu là lục
trần: sắc là màu sắc; thinh, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng ca, lời
ngon ngọt dụ dỗ … hương, mùi thơm; vị, vị ngon béo của thịt cá…xúc,
sự đụng chạm với quần áo, với da thịt mịn màng mà mình ưa thích…pháp,
những phương thế, những tư tưởng xâm nhập cái ý, khiến cho tâm ý
sanh ra những phán đoán, phân biệt, có ưa có ghét, khen chê theo
sở thích của mình.
Về ý nghĩa Lục trần:
a/- Sắc là những màu sắc xanh,
vàng, đỏ, trắng, cùng hình thể của người của vật.
b/- Thinh là tiếng kèn, trống,
nhạc, tiếng ca, câu hát, cùng những lời nói êm dịu ngot ngào của
người ta làm cho mình xiêu lòng, mê thích.
c/- Hương là mùi thơm của món ăn, mùi thơm phấn sáp, mùi
thơm dầu thơm, hương vị của phụ nữ, làm cho mình mê thích.
d/- Vị là mùi vị của thức ăn, vật
uống, vị ngon béo của thịt cá mà người ta thích ăn.
e/- Xúc là sự đụng chạm với quần
áo, đồ vật mịn màng mà mình ưa, thân thể của người nam kẻ nữ cọ
sát với nhau làm mình mê thích, không chịu rời bỏ.
f/- Pháp là những tư tưởng xâm nhập vào cái Ý;
đối với 5 trần trên có những tư tưởng khiến cho tâm ý mình sanh
ra những sự phán đoán, phân biệt, ưa, ghét, khen, chê tùy theo sở
thích của mình, suy tính mọi việc sao cho vừa ý mình.
Sáu đường: hay Lục đạo,
hay sáu nẻo Luân hồi, sáu đường về sáu cõi: Tiên,
Thần A Tu La, Người, Súc sanh, Ngạ quỉ (quỉ đói) và Địa ngục. (nhà
tù ở cõi chết)
Lê thứ: hạng dân thường không chức
phận gì trong xã hội. Nghĩa bóng chỉ chung người đời.
Phụ giải:
Luân hồi: Luân là bánh xe, quay
theo vòng tròn. Hồi: quay lại, trở về. Theo nhà Phật,
con người bị xoay vần mãi trong vòng: Sanh, Già, Bịnh, Chết, rồi
đầu thai cũng lẩn quẩn trong sáu đường: Tiên, Thần, Người, Súc
sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục.
-- *** --
17.-"Nhãn
thấy sắc thường hay bận bịu - Tai ưa nghe những điệu âm thinh -
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh - Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu - Đồ thơm
tho nó ưa nó chịu - Chốn xạ hương hay lết lại gần - Lưỡi ưa ngon
là chuyện ân cần - Đồ ngọt béo nó ưa nó mến - Thân tham sướng muốn
tiền của đến - Đặng ăn xài cho phỉ tấm tình - Ý thì ưa sửa sắc soi
hình - Với chức phận cho cao cho quí".
(dòng 1 tới 12, trang 92)
Luận giải:
Mắt ưa nhìn sắc đẹp, tai
thích nghe giọng hát tiếng đờn cùng những lời lẽ dịu dàng; còn lỗ
mũi chịu mùi thơm ngon êm dịu; lưỡi ưa nếm thức ăn ngọt béo; xác
thân tham sung sướng muốn có nhiều của tiền tiêu xài cho thoả ưóc
mơ; còn ý thì hay sửa sắc soi hình cùng chức phận cho cao cho quí.
Nghĩa chữ khó:
Xạ hương: chất có hương thơm ở các
loài hưu và một số loại cầy (chồn hương) dùng làm thuốc hoặc nước
hoa.
Phỉ tấm tình: thoả mãn trong lòng.
-- *** --
18.-"Sáu
đường ấy ở trong tâm ý - Ta mau mau dứt nó cho rồi - Nếu tỉnh tâm
nào có mấy hồi - Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác - Dứt được nó ấy là
giải thoát - Thì xác trần mới khỏi đọa đày".
(dòng 13 tới 18, trang 92)
Luận giải:
Nguồn gốc của sáu điều
ham muốn đó ở trong tâm ý của ta. Muốn có cuộc sống an bình, nhẹ
nhàng thong thả ta phải cố gắng lắng lòng rồi tận dụng trí sáng
suốt và sức mạnh tinh thần đuổi chúng ra ngoài. Dứt được nó thì
không còn tưởng bậy nghĩ quấy, không toan tính điều sai trái, nhờ
đó thể xác trần mới thoát khỏi đau khổ đọa đày.
Nghĩa chữ khó:
Sáu đường ấy: là sáu lối của
Lục căn tiếp xúc với Lục trần.
Xin xem số 16.
Tỉnh tâm: Tỉnh: xét kỹ, hiểu
rõ được. Tâm: lòng. Tâm trí thức dậy, tỉnh dậy sau
cơn mê, ngu muội, biết mình làm điều sai lạc nên quyết cải sửa.
-- *** --
19.-"Cả
tiếng kêu những kẻ trí tài - Hãy yên lặng bình tâm suy nghĩ - Tiên
xử kỷ hậu lai xử bỉ - Bắt lỗi người phải xét lỗi mình - Vậy mới là
phải bực công bình - Nẻo chánh trực chỉ người quân tử
".
(dòng 19 tới 24, trang 92)
Luận giải:
Người đời tìm thấy
lỗi người thì dễ còn xét được lỗi mình quả là khó, vả lại, con
người chưa phải thánh nhơn nên khi bị chạm tự ái là sanh giận ghét
hận thù rồi gây nên khổ lụy. Vậy, trước khi nói tới lỗi của người
phãi yên lặng lắng lòng xét kỹ lỗi mình, như vậy mới là người ngay
thẳng, tài trí và có đạo đức.
Nghĩa chữ khó:
Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ:
xét lỗi mình trước sau mới bắt lỗi người.
Bình tâm: giữ
lòng bình tỉnh, tức làm chủ được mình.
Quân tử: người
tài có đạo đức, lòng dạ rộng rãi, đối xử tốt với mọi người.
Phụ giải:
Tự ái: quá
nghĩ về mình mà sanh ra giận dỗi, khó chịu khi cảm thấy bị đánh
giá thấp, hay bị coi thường.
-- *** --
20.-"Người
biết Đạo phải gìn ngôn ngữ - Nói với ai chớ có sai lời - Trọng mẹ
cha kính nể Phật Trời - Đừng nhiều tiếng nghinh ngang mang lỗi -
Tánh ngay thẳng ta không dời đổi - Dầu tan xương nát thịt chẳng
màng".
Luận giải:
(dòng 25 tới 30, trang 92)
Người hiểu biết Đạo
lúc nào cũng giữ gìn lời nói, kính nể Trời Phật, lễ phép và hết
lòng hiếu thảo cùng Cha Mẹ. Đối xử với người đời luôn giữ tánh
thẳng ngay, nói với ai cũng phải cân nhắc lựa lời, dầu phải tan
xương nát thịt vẫn không đổi dạ thay lòng, không làm sai điều hứa
hẹn.
Nghĩa chữ khó:
Ngôn ngữ: lời
lẽ nói ra.
Nghing ngang:
ăn ở chẳng cần biết lẽ phải trái, nói năng không kiêng nể ai.
-- *** --
21.-"Ta
Khùng Điên nói đại nói càn - Chẳng có sợ ai rầy ai mắng - Trời còn
lúc tối mưa sớm nắng - Thì trần gian còn mãi khổ lao - Ở trên đời
kẻ thấp người cao - Kẻ hiền hậu người thì gian ác".
(dòng 31 tới 36, trang 92)
Luận giải:
Người
đã nhận là “Khùng”-“Điên”
nên nói ngay nói thẳng không sợ bị ai mắng ai rầy, Trời còn có
lúc tối mưa sớm nắng thì con người trên đời không sao tránh khỏi
khổ lao và có kẻ trí người ngu, kẻ ngay thẳng hiền lành người ác
gian hiểm độc.
Nghĩa chữ khó:
Khùng: tâm
trí ít khi được bình thường. Theo chúng tôi, danh xưng này có hai
ý nghĩa:
a/- người đời quá khôn lanh, quỷ quyệt, hiểm ác,
thì các Ngài xưng Khùng, Điên, nhưng là Khùng - Điên từ cõi Phật,
Người theo lịnh chư Phật xuống trần cứu độ chúng sanh ?
b/- Việt Nam thời bấy giờ, đang bị thực dân Pháp
cai trị, các Ngài phải giả Khùng Điên để che mắt bọn lấy tin cho
nhà cầm quyền Pháp, để khỏi bị nghi ngờ, làm khó dể.
Trần gian – dương trần:
xin xem số
7.
Khồ lao:
quá cực nhọc, thiếu thốn, nhiều khó khăn trong cuộc sống; hao tốn
nhiều công sức.
-- *** --
22.-"Không
quen biết mà cao tuổi tác - Ta cũng nên kính trọng mới là - Tâm từ
bi sánh thể ngọc ngà
- Trong các báu
khó bì tánh Thiện - Phải xử thế chớ nên bày biện - Miệng xảo ngôn
thường kiện tấm thân - Việc bán buôn phải giữ ngang cân - Chớ tập
tánh lận lường tráo đấu - Các công cuộc của người tánh xấu - Ta
giữ gìn chớ có nhiễm vào".
Luận giải:
(dòng 1 tới 10, trang 93)
Đối với bực cao tuổi
dầu không quen biết cũng phải kính trọng, lễ phép; lòng hiền lành
thương yêu, tha thứ và hay giúp đỡ người, tánh tình cao quí đó
ngọc ngà không sao sánh được. Biết kềm chế thói ăn nết ở, sửa đổi
nếp sống của mình, nói năng cân nhắc lựa lời đừng để trở thành thù
nghịch với kẻ khác. Việc bán buôn phải thật thà, ngay thẳng, đừng
gian lận mua vô bằng cân già, đấu lớn; bán ra với cân non, đấu nhỏ.
Thói xấu đó ta phải tránh.
Nghĩa chữ khó:
Từ bi:
nghĩa ở đây là thương yêu, tha thứ, giúp đỡ người.
Tánh Thiện:
xin xem số
2.
Bày biện:
nghĩa ở đây không ra ngoài lẽ phải và đạo lý.
Xảo ngôn:
lời nói dối trá một cách khéo.
Lận lường:
gian dối lừa gạt.
Đấu: vật đong
lường.
Nhiễm: bị
các hư xấu bên ngoài nhập vào, dính vô, làm thay đổi, không còn
trong sạch.
-- *** --
23.-"Tâm
Bần Tăng chẳng mến sắc màu - Mến những kẻ biết vào đường chánh -
Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh - Nên truyền ban cho chúng sanh
tường - Tuy ngày nay chúng nó hùng cường - Chừng phân định thì Ta
cao quí - Khuyên bổn đạo lập thân nuôi chí - Đặng chờ ngày yết
kiến Phật Trời - Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời - Cho trần hạ tìm
trong lánh đục".
Luận giải:
(dòng 11 tới 20, trang 93)
Lòng Người
không ưa màu sắc cũng như các hình thức bên ngoài, chỉ yêu mến
những ai biết sửa mình theo đường chánh. Đây là lời Phật Thánh dạy
đời, Người truyền ban ra cho chúng sanh hay biết. Hiện nay
những kẻ ngang ngược dầu đang thế mạnh nhưng đến ngày Phật Trời
phân định thứ ngôi, thì Người cao quí. Khuyên những ai
trong gia đình nhà Phật rán lập thân nuôi chí để sống còn chờ ngày
chào đón Phật Trời. Lòng tha thiết thương dân Người đã cạn
tỏ hết lời, mong trần thế rán chọn nền Đạo chánh tu thân.
Nghĩa chữ khó:
Yết kiến:
người cấp thấp đến gặp người cấp cao.
Thánh: là
danh hiệu người đời dành tặng các bực sáng suốt, có tài năng và
đạo đức hoặc những vị có nhiều công nghiệp về văn hoặc võ, vượt
trội hơn tất cả người đồng thời, xứng đáng cho đời tôn kính, sau
khi qua đời, như đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đức Khổng tử,
vị tổ của đạo Nho hay Khổng giáo ... Nhưng theo quan niệm Phật
giáo, người được coi là thánh trong đạo Phật là người đã lìa khỏi
mọi phàm tánh thuộc thế gian này.
-- *** --
24.-"Chẳng
chịu tu mãi còn lục thục - Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành - Ham
công danh quên chữ sanh thành - Mến phú quí quên câu dưỡng dục -
Rán kiếm chỗ tầm Tiên lánh tục - Người ở đời phải được lòng trong
- Biển hồng trần sớm gội cho xong - Ngày lập hội mới mong trở lại".
(dòng 21 tới 28, trang 93)
Luận giải:
Chưa chịu tu vì mãi
lo giàu nghèo, nhưng lo mà cũng chẳng rồi, bận đến nỗi quên công
ơn sanh thành dưỡng dục của Mẹ Cha, đó là điều bất hiếu lớn nhứt,
những kẻ ấy dầu nhiều của tiền cũng chẳng ai xem ra gì. Điều cao
quí của con người ở đời là sống lành mạnh, trong sạch, không vướng
bận lợi danh, biết yên phận an nhàn dưỡng tánh tu tâm, không thù
hằn tranh chấp, không oán ghét giận hờn, đó là vượt thoát biển khổ
hồng trần, như vậy mới được sống đến ngày Phật Trời lập hội.
Nghĩa chữ khó:
Lục thục: tuần
tự nối nhau; một cách chậm chạp không tỏ ra mau, gấp.
Hồng trần: cát
bụi màu hung hung đỏ. Nghĩa bóng chỉ cõi đời dơ bẩn, khổ cực.
Ngày lập hội:
hội của Phật Trời chọn lựa người tu hiền: Hội Long Vân, Hội Long
Hoa.
-- *** --
25.-"Chữ
bần tiện khuyên dân đừng nại - Miễn cho ta trở lại ngay đàng - Chữ
vinh hoa giờ chớ có màng - Bởi giả tạm của đời Nguơn hạ - Gắng
công tu xem nhiều phép lạ - Của Thần Tiên trừ lũ hung đồ - Nào lụa
là, lãnh nhiễu, tố sô - Chớ ham mến mà sau lao lý".
Luận giải:
(dòng 29 tới 36, trang 93)
Dầu nghèo khổ cũng
đừng có nại miễn sao cuộc sống luôn thẳng ngay trong sạch. Vinh
hoa phú quí khác nào bọt nước, mây bay, có đó rồi mất đó, nó vô
thường như đời sống giả tạm con người đời Nguơn hạ này. Nếu biết
vậy, nên tránh làm điều sai trái với đạo lý để đổi lấy sang giàu,
luạ là lãnh nhiễu mới khỏi khổ thân trong cảnh tù đày. Hãy gắng
công bền chí rèn tâm luyện tánh tu hành, tạo cho mình cuộc sống
thong thả an lành chờ tận mắt nhìn ngày tiêu diệt của bọn người tà
gian hung dữ.
Nghĩa chữ khó:
Nại: nại hà,
nề: gian khổ chẳng nại, cực khổ không nề ...
Vinh hoa: có
chức phận, nhiều của tiền, sống sung sướng.
Nguơn hạ hay
hạ nguơn: theo lịch số Đông phương (Bảng ghi ngày giờ năm
tháng vận chuyển theo mặt trăng) chia làm ba nguơn, mỗi nguơn là
một thời kỳ, con người mỗi ngươn có cuộc sống khác biệt về đạo
hạnh, tánh tình:
- Thượng nguơn, con người đức hạnh
hoàn toàn, thế giới trong sạch, yên lành.
- Trung
nguơn, con người bắt đầu nhiễm
thói hư, ít lo dưỡng tánh tu tâm, đời có bụi dơ.
- Hạ nguơn,
là hiện chúng ta đang sống, con người quá tệ bạc, quá gian ác, xấu
xa ... theo Phật giáo, thì cõi đời này - đời hạ ngươn - sắp chấm
dứt để lập thượng ngươn.
Hung đồ:
đảng dữ, phe nhóm hung dữ.
Lãnh nhiễu, tố sô:
hàng may mặc đẹp, rất mắc tiền.
Lao lý: tội
tù, bị giam hảm. Không có tự do.
Lao là
chuồng nuôi thú vật, nhà tù. Lý:
ở trong.
-- *** --
26.-"Ngày
tiêu diệt từ năm Bính Tý - Đến năm nay hao hớt đã nhiều - Các
ngoại bang đã nhượm máu điều - Sao trần thế không lo chẳng liệu -
Để đến việc dang lưng mà chịu - Chớ Phật đâu cứu kịp cho người -
Khuyên chúng sanh bỏ tánh biếng lười - Phải sốt sắng làm ăn cần
thiết ".
(dòng 1 tới 8, trang 94)
Luận giải:
Ngày khởi sự tiêu
diệt cuộc đời là năm Bính Tý (1936) đến năm nay hao hớt quá nhiều,
các nước ngoài đã máu đổ thây phơi, việc chết chóc xảy ra trước
mắt đó sao thế trần không biết sớm lo liệu tìm nền Đạo chánh tu
hành, để sống cuộc đời chánh chơn ngay thật thì chắc chắn bớt được
việc tranh chấp, hận thù giết hại lẫn nhau. Người khuyên
dân chúng ráng siêng năng làm ăn cần mẩn đừng ham mê tham dục, kẻo
đến việc rồi Phật đâu cứu kịp.
-- *** --
27.-"Nghèo
với đói từ đây sẽ biết - Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài - Nên bá
gia hãy rán miệt mài - Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm - Lời Ta
dạy hãy nên suy nghiệm - Phải phá tan Ngũ Uẩn trong mình".
(dòng 9 tới 14, trang 94)
Luận giải:
Đời sống từ đây sắp
tới sẽ nhiều khó khăn, nghèo đói, vì hàng nước ngoài càng ngày
càng khan hiếm, mắc mỏ, nên mọi người hãy chịu khó làm ăn dầu rách
rưới cũng nên cần kiệm. Hãy suy nghiệm lời Người chỉ
dạy và rán phá tan Ngũ Uẩn trong mình.
Nghĩa chữ khó:
Hàng ngoại bang bố thiết:
có nghĩa hàng hoá nước ngoài khan hiếm và rất mắc.
Bá gia: trăm
nhà, chỉ chung người đời.
Miệt mài: chăm
chú vào việc làm một cách say sưa, như không thể buông rời ra được.
Cần kiệm: là
tánh tốt của người biết xài tiền, xài đúng chỗ cần thiết, không
xài bừa bải, có dư thì để dành phòng khi có việc đáng xài là có
tiền.
Suy nghiệm:
suy xét tỉ mỉ, cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng.
Ngũ Uẩn:
hay gọi Ấm, nơi tập hợp: Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức.
- Sắc chỉ về thân xác hay sắc
chất, còn 4 thứ kia thuộc về tinh thần như:
- Thọ,
cảm thọ vui, buồn, mừng, giận, ghét, thương, ham muốn …
-
Tưởng, tưởng tượng, nhớ nghĩ tới
đối tượng không dứt rồi mới hành,
- Hành, hành
vi tạo tác từ trong ý niệm khởi, thúc đẩy,
- Thức, hiểu biết, phân biệt đúng sai,
tà chánh …
Năm thứ tụ tập, hoà hiệp lại che mất sự sáng
suốt của con người, chúng là đầu mối đưa con người vào tội lỗi.
-- *** --
28.-"Chữ
Tham trong ý muốn mặc tình - Rán định tánh trừ cho nó tuyệt - Chữ
gây gổ là Sân hãy diệt - Cho nó đừng thắp thoáng trong lòng - Thêm
chữ Si thiệt quá lòng dòng - Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt - Chữ
Nhơn Ngã cũng là quá gắt - Ta chớ nên phân biệt với người - Dẹp
năm tên được mới mừng cười - Vô pháp tướng mới là thiệt tướng".
(dòng 15 tới 24, trang 94)
Luận giải:
Tánh Tham là
ham muốn hưởng những điều sung sướng như nhà cao cửa rộng,
sắc dục; Sân là cơn giận dữ, nóng nảy hay gây gổ;
Si: tâm tánh mê muội không phân biệt lẽ phải trái, dễ sa ngã
lầm lạc, là ba mối độc hại, là nguồn gốc của mọi khổ lụy
trên đời, nên bằng mọi cách ta phải cố gắng diệt trừ. Còn sự phân
biệt người với ta, tức Nhơn và Ngã, kẻ hiểu Đạo
không nên để chúng có mặt trong lòng. Đạo Phật là đạo giác ngộ,
chỉ có giác ngộ mới diệt được ba độc Tham, Sân, Si cùng hai
chướng ngại Nhơn - Ngã. Khi ba độc
dứt, Nhơn - Ngã không còn thì tâm trí nhẹ nhàng thư thái,
đời sống đó mới hoàn toàn hạnh phúc. Lý lẽ chánh yếu của Đạo Phật
là mở mang tinh thần, thanh lọc chơn tâm, trau giồi ý chí chớ
không chú trọng hình tướng bên ngoài.
Nghĩa chữ khó:
Pháp tướng:
- Thể tướng của Đạo lý, của nền Chánh Pháp.
- Tướng trạng của Pháp.
Các Pháp tức các sự vật đều đồng một tánh, nhưng các tướng đều
khác biệt nhau. Người ta có thể thấy chúng bằng mắt hoặc bằng tâm.Pháp
tướng đối với Chúng sanh tướng.
Phụ giải:
Giác ngộ: sáng
suốt, thông hiểu đạo lý, lòng không còn vướng mắc tình cảm thương,
yêu, giận, ghét, ham muốn như người thường.
-- *** --
29.-"Người
tu hành phải trừ nghiệp chướng - Với bốn ma mới được an nhàn".
Luận giải:
(dòng 25 và 26, trang 94)
Con người mấy ai tránh
khỏi những tội lỗi gây từ kiếp trước chưa được tiêu trừ, đã kết
thành nghiệp, tức nhơn quả, nên đời này thường vướng mắc các tai
nạn, lận đận lao đao, đó là nghiệp chướng, nó che lấp, ngăn
bít, gây trở ngại việc tu hành.
Để diệt trừ nghiệp
chướng, sớm tối phải sửa mình, làm lành lánh dữ và nguyện cầu
không để lòng mình bị nhiễm sự u mê, ngu muội; thành tâm cầu
nguyện tất cả những ác nghiệp, tội lỗi do u mê ngu muội gây ra từ
những thời gian trước đến nay thảy đều sám hối, nguyện một lúc
tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại, đồng thời phải xa lánh bốn ma
thì đời sống mới an nhàn.
Nghĩa chữ khó:
Nghiệp chướng:
sự ngăn trở của nghiệp, tức là chướng ngại từ nghiệp.
Bốn ma: rượu,
gái đẹp (phần nhiều với hạng đĩ điếm, gái không đứng đắn,
gái làm tiền) cờ bạc và hút á phiện,
gọi chung Tứ đổ tường tức bốn việc hại giữa bốn bức
tường.
Phụ giải:
Nhơn Quả: Nhân
là nhân duyên, lý do, nguyên do. Quả: chỗ kết
cuộc do việc lành hay việc ác đã làm. Nhà Phật gọi là
nghiệp. Cái nghiệp có hai bề: khởi sự gọi là nghiệp nhân,
hay nhân duyên; kết cuộc kêu là nghiệp quả hay quả báo. Cũng như
người ta gieo hột giống ngọt thì sanh ra quả hay trái ngọt, gieo
hột giống đắng thì sanh ra quả hay trái đắng. Con người dùng thân,
miệng, ý của mình làm việc lành thì sau hưởng quả lành là phước,
là sự an vui; còn dùng thân, miệng, ý làm việc dữ thì sau bị quả
dữ là nạn khổ. Cái quả liền với cái nhân như bóng theo hình, không
hề sai chạy.
Sám hối: có nghĩa xưng tội và quyết
ăn năn cải sửa.
-- *** --
30.-"Tửu
nhiễm vào thân thể bất an - Sắc mến nó ngày kia lao khổ - Ta
nghiệm xét từ đời Bàn Cổ - Có ai dùng mà đặng thành Tiên - Mà đời
nay theo nó liên miên - Chữ Tài của khổ riêng một kiếp - Bị tội
cướp nào ai có tiếp - Mà đời nay nó cứ mãi làm - Chữ Khí hùng
khuyên chớ có ham - Mà lao lý tấm thân trần thế".
Luận giải:
(dòng 27 tới 36, trang 94)
Về bốn ma, đó là rượu
(say sưa thì không còn biết phải quấy, đúng sai), sắc
đẹp (ham mê nữ sắc đưa đến tan nát gia đình), cờ bạc
và hút á phiện, từ đời Bàn Cổ tới nay không ai vướng vào
bốn mối hại này mà được nên người.Vậy mà người đời ham mê, chạy
theo nó đến bại hoại thân danh: kẻ cờ bạc thua thiếu sanh ra trộm
cắp, cướp giựt; người ghiền á phiện đốt cháy tiêu tan sản nghiệp
rồi toan tính chuyện gian tham, lường gạt, cũng như hạng cờ bạc,
bị tội tù ít ai thương xót.
Nghĩa chữ khó:
Bàn Cổ: theo
lời truyền, Bàn Cổ là người xuất hiện đầu tiên khi có Trời Đất với
muôn loài, vạn vật. Chỉ thời gian thật xa xưa.
Tài: cờ bạc.
Khí: xưng
hùng xưng bá, phách lối.
-- *** --
31.-"Kẻ
nhứt dạ thường sanh ba kế - Để gạt người làm thế cho mình - Ngày
sau này lắm nỗi tội tình - Sao sanh chúng chẳng lo cải sửa - Bịnh
ôn dịch thường hay ói mửa - Mà dương trần chẳng chịu kiêng dè -
Qua năm Dê đến lúc mùa hè - Trong bá tánh biết ai hữu chí".
Luận giải:
(dòng 1 tới 8, trang 95)
Kẻ một đêm nghĩ ra
trăm kế nhằm lừa gạt người đời ngày sau phải gánh chịu mọi tội lỗi,
Người nhắc cho thế nhân suy nghĩ mà sớm lo trau tâm sửa
tánh. Nạn tai thế giới đang cận kề, bịnh ôn dịch đã giết nhiều
người, đến năm Dê đời mới biết ai người có phước.
Lời giải thêm:
Năm Dê:
1943 cảnh vô cùng đau khổ của VN, nhứt là miền Bắc. Trận giặc thế
giới lần thứ hai khởi ngày 01/9/1939, kéo dài 5 năm, gần khắp hai
châu Âu và Á người chết nhiều vô số; hết năm con Khỉ
(Thân -1944)
đến gần cuối năm Gà, tức Ất Dậu
(1945),
ngày 02/9/1945 thế chiến thứ hai chấm dứt. Ngày
19 tháng 6 năm 1940
quân Nhựt vào Bắc Việt
(80 ngàn quân lính và
200 ngàn thường dân Nhựt).Pháp bị ép
phải dành cho quân Nhựt quá nhiều quyền, tự do bắt giết người trên
ba nước Việt - Miên - Lào. Nhà cầm quyền Pháp bắt đầu thâu góp -
gần như cướp - tiền và lúa của dân để nuôi quân Nhựt. Từ đó miền
Bắc bắt đầu đói,(trận đói năm Ất Dậu 1945 chết trên 2 triệu người)
Năm 1941, cộng sản lợi dụng tình hình đói kém, xúi gịục dân đánh
cướp các kho chứa lúa gạo miền Bắc và chận cướp lương thực từ
trong Nam chuyển ra tiếp tế.
-- *** --
32.-"Ta
chịu lịnh Tây Phương thọ ký - Gìn Nghiệt Long đặng cứu dương trần
- Nên ra đời dạy dỗ ân cần - Khuyên bá tánh vạn dân liệu lấy - Khổ
với thảm ngày nay có mấy - Sợ mai sau dòm thấy bay hồn - Trừ tà
gian còn thiện chỉ tồn - Cảnh sông máu núi xương tha thiết - Trần
với thế bây giờ nào biết - Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường - Ta
bây giờ tu niệm tầm thường - Sau danh thể xạ hương khắp chốn".
(dòng 9 tới 20, trang 95)
Luận giải:
Người
vâng lịnh Phật Tây
Phương xuống trần vừa dạy Đạo cho dân vừa ngăn ngừa Rồng dữ cứu
đời (rồng dữ phải chăng ám chỉ đảng Hắc Long của Nhựt).
Thảm khổ ngày nay chưa đáng kể, ngày sau trông thấy cảnh núi xương
sông máu mà bay hồn, bọn gian tà hung ác hoàn toàn bị tiêu diệt
chỉ người hiền lành mới được sống còn. Thế gian bây giờ chưa hay
biết, sau này mới nghe thấy danh thơm của Người bay khắp
nơi cùng chốn.
-- *** --
33.-"Nhà
giàu có xài không sợ tốn - Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn - Lo ăn
xài trà rượu xình xoàng - Chừng khổ não phàn nàn căn số - Lời
truyền sấm như bài toán đố - Ai biết tầm thì được hưởng nhờ - Ta
khuyên tu dân cứ mãi ngờ - Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắc
".
Luận giải:
(dòng 21 tới 28, trang 95)
Những người có của
tiền dư ăn xài phung phí, không chịu nghĩ rằng kiếp sống con người
như giấc mộng, tiền của khác nào bọt nước làn mây, chẳng lo làm
lành lánh dữ, chừng đến việc tiêu tan tài sản rồi trách phiền căn
số. Sao bằng dành tiền cứu giúp người nghèo đói, bịnh tật, sẽ được
người đời thương yêu, kính mến. Lời sấm truyền khác nào bài toán
đố, ai nhìn xa hiểu rộng, nghĩ suy tìm đúng lý thì được hưởng nhờ.
Thương đời, Người khuyên dạy tu hành, vậy mà dân chúng cứ
mãi nghi ngờ Người dối gạt đời để kiếm tiền.
Nghĩa chữ khó:
Căn số: số
phận đã được định theo luật luân hồi. Nếu kiếp trước làm lành,
kiếp này được hưởng điều may tốt, nếu kiếp trước làm gian ác, hung
dữ, kiếp này phải đau khổ.
Sấm: lời
truyền trong dân gian về những việc lớn sẽ xảy ra, có quan hệ tới
nước non và vận số của dân tộc trong các câu văn khó hiểu. Khi
chuyện xảy ra mới biết.
Xu cắc:
mười cắc là một đồng bạc, một cắc có mười xu. Thời bấy giờ 1
đồng mua được 4 mét vải khá tốt.
Phụ giải:
Luân hồi:
Luân là bánh xe quay theo vòng tròn.
Hồi: hết
vòng quay trở lại, trở về.
Theo nhà Phật con người bị xoay vần mãi
trong vòng: Sanh – Già - Bịnh - Chết, rồi đầu thai cũng lẩn quẩn
trong sáu đường: Tiên - Thần - Người - Địa ngục - Quỉ đói – Súc
sanh (thú vật).
-- *** --
34.-"Bị
ngoại quốc bán hàng quá gắt - Nên dân ta chịu chữ cơ hàn -Ta Khùng
Điên của cải chẳng màng - Miễn lê thứ được câu hạnh phúc- Cờ thế
giới ngày nay gần thúc - Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần -
Chừng lao xao ác thú non Tần - Thì Nam Quốc lương dân mới biết".
Luận giải:
(dòng 29 tới 36, trang 95)
Hàng hoá nước ngoài
đưa vào Việt Nam bán giá quá cao, dân ta không tiền đành chịu đói
lạnh. Người tu nên không cần tiền của chỉ mong sao dương
trần ai nấy đều được sống yên vui hạnh phúc. Ngày tàn cuộc của thế
giới gần kết thúc nên Tiên Phật phải xuống trần cứu độ thế nhân.
Chừng nước Tần lộn xộn thì dân lành Nam Quốc mới thấy biết thế cờ.(Phải
chăng họa Khờ me đỏ giết hằng triệu người Miên?)
Nghĩa chữ khó:
Cơ hàn: đói
và lạnh.
Lê thứ: chỉ
dân đen không chức quyền trong xã hội.
Hạnh phúc:
hưởng phước lành, hưởng điều may mắn vui sướng trong đời.
Hồng trần:
bụi cát đỏ hung hung. Chỉ cõi đời cát bụi.
Lao xao:
nhiều người lui tới lăn xăn, ồn ào.
Tần: nước
Cao Miên - Cam Bốt - Cam Pu Chia
ngày nay.
-- *** --
35.-"Nay
dạy thế cậy cùng ngòi viết - Với xác trần du thuyết ít hàng - Ai
nói chi Ta cũng chẳng màng - Sau biết đặng dân đừng có tiếc - Con
phù du hẫng hờ nào biết - Thấy bóng đèn thì quyết chun vô - Thảm
thương thay chết héo chết khô - Nhìn đèn nọ thấy mồ phù dũ - Kệ
khuyên trần đã mãn mùa thu - Đeo danh lợi như con vật ấy
". (dòng 1 tới 10, trang 96)
Luận giải:
Người
xuống trần đi dạy Đạo, ngoài những lời thuyết giảng còn có nhiều
bài văn vần cho người đọc dễ nghe và dễ nhớ. Cuộc tận thế cận kề,
Người khuyên dân nên sớm sửa tánh rèn tâm đừng quá ham mê
danh lợi rồi tự đốt cháy đời mình như những con phù du hể thấy ánh
sáng thì nhào vô, đâu biết đó là lửa thiêu thân nó. Với lòng tha
thiết thương đời, Người đã hết lời khuyên dạy, mặc tình ai
nghĩ sao cũng được, chỉ ngại cho người đời sau này khi biết ra rồi
sẽ hối tiếc.
Nghĩa chữ khó:
Du thuyết:
đi nơi này nơi nọ dùng lời hay lẽ phải nói cho mọi người chịu nghe
theo ý mình.
Con phù du:
một thứ côn trùng nhỏ có cánh, đầu như đầu con chuồn chuồn, hay
bay gần mặt nước, tối đến ưa bay quanh và nhào vô bóng đèn, mau
chết lắm.
Hẫng hờ:
thờ ơ không để ý tới.
Mãn mùa thu:
mãn mùa thu là cuối tháng 9 âm lịch, tức gần cuối năm.
Phải chăng ngầm chỉ cuộc đời đã mỏng, hay là bài kệ này cũng là
bài kệ gần chót ?
-- *** --
36.-"Giống
xe cát biển đông thường thấy - Tên dã tràng rất uổng công trình -
Khi nước ròng nhờ lúc bình minh - Lúc nước lớn cát kia tan rã -
Trần phú quí thì trần thong thả - Chớ còn Ta cứ khổ lao hoài
". (dòng 11 tới 16, trang 96)
Luận giải:
Thế nhân không nghĩ
rằng đời người như giấc mộng, kiếp sống giả tạm và vô thường này
nay còn mai mất, chết rồi đâu mang theo được gì, vậy mà mê tối
chạy theo danh lợi, tưởng vậy là sung sướng và thong thả không
khác gì việc làm của con dả tràng, mỗi buổi sáng khi nước ròng,
mang cát đắp xây, chiều lại, nước lớn dâng tràn cuốn đi tất cả
công trình xây cất ! Nên lòng Người xót xa, không màng khó
nhọc đi ngược về xuôi mang nền Đạo giải thoát giảng dạy mong người
đời tỉnh thức.
Nghĩa chữ khó:
Dã tràng:
loại còng nhỏ, chân dài, chạy nhanh, hai càng lớn cứ hốt cát che
cửa hang, liền đó sóng đánh trôi tất cả.
Bình minh:
sáng sớm, thời gian giữa đêm và ngày.
Phú quí:
giàu có và sang trọng.
Khổ lao:
xin xem số
21.
Phụ giải:
Vô thường:
xin xem lại số 11.
-- *** --
37.-"Viết
kệ cơ giảng dạy ít bài - Mặc lê thứ làm không tự ý - Coi rồi phải
nhận cho hiểu lý - Câu huyền sâu của kẻ Khùng này - Bởi chữ Khùng
của Phật của Thầy - Chớ chẳng phải của người lãng trí - Mê với
tỉnh nhận ra là lý - Thấy dương trần ngủ mãi ngủ hoài - Thức dậy
mà tầm Đạo kiếm bài - Để thi cử khỏi mang tiếng rớt".
(dòng 17 tới 26, trang 96)
Luận giải:
Người
viết kệ viết cơ giảng nhằm hướng dẫn người đời tu, ai nghe hay
không cũng mặc tình, nhưng nếu đã đọc thì phải rán lắng lòng nghĩ
suy tìm hiểu lý lẽ huyền sâu trong cơ giảng. Người thừa
lịnh Phật, lịnh Thầy xuống trần dạy Đạo cứu đời chớ không phải lời
nói của người lãng trí. Người khuyên dương trần đừng mê ngủ
nữa, mau tỉnh thức mà tìm tu theo Phật Đạo như sĩ tử tìm học đúng
đề bài thi để khỏi rớt.
Nghĩa chữ khó:
Kệ: những
bài thi ca kể công đức các vị Phật, Bồ tát.
Cơ giảng:
xin xem số
10.
Huyền sâu:
hay, mầu nhiệm sâu xa, tâm trí thường không thể hiểu, không thể đo
lường được.
Mầu nhiệm:
Mầu: cao siêu. Nhiệm: kín đáo.
Mầu nhiệm:
cao siêu, tâm trí người thường không thể tìm ra nguyên nhân, nguồn
gốc của máy trời.
Phụ giải:
Sĩ tử: học
trò đi thi.
-- *** --
38.-"Sách
khuyến thiện miệng kêu không ngớt - Mà nào ai có thức dậy tầm - Ta
nghĩ suy cũng bắt hổ thầm - Nên than thở cùng trần ít tiếng - Tâm
sáng suốt như đài nguyệt kiến - Tánh trong như nước bích mùa xuân
- Nếu không tu chừng khổ cũng ưng - Đừng có trách sao không chỉ
bảo". (dòng 27- 34, trang 96)
Luận giải:
Đã viết nhiều sách
khuyên tu và miệng không ngớt nhắc nhở làm lành lánh dữ, nhưng nào
có ai chịu thức tỉnh nghĩ suy, Người thấy thẹn thầm nên
than thở với đời ít tiếng. Việc tu học phải biết lắng lòng, tâm
chưa thanh tịnh thì không thể tìm ra chơn lý. Giữ được tâm trong
suốt như gương, sáng tỏ như trăng rằm, phẳng lặng như mặt nước hồ
mùa xuân, bấy giờ người tu đã vượt qua mọi vướng mắc chốn hồng
trần, nhẹ bước thênh thang vào ngưỡng cửa không sanh không diệt,
tức nhập Niết Bàn. Nghe mấy lời khuyên này mà chẳng lo tu, sau chớ
trách Người không chỉ dạy.
Nghĩa chữ khó:
Khuyến thiện:
khuyên làm lành, khuyên sửa tâm rèn tánh.
Đài nguyệt kiến:
(kiếng) đài gương, chỉ sự trong sáng.
Phụ giải:
Niết Bàn:
Nirvana (scr) tiếng Phạn, trạng thái vắng lặng hoàn toàn
của người tu dứt sạch phiền não, không bị ràng buộc tình cảm
thường tình: thương yêu, danh lợi, sắc dục.
Niết là ra khỏi.
Bàn hay
Bàn na là rừng. Tức là ra
khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não.
-- *** --
39.-"Từ
nhỏ tuổi đến người trưởng lão - Mắc trong vòng sanh tử luân hồi -
Xuống Diêm Đình thấy tội hỡi ôi ! - Đó mới biết có nơi địa ngục -
Kỳ xả tội nay còn một lúc - Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ - Gặp
giảng kinh trần cứ làm ngơ - Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy".
(dòng 35 - 36, trang 96 và 1- 6,
trang 97)
Luận giải:
Từ nhỏ tuối đến người
già cả, không mấy ai thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, khi xuống
Diêm Đình mới biết có địa ngục và bao nhiêu tội lỗi gây ra đều
được ghi chép đành rành. Phật Trời còn xả tội một kỳ, Người
khuyên dân chúng thấy kinh giảng đừng làm ngơ, phải siêng đọc, rán
lo tu chớ khá bỏ qua dịp tốt. Nên biết, trồng hoa kiểng giống chi
hưởng nấy, nhờ cần mẩn lo tu mới có đời sống an nhàn thong thả,
tâm hồn mới được trong sáng nhẹ nhàng.
Nghĩa chữ khó:
Diêm Đình:
triều đình âm phủ, nơi xét xử tội phước thuộc thế giới người chết.
Địa ngục:
nhà tù ở thế gìới người chết.
-- *** --
40.-"
Địa ngục
cũng tại Tâm làm quấy
-
Về thiên
đàng Tâm ấy tạo ra - Cái chữ Tâm là Quỉ hay Ma - Tiên hay Phật
cũng là tại nó - Tu với tỉnh biết làm chẳng khó - Nếu lặng Tâm tỏ
ngộ Đạo mầu
". (dòng 7 tới 12, trang 97)
Luận giải:
Tất cả đều tại nơi
Tâm, đau khổ như địa ngục cũng do Tâm tạo ra, sung
sướng như thiên đường cũng do Tâm tạo ra, vì thế, tự cái
Tâm đưa con người nên Tiên, Phật hay thành quỷ ma cũng đều tại
nó. Lời Phật dạy : “Chiến thắng hằng vạn quân địch không bằng
tự chiến thắng mình - Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhứt”.
Cho nên, giữ cho tâm không loạn là dứt được lòng ham muốn và các
dục tính cũng bị diệt tiêu. Người tu khi lòng chưa thanh tịnh thì
không thể thấy được Đạo mầu.
-- *** --
41.-"Cảnh
dương gian muôn thảm ngàn sầu - Ngó vạn vật đài lầu chẳng có -
Sông với núi trước kia mắt ngó - Khi chết rồi thấy nó đặng nào -
Ai biết đường hãy sớm tẩu đào - Kiếm Đạo lý mà nhờ mà nhõi
".
Luận giải:
(dòng 13
tới 18, trang 97)
Nhà Phật nhìn cõi
hồng trần là biển khổ và con người đang chơi vơi ngụp lặn trong
biển khổ đó. Thật vậy, đời sống con người phải chịu muôn ngàn đau
khổ, mà thân giả tạm này lại không bền vững, nay còn mai mất, khi
xuôi tay nhắm mắt vẫn trắng đôi tay, vạn vật tất cả hoàn không.
Như vậy, tại sao không tỉnh thức đi vào Phật Đạo để phát triển
tinh thần, giải thoát những ràng buộc khổ đau của cõi đời này.
Nghĩa chữ khó:
Tẩu đào:
chạy trốn,
bỏ chạy.
Đạo lý:
nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo.
-- *** --
42.-"Chịu
cay đắng tu hành mới giỏi - Ta thương đời len lỏi xuống trần - Đạo
vô vi của Phật ân cần - Nối theo chí Thích Ca ngày trước - Câu phú
quí Ngài không màng ước - Chữ bồ đề như cội bá tòng - Rán dưỡng
nuôi chữ đó trong lòng - Thì là được định chừng diệu quả".
Luận giải:
(dòng 19 tới 26, trang 97)
Người
thương đời mới xuống
trần chịu cay đắng nhọc nhằn truyền dạy mối Đạo vô vi của Phật
Thích Ca. Ngày trước đức Thế Tôn đã từ bỏ cuộc sống vàng son dấn
thân vào gian khổ để tìm Đạo giải thoát cho chúng sanh. Nền Đạo đó
dạy trau giồi tâm ý, giữ lòng vắng lặng sáng trong, dụng trí tuệ
vững chắc như cội bá tòng để đoạn lìa tham dục, tâm kiên cường
không vướng bận lợi danh thì tự nhiên phiền não chẳng còn. Người
tu đến mức độ đó là đạt thành Đạo quả.
Nghĩa chữ khó:
Vô vi:
không cố ý tạo tác, không sắc tướng, không tâm ý là hư không.
Vi: là làm, là tạo tác.
Bồ đề: trí
tuệ hay giác ngộ. Nghĩa nhà Phật là thông suốt đạo lý, không vướng
mắc lợi danh, tình cảm; hết phiền não là Giác, tức
chánh Giác. Thăng hoa về tâm linh.
Diệu quả:
kết quả mầu nhiệm, đạt kết quả thật tốt.
Phụ giải:
Kiên cường:
giữ vững ý chí và tinh thần, không sụp ngã trước khó khăn.
-- *** --
43.-"Lời
thuyết pháp chẳng vì nhơn ngã - Người nào đâu có Phật tánh là -
Xem kệ này như ngọc như ngà - Phải nảy nở như cơn mưa thuận - Hạp
mùa tiết giống kia bất luận - Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu - Trông
chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu - Về Cực Lạc mới là hết khổ - Đạo với
lý từ đây nhiều chỗ - Phải lọc lừa cho kỹ mà nhờ - Chọn nơi nào
đạo chánh mà thờ - Thì mới được thân sau cao quí".
Luận giải:
(dòng 27- 36, trang 97- và 1-2, trang
98)
Lời dạy Đạo cho tất
cả chúng sanh, không phân biệt kẻ sang hay hèn, hoặc thấp cao,
khôn dại; ai cũng có Phật tánh trong tâm, nhưng người nào sớm biết
lắng lòng suy nghĩ sẽ thấy được nhiều điều quí báu trong kệ này,
và nhờ tu hành theo những lời dạy đó tâm trí sáng thông, tinh thần
vững chắc, sức hiểu biết gia tăng như lá hoa gặp mưa hòa gió thuận.
Người mong sao chúng sanh biết cân nhắc nghĩ suy tường tận
sớm tìm đường diệt khổ để có được cuộc sống hạnh phúc an vui. Từ
đây có nhiều mối đạo ra đời, mọi người nên nhớ kỹ lưỡng lọc lừa,
chọn nền đạo chánh tu hành thì ngày sau mới được thân danh cao quí.
Nghĩa chữ khó:
Nhơn ngã: người
và ta. Chỉ sự phân biệt, chia rẻ.
Cực lạc: tột cùng
vui sướng.
-- *** --
44.-"Nhìn
Phật Giáo mà tìm cái lý - Coi tại sao ta phải tu hành - Vì yêu dân
Ta kể ngọn ngành - Khuyên lê thứ làm lành mà tránh - Cảnh Niết Bàn
là nơi cứu cánh - Về chốn ni xa lánh hồng trần - Dầu không siêu
cũng đặng về Thần - Nhờ hai chữ trung quân ái quốc - Chừng lập Hội
biết ai còn mất - Giờ chưa phân chưa biết chánh tà".
(dòng 3 tới 12, trang 98)
Luận giải:
Đọc kinh kệ của Phật
Giáo rồi suy nghĩ tìm xem lý lẽ hay ho nào khiến ta phải tu hành.
Đạo Phật dạy giữ lòng yên tịnh ngăn vọng tưởng phát sanh, bụi trần
không gợn. Mục đích của người tu là dẹp bỏ ý nghĩ xấu, nuôi dưỡng
ý nghĩ tốt, mở mang trí huệ. Khi trí huệ phát sanh, Si liền
tan biến. Si tan thì Tham và Sân cũng không còn. Tam
độc bị diệt, nguyên nhân của mọi đau khổ chấm dứt, đời sống con
người hoàn toàn hạnh phúc, đó là Niết Bàn hay Cực Lạc, đâu phải
tìm kiếm xa xăm. Riêng những ai còn bổn phận với quê hương đất
nước, dầu không đến được Niết Bàn cũng được về Thần, muôn đời khói
hương sùng kính. Thương dương trần Người đã nói rõ ngọn
ngành, khuyên dân chúng rán làm lành tránh dữ. Sau này, ngày Phật
Trời mở Hội phán xét công tội và phước đức, bấy giờ mới biết ai
còn ai mất và ai chánh ai tà.
Nghĩa chữ khó:
Cứu cánh:
cuối cùng, kết quả; phần sau chót của sự việc.
Hồng trần:
xin xem lại
số 34.
Lập Hội:
Hội Long Hoa chọn người hiền đức.
-- *** --
45.-"Ta
vì vưng sắc lịnh Ngọc Toà - Đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng -
Nền đạo đức Ta bày quá cạn - Mà dương gian còn gạn danh từ - Làm
cho Ta lỡ khóc lỡ cười - Khóc là khóc thương người ngu muội - Thấy
Điên Khùng làm như sắt nguội - Chẳng tranh đương nó lại khinh khi".
(dòng 13 tới 20, trang 98)
Luận giải:
Người
vâng sắc lịnh Ngọc Hoàng và chịu trách nhiệm trước chư Phật đi
giáo truyền đạo pháp, đã giảng dạy cạn lời mà thế gian còn nghi
ngờ, khiến Người chẳng những đau lòng còn thêm khó xử, đau
lòng vì thương người trần mê muội, còn khó xử là tâm tánh họ gần
như sắt nguội, nói dịu dàng thì bị chúng khinh khi.
Nghĩa chữ khó:
Ngọc toà:
điện ngọc, chỉ nơi Ngọc Hoàng ngự.
Linh Khứu:
có nơi chép Linh Thứu (hình núi giống con ó), tức Linh Sơn nơi Đức
Phật thuyết pháp Kinh Đại thừa, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Có nghĩa
thi hành lịnh Phật.
Làm như sắt nguội:
sắt nóng dễ uốn nắn, sắt nguội rất khó làm thay đổi được hình
dáng. Nghĩa bóng chỉ sự bền chí chịu đựng của Người
trong sứ mạng giáo truyền Đạo.
Tranh đương:
chấp nhận đối đầu phân hơn kém.
-- *** --
46.-"Ngó
về Tây niệm chữ từ bi - Cười trần thế mê si thái quá -Tranh với
luận đặng giành cơm cá - Khuyến dụ người đặng kiếm bạc tiền - Thấy
chúng sanh ghét ngỏ ganh hiền -Theo chế nhạo những người tu tỉnh -Tu
không tu cũng không mời thỉnh - Mặc tình ai trọng kỉnh hay chê
". (dòng 21 tới 28, trang
98)
Luận giải:
Người
niệm chữ từ bi, mặc
thế gian lòng dạ nhỏ nhoi, mê tối ganh ghét kẻ tu hành. Người
mang nền chánh Đạo với một tình thương rộng lớn xuống trần cứu độ
chúng sanh chớ phải đâu vì kiếm miếng ăn hay tiền của mà phải
tranh giành hơn thua hoặc dùng lời ngọt ngon dụ dỗ người đời mong
tìm lợi lộc cho mình. Nên mặc tình ai kính trọng hay chê bai và
muốn tu hay không Người cũng không mời không ép.
Nghĩa chữ khó:
Từ Bi:
xin xem lại
số 1.
Mê si: tối
tăm ngu dốt không thấy lẽ phải trái.
Ghét ngỏ ganh hiền:
câu nói trong dân gian nhằm chỉ hạng người tánh tình nhỏ mọn,
thấy ai hơn mình là ghét rồi kiếm điều nói xấu hoặc chê bai sau
lưng.
-- *** --
47.-"Thương
lê dân còn mảng say mê - Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng - Thấy
Ta lại nói cay nói đắng - Đắng với cay Ta cũng chẳng màng - Chừng
trần gian kiến thấy phụng hoàng - Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh".
Luận giải:
(dòng 29 tới 34, trang 98)
Người
thương dân còn quá
ham mê danh lợi, chưa chịu tỉnh để tìm tu thoát khỏi biển khổ
dương trần, đã vậy, khi nghe thấy Người khuyên làm lành
lánh dữ thì nói đắng nói cay, nhưng cay với đắng Người
không quản ngại, trần gian sẽ rõ biết khi thấy phượng hoàng sè
cánh múa chào Phật, và mừng Chúa Thánh ra đời.
Nghĩa chữ khó:
Nói cay nói đắng:
lời nói xóc óc đau lòng người nghe.
Phụng hoàng - Phượng hoàng,
giống chim linh, khó thấy, có thể là giống chim trong tưởng tượng
- phụng hay phượng là chim trống, hoàng, chim mái.
Theo truyện Tàu, đầu thế kỷ 12, khi nhà Thương sắp bị diệt,
chim phượng gáy tại núi Kỳ, chào mừng Cơ Phát khởi binh dẹp Thương
lập nên nhà Châu. Cha của Châu võ vương Cơ Phát là Cơ Xương tức
Châu văn vương, người hiền, được thời bấy giờ xem như bực Thánh.
Thánh:
xin xem lại số 23.
-- *** --
48.-"Thấy
đạo lý chớ nào thấy tánh - Còn ẩn nơi tim óc xác phàm - Ai biết
tri việc phải cứ làm - Sau mới biết ai Phàm ai Thánh - Đức Lục Tổ
nào ai dám sánh - Người dốt mà nói pháp quá rành - Lựa làm chi cao
chữ học hành - Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo - Việc cổ tích cần chi
phải thạo - Chuyện qua rồi kể lại làm gì - Nếu ai mà biết chữ tu
trì - Tâm bình tịnh được thì phát huệ
". (dòng 35 – 36 trang 98 và 1 tới
10, trang 99)
Luận giải:
Người tu học kinh
điển, hiểu giáo lý là thuộc về sách vở, hình thức bên ngoài chớ
chưa thấy được tâm chơn thật của mình. Đạo Phật là đạo giác ngộ,
thấy rõ tâm chơn thật là Giác, Giác tức Bồ Tát, là Phật. Đức Lục
Tổ không có dịp đến trường học nhưng Ngài hiểu biết đạo lý rất sâu
xa, giải thích về pháp quá rành, nào có ai dám sánh. Việc ngộ Đạo
không phải ở chỗ cao chữ học hành hay thuộc làu chuyện xưa tích cũ
kể ra thao thao bất tuyệt, mà chính ở đức bền bĩ trì tâm gìn giới
tu hành, khi lòng lắng đọng, tâm sạch trong, trí huệ bừng sáng là
dứt tuyệt phiền não, hiện rõ Bồ Đề.
Nghĩa chữ khó:
Lục Tổ:
sanh ngày 8 tháng 2 năm Mậu Tuất, tại Lĩnh
Nam đời Đuờng, lúc mới chào đời, Ngài được hai
vị sư đặt tên: Huệ Năng, Huệ
là dùng pháp huệ cứu độ chúng sanh, Năng là hay làm
Phật sự. Lớn lên không được đến trường học chữ, đến 24 tuổi Ngài
nghe Kinh ngộ Đạo, được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền Y Bát. Lĩnh
Nam bấy giờ thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Bình tịnh:
yên lặng và sạch trong.
Tu trì: Tu
là sửa, sửa tánh, răn lòng, khép mình theo luật đạo. Trì:
giữ gìn. Tu trì: rèn lòng, sửa tánh, siêng học
kinh kệ, bền lòng giữ luật đạo.
Huệ hay
Tuệ: sáng suốt, thông hiểu sự và lý, không vướng mắc
tình cảm, không mê muội.
Phụ giải:
Y Bát: Bộ
áo ba cái và bình đựng cơm, ấy là hai tư vật của nhà tu. Thiền
Tông gọi Y Bát là Đạo, Pháp. Thầy truyền pháp cho đệ tử gọi là
truyền Y Bát.
-- *** --
49.-"Ta
yêu chúng viết ra Giảng Kệ - Khuyên tăng đồ cùng các tín đồ - Nghe
cạn lời chớ có mờ hồ - Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo - Trần với
thế nó hay kiêu ngạo - Các nhà sư hãy rán sửa mình - Nếu xuất gia
ngũ giái rán gìn - Tu chơn chánh mới không hổ tiếng".
Luận giải:
(dòng 11 tới 18, trang 99)
Thương đời, Người
viết ra Giảng Kệ nhằm khuyên các vị tăng cùng tín đồ trong đạo
rán tìm hiểu ý nghĩa rồi theo đó bền chí tu hành thì đắc Đạo không
sai. Kẻ dương trần tánh thường kiêu ngạo, mong các vị sư rán sửa
lấy mình, nếu đã xuất gia xin giữ gìn ngũ giới, nghiêm chỉnh tu
hành, đừng xa rời chánh niệm cho khỏi mang tiếng với đời.
Nghĩa chữ khó:
Tăng đồ:
chỉ chung các nhà tu.
Kiêu ngạo: cười
chê, chế nhạo, tự cho mình hay giỏi coi thường người khác.
Xuất gia: rời gia
đình vào chùa hay vào núi tu.
Ngũ giái: 5 điều
răn cấm của người tu xuất gia: không sát sanh, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
-- *** --
50.-"Cả
ngàn năm nhơn tâm xao xuyến - Sao tu hoài chẳng thấy ai thành -
Bởi chữ tu liền với chữ hành - Hành bất chánh người đời mới nói -
Bị tăng chúng quá ham chùa ngói - Nên tởi khuyên khắp chốn cùng
làng - Phật nào ham tượng cốt phết vàng - Mà tăng tạo hao tiền bá
tánh - Việc giả dối từ đây nên lánh - Bổn đạo ôi ! hãy rán sửa
mình ".
(dòng 19 tới 28, trang 99)
Luận giải:
Cả ngàn năm nay lòng
người xao xuyến vì tu hoài mà chẳng thấy ai thành. Bởi tu thì phải
hành và hành không đúng mới bị người đời chê trách. Các nhà sư quá
ham chùa ngói nên đi quyên đi tởi khắp chốn cùng nơi, Phật đâu có
thích tượng cốt phết vàng mà tô mà đắp cho hao tiền bá tánh. Việc
giả dối từ đây nên tránh, bổn đạo ôi xin rán sửa mình.
Nghĩa chữ khó:
Nhơn tâm:
lòng người.
Xao xuyến:
sự xúc động kéo dài. Nghĩa ở đây là lòng người dao động, mất niềm
tin.
Tởi khuyên
hay quyên:
xin, quyên góp xin mỗi nơi một ít.
-- *** --
51.-"Cuộc
dạy đời Ta lắm công trình - Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp -
Lời chơn chánh trần hay bỏ liếp - Mãi lo làm húng hiếp người hiền
- Mà làm cho Ngoc Đế thảm phiền - Muốn trừng trị trần gian thảm
thiết - Đức Phật Tổ tâm Ngài nhứt quyết - Tâu Ngọc Hoàng để Phật
dạy trần".
(dòng 29 tới 36, trang 99)
Luận giải:
Cuộc dạy Đạo cho đời
Người đã tốn lắm công trình, tiếc cho thế nhân không chịu
tu hành thật uổng cho một kiếp. Lời chơn chánh người đời nghe qua
rồi bỏ, cứ buông lung tánh dữ, ỷ thế mạnh hiếp đáp kẻ hiền lành
yếu đuối, khiến Ngọc Đế buồn phiền muốn thẳng tay trừng trị, nhưng
Đức Phật Tổ thương xót chúng sanh, quyết ý cứu đời, tâu xin Ngọc
Hoàng để Phật dạy dỗ dương trần.
-- *** --
52.-"Nên
ra Kinh,
Cơ Giảng nhiều lần - Mà dương thế chẳng cần xét đến - Xác trần tục
như cây cạnh khến - Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn - Đẽo với bào
riết nó cũng tròn - Đến chừng đó trông vào rất tốt
".
Luận giải:
(dòng 1 tới 6, trang 100)
Phật muốn cứu dương
trần, nhiều lần ra Kinh cùng Cơ Giảng nhằm dạy dỗ và dìu dắt chúng
sanh vào đường đạo đức, nhưng người đời đâu màng nghĩ đến. Thế
nhân nếu chịu khó làm hiền, sửa tánh rèn lòng thì lần hồi tội lỗi
phải hao mòn, tâm hồn trở nên trong sáng, thân xác sẽ tốt tươi,
giống như thân cây kia xù xì nhiều cạnh khến nhưng qua nhiều ngày
được đẽo gọt, giũa bào riết nó cũng phải tròn.
Nghĩa chữ khó:
Cây cạnh khến:
thân cây có nhiều chỗ gồ ghề, góc
cạnh, không trơn tru suôn sẻ.
-- *** --
53.-"Lũ
giả dối thường hay thề thốt - Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì -
Tâm kẻ hung làm chuyện cố lỳ - Chẳng có sợ mang điều tội phước -
Ghét những kẻ tu hành bốc xước - Miệng kêu gào chuyện phước bề
ngoài - Bước vào chùa thấy Phật lạy dài - Lui khỏi cửa ra tay cấu
xé - Thấy quyền quí nó hay dựa mé - Đặng bợ bưng những kẻ hung
sùng".
Luận giải:
(dòng 7 tới 16, trang 100)
Những kẻ giả dối
thường không biết xấu hổ, muốn được người tin hay viện Thần Thánh
ra thề miễn sao có lợi mà chẳng hề sợ tội phước. Người ngay thật
không ai ưa hạng tu hành xảo trá, miệng lúc nào cũng nói chuyện
làm hiền tạo phước, trước tượng Phật thì cung kính lạy dài, ra
khỏi cửa lương tâm gởi lại chùa, lòng toan tính sao cho có lợi,
thấy bọn có quyền thế liền chạy theo bưng bợ dầu kẻ ấy cực ác cùng
hung.
Nghĩa chữ khó:
Thề thốt:
đem tánh mạng ra cam kết với các đấng thiêng liêng về lời hứa của
mình.
Cố lỳ: chịu
trận, không trốn tránh vì hết chối cải; hết còn biết xấu hổ.
Bốc xước:
hời hợt, không chính chắn, bạ đâu tin đó.Nghĩa ở đây là không chân
chánh.
Dựa mé -
Dựa hàm mé:
tiếng dân gian, chỉ hạng nịnh bợ kẻ giàu có quyền thế
để nhờ cậy.
Hung sùng: hung
hăng dữ tợn.
-- *** --
54.-"Ta
thương đời nói những chuyện cùng - Chẳng có vị có dung kẻ quấy -
Cuộc sám hối vô chùa thường thấy - Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần
- Thấy dương gian lường gạt Thánh Thần - Mà chua xót cho đời Nguơn
Hạ -
Chữ tự hối nào ai có lạ - Là ăn năn cải sửa tâm lành - Phật chẳng
qua dụng chữ tín thành - Chớ nào dụng Hương, Đăng,
Trà, Quả
".
Luận giải:
(dòng 17 tới 26, trang 100)
Thương thế gian
Người nói trắng ra những sự thật bê bối ở đời, chẳng vị tình
cũng không thứ dung kẻ quấy. Sám hối là thành thật ăn năn sửa lỗi,
lòng nguyện hứa không bao giờ tái phạm, nhưng người thế gian quen
chưng bày hình thức bề ngoài, sau mỗi lần gây tội lỗi liền mang
nhang, đèn, trà, bánh vào chùa cúng để cầu xin xá tội. Xong việc,
về nhà lại tiếp tục chứng nào tật ấy, đấy là một việc làm luờng
gạt Thánh Thần, một sa đọa linh hồn của con người đời Nguơn Hạ.
Phật dụng lòng thành tín chớ đâu cần lễ vật của dương trần.
Nghĩa chữ khó:
Sám hối: có
nghĩa xưng tội, nhận tội và quyết ăn năn cải sửa hứa không tái
phạm.
Thần: các
anh hùng của dân tộc, có công lớn với xã hội, khi chết được đời
thờ kính.
Nguơn hạ
xin xem số 25.
Tự hối: tự
thấy lỗi lầm và ăn năn quyết sửa chửa, hứa với lòng không tái phạm.
Tín thành:
tôn trọng lời hứa bằng đức tin và lòng thành.
-- *** --
55.-"Làm
chay đám tạo nhiều xá mã - Bay về Tây nói những chuyện gì ?- Thấy
chúng tăng làm chuyện quái kỳ - Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ -
Lời chơn chánh hình như nói xỏ - Mà không không nào có biếm đời -
Thấy lạc lầm khuyên nhủ ít lời - Chớ nào có ngạo chi tăng chúng -
Coi tâm kệ làm theo mới trúng - Để lạc lầm lắm bớ tăng đồ !".
Luận giải:
(dòng 27 tới 36, trang 100)
Làm đám cúng chay to,
đốt xá mã nhờ ngựa mang sớ về Tây. Người thấy việc làm kỳ
quái này tốn tiền vô ích nên khuyên mãi mà ít ai chịu bỏ. Lời ngay
thẳng thường bị xem như lời châm chích. Đạo Phật là Đạo vô vi tạo
làm chi những hình với tướng cùng mấy việc làm dối thế gạt đời này,
xin các chư tăng đọc Tâm Kệ đây, suy nghĩ, tránh lạc lầm.
Nghĩa chữ khó:
Xá mã: thứ
ngựa giấy đốt để chạy mang sớ về Tây phương !!! Ngoài ra còn giấy
tiền vàng bạc, lầu kho, ngưòi hầu, bắt chước người Tàu đốt cho
người chết xài !.
-- *** --
56.-"
Định tâm
thần như mặt nước hồ - Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối - Muốn
niệm Phật chẳng cần sớm tối - Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà - Thì
hiền lương quên mất điều tà - Đặng hạnh phúc nhờ lòng cố gắng -
Việc đạo đức bất cần thối thắng - Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi".
Luận giải:
(dòng 1 tới 8, trang 101)
Giữ tâm thần phẳng
lặng như mặt nước hồ trí huệ mới phát hiện, có trí huệ mới thấu
hiểu lý Đạo. Niệm Phật là cách giữ cho tâm thanh tịnh, ngăn chận ý
niệm xấu, nên không phải đợi chờ sớm tối, lòng lúc nào cũng niệm
tưởng Phật thì tâm không loạn động, tham, sân, si lần lượt tiêu
tan. Việc tu tập không nên nôn nóng cũng chẳng cần thua đuợc, trau
sửa mỗi ngày một ít, bền chí thì ý nguyện sẽ thành, cuộc sống an
nhàn thanh thản đó mới hoàn toàn hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Sáu chữ Di Đà:
Nam Mô A Di Đà Phật:
Nam mô,
Namah (scr) có nghĩa qui y, qui mạng, chí tâm hướng về Phật,
tức quyết chí nghe theo, cung kính nương theo, gởi đời mình cho
Đức Phật A Di Đà.
Thối thắng:
thua được.
Đạo đức:
Đạo là nền tảng dạy con người làm lành lánh dữ, ăn ở ngay
thẳng.
Đức: tha
thứ, hay giúp đỡ người, dùng tình thương đối xử với mọi người.
-- *** --
57.-"Thấy
Thiên cơ khó nỗi yên ngồi - Thương lê thứ tới hồi khổ não - Thầy
lạc tớ không ai chỉ bảo - Như vịt con dìu dắt nhờ gà - Phải nghĩ
suy cạn lẽ mới là - Nay gặp gốc phải mau tìm gốc - Để gặp Phật
ngồi mà than khóc - Gỡ làm sao hết rối mà về - Mắt nhìn xem yêu
quái bốn bề - Bởi ác đức nên không ai cứu".
Luận giải:
(dòng 9 tới 18, trang 101)
Thấy rõ máy Trời,
Người xót xa thương dân chúng tới hồi khổ não, riêng với Đạo
nhà, Người sẽ vắng mặt, tín hữu một thời bơ vơ như vịt con
dìu dắt nhờ gà. Nhưng ngày nay gặp nền Đạo chánh phải rán nghĩ suy
tìm hiểu Phật lý để vững dạ tu hành, đừng sống buông lung, nhập bè
kết cánh với bọn người hung ác, sau này hối hận khóc than thì quá
muộn.
-- *** --
58.-"Mang
thủy ách hồi năm Đinh Sửu - Đến năm nay tái lại một lần - Khổ ách
này đặng thức tỉnh trần - Rằng thiên đình tuồng đời sắp hạ - Trẻ
nhỏ tuổi đời này lăng mạ - Bị văn minh cám dỗ loài người - Kể từ
rày cười một khóc mười - Kẻo chúng nó dể ngươi Phật Thánh".
(dòng 19 tới 26, trang 101)
Luận giải:
Nạn nước lụt năm 1937
- Đinh Sửu - đến năm nay 1939 tái lại là điềm Trời báo ngày tận
thế cận kề nhằm thức tỉnh dương trần, vậy mà người đời từ già đến
trẻ vẫn mê muội chạy theo văn minh vật chất một cách không ý thức,
quên bỏ đạo lý Cha Ông. Kể từ nay vui ít buồn nhiều cho dân chúng
hết dể ngươi mà khinh khi lời dạy khuyên của Phật Thánh.
Nghĩa chữ khó:
Đinh Sửu là
năm 1937,
Đức Thầy viết Quyển Giác Mê Tâm Kệ này 846 câu,
ngày 20 tháng 9 năm Kỹ Mão 1939.
Lăng mạ:
nói nặng lời, kêu réo mắng nhiếc tổ tiên người.
Văn minh:
Văn: sự học hỏi, lời văn, lễ phép, dáng vẻ bên ngoài.
Minh: sáng sủa, nghĩa rộng là ánh sáng của văn hoá chỉ
những cái hay, đẹp về cách ăn ở, cách nói chuyện cũng như lối xử
sự dịu dàng, lịch sự của những người học cao hiểu rộng. Nghĩa văn
minh ở đây chê sự bắt chước một cách mù quáng; hiểu sai ý nghĩa
đẹp của văn minh..
Cám dỗ: rù
quến, quyến rủ làm cho người say mê theo.
59.-"
Đạo Quỉ
Vương rất
nhiều chi nhánh - Khuyên dương trần sớm tránh mới mầu - Để ngày
sau đến việc thảm sầu - Rán nghe kỹ lời Ta mách trước -Thuyền
chúng nó thuận bườm chạy lướt - Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan".
Luận giải:
(dòng 27 tới 32, trang 101)
Người
khuyên dân chúng nên
cẩn thận lọc lừa vì từ nay sắp tới, có nhiều mối đạo dối thế và
lắm tổ chức bất chánh ra đời, nếu không cân nhắc, nghĩ suy kỹ
lưỡng vội vàng chạy theo, chắc chắn ngày sau sẽ phải chịu thảm
chịu sầu. Tuy chúng hiện khoe hay khoe mạnh nhưng không vững bền
vì luật Trời chẳng bao giờ dung thứ bọn ác gian.
Nghĩa chữ khó:
Quỉ vương:
chúa loài quỉ. Nghĩa bóng chỉ các đảng phái, các tổ chức
bất chánh, độc ác.
Mách: nói
cho người khác biết điều cần thiết, quan trọng.
-- *** --
60.-
"Tu mà ham
cho được giàu sang - Với quyền tước là tu dối thế - Nhớ thuở trước
vua Lương Võ Đế - Tạo chùa chiền khắp nước tu hành - Đến chừng sau
ngạ tử Đài thành - Phật bất cứu vì tâm còn ác".
Luận giải:
(dòng 33- 36, trang 101 và 1-2, trang
102)
Tu mà muốn nhiều tiền
của, có danh có quyền là tu dối thế. Khi xưa vua Lương Võ Đế cho
xây cất 82 ngôi chùa trên khắp nước, bố thí và tu hành rất mực,
nhưng đến sau chết vì đói tại Đài Thành, không được Phật độ vì tâm
chưa chánh.
Nghĩa chữ khó:
Lương Võ Đế:
vua nhà Lương (502 - 556) thuộc
Nam triều Trung Hoa, rất sùng bái đạo Phật, lập
82 ngôi chùa và mài miệt tu hành. Sau bị tướng nước Đông Ngụy là
Hầu Cảnh vây ở Đài Thành đến chết vì đói, thọ 86 tuổi. Dầu Võ Đế
cất nhiều chùa, tu hành và bố thí, nhưng Đức Đạt Ma Tổ sư vẫn cho
là không có công đức. Đức
Lục Tổ giải thích:“Lương võ Đế tâm không chánh, cất chùa, tu, bố
thí, đãi chay để cầu phước, không thể cho là
công đức được, công đức phải xuất phát
tự lòng mình, trong tánh mình, chớ chẳng phải do bố thí, cất chùa,
cố tạo hình thức bên ngoài, vì thế phước đức khác
công đức”.
Ngạ tử Đài thành:
chết đói ở Đài thành.
-- *** --
61.-"Tu
biết cách như đươn biết đát - Đươn đát rành được dựa Xe Loan - Ai
biết nghe thì sớm liệu toan - Để đến việc như nguời thất nghiệp -
Phải qui căn cùng nhau hội hiệp - Rán mau chơn mới kịp Đạo mầu -
Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu - Thì sẽ được Toà Chương dựa kế
".
(dòng 3 tới 10, trang 102)
Luận giải:
Tu đúng cách như thợ
đươn giỏi và đát khéo tay. Tu trì đúng theo chánh pháp chắc chắn
thành Đạo. Ai biết nhìn xa thì sớm tìm trở về nguồn gốc của Phật
giáo, bền lòng sớm chiều trau tâm sửa tánh và nuôi chí nguyện cầu
hoàn tất mục tiêu giác ngộ.
Nghĩa chữ khó:
Đươn: hay đan,
đan áo, đan lưới, đan lờ, đan rổ, đan thúng … bằng cách luồn sợi
chỉ hay cọng nan kết nhau.
Đát: đan kết bằng
những cọng nan nhỏ để kềm giữ các cọng nan lớn khỏi rời ra, lòi
ra..
Xe loan: xe có vẽ
hình chim Loan, dành riêng cho các bực sang giàu quyền thế. Dựa xe
loan, có nghĩa được danh tiếng, có quyền thế.
Đạo mầu: sự cao
sâu kín đáo của đạo Phật, khó đủ lời lẽ giải thích rõ .
Tòa chương: đền
đài dinh thự to. Nghĩa bóng chỉ chốn tôn nghiêm, gần vua chúa,
Tiên Phật.
-- *** --
62.-"Chúng
sanh thể như gà thất thế - Phải nằm chờ tới nước bắt ra - Thời kỳ
này nhiều quỉ cùng ma - Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế - Nên Ta
mới ra tay cứu tế - Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng - Sau Quỉ
Vương đi đứng nửa lừng - Thêm tên tuổi chúng sanh nó biết - Làm đủ
cách xuống lên tha thiết - Ở ngoài đường nó biết tên mình".
(dòng 11 tới 20, trang 102)
Luận giải:
Người đời đang lúc vô
cùng khó khăn, nguy hiểm, giống như con gà bị thương nặng rán chờ
hết hiệp để được bắt ra. Bởi gần ngày tận thế, làm cuộc lọc lừa,
Trời cho Quỉ Vương xuống trần gây họa, bọn này nhiều mưu mẹo, đi
đứng khó ai hay biết, thêm rành tên tuổi của chúng dân, nên
Người đã phải hết lòng giải khổ, cứu độ người đời.
-- *** --
63.-"Tin
cùng không thì cũng mặc tình - Chớ Ta lắm công trình dạy dỗ - Hồi
thuở trước Thích Ca Phật Tổ - Ngồi tham thiền bị nó ghẹo hoài - Mà
cũng không rúng động lòng Ngài - Nên cố oán phá đời mãi mãi
".
Luận giải:
(dòng 21 tới 26, trang 102)
Thuở trước Đức Thích Ca
tham thiền tầm Đạo bị Quỉ Vương theo ghẹo phá hoài vẫn không làm
lay động được lòng Ngài nên chúng nuôi oán, quyết tìm phá những
người tu theo Đạo của Đức Thế Tôn. Bởi vậy Người chẳng quản
ngại công trình xuôi ngược đi giảng dạy đạo lý mong người đời tỉnh
thức. Còn những lời khuyên này ai nghe hay không xin tùy ý.
Nghĩa chữ khó:
Tham thiền:
Tham: suy xét, quan sát. Thiền: tiếng Phạn
(Thiền na - Dhyana) có nghĩa chiêm nghiệm, suy nghĩ, nghiên cứu
tìm lý đạo.
-- *** --
64.-"Trong
bổn đạo cùng là sư vãi - Rán bền lòng cho được hiền từ - Hết khổ
lao thì đến vui cười - Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước - Bọn gái
mới ra đường tha thướt - Bỏ hết trơn nề nếp ông cha - Khác tánh
tình người cổ nước ta - Nên phải chịu đớn đau đủ cách - Trai với
gái rán coi sử sách - Đứng trung thần với kẻ tiết trinh".
(dòng 27 tới 36, trang 102)
Luận giải:
Người
khuyên các
vị tăng ni cùng toàn thể tín đồ, rán bền lòng tu tỉnh, làm hiền xa
dữ, giữ lòng trong sáng thì chắc chắn sẽ đạt thành nguyện ước,
được sống an vui. Còn bọn gái mới ngày nay, ra đường không đứng
đắn nghiêm trang, chẳng theo nền nếp của ông cha nên phải chịu đau
đớn nhiều bề. Để xứng đáng với tổ tiên nòi giống, trai với gái
phải rán xem sử sách để học gương trai trung gái tiết của nước nhà.
Nghĩa chữ khó:
Trung thần:
tôi trung (ngày xưa trung với vua) ngày nay hết lòng
bảo vệ Tổ Quốc.
Tiết trinh:
Tiết: là mắt tre, có chừng đổi như những mắt tre, ngay
thẳng trong sạch. Nghĩa bóng chỉ giá trị, danh dự của con
người. 2 tiếng trinh tiết chỉ chung sự trong sạch,
giá trị đạo đức của phụ nữ.
-- *** --
65.-"Dọn
bề trong mới gọi đẹp xinh - Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt - Dạy
chẳng đặng lòng như lửa đốt - Khắp dương gian chưa đặng ba phần -
Kể từ nay Tiên,
Phật, Thánh, Thần - Lo dạy dỗ dương trần chẳng xiết
- Đức Thượng Đế ngự đền Ngọc Khuyết - Nhìn dương gian cũng luống
thở dài - Thấy chúng sanh trau trỉa mặt mày - Chớ chẳng chịu trau
tâm trỉa tánh - Kẻ đói khổ người sang hay lánh - Bước lại gần chê
lũ tanh hôi
".
(dòng 1 tới 12, trang 103)
Luận giải:
Chưng dọn bên ngoài
sao quí bằng biết sửa tánh rèn lòng cùng cách ăn nết ở.
Người đã cạn lời chỉ dẫn mà khắp dương gian chưa được ba phần
tỉnh thức nên lòng nóng như lửa đốt. Đức Thượng Đế ngự đền Ngọc
Khuyết cũng thất vọng thở dài trước cảnh chúng sanh cứ mãi mê săn
sóc mặt mày chớ chẳng chịu trau tâm sửa tánh, về bọn giàu sang thì
mất hết tình người, không chút lòng thương giúp đỡ kẻ đói nghèo,
trái lại còn lánh xa, chê tanh hôi ! Nên Tiên, Phật, Thánh, Thần
cùng xuống thế ra công dạy dỗ.
Nghĩa chữ khó:
Ngọc khuyết:
cửa nhà vua; cửa nhà Trời.
-- *** --
66.-"Cõi
ta bà Ta thấy hởi ôi
! - Sầu bá tánh quá
nên kiêu cách - Người tàn tật đui cùi đói rách - Ít có ai để mắt
nhìn vào - Chuộng những người dù võng sắc màu - Cậu với mợ,
ông thầy, cô bác - Thị kẻ khó như rơm như rác - Ta quá rầu
đài các văn minh - Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh - Theo Tông Tổ của
mình thuở trước ?
".
Luận giải:
(dòng 13 tới 22, trang 103)
Người
nhìn cõi ta bà mà chua xót, đau lòng nhứt là thấy bá tánh sao
nhiều người kiêu cách, chẳng có chút tình thương những kẻ đói
nghèo tàn tật, đui cùi, xem họ gần như cỏ rác; còn trước người
giàu sang, quyền thế thì lại hết lòng kính trọng. Người quá
buồn cho lối đài các văn minh của bọn nhiều tiền mà khô tình cạn
nghĩa, chẳng còn được mấy ai biết giữ gìn bền chặt nếp sống đạo
đức, trong sạch theo tông tổ của mình.
Nghĩa chữ khó:
Ta bà:
nghĩa nhà Phật là Kham nhẫn. Kham: có thể chịu đựng
được. Nhẫn: nhận chịu, cam chịu. Cõi đời này đầy dẩy
người tham ác, là một thế giới bụi dơ, nên chúng sanh ở cõi ta bà
rất khó tu, do đó cần phải có đức kiên nhẫn chịu đựng mọi sự khổ.
Kiêu cách:
ỷ quyền thế, giàu có mà làm cao, phách lối, khi dể người, coi
người như cỏ rác.
Rơm: thân
cây lúa sau khi lấy hết hột, rơm chỉ để bò ăn hoặc ở nhà quê dùng
nấu cơm.
Đài các:
nhà cất trên nền cao, có lầu cao. Chỉ sự giàu sang; điệu bộ kẻ
giàu sang quyền quí.
Văn minh:
xin xem lại
số 58.
-- *** --
67.-"
Đầu với tóc
áo quần láng mướt - Chữ lanh khôn của quỉ của ma - Chớ nó không có
giống người ta - Ma với quỉ sanh người hung ác - Lo tâp luyện
những câu đờn hát - Chớ chẳng lo dạy dỗ ngu khờ - Để cái tâm yên
lặng như tờ - Coi Ta nói câu nào bất chánh ?"
Luận giải:
(dòng 23 tới 30, trang 103)
Rất nhiều kẻ áo quần,
đầu tóc lúc nào cũng láng mướt, học cái khôn lanh của bè lũ quỉ
ma. Khi đời sống cha mẹ không thẳng ngay thì làm sao giáo dục
tinh thần cho con được, dĩ nhiên chúng không biết gì về đạo đức.
Vì vậy, lũ trẻ sống buông lung như cỏ dại bên đường, chúng tự do
tập tành câu hát tiếng đờn rồi lần lượt bắt chước bọn hung tà gian
ác. Hãy bình tỉnh để lòng yên lặng nghĩ suy xem những điều chỉ dạy
này của Người có câu nào không đúng ?
-- *** --
68.-"Rán
bắt chước làm theo Phật Thánh - Nếu thiệt người thì biết thương
người -Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười - Nào có lấy lời chi chỉ bảo
- Ta thương xót lo tần lo tảo - Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền -
Làm cho người Thượng Cổ thêm phiền - Rất đau xót cho nòi cho giống
".
Luận giải:
(dòng 31- 36, trang 103 - và 1- 2,
trang 104)
Người
khuyên dân rán nên
tìm học những lời chỉ dạy của Phật của Thánh mà tập tánh thương
người, đừng khinh khi kẻ ngu dốt quê khờ, hãy giúp đỡ họ và lựa
lời chỉ dạy. Người thương dân chúng, quyết làm sống dậy nền
nếp cao quí của Tổ Tiên nên đã hết lòng thức khuya dậy sớm chăm lo
dạy dỗ, nhưng chẳng mấy ai đáng mặt rể thảo dâu hiền, thật hổ thẹn
cho nòi giống và đau lòng các bậc Tiền nhân.
Nghĩa chữ khó:
Lo tần lo tảo:
Tần, tên một thứ rau mọc ở dưới nước; Tảo,
hay táo, loài cây như rong. Kinh Thi có câu:
“Thái tần thái tảo”: hái rau tần rau tảo,
là công việc chịu khó, cần cù. Nghĩa bóng dậy sớm thức khuya làm
việc hết lòng.
Thượng Cổ:
người xưa, chỉ Tổ Tiên dòng họ. Anh hùng dựng nước ...
-- *** --
69.-"Biết
chừng nào được qui nhứt thống - Khắp hoàn cầu dân biết thương nhau
- Nhắc ra thì dạ ngọc đớn đau - Không nhắc đến biết đâu dân sửa -
Cơm được chín ta nhờ có lửa - Dân được vui nhờ lúc khải hoàn -
Phật Như Lai cho phép Khùng troàn - Cho bổn đạo khắp nơi đặng biết
".
(dòng 3 tới 10, trang 104)
Luận giải:
Biết đến chừng nào
tất cả gom về một mối và con người trên thế gian này thương mến
lẫn nhau. Nhắc ra thì đau lòng nhưng nếu không nhắc người đời biết
đâu mà sửa. Cơm được chín phải nhờ có lửa, nghĩa là trên đời này
không vật gì tự nhiên mà có, nên con người chẳng ai sống riêng rẻ
được, phải cần sự giúp đỡ lẫn nhau, cũng như đất nước có thanh
bình dân chúng mới được yên vui. Phật Như Lai cho phép Người
rao truyền cho khắp nơi hay biết ý nghĩa của tình thương
và sự cần thiết trong tinh thần tương thân tương trợ.
Nghĩa chữ khó:
Qui nhứt thống:
gom chung về một mối.
Khải hoàn:
ca hát vui mừng thắng trận hoàn toàn trở về.
Troàn hay
Truyền,
truyền rao cho nhiều người hay.
-- *** --
70.-"Ai
chưởi mắng thì ta giả điếc - Đợi cho người hết giận ta khuyên -
Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên - Thì đâu có mang câu thù oán - Việc
hung ác hễ vừa thấp thoáng - Chữ từ bi ta diệt nó liền - Sự oán
thù đáp lại chữ hiền - Thì thù oán tiêu tan mất hết".
(dòng 11 tới 18, trang 104)
Luận giải:
Ai chưởi mắng thì ta
làm như không nghe biết, đợi khi người hết giận ta dùng lời đạo
nghĩa nhẹ nhàng khuyên dứt. Lúc nào cũng rán dằn lòng, giữ sự bình
tỉnh lấy chữ nhịn làm đầu trong mọi đối xử để được an hòa
vui vẻ với nhau, nếu mọi người biết tôn trọng nhau thì đâu có giận
hờn thù oán ? Khi lòng vừa nghĩ điều hung ác ta phải nhớ liền hai
chữ từ bi để tiêu diệt nó; lấy tánh dịu hiền đáp lại oán
thù, thì thù oán tiêu tan mất hết.
Nghĩa chữ khó:
Từ bi:
xin xem số 46.
-- *** --
71.-"Chữ
bạn tác dầu cho đến chết - Cũng keo sơn gắn chặt mới là - Bước ra
đường ăn nói thiệt thà - Dầu khôn khéo cũng là giả dại - Nếu tranh
đương ắt ta bị hại - Thêm sa cơ lại bị xích xiềng - Vì đời nay
chúng nó dụng tiền - Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa".
Luận giải:
(dòng 19 tới 26, trang 104)
Đối với bạn bè hay
những người chung Đạo, cùng một tổ chức, đoàn thể, dầu không là
anh em ruột thịt nhưng phải thành thật đối xử với nhau, trước sau
không thay lòng đổi dạ. Ra đường nên khiêm tốn, không vì hiểu biết
mà tranh cải giành thắng, lấy được tiếng khen hay, khen giỏi. Tánh
háo thắng này dễ sanh thù oán, rồi từ đó có thể đưa đến sự giam
cầm tù tội, vì đời nay đồng tiền và thế lực luôn luôn lấn át nhơn
với nghĩa.
Nghĩa chữ khó:
Bạn tác: bè
bạn, do chữ “bằng hữu” đã kết bạn với nhau phải đối xử sau trước
một lòng.
Keo sơn: là
hai chất dính, dùng chỉ sự khăng khít, gắn bó chặt chẽ.
Tranh đương:
đối mặt tranh đua, chống cự, giành giựt.
Sa cơ: rơi
vào tình thế rủi ro, nguy hiểm.
Nhơn nghĩa:
có tình thương người, tánh thẳng ngay, thấy việc trái tai gai mắt
là sẵn sàng giúp đỡ không ngại khó khăn, không sợ quyền thế.
-- *** --
72.-"Theo
học Đạo mặc ai mai mỉa - Ta cũng đừng gây gổ với người - Được mấy
điều thì đáng vàng mười - Thiệt hiền đức có ai mắng chưởi - Xưa
đức Thánh luận bàn cái lưỡi - Ngài nói rằng các việc tại mầy -
Thuận với hòa hay ghét với rầy - Cũng cái lưỡi làm thầy các việc -
Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt - Lấy tâm thần làm chủ mới mầu".
Luận giải:
(dòng 27 tới 36, trang 104)
Theo học Đạo mặc tình
ai chê khen, mai mỉa ta vẫn một mực giữ lòng nhẫn nhịn; trong quan
hệ đối xử, lúc nào cũng hiền hòa, lời lẽ dịu dàng êm ái thì đâu bị
người mắng chưởi. Biết khép mình trong nếp sống đó dầu vàng mười
cũng chẳng quí bằng. Xưa đức Thánh luận về cái lưỡi, ngon dở, xấu
tốt, khen chê, thuận hòa hay ganh ghét cũng đều do nó. Nên ta phải
giữ tâm bình lặng làm chủ lấy mình, có vậy, đời sống mới an vui
thong thả.
Nghĩa chữ khó:
Vàng mười:
vàng nguyên chất không bị pha trộn.
Mầu: tài
tình, vì có cái gì đó cao siêu khó giải thích được.
-- *** --
73.-"Cũng
chẳng nên theo tánh võ hầu - Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng -
Hãy liệu sức chớ nên nói bướng - Dầu việc chi liệu lượng mà làm -
Điên Khùng này chẳng có nói xàm - Nói những chuyện từ bi bác ái -
Nếu bổn đạo còn ai làm sái - Coi kệ này mình sửa lấy mình - Ta
không tranh mà cũng không kình - Cho bá tánh gièm pha thoả chí -
Ai làm phước in ra mà thí - Thì được nhiều hạnh phúc sau này".
Luận giải:
(dòng 1 tới 12, trang 105)
Dầu khó chịu cũng
đừng nhăn răng nhướng mắt như tánh khỉ rừng, trước mọi việc nên
cân nhắc liệu lường rồi mới bắt tay hành sự. Với dương trần
Người không nói sai nói bậy mà dốc một lòng bác ái từ bi, nếu
anh em trong Đạo còn ai làm sái thì coi kệ này tự sửa lấy mình.
Người chẳng tranh giành cũng không chống đối với ai, mặc tình
bá tánh khen chê tùy thích, còn vị nào phát tâm làm phước thì in
kệ này phân phát rộng cho người đời.
Nghĩa chữ khó:
Võ hầu: chỉ
giống khỉ rừng.
Nói bướng:
nói ngang theo ý mình không căn bản, không suy nghĩ, bất cần hậu
quả ra sao.
Nói xàm:
nói sai, nói bậy.
Bác ái:
tình thương rộng rãi, bao la không cùng tận.
Gièm pha:
đặt điều nói xấu nhằm làm cho người nào đó mất sự kính trọng, mất
lòng tin cậy.
Thỏa chí:
được đúng như ý muốn.
Hạnh phúc:
điều may mắn vui sướng đến với mình.
-- *** --
74.-"Chốn
non xanh dạy dỗ cáo cầy - Xuống trần thế ra tay dắt chúng - Tới
với Ta chớ đem đồ cúng - Chỉ đem theo hai chữ thành lòng - Chẳng
có cần trà,
quả, hương nồng - Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ - Kẻ
xa xuôi có lòng ái mộ - Xem kệ này tu tỉnh tại nhà - Ở ruộng đồng
cũng niệm vậy mà - Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc
".
(dòng 13 tới 22, trang 105)
Luận giải:
Ở núi rừng Người
dạy dỗ cáo cầy, nay xuống trần thế dắt dìu bá tánh. Đến với
Người chẳng cần nhang đèn, trà bánh, chỉ cần thành ý và quyết
tâm ăn năn cải sửa. Người ở xa xem kệ này rán lắng lòng tu tại nhà,
nếu đi ruộng đồng thì tưởng niệm thầm trong dạ. Phật chứng ở tâm
chánh ý thành chớ không chấp, không cần thời khắc.
Nghĩa chữ khó:
Cáo cầy:
đều là giống chồn; con cáo ở hang, con cầy biết leo.
Cả hai đều rất tinh khôn.
Hối ngộ:
lòng thức tỉnh biết sai, hối hận và ăn năn, quyết cải sửa nguyện
không tái phạm.
Ái mộ: mến
chuộng và kính trọng.
Tu tỉnh: tự
xét thấy lỗi lầm mà từ bỏ và quyết sửa đổi.
Niệm: có
nghĩa tưởng nhớ. Lòng thành kính tưởng nhớ công đức Phật, của Ông
Bà, Cha Mẹ. Niệm Phật là thành kính đọc thầm danh
hiệu Đức Phật, học và rán noi theo 4 đức lớn của Phật:
Từ-Bi-Hỷ-Xả.
Phụ giải:
Ý nghĩa của Niệm Phật
là trừ vọng niệm, bởi tâm người đời mê muội nên tạp niệm chồng
chất nên lòng không an vui, bị phiền não ngăn che làm chơn tâm mờ
ám. Nên, hễ thành tâm niệm Phật thì tâm không loạn, lòng ham muốn
và các tình dục bị tiêu diệt.
Từ - Bi:
xin xem số
46.
Hỷ: thường
an vui mà làm những việc lành. Dầu gặp hoàn cảnh trái nghịch cũng
chẳng vì thế mà sanh lòng buồn bã.
Xả: Phật
chẳng chấp một pháp nào, sẵn sàng tha thứ những ai tối tăm lầm lỗi,
chẳng còn vướng bận lợi danh, tài sắc, không luyến ái cõi đời.
-- *** --
75.-"Chay
bốn bữa ấy là quy tắc - Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh - Con Phật
thì chẳng có khôn lanh - Đời văn vật khôn ma khôn quỉ - Lo trang
sức kim thời huê mỹ - Rồi phụ phàng tục cổ nước nhà - Trong tâm
thì chứa chữ gian tà - Chớ chẳng chứa tấm lòng bác ái - Học chữ
nghĩa cho thông cho thái - Đặng xuê xang đài các xe tàu - Tiếng
chào mừng cửa miệng làm màu - Trong tâm ý mưu mô đủ thế".
(dòng 23 tới 34, trang 105)
Luận giải:
Một tháng ăn chay bốn
ngày là quy tắc của Người dẫn dạy chúng sanh. Người
tu Phật tánh ngay thẳng thật thà, biết nghĩ suy, cân nhắc, tinh
lọc lấy cái hay của văn minh, không mù quáng chạy theo vật chất;
không học cái khôn xảo trá điêu ngoa của ma của quỉ; không chưng
diện bề ngoài mà chê bỏ nền nếp đạo đức của cha ông, lòng lúc nào
cũng sẵn sàng tha thứ, mở rộng tình thương giúp đỡ kẻ đói nghèo,
binh vực người thế cô sức yếu. Học chữ nghĩa nhiều không phải để
được ăn trên ngồi trước, không phải để có cửa rộng nhà cao lên xe
xuống ngựa, cũng đừng bao giờ ngoài miệng nói năng thưa dạ dịu
dàng mà trong lòng ích kỷ, tham lam nuôi ý gian tà, tính toan đủ
thế mưu mô.
Nghĩa chữ khó:
Quy tắc: những
điều lệ đặt ra cho mọi người tuân theo trong cộng việc chung của
một tổ chức hay một đoàn thể.
Văn vật: văn minh
và vật chất. Văn minh
xin xem số 58.
Trang sức kim thời huê mỹ:
chưng diện áo quần sang đẹp, son phấn, nữ trang mắc tiền đúng
kiểu cách mới.
Phụ phàng tục cổ:
chê bỏ nếp sống, thói quen tốt đẹp của ông cha đã được xã hội thừa
nhận.
Xuê xang đài các:
ăn xài phủ phê, sung sướng, ở nhà nền cao có lầu có gác.
Mưu mô: ngấm ngầm
tính toan, sắp xếp sự việc hại người, gạt người để có lợi cho
mình.
Phụ giải:
Vật chất: các thứ
có hình thể, màu sắc mà con người dễ cảm nhận ra được.
Tinh lọc: loại bỏ
các thứ hư xấu, chọn cái quí, cái tốt.
Điêu ngoa xảo trá:
hay đặt điều, bịa chuyện dối gạt một cách khéo.
Đạo đức:
xin xem lại số56.
Ích kỷ: chỉ lo
nghĩ cho mình.
-- *** --
76.-"Ta
còn mắc phiêu lưu dương thế - Dạo Lục Châu đặng cứu bá gia - Mặc
tình ai xem kệ ngâm nga - Hay sửa đổi tùy lòng hưu hỷ - Thương
sanh chúng tỏ bày quá kỹ - Hỡi dương trần nên sớm quày đầu - Đặng
sau xem Phật pháp nhiệm mầu - Với báu quí đài lầu tươi tốt".
Luận giải:
(dòng 35 và 36, trang 105 - 1 tới 6, trang 106)
Người
phải đi các tỉnh miền Nam dạy đạo cứu độ người hiền. Còn tập kệ
này tùy ý thế nhân, đọc để tìm hiểu, suy nghĩ rồi sửa tánh răn
lòng tĩnh tu khuya sớm, hoặc rảnh rang ngâm nga giải trí. Thương
chúng sanh
Người đã tỏ
bày quá kỹ, khuyên dương trần nên sớm thức tỉnh quay về chánh Đạo,
chẳng những tạo cho mình cuộc sống an lành hạnh phúc, còn hy vọng
được nhìn sự nhiệm mầu của Phật pháp và chứng kiến những điều hay
lạ sau này.
Nghĩa chữ khó:
Phiêu lưu: trôi
giạt vì sóng gió chưa biết về đâu. Việc làm mạo hiểm không lường
trước những khó khăn nguy hiểm.
Lục châu: do sắc
lịnh vua Minh Mạng, năm 1931, miền Nam có 6 châu, sau thành tỉnh,
đó là các tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, An Giang, Vĩnh
Long và Hà Tiên. Đến thời Pháp cai trị, đổi ra 20 tỉnh :1.-
Gia Định. 2.-
Châu Đốc. 3.- Hà Tiên. 4.- Rạch Giá. 5.-
Trà Vinh. 6.- Sa Đéc.7.- Bến Tre. 8.- Long
Xuyên. 9.- Tân An. 10.- Sóc Trăng. 11.- Thủ
Dầu Một. 12.- Tây Ninh. 13.- Biên Hoà.
14.- Mỹ Tho. 15.- Bà Rịa. 16.- Chợ Lớn.
17.- Vĩnh Long. 18.-
Gò Công. 19.- Cần Thơ. 20.- Bạc Liêu.
Hưu hỷ: vui vẻ
lúc rảnh rổi nghỉ hưu.
Nhiệm mầu: hay
ho, tài tình như có phép lạ, không đủ lời lẽ giải thích rõ được.
-- *** --
77.-"Xác
Ta vốn là người quê dốt - Nên mở mang chưa được mấy rành - Khắp
dương gian như sợi chỉ mành - Mong bổn đạo tâm thành trở lại - Dầu
cực khổ thân này chẳng nại - Chẳng cần ai bái lạy khẩn cầu - Bỏ dị
đoan mới thấy Đạo mầu - Bớt giả dối gặp Người Thượng Cổ - Gốc thuở
trước của Tông của Tổ - Đâu có bày dối mị như vầy".
Luận giải:
(dòng 7 tới 16, trang 106)
Xác trần của
Người
vốn quê và dốt, sự
hiểu biết chưa rành, nhưng vì thế gian gần ngày tiêu diệt nên phải
vào đời khuyên nhắc dân chúng cũng như người trong Đạo, hãy dọn
tâm thành ý tìm tu theo chánh pháp của Đức Thích Ca, được vậy, dầu
Người
phải chịu cực khổ cũng vẫn vui lòng.
Người
khuyên thế nhân đến
với Đạo
chẳng cần bái lạy, khẩn cầu, nên dẹp bỏ mê tín dị đoan, rán gìn
lòng sáng trong, giữ tâm không loạn động thì mới
thấy được Đạo.
Hãy dứt bỏ những trò gian trá cố gắng nuôi ý chí và tư tưởng thanh
cao cho khỏi thẹn với người xưa, vì đạo lý của Tổ Tông đâu dạy
điều dối mị.
Nghĩa chữ khó:
Dị đoan:
chuyện không cơ sở, không hợp lý.
Thượng cổ:
người xưa, là Tổ tiên. Theo chúng tôi, còn chỉ những vị đã đắc quả
Phật nhưng còn vào đời cứu độ chúng sanh, tức các vị
Bồ Tát như
Đức Thầy.
-- *** --
78.-"Những
sấm truyền xưa của Phật Thầy - Dân rán kiếm mà truy thì biết - Xưa
để lại nhiều câu thảm thiết - Mà nào ai có biết để lòng - Chuyện
Thiên Cơ nói rất não nồng - Câu hữu lý bá tòng khó sánh - Chốn tựu
hội chớ nên léo hánh - Vì lời xưa có dặn rạch ròi - Dân chớ nên
phụ bạc giống nòi - Thì lao lý tấm thân vô ích".
(dòng 17 tới 26, trang 106)
Luận giải:
Nên tìm đọc những câu
sấm của Phật Thầy Tây An để lại, trong đó nhiều câu thảm thiết với
lý lẽ vững chắc như bá như tòng cùng những tiết lộ về máy Trời ...
nay nhắc lại lòng còn rung động, xót xa, vậy mà thế nhân mấy ai
chịu để lòng suy nghĩ. Lời người xưa dạy rõ đừng gần gũi đám người
quên bỏ giống nòi bán lương tâm cho giặc để khỏi phải vướng gông
xiềng hại thân vô ích.
Nghĩa chữ khó:
Sấm truyền:
những câu văn vần nhưng tối nghĩa,
khó hiểu, lưu truyền trong dân gian, đoán trước những việc lớn sẽ
xảy ra có quan hệ tới nước non, vận số của dân tộc. Chỉ khi chuyện
xảy ra rồi người đời mới hiểu.
Não nồng
hay
não nùng:
nỗi đau buồn xót xa, ray rứt.
Bá, tòng:
cùng họ cây thông, chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt, lá xanh
tươi bốn muà, rể bám sâu dầu đất khô cằn. Nghĩa bóng chỉ người anh
hùng, quân tử, kiên cường bất khuất.
Léo hánh:
tới gần.
Rạch ròi:
rành rẽ, minh bạch, dễ hiểu.
Phụ bạc:
quên bỏ ơn nghĩa, ở xấu, bỏ bê tình nghĩa, đối xử xấu với người có
ơn với mình.
Lao lý: tội
tù, bị giam hảm, mất tự do.
Lao là
chuồng nuôi thú vật, nhà tù. Lý: ở trong.
-- *** --
79.-
Phải nhẫn
nhục chờ Người Cổ Tích - Phật với Trời phân định cho Ta - Người
xưa tuy ít chữ nôm na - Chớ chơn chất người ta ngay thẳng - Dạy
bổn đạo lấy câu trung đẳng - Chẳng nói cao vì sắp rốt đời - Đấng
nam nhi ẩn nhẫn tùy thời - Vậy mới gọi không ngoan hữu chí - Ta ra
sức viết câu huyền bí - Chúng dân ôi ! rán kiếm rán tầm
".
(dòng 27 tới 36, trang 106)
Luận giải:
Người
khuyên nên ẩn nhẫn chờ sự sắp xếp của Phật Trời. Người xưa tuy ít
chữ mà ngay thẳng thật thà, nay Người cũng dùng những lời
lẽ dễ hiểu dạy đạo, chẳng nói cao vì ngày tận thế sắp cận kề. Kẻ
làm trai có ý chí phải biết kiên nhẫn tùy thời. Vì máy Trời không
tiện nói trắng ra, mong dân chúng rán đọc sám kinh mà tìm hiểu.
Nghĩa chữ khó:
Người Cổ tích:
người xưa, người Thượng cổ,
xin xem
số 77.
Phải chăng ngầm chỉ Minh Vương.
Nói nôm na:
lời nói dễ hiểu.
Trung đẳng: bực
trung.
Huyền bí: bí ẩn
khó hiểu, vì không thể nói rõ hơn.
Ẩn nhẫn: biết
nhịn, biết giấu giận trong lòng đợi chờ dịp tốt.
80.-"Giống
thú kia là loại sanh cầm - Mà còn biết kiếm tầm đạo đức -Thú vật
biết tu hành náo nức - Còn người sao chẳng rứt hồng trần? Việc tu
hành phải vẹn nghĩa ân - Kinh với Sấm chúng dân thường thấy - Chữ
Bát Chánh rõ ràng trong giấy - Là chơn truyền của Đức Thích Ca -
Người tu hành cần phải tìm ra".
Luận giải:
(dòng 1 tới 9, trang 107)
Sanh vật còn biết tìm
tu, huống chi con người có đủ đầy tâm trí, sao chưa tỉnh thức, tìm
cách lánh chốn bụi hồng, sửa tánh dọn mình vượt qua bốn chặn đường
Sanh, Già, Bịnh, Chết. Nhưng trước khi hiến trọn đời cho đạo pháp,
con người phải lo tròn vẹn nghĩa với ơn. Trong Kinh với Sấm, chúng
ta thường thấy dạy Bát Chánh Đạo rõ ràng, đó là chơn truyền của
Đức Thích Ca, người tu Phật phải nghiêm chỉnh tuân hành.
Nghĩa chữ khó:
Náo nức:
rộn rịp, hăm hở.
Hồng trần:
bụi cát hồng hồng, chỉ cõi đời bụi cát.
Bát chánh:
tám điều chánh phải theo, sẽ giải đoạn sau.
Chơn truyền:
từ nguồn gốc đạo truyền lại; điều truyền dạy chơn chánh
của Phật Thích Ca..
-- *** --
81.-"Cho
dân biết mục đầu Chánh Kiến - Trí linh mẫn nhìn xem các chuyện -
Phải đừng cho lầm lạc nẻo tà - Dầu việc người hay việc của ta -
Nên phán đoán cho tường cho tận - Tội với phước xét coi nhiều bận
- Mới khỏi lầm tà kiến đem vào
". (dòng 10 tới 16, trang 107)
Luận giải:
Mục thứ nhứt là
Chánh Kiến, trước mọi sự việc, dầu việc mình hay chuyện của
người, ta phải vận dụng trí sáng suốt xét suy, cân nhắc, phân tách
cho tường tận về tội với phước, đúng hay sai, như vậy mới khỏi bị
lạc lầm sai quấy.
Nghĩa chữ khó:
Chánh kiến:
thấy, xem xét đúng sự thật. Ý kiến chơn thật
Trí linh mẫn:
trí sáng suốt.
Phán đoán:
xem xét và đoán coi phải trái thế nào.
Tà kiến: sự
xem xét lầm lạc, ý kiến sai lạc, nhìn sai lạc.
-- *** --
82.-
"Chánh Tư
Duy mục ấy thanh cao - Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ - Trên
cùng dưới dầu thầy hay tớ - Cũng tưởng điều trung chánh mới mầu -
Việc vui say mèo mả đây đâu - Hãy dẹp gát nhớ câu Lục Tự
".
Luận giải:
(dòng 17 tới 22, trang 107)
Người thanh cao thì
tư tưởng chơn chánh sáng trong, đối xử với nhau dầu thầy hay tớ,
có quyền thế hay thấp hèn, lúc nào cũng giữ trong lòng ý nghĩ đứng
đắn chánh trung, đạo lý Tổ Tiên dạy ta nên gắn ghi điều đó. Còn
các thú vui say mèo mả phải lánh xa và trân trọng gìn nơi tâm sáu
chữ Nam Mô
A Di Đà Phật.
Nghĩa chữ khó:
Chánh tư duy: tư
tưởng chơn chánh.
Trung chánh: ngay
thẳng không thiên vị.
Việc mèo mả - Mèo mả gà đồng:
chỉ chung các chuyện không đứng đắn của trai gái.
-- *** --
83.-"Câu
Chánh Nghiệp cũng là quá bự - Dầu nghề chi làm việc ngay đường -
Ta đừng nên theo kẻ bất lương - Học ngón xảo để lừa đồng loại".
(dòng 23 tới 26, trag 107)
Luận giải:
Việc làm chánh đáng
ngay thẳng là điều vô cùng quan trọng, phải được đặt ra,
dùng lý trí, gạn hỏi lương tâm để cân nhắc kỹ lưỡng trước khi chọn
một việc làm hay một nghề nghiệp. Không nên vì sự sống còn của
mình, của gia đình mà nhận bất cứ việc làm nào xét ra có hại cho
người khác, chẳng hạn như chế bán rượu, ma túy, nuôi gái bán thân,
cho vay nặng lời, đào tường khoét vách trộm cắp, mánh mung lường
gạt hay phải giết hại nhiều sanh mạng thú vật …
-- *** --
84.-"Chánh
Tinh Tấn dầu thành hay bại - Cứ một đường tín ngưỡng của mình -
Dầu cho ai phá rối đức tin - Ta cũng cứ một đàng đi tới
".
Luận giải:
(dòng 27 tới 30, trang 107)
Tín ngưỡng chơn
chánh và quyết tâm đi tới.
Chúng ta đã tu Phật thì phải có tinh thần Bi - Trí -
Dũng: Bi là cứu khổ thương yêu - Trí là sáng
suốt - Dũng là sức mạnh của ý chí, của tinh thần để vô hiệu
hoá bất cứ sự cám dỗ nào của ma quỉ hay của tội ác. Không có Bi
là sai tôn chỉ của đạo Phật; thiếuTrí thì dễ sa ngã, dễ nản
lòng thối chí; không có Dũng là không thể thắng được chính
mình, khó giữ vững ý chí thì làm sao đi đến mục tiêu giác ngộ.
-- *** --
85.-"Mục
Chánh Mạng chúng sanh ơi hỡi - Cho hồn linh cai quản châu thân -
Lấy chơn nhơn dẹp tánh phàm trần - Mới có thể mong về Cực Lạc".
(dòng 31 tới 34, trang 107)
Luận giải:
Giữ đời sống chơn
chánh, cách sống trong sạch.
Con người ở đời
thường quen nuôi dưỡng xác thân, chính sự nuôi dưỡng quá mức khiến
thân xác béo phì thành ra chậm chạp và trí óc vì đó càng ngày càng
u mê ngu tối. Đạo Phật là tôn giáo phát triển tinh thần, ta phải
dùng ý chí dứt bỏ cuộc sống xa hoa, không quá nuôi dưỡng thân xác,
giữ lòng trong sáng, diệt trừ vọng niệm, dục tính. Khi tâm không
loạn động, hoàn toàn trống vắng, chơn tánh hiện ra, bấy giờ ta đã
bước được vào ngưỡng đời Cực Lạc.
Nghĩa chữ khó:
Chơn nhơn:
tánh ngay thật, hiền lành sẵn có của mỗi người. Theo nghĩa nhà
Phật, chơn nhơn là cái thiệt thân trong giả thân. Nói cách khác,
là sự sáng suốt, tánh Phật sẵn có ở mỗi người.
Cực lạc: tột cùng
yên vui. Cõi Cực Lạc của Đức Phật Di Đà hoàn toàn
trong sạch yên vui.
Hồn linh, hay
linh hồn, hoặc thần thức, phần tinh túy
quản trị thân thể người sống kẻ chết.
Phụ giải:
Tinh túy: phần
tốt nhứt, được gạn lọc, quý báu nhứt.
Phát triển: mở
mang, mở rộng thêm ra.
Vọng niệm: tưởng
nghĩ lung tung, nhớ điều sai quấy.
Dục tính: tánh
ham muốn.
-- *** --
86.-"Câu
Chánh Ngữ lòng son ghi tạc - Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường -
Nói những điều đức hạnh hiền lương - Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi
- Việc tráo chác ấy là nguồn cội - Lời xảo ngôn do đó mà ra - Kinh
nghiệm rồi ta mới diễn ca".
(dòng 35 - 36, trang 107- dòng 1-5, trang 108)
Luận giải:
Lời nói chơn chánh,
thật tình là
một trong những cách hành đạo của người tu Phật. Hãy giữ lời nói
lúc nào cũng đúng với sự thật, tránh xảo ngôn dối trá; không nói
những lời thô lổ cộc cằn; không nói những lời hung dữ ác độc hay
chưởi rủa. Khi bàn luận bất cứ việc chi cũng phải nói rõ ràng ngay
thẳng. Với kẻ dưới người trên lời lẽ luôn dịu dàng, lễ độ, hiền
hòa, đúng với tinh thần đạo đức.
Nghĩa chữ khó:
Đức hạnh: Đức:
đạo đức nghiêm chỉnh, tánh ngay thẳng, lòng dạ hiền hoà, làm mọi
việc lành. Hạnh: cố gắng sửa mình, giữ gìn đạo lý,
xa điều dữ, thương giúp người nghèo khổ, hoạn nạn, tánh hoà dịu,
lễ độ.
Tráo chác: lừa
dối, gạt gẫm, điêu ngoa xảo quyệt (xảo ngôn - bịa đặt, gạt lừa một
cách khéo).
-- *** --
87.-"Câu
Chánh Niệm thiết tha nhiều nỗi - Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi
- Phải làm tròn các việc vẹn toàn - Dân chớ nên làm bướng làm càn
- Trong lúc ấy niệm cho lấy có".
Luận giải:
(dòng 6 tới 10, trang 108)
Ghi nhớ sự chơn
chánh. Con
người có quá nhiều lo nghĩ, nhớ tưởng: nào sự mất còn, thành bại,
thương ghét, lợi danh, uy quyền, tiền của, tình cảm ... vì mãi suy
tưởng nên lòng mất an vui mới bị phiền não ngăn che làm chơn tâm
mờ ám, khi tâm yên lặng vọng niệm mới không sanh, bụi trần không
vướng. Nói dễ, làm rất khó. Bởi vậy cần có một niềm tin mãnh liệt,
một ý chí vững vàng tập sửa từ từ; nghĩ suy cân nhắc trước khi làm
việc gì, đừng làm càn làm bướng, nhứt là trong khi cầu nguyện đừng
để “tâm đi lang thang” mà thêm tội.
-- *** --
88.-"Mục
Chánh Định thiệt là rất khó - Giữ tấm lòng bất động như như - Cho
hồn linh yên lặng an cư - Thì mới được huờn nguyên phản bổn - Tà
với chánh còn đương trà trộn - Người muốn tu phải sớm lọc lừa".
Luận giải:
(dòng 11 tới 16, trang 108)
Suy gẫm chơn chánh
điều này
rất khó. Rán học hiểu lý vô thường, giữ tâm không loạn động, phẳng
lặng như mặt nước hồ thu, nhờ vậy thần thức mới an cư trong
con người chơn thật. Kinh Bồ Tát Giới chép: “Bổn
tánh của ta tự nhiên thanh tịnh”. Có yên tĩnh mới thấy tánh
Phật, thấy tánh Phật là thành Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Bất động như như:
trước ngoại cảnh lòng không dao động, yên lặng hoàn toàn.
Huờn nguyên phản bổn:
trở lại nguồn gốc cũ, tức tánh chơn thật của mình (tánh Phật sẵn
có)
Phụ giải:
Vô thường:
tất cả chúng sanh và loài vật đều không chừng, không bền vững, có
đó mất đó.
Thần thức:
linh hồn.
An cư: ở
yên.
-- *** --
89.-"Tứ
Diệu Đề ai có mến ưa - Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa - Chữ Tập Đề
nay đà mở cửa - Để đem vào khuôn khổ người hiền - Rán cực lòng một
bước đầu tiên - Sau mới được làm nên Phật Thánh - Về Thượng giái
cõi Tiên mới bảnh".
(dòng 17 tới 23, trang 108)
Luận giải:
Tứ Diệu Đề
tức bốn chơn
lý mầu nhiệm của Đức Phật dạy, Chơn lý thứ nhứt: Tập Đề,
là nguồn gốc đau khổ của kiếp nhơn sanh. Con người ham sống vốn để
hưởng thụ. Để thoả mãn lòng ham muốn phải có quyền thế, vì ham
quyền thế, ham vui, ham sống chính là nguồn gốc của mọi đau khổ.
Nếu biết cuộc đời là giấc mộng và thân xác này phải có ngày tan rã,
không giữ được lâu bền, vậy tại sao ta không tìm cách tiêu diệt
cái nguồn gốc của các đau khổ đó để thoát nẻo luân hồi, sống vững
bền trong an lạc.
-- *** --
90.-"
Đến Diệt Đề
trừ vật dục xưa - Cõi hồng trần các việc mến ưa - Sự giả tạm ta
nên rứt bỏ".
(dòng 24 tới 26, trang 108)
Luận giải:
Phương pháp diệt
khổ, đã
biết đời sống là giấc mộng và thân xác này cũng giả tạm, ta nên
vận dụng trí sáng suốt cương quyết dẹp bớt lòng ham muốn rồi lần
hồi dứt bỏ hẳn.
-- *** --
91.-"Muốn
tâm tánh ngày kia sáng tỏ - Thì Khổ Đề phải chịu nhọc nhành - Lòng
dục tu thì phải thiệt hành - Chớ đừng có ham điều sung sướng".
(dòng 27 tới 30, trang 108)
Luận giải:
Khổ Đề:
Đức Phật nói rằng tất cả chúng sanh trong cõi trần này chịu muôn
ngàn điều khổ não không sao kể xiết, nhưng có thể tóm lại tám
điểu, vì trong tám điều này có thể nảy ra muôn ngàn sự khổ não
kia, đó là: Sanh khổ, Già khổ, Bịnh khổ,
Chết khổ, Cầu không thành khổ, Biệt ly khổ,
Oán ghét gặp nhau khổ và Ưu sầu lo ngại khổ. Muốn tu
thì đừng ham điều sung sướng, phải tìm hiểu và thi hành đúng lời
Phật dạy, cương quyết bứng hết gốc rể phiền não trong tâm mình,
giữ lòng yên tĩnh sạch trong thì tánh Giác mới lần hiển lộ.
-- *** --
92.-"Đức
Phật Tổ nào đâu hẹp lượng - Chịu nhọc nhằn mới rõ Đạo Đề -Thấy một
đàng thẳng bẳng mà mê - Ôi chừng đó mới là mầu nhiệm - Mùi đạo
diệu chúng dân rán kiếm - Trễ thời kỳ khó gặp được Ta".
Luận giải:
(dòng 31 tới 36, trang 108)
Đạo Đề
là con đường Đạo để
trừ khổ. Người tu Phật muốn diệt khổ phải thi hành đúng lời Phật
dạy, chừng nào thắng được chính mình, giữ lòng trong sáng, tâm ý
phẳng lặng cho trí huệ phát sinh, bấy giờ mới thấy đường giải
thoát của Phật vô cùng mầu nhiệm. Người khuyên chúng dân
sớm lo tu kẻo trễ hạn kỳ, chừng ấy khó thấy được Người.
93.-"Rồi
hành luôn Bát Nhẫn mới là - Thì muôn việc đều an bá tuế
".
(dòng 1 và 2, trang 109)
Luận giải:
Rồi thi hành luôn tám
điều Nhẫn thì muôn việc đều an vui tốt đẹp.
-- *** --
94.-"
Chữ thứ nhứt Nhẫn Năng Xử Thế - Là người hiền khó kiếm trong đời -
Lập thân danh tuần trải nơi nơi - Chờ thời đại mới là khôn khéo -
Chữ Nhẫn Giái trì tâm trong trẻo - Khuyên dương trần giữ phận làm
đầu - Nhẫn Hương Lân cùng khắp đâu đâu - Trên cùng dưới đều hòa ý
hỉ - Nhẫn Phụ Mẫu gọi trang hiền sĩ - Phận xướng tùy chồng vợ nhịn
nhau - Nhịn xóm chòm cô bác mới cao - Nhẫn Tâm nọ ngày ngày an lạc
- Nhịn tất cả những người tuổi tác - Nhẫn Tánh lành yên tịnh dài
lâu - Giữ một lòng hiền hậu mới mầu - Quanh năm cũng bảo toàn thân
thể - Chữ Nhẫn Đức kể ra luôn thể - Thì trong đời vạn sự bình an -
Chữ Nhẫn Thành báu quí hiển vang - Khắp bá tánh được câu hòa nhã".
(dòng 3 tới 22, trang 109)
Luận giải:
Thứ nhứt,
biết nhẫn nhường trong cách xử thế đó là đúng mẫu của người
hiền, còn việc lập thân danh cũng vậy, biết chờ đợi đúng thời cơ
mới là người khôn khéo. Thứ hai là Nhẫn Giái, người
tu phải gìn giới luật, giữ tâm thẳng ngay, trong sáng. Thứ ba
là Nhẫn Hương Lân, ở với xóm chòm cô bác cùng khắp đâu đâu,
trước hết nên giữ phận mình, lễ phép dịu dàng, biết nhường nhịn
nhau để trên dưới cùng được sống an bình vui vẻ. Thứ tư là
Nhẫn Phụ Mẫu, hiếu thảo, kính nhường, không làm cha mẹ buồn
lòng đó là bổn phận con hiền; vợ chồng tương kính, trước cũng như
sau, chồng nói vợ nghe, vợ khuyên chồng sửa tánh, gia đình đó mới
thật sự hạnh phúc. Thứ năm là Nhẫn Tâm, kính trọng
người cao tuổi, giữ tâm trong sáng, xa lánh chốn lợi danh mới
thanh thản an vui. Thứ sáu là Nhẫn Tánh, lúc nào
cũng sống thẳng ngay, ăn ở hiền lành, giữ gìn thân thể. Thứ bảy
là Nhẫn Đức, biết lấy đức báo oán, biết lấy đức dung
thứ cho người, giúp đỡ người cũng như với sanh vật bằng tình
thương chơn thật, đời sống đó chắc chắn lúc nào cũng an vui.
Thứ tám là Nhẫn Thành, thành thật trong tư tưởng, thành
thật với mọi người, tánh tình đó thật là cao quí, nếu ai ai cũng
biết Nhẫn Thành thì khắp mọi nhà đều thuận hoà vui vẻ.
-- *** --
95.-"Câu
đạo đức bay mùi thơm lạ - Muốn nếm thì phải rán sưu tầm - Các Đạo
tà mưu khéo âm thầm - Dân rán tránh kẻo lầm mà khổ - Chúng nó
xuống khuyên răn nhiều chỗ - Dùng phép mầu loè mắt chúng sanh - Ai
ham linh theo nó tập tành - Sa cạm bẩy khó mong sống sót
". (dòng 23 tới 30, trang 109)
Luận giải:
Người đời kính trọng
những vị tu hành đạo cao đức trọng và tiếng thơm đó lan rộng khắp
nơi, muốn được vậy, phải rán tìm Đạo chánh mà theo, đừng thấy ai
khoe tài phép, cùng bùa chú linh thiêng rồi ham mà không đắn đo
cân nhắc, chẳng tìm hiểu rõ ràng vội chạy theo, chừng sáng mắt ra
biết đó là tà đạo thì ăn năn không còn kịp.
Nghĩa chữ khó:
Cạm bẩy:
cách sắp xếp lừa người lọt vào vòng nguy hiểm.
-- *** --
96.-"Ta
chẳng phải dùng lời chuốt ngót - Mà làm cho dân chúng say mê - Nẻo
chánh tà biện luận nhiều bề - Cho bá tánh tìm nơi cội gốc - Lựa
cho phải kèo xưa danh mộc - Đừng để lầm thợ khéo sơn da - Thì sau
này đến lúc phong ba - Dông gió lớn cột kèo khỏi gảy".
Luận giải:
(dòng 31- 36, trang 109 và
1-2, trang 110)
Đây không phải những
lời trau chuốt cho dân chúng mê thích, Người phân tách rõ
ràng sự việc cho kẻ dương trần dễ dàng nhìn rõ nẻo chánh đường tà
hầu chọn đúng nguồn đúng gốc. Giống như việc cất nhà, phải lựa cây
quí, tốt làm cột làm kèo mới không sợ giông bão; nếu không chọn kỹ
lưỡng, cứ dùng cây tạp xấu rồi nhờ thợ khéo sơn bên ngoài, tuy
nhìn đẹp mắt, nhưng gặp dông to gió lớn cột kèo gảy hết.
Nghĩa chữ khó:
Danh mộc: cây
quí, thịt đắng và cứng, sâu mọt khó ăn.
Kèo: cây
bắc dốc dốc từ đầu cột cái xuống đầu cột con để gác đòn tay.
Phong ba:
gió và sóng. Phong: gió. Ba: sóng.
-- *** --
97.-"Thấy
sanh chúng nhiều người khờ dại - Chẳng biết gìn phong hóa lễ nghi
- Nên Ta đem đạo đức duy trì - Gìn tục cổ để người chẳng rõ - Còn
chậm chạp Đạo mầu chưa tỏ - Như rừng hoang mới dọn một đường -Tớ
với Thầy nào quản thân lươn -Muốn cứu thế sá chi bùn trịn".
Luận giải:
(dòng 3 tới 10, trang 110)
Dân chúng phần đông
thiếu hiểu biết nên không giữ gìn phong hóa lễ nghi, Người
phải giảng giải để bảo tồn nền đạo đức và những gương hay đẹp của
Tổ tiên. Về Phật đạo, vì thế nhân còn mê, không thể một sớm một
chiều hiểu được giáo lý cao sâu của Đức Thế Tôn, nên việc dạy đạo
khác gì khai mở lối đi giữa rừng hoang, để vượt qua khó khăn đó,
Thầy trò Người lắm phen phải uốn mình như thân lươn, chẳng
kể chi bùn với trịn.
Nghĩa chữ khó:
Phong hóa:
phong tục tập quán, nếp sống của một xã hội.
Duy trì:
giữ gìn không để mất.
Tục cổ:
phong tục xưa.
Thân lươn:
con vật sống ở hang dưới nước hay dưới lớp bùn trịn dày. Thân thon
dài giống rắn nhưng không vảy, da nhớt và đen, bụng trắng hay vàng.
Bùn trịn:
bùn sình. Bùn
là loại đất nhão. Trịn là loại sình lỏng, nhầy
nhụa.
Phụ giải:
Phong tục:
lối sống, thói quen lâu ngày thành nề nếp được mọi người công nhận.
Tập quán:
theo thói quen tốt trong đời sống, lâu ngày được mọi người làm
theo, thành ra một lệ vững chắc của địa phương.
-- *** --
98.-"Thương
quá sức nên Ta bịn rịn - Quyết độ đời cho đến chung thân - Nếu thế
gian còn chốn mê tân - Thì Ta chẳng an vui Cực Lạc - Dạy bổn đạo
lấy lời đích xác - Mà chẳng tu là bởi không ưa - Chớ nước sâu mà
bị gàu thưa - Dân đông đảo lời truyền chẳng xiết - Nên phải tạm
mượn cây ngòi viết - Đem Đạo mầu như hạn cho mưa - Đặng tố trần
tâm ý Người Xưa - Chữ thậm thâm trong kinh Phật Giáo
".
Luận giải:
(dòng 11 tới 22, trang 110)
Quá thương đời, Người
quyết cứu độ thế nhân cho đến khi không còn một chúng sanh nào
mê muội mới về Cực Lạc nghĩ ngơi. Người giảng dạy Đạo bằng
những lời lẽ rõ ràng dễ hiểu, nếu ai đó không chịu tu là bởi lòng
không ưa không thích. Dân chúng quá đông, không gian quá rộng, khó
dùng lời truyền bá đến được khắp nơi, khác nào ao nước sâu mà chỉ
tát với một chiếc gàu thưa, thì cần phải có thời gian dài mới tát
được hết nước, nên phải mượn thêm viết mực chuyên chở ý nghĩa cao
sâu của đạo Phật vào khắp thế gian như trận mưa rào sau những
tháng năm dài khô hạn, đó là tâm ý và nỗi lòng tha thiết của
Người cững như của những vị Bồ Tát khác.
Nghĩa chữ khó:
Mê tân: bến mê,
chỗ làm cho người ta sai lầm.
Thậm thâm: cao
sâu.
Tố trần: phơi bày
rõ ra.
-- *** --
99.-"Nền
chơn lý chúng chê rằng láo - Mà nào Ta có lợi dụng ai - Trong bá
gia nhiều ít lòng chay - Để giữ trọn trong nền Phật Pháp - Gìn
giới cấm sửa tâm ô tạp - Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà - Nhớ từ
bi hai chữ ngâm nga - Dầu làm lụng cũng là trì chí
". (dòng 23 - 30, trang 110)
Luận giải:
Chơn lý cao sâu của
Phật giáo bọn vô thần cho rằng láo, nhưng nghe hay không Người
nào có lợi dụng ai đâu. May là trong đời còn ít nhiều người
lòng dạ hiền lương, biết tu tỉnh, sửa tâm nghiêm cẩn giữ gìn giới
luật đạo. Muốn niệm Phật phải chánh tâm thành ý, dẹp bỏ lòng tà,
dầu làm lụng cũng luôn niệm nhớ công đức từ bi của Phật, rán bền
lòng đừng xao lãng.
Nghĩa chữ khó:
Ô tạp: Ô:
dơ bẩn, không trong sạch. Tạp: nhiều thứ, nhiều
loại lẫn lộn.
-- *** --
100.-"Chờ
Thiên Địa châu nhi phục thỉ - Như đời xưa có gả Tử Phòng - Xem
thời cơ người đã rõ thông - Dùng tôi thiểu mà an bá tánh".
Luận giải:
(dòng 31 tới 34, trang 110)
Chờ Trời Đất làm cuộc
đổi đời, như ngày xưa Trương Tử Phòng biết dùng người tài giỏi và
thông suốt thời cơ, chỉ thổi một khúc tiêu mà phá tan giặc mạnh.
Nghĩa chữ khó:
Châu nhi phục thỉ:
Châu: châu vi, vòng tròn. Phục thĩ: trở lại
ban đầu. Chỉ việc Trời Đất làm cuộc tận thế, lập lại thượng nguơn.
Xin xem
số 14.
Tử Phòng:
tức Trương Lương, quân sư của Lưu Bang (Trung Hoa 202 trước TC.-
220 sau TC) người tài trí. Biết dừng Hàn Tín làm Nguyên Soái và
đợi đúng thời cơ thổi một khúc tiêu làm tan rả hàng ngũ giặc. (tôi
thiểu: có nghĩa dùng ít người, cũng có nghĩa tiêu thổi, nếu nói
lái) .
-- *** --
101.-"
Đời vật
chất văn minh tranh cạnh
- Chữ lợi
quyền giựt giết lẫn nhau - Động lòng hiền chư Phật đớn đau - Cho
kinh sấm dạy răn trần thế".
(dòng 35-36, trang 110 – và 1-2 trang
111)
Luận giải:
Chư Phật đau lòng
thấy dương trần vì ham mê văn minh vật chất mà giành giựt giết hại
nhau không còn chút tình người, nên cho kinh và sấm ra đời mục
đích dạy răn nhân thế.
Nghĩa chữ khó:
Kinh: những
lời Đức Phật giảng giải được chư đệ tử gom kết lại thành tập.
Sấm:
xin xem số 78.
-- *** --
102.-"Nhìn
thấy chuyện gạo châu củi quế - Nghèo bạc vàng đạo đức cũng nghèo
-Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo - Nên phải bị kẻ hung khinh bỉ - Vì
bác ái nên thân Cuồng Sĩ - Phải chịu điều khổ hạnh sâu xa - Mong
cho đời gặp lúc khải ca -Trong bốn biển thái bình mới toại".
Luận giải:
(dòng 3 tới 10, trang 111)
Xuống trần dạy đạo
trong lúc vật giá mắc mỏ và thế nhân thì không những nghèo tiền
bạc mà còn nghèo luôn đạo đức, nên ngoài bao nỗi khó khăn cực khổ
trải qua Người còn bị kẻ hung dữ khinh khi, nhưng với tâm ý
cứu đời Người vẫn mong sao đời được sớm an vui và
bốn biển không còn loạn lạc mới toại lòng.
Nghĩa chữ khó:
Gạo châu củi quế:
gạo quí như châu ngọc củi mắc như cây quế. Chỉ vật giá quá mắc.
Nạn eo:
hoàn cảnh ngặt nghèo, hết sức khó khăn.
Khải ca: ca
khúc sau khi thắng trận. Nghĩa bóng chỉ bòa bình yên vui.
Cuồng sĩ:
kẻ Sĩ Khùng – Điên – ám chỉ
Người.
Thái bình:
yên ổn, không còn loạn lạc.
Toại: vừa
ý, thoả ý, vui lòng.
-- *** --
103.-"Phật,
Tiên, Thánh lòng nhơn hà hải - Những ước ao thế giới hòa
bình - Nên khuyên đời truyền bá sử kinh - Cho sanh chúng sửa mình
trong sạch - Giàu đổi bạn khinh khi kẻ rách - Là những câu trong
sách Minh Tâm - Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm - Thánh nhơn để nhiều
câu hữu lý
". (dòng 11 tới 18, trang 111)
Luận giải:
Phật, Tiên, Thánh
lòng thương đời rộng như sông biển nên mong ước sao thế giới được
yên bình, vì vậy mới cho lưu hành nhiều kinh sử nhằm làm sống lại
truyền thống tốt đẹp của người xưa, dạy chúng sanh sửa tâm rèn
tánh, giữ gìn lòng trong sạch như những câu trong sách Minh Tâm về
đạo lý ở đời: "Giàu không nên khinh khi thay đổi bạn, sang cũng
đừng phụ bỏ vợ hiền". Lời dạy của Thánh nhơn rất là chí lý.
Nghĩa chữ khó:
Lòng nhơn hà hải:
lòng thương người rộng như sông biển.
Sách Minh Tâm
có hai câu:“ Tào khang chi thê bất khả hạ đường - Bần tiện chi
giao mạc khả vong”. Tạm dịch: Vợ cưới khi còn ăn tắm mẳn không nên
bỏ ở nhà sau – Anh em chơi với nhau từ thuở nghèo chẳng nên quên.
Phụ giải:
Truyền thống:
thói quen, nền nếp tốt đẹp được lưu giữ từ đời này qua đời khác.
Tào khang:
tắm mẳn.
-- *** --
104.-"Có
mấy kẻ ăn năn xét kỹ ?- Mãi ỷ tài chê bướng chê càn - Thì ngày sau
đừng có trách than - Những tội lỗi của mình tạo lấy - Bị háo thắng
việc người không thấy - Rồi mảng lo gièm siễm nhiều lời - Vì vậy
nên tình nghĩa xe lơi - Đâu gần gũi mà tìm diệu lý
".
Luận giải:
(dòng19 tới 26, trang 111)
Người đời vì ỷ tài
thường háo thắng, coi dưới mắt không ai bằng mình, gặp dịp là chê
bướng, chê càn, gièm siễm lời này tiếng nọ, không chịu lắng lòng
suy xét kỹ để tìm ra những lầm lỗi của mình hầu ăn năn sửa đổi, vì
vậy nên tình nghĩa giữa bạn bè, cũng như với chòm xóm ngày càng
thêm chia cách, xe lơi, đâu còn thân thương gắn bó để cùng nhau
đổi trao, chia xẻ điều hay ý đẹp.
Nghĩa chữ khó |