|
LUẬN GIẢI
ÍT DÒNG CẢM NGHĨ
- *** --
Bình
luận các tác phẩm lớn trên văn đàn Việt Nam mà không đề cập đến
Quyển KHUYẾN THIỆN là một thiếu sót đáng tiếc.
Có đọc
kỹ ta mới thấy KHUYẾN THIỆN xứng đáng xếp hàng đầu những
tuyệt phẩm ...
Với 756
câu thơ, nặng tính giáo dục, nhứt là thuộc đề tài Phật học, lời
văn mượt mà ý thơ trong sáng, Đức HUỲNH GIÁO CHỦ dẫn dắt
cảm quan người đọc thấm nhập vùng tâm linh huyền diệu, lâng lâng
rung cảm một cách nhẹ nhàng …
Chúng
ta thử đọc hai câu mở đầu tác phẩm viết hơn 65 năm
trước:
… " Băng tâm
ngẫu hứng thừa nhàn,
Theo đòi nghiên bút luận bàn tục tiên …"
vài nét
chấm phá đủ hình dung một bực phong tư tiêu sái nhưng lòng vẫn tha
thiết với nỗi thăng trầm thế sự ...
… " Đêm thanh
hiên nguyệt dựa kề
Nhìn xem thế sự não nề tâm can …"
đã xem
danh lợi như bọt nước làn mây …
… " Từ ta nương chốn Phật đàng,
Dứt tâm trần cấu chẳng màng vinh huê …"
nhưng
lòng từ bi xót xa trước cảnh thế nhân vì vô minh phải lăn lộn
trong vũng lầy tội lỗi, ngụp lặn giữa chốn trầm luân, nên
Người khoác sòng nâu xông thuyền Giác vào cõi ta bà
...
… " Buổi lố lăng Phật giáo suy đồi
Kẻ
tu hành ai nỡ yên ngồi
Mà sớm kệ chiều kinh thong thả ..."
Đức
Huỳnh Giáo Chủ đưa người đọc ngược dòng thời gian hơn hai mươi lăm
thế kỷ tán thán công đức bao la một bực vĩ nhơn, một đấng cứu thế
từ ngoài cõi tử sanh mượn nhục thân vào chốn ta bà chung chịu khổ
đau với người đời để tìm phương cứu độ chúng sanh thoát cảnh trầm
luân, ra khỏi vòng sanh tử luân hồi… Nhân đấy, Đức Huỳnh Giáo Chủ
hướng dẫn người học Phật thấy, hiểu cái chân lý tối thượng của Tứ
Diệu Đề và Bát Chánh Đạo là phương thức diệt Tam nghiệp, Bát khổ,
Ngũ trược, Thập tam ma, cũng như Thiền Định giúp hành giả sáng
suốt thực hiện pháp tông Tịnh độ.
Thiển
nghĩ, nội dung Quyển Khuyến Thiện của Đức Thầy hàm chứa trọn vẹn
căn bản giáo lý của Phật Giáo Hòa Hảo, thực hành đúng đạo lý này,
người học Phật chắc chắn xây dựng cho bổn thân được một tình
thương rộng rãi, một trí huệ thông thoáng, một ý chí kiên cường và
một nghị lực vững mạnh. Với nhận thức đó, chúng tôi cố gắng thực
hiện phần luận giải này, theo suy nghĩ và sự hiểu biết có giới hạn
của mình, như một đóng góp nhỏ vào hành trang tu học trân trọng
gởi về Quý Đồng Đạo thân thương.
Kính
mong được Quý Đồng Đạo và các bực cao minh vui lòng chỉ dẫn những
sai lầm và bổ khuyết phần thiếu sót, chúng tôi vô cùng cảm
kích.
Hồ Minh Châu.
SẤM GIẢNG
KHUYẾN THIỆN
Số
ghi ở đầu câu chỉ thứ tự của phần chú giải
-- *** --
1.- Băng
tâm ngẫu hứng thừa nhàn,
Theo đòi nghiên bút luận bàn Tục,
Tiên.
2.- Ta
là cư sĩ canh điền,
Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu
hành.
3.- Xa
nơi tranh đấu lợi danh,
Giữ lòng thanh tịnh tánh lành
trau tria.
Gắng công trì niệm sớm
khuya,
Thân tuy còn tục tâm lìa cõi
mê.
4.- Chí
toan gieo giống Bồ Đề,
Kiếm người lương thiện dắt về Tây
Phang.
Dạy khuyên những kẻ ngỗ
ngang,
Biết câu Lục tự gìn đàng Tứ
ân.
5.- Ở
trần xử trọn nghĩa nhân,
Quyết làm tôi Phật gởi thân
Liên Đài.
Cầu cho mối Đạo hoằng
khai,
Cầu cho trăm họ Bồng Lai
được gần.
6.- Sớm về cõi Phật an thân,
Kẻo kiếp phong trần dày
gió dạn sương.
Phật đài phưởng phất mùi
hương,
Cúi đầu đảnh lễ cậy
nương đức mầu.
7.-
Từ bi oai lực nhiệm sâu,
Độ con thoát chốn ưu sầu
trần ai.
Nam mô Thích Ca Như
Lai,
Ta Bà Giáo Chủ xin Ngài
chứng minh.
8.- Dưới đây lược tả sách kinh,
Cho trong nam nữ hữu
tình thì coi.
Lời lành của Phật truyền
roi,
Đọc qua suy
nghiệm xét soi chánh tà.
THI
9.- Tiếng kệ từ bi quá diệu trầm,
Diệt lòng tham vọng diệt
thinh âm.
Trần gian say đắm theo
màu sắc,
Tịnh độ giác thuyền trị
dục tâm.
10.- Phải rõ nghiệp duyên trần cấu
tạo,
Nghe
rành chánh pháp thoát tà dâm.
Phù
sanh nhược mộng đời lao khổ,
Tỉnh
trí tu thân khỏi lạc lầm.
11.- Hào quang chư Phật rọi mười phương,
Đạo
pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên
chú nghĩ suy từ nét dấu,
Cố công gìn giữ tánh thuần lương.
KỆ
12.- Lòng quảng ái xót thương nhân chủng,
Buổi lố lăng Phật Giáo suy đồi.
Kẻ tu hành ai nỡ yên ngồi,
Mà
sớm kệ chiều kinh thong thả.
13.- Mình đã gặp con thuyền Bát Nhã,
Có lý nào ích kỷ tu
thân.
14.- Phật Tổ xưa còn ở nơi trần,
Ngài gắng
sức ra công hoằng hóa.
Nền Đại Đạo
lưu thông khắp cả,
Bực tiên
hiền đều trọng Phật gia.
15.- Rèn dân bằng giáo thuyết bình hòa,
Giống bác ái
gieo sâu vô tận.
Sau nhằm
buổi phong trào tân tấn,
Đua chen
theo vật chất văn minh.
Nên ít người
khảo xét kệ kinh,
Được dắt
chúng hữu tình thoát khổ.
16.- Thêm còn bị lắm phen giông tố,
Lời tà sư ngoại đạo gieo
vào.
Cho nhơn sanh trong dạ núng
nao,
Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh
mẽ.
17.- Dùng thế lực dùng nhiều mánh khoé,
Cám dỗ người đặng có khiến
sai.
Chúng nằm không hưởng của
hoạnh tài,
Để khốn khổ mặc ai trối
kệ.
18.-
Mắt thấy rõ những điều tồi tệ,
Tai thường nghe lắm giọng ru
người.
Thêm thời này thế kỷ hai
mươi,
Cố xô sệp thần (thánh) quyền
cho hết.
19.- Người nhẹ dạ nghe qua mê mết,
Rằng: nên dùng sức mạnh cạnh tranh.
Được lợi
quyền lại được vang danh,
Bài xích kẻ
tu hành tác phước.
20.- Làn sóng ấy nhiều người đón rước,
Dục dân tâm
sôi nỗi tràn trề.
Cổ tục nhà
phỉ báng khinh chê,
Cho tôn giáo
là mùi thuốc phiện.
21.- Ai nếm vào ắt là phải nghiện,
Chẳng còn lo
trang võ đấu chinh.
Lấy sắc thân
dẹp nỗi bất bình,
Bỏ đức tính
của câu nhơn quả.
22.- Dầu ai có bền gan sắt đá,
Cũng động
lòng trước cảnh ngửa nghiêng.
Đạo diệu mầu
gặp lúc truân chuyên,
Phận môn đệ
phải lo vun quén.
23.- Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,
Người không
lo có thẹn hay chăng?
24.- Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng,
Với tín nữ
thiện nam Phật Giáo.
Nên cố gắng
trau thân gìn Đạo,
Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành.
Làm cho đời
hiểu rõ thinh danh,
Công đức
Phật từ bi vô lượng.
25.- Đồng dẹp bớt âm thinh sắc tướng,
Lo chấn hưng
Phật Pháp mới là.
Nói cho đời
hiểu Phật Thích Ca,
Lòng tự giác xả thân tầm Đạo.
26.- Ta cũng chẳng hoàn toàn thông thạo,
Nhưng phân cùng bổn đạo xa gần.
Có một điều
già trẻ ân cần,
Là phải biết nguyên nhân Phật Giáo.
27.- Hồi thế kỷ khoảng trong thứ sáu,
Trước kỷ
nguyên tây lịch thời xưa.
Pháp Giáo
chưa biệt lập tam thừa,
Thuở Trung Quốc nhà Châu Chiêu
Đế.
28.- Bên Ấn Độ thành Ca Tỳ La Vệ,
Có đức vua
Tịnh Phạn nhơn từ.
Khắp thần
dân lạc nghiệp an cư,
Trên chúa
thẳng tôi ngay phò tá.
29.- Đức Hoàng hậu Ma Da phong nhã,
Sắc đẹp dường
ngọc thốt hoa cười.
Một hôm kia vẻ
mặt vui tươi,
Đến trước bệ
tâu cùng thánh thượng.
30.- Rằng: Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
Của hoàng gia
cũng được vinh quang.
Kể từ nay thiếp muốn an nhàn,
Dưỡng tâm
trí lần xa thế trược.
Chẳng phiền
kẻ hầu sau đón trước,
Chỉ trừ
người ý hiệp tâm đầu.
31.- Xin một điều ở chốn long lâu,
Tập đức tánh
khoan dung đại độ.
Tránh tất cả
những điều thô lỗ,
Chẳng ưa gần
kẻ bạo ngang tàng.
Thiếp cúi
đầu ngưỡng vọng Thiên nhan,
Phê cho
thiếp những điều xin ấy.
32.- Vua nghe xong vội vàng đứng dậy,
Bèn chuẩn y
tỏ ý vừa lòng.
33.- Bà tâu thêm ở trước đền rồng,
Xin Thánh
thượng bao dung kẻ khó.
Lòng yêu dân
ví như con đỏ,
Tội giảm
tha, đói giúp cơm tiền.
Cứu dân
nghèo trong lúc đảo điên,
Lấy đức rộng
bủa trong bá tánh.
34.- Vua hứa chịu giúp người đói lạnh,
Bà lui về cung điện nghỉ ngơi.
35.- Đêm trăng thanh gió mát thảnh thơi,
Tiết hòa
thuận khắp nơi hoa nở.
Đức Hoàng
hậu trong lòng hớn hở,
Giấc chiêm
bao Bà thấy lạ lùng.
Bạch tượng
từ ở chốn không trung,
Bổng sa
xuống mình Bà hối hả.
36.- Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới
lạ,
Khắp phòng
huê thơm nức mùi hương.
Bà rảo chơn
bèn bước ra vườn,
Truyền thị
vệ thỉnh vua lai đáo.
37.- Vua y lời đến nơi hoa thảo,
Lại gần Bà
sao rất quái kỳ.
Tay chơn bèn
run rẩy một khi,
Muốn quì
xuống mắt dường tăm tối.
38.-
Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
Rằng ta mừng vua hữu thiện căn.
Sắp có con thế giới chẳng bằng,
Sau người ấy
lập nên Đạo cả.
39.- Vua nghe xong cúi đầu bái tạ,
Liền phán cùng Hoàng hậu Ma Da.
Có việc chi vội vã dời ta,
Khá nói lại đầu
đuôi tường tất.
40.- Bà thuật rõ chiêm bao trong giấc,
Xin vua vời ít
kẻ bàn giùm.
41.- Các thầy bàn được lịnh vào cung,
Nghe xong xả tâu rằng điềm quí.
42.- Ngày thắm thoát đông qua hạ chí,
Bà trổ sanh
Thái tử đẹp tươi.
Mặt trang
nghiêm khí phách hơn người,
Vua cùng khắp
thần dân mừng rỡ.
Họ Thích Ca từ
đây cũng ngỡ,
Sẽ có người nối
nghiệp hoàng gia.
Liền đặt tên là
Sĩ Đạt Ta,
Cả triều chính
treo hoa yến ẩm.
43.- Có nhà sư cách thành mấy dặm,
Thường ở ăn
trong sạch hiền từ.
Lòng thẳng ngay
chẳng có vị tư,
Đời thanh tịnh
gìn theo Đạo lý.
44.- Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ,
Hiểu thiên cơ
thấu mối diệu huyền.
Ông người Bà la
môn tiên,
A tư Đà tiên
hiền tên lão.
45.- Thời buổi ấy vua ưa người Đạo,
Bèn vào chầu
tâu trước bệ rồng.
Xin vua cho ông
bước vào trong,
Được yết kiến tử hoàng luôn thể.
46.- Ông xem xong bổng liền sa lệ,
Vẻ mặt buồn
chẳng thốt ra lời.
Thấy lạ lùng
vua bước đến nơi,
Liền phán hỏi
bảo ông phân rõ.
47.- Trước cung điện ông liền bày tỏ,
Rằng tử hoàng
chừng được thành nhơn.
Lìa đền đài khổ
cực chẳng sờn,
Tìm Đạo lý dắt
dìu sanh chúng.
Ngài sẽ được
thế gian ca tụng,
Chắc phần Ngài
quả Phật vẹn tròn.
Buồn vì tôi
tuổi lớn sức mòn,
Chẳng sống đặng
nghe lời Phật thuyết.
48.- Cả hồng trần đau thương thống thiết,
Nhờ Ngài mà
diệt nẻo luân hồi.
Vô phước nên
tủi bấy phận tôi,
Chớ chẳng có
điều chi lo ngại.
49.- Đức Hoàng hậu đến ngày thứ bảy,
Dứt nợ trần nên
vội qui tiên.
Có bà dì thay
thế mẹ hiền,
Giùm săn sóc
trông nom Thái tử.
50.- Khi lớn lên cho người dạy chữ,
Lúc vào trường
chẳng học mà thông.
Buổi trưởng
thành vua vẫn hằng mong,
Cho Thái tử
đừng lìa cung điện.
51.- Hội triều đình các quan lựa tuyển,
Nàng Du Gia
được chọn kết hôn.
Vua nghĩ rằng
muốn tâm yên ổn,
Chọn cung phi
mỹ nữ làm trò.
Cất đền đài
lộng lẫy đẹp to,
Ngày ca múa đêm
bày lơi lả.
52.- Lòng Thái tử cũng không xiêu ngả,
Ra khỏi đền du
ngoạn một khi.
Buổi đầu tiên
gặp những chuyện gì,
Gặp cụ lão tay
nương gậy chống.
Ngài xem qua
lòng bèn cảm động,
53.- Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.
Xét cõi trần
trong dạ héo xào,
Chi xiết nỗi
núng nao cõi tạm.
54.- Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm,
Được trông nhìn
kẻ chết đang khiêng.
Về đền đài cảm
xúc buồn riêng,
Hằng để trí tầm
phương giải thoát.
55.- Lần thứ tư vừa đi dạo mát,
Bổng gặp người
tốt đẹp trang nghiêm.
Nào dè đâu Trời
đã ứng điềm,
Giả tăng sĩ gợi
lòng Thái tử.
Ngài hiểu rõ ấy
là phận sự,
Phải xuất gia
tầm Đạo mau mau.
56.- Liền quày xe trở lại lai trào,
Xin Vương phụ lánh xa mùi thế.
Vua buồn thảm
dùng lời khóc kể,
Rằng: Cha già
biết cậy nhờ ai.
Khuyên con nên
ở chốn điện đài,
Lo nối nghiệp
sau tu chẳng muộn.
57.- Lòng Thái tử quyết theo ý muốn,
Thừa đêm khuya lén trốn vào
rừng.
58.- Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,
Thân chẳng sá xông pha bờ bụi.
Ngài thuở ấy
nên mười chín tuổi,
Tâm đại hùng
cương quyết tu trì.
Trải bao phen
lao khổ xiết chi,
Sau Ngài đến Rạch Ni Liên Thuyền.
59.- Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham thiền,
Ngồi khổ hạnh
sáu năm bên ấy.
60.- Đạo gần đắc Ma Vương theo khuấy,
Dùng thần thông
nghị lực dẹp tan.
Ấy mới vừa đắc
Đạo hoàn toàn,
Và lần bước phô trương độ chúng.
61.- Ngài bèn xét ở trong Phật
chủng,
Các chúng sanh
đều có như Ta.
Bị vô minh vọng
tưởng vạy tà,
Nên quay lộn Ta
bà cõi khổ.
Lòng thương
chúng thuyết phương Tịnh
độ,
Đặng dắt dìu
tất cả chúng sanh.
Nếu như ai cố
chí làm lành,
Chuyên niệm
Phật cầu sanh Phật Quốc.
Cả vũ trụ khắp cùng
vạn vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh.
Cứ nhứt tâm tín,
nguyện, phụng hành,
Được cứu cánh về nơi
an dưỡng.
62.-
Chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng,
Thoát mê đồ dứt cuộc
luân hồi.
Xét cõi trần sống khổ giạt trôi,
Vô lượng thứ ở trong thế giới.
63.-
Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại,
Ta bà khổ, Ta bà lắm
khổ.
Có bao người xét cho
tột chỗ,
Tịnh độ vui, Tịnh độ
nhàn vui.
64.- Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi,
Nào ai rõ cái vui
triệt đáo.
Vì phần Ta rất yêu
mến Đạo,
Chẳng nệ chi trí
siển tài sơ.
Lấy lời xưa kết
lại ít tờ,
Cho thiện tín rỗi
nhàn xem xét.
65.- Dứt mê tâm dứt điều hờn ghét,
Rán cần chuyên
niệm Phật làm lành.
Thường trau giồi
chí hướng cao thanh,
Cho khỏi thẹn con
lành Phật Giáo.
66.- Đức Thích Ca từ xưa dạy bảo:
Khổ Ta bà nhiếp
lại tám phần.
Bởi chúng sanh mang lấy xác thân,
Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.
67.- Vào bụng mẹ chung quanh bao bọc,
Có khác nào ở chốn
ngục tù.
Buổi mẹ đau huyết
kiệt hình thu,
Lúc mẹ đói dường
treo lỏng bỏng.
68.- Ta kể sơ những điều bi thống,
Mẹ no cơm chật
chội khó khăn.
Khi ra đời đau đớn
vô ngằn,
Cất tiếng khóc nếm
mùi dương thế.
69.- Đoạn Lão khổ thứ nhì xin kể,
Từ trẻ thơ đến
tuổi thành nhân.
Hết tráng cường
đến lúc mòn thân,
Răng lần rụng lưng
cong gối mỏi.
Nằm đi đứng đỡ
nưng chống chỏi,
Thử nghĩ coi lao
nhọc cùng chăng ?
70.- Đoạn thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
Đeo hành phạt xác
thân ô uế.
Bởi thời thế
chuyển xây biến thể,
Thêm uống ăn chẳng
được điều hòa.
71.- Là nguyên nhân căn bịnh phát ra,
Thân trằn trọc hôn
mê nhức nhối.
Cơn bịnh hoạn càng
không tránh nổi,
Còn mang thêm tật
nọ tật kia.
72.- Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
Đoạn Tử khổ thứ tư
phân giải.
Trên dương thế hữu
hình tắc hoại,
Có sanh ra khổ hải
đâu chừa.
Trải bao phen dãi
gió dầm mưa,
Ngày kiệt sức
huyễn thân tan nát.
73.- Gần hấp hối tâm thần xao xác,
Trí vẩn vơ kinh sợ
vô cùng.
Rồi mòn lần đến
lúc lâm chung,
Giã cõi tạm theo
đường tội phước.
74.- Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
Mà cũng không
thoát luật tuần huờn.
Dầu ẩn nơi cùng
cốc thâm sơn,
Chẳng trốn lánh tử
thần cho khỏi.
75.- Đoạn thứ năm nghĩ suy tìm tỏi,
Cầu Chẳng Thành những việc thích
ham.
Người trên đời ai cũng lòng
tham,
Muốn phước, thọ, phẩm, hàm, tiền của.
Nào vợ đẹp, hầu xinh, là lụa,
Không được thì bực tức ưu phiền.
Cả tâm thần điêu đứng đảo điên,
Vậy có phải khổ hay là chẳng ?
76.- Đoạn thứ sáu Biệt Ly cay đắng,
Người mình thương
bổng lại chia lìa.
Khi khóc than nước
mắt đầm đìa,
Lúc trông nhớ ruột
tằm chua xót.
Ở thế gian mấy ai
thoát lọt,
Nợ gia đình đeo
đắm căn duyên.
77.- Cơn nguy nghèo thân thể truân chuyên,
Kẻ lưu lạc người
chờ trông mãi.
Cuộc tan hiệp,
hiệp tan ân ái,
Đến xong đời để
lại sầu ưu.
Cái khổ này dầu
lắm trí mưu,
Cũng chung chịu
như người tăm tối.
78.- Đoạn thứ bảy khổ Oan-Tắng-Hội,
Hể thương nhau tất có ghét nhau.
Thường tranh đua
tiếng thấp lời cao,
Chẳng nhẫn nhịn
thành ra cừu oán.
Muốn tránh xa đừng
trông tâm dạng,
Cứ gặp nhau mắt
tựa kim châm.
Làm cho người đau
đớn âm thầm,
Khổ như thế diễn
ra mãi mãi.
79.- Đoạn thứ tám Ưu Sầu lo ngại,
Cuộc tang thương
dâu bể cảnh trần.
Nghèo thì lo một
nỗi nợ nần,
Lo đau đói liệu
cơn nhà rách.
Buồn duyên số phận
mình nhơ sạch,
Rầu gia đình chúng
bạn khinh cười.
Giàu thì lo chen
lấn với người,
Miễn cho đuợc đầy
rương đầy tủ.
80.- Của dương thế góp tom bảo thủ,
Sợ gian phi trộm
cướp rình mò.
Lo tước quyền cho
được thơm tho,
Sợ kẻ khó thiếu
tiền chẳng trả.
Ôi ! cả sang hèn
chẳng ai thong thả,
Sao nhơn sanh cứ
mãi đắm say.
81.- Chẳng tu thân đặng dựa Phật Đài,
Cho thong thả hưởng mùi sen báu.
Thần Thức nhập
Thai Sen tinh hảo,
Nên khỏi màng lo
nỗi khổ sanh.
82.- Thân thì Thân Công - Đức hiền lành,
Bất di dịch khỏi vì khổ lão.
Thể Thanh-Tịnh
thường không huyên
náo,
Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
83.- Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
Ta thoát cuộc lao
đao vì nó.
Đường sanh mạng
Phật, ta đồng thọ,
Tánh an nhiên bất
diệt trường tồn.
Tử thần kia đâu
dám dắt hồn,
Thoát luân chuyển
khỏi đeo khổ tử.
84.- Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
Không nhọc nhằn lo việc sanh nhai.
Trí yên nhàn nhìn
cảnh Phật Đài,
Khỏi quả khổ mưu
cầu bất đắc.
85.- Cả Hải Chúng thảy đều vững chắc,
Toàn dân lành đâu
có đắn đo.
Dứt ái ân quyến
thuộc chuyện trò,
Thoát sống khổ
thương yêu ly biệt.
86.- Chữ Hoà Thuận kể sao cho xiết,
Tâm đồng nhau
thượng thiện vui vầy.
Cảnh như như chẳng
có đổi thay,
Không màng biết
phân chia nhơn ngã.
Sẵn ngôi vị rành
phân thượng hạ,
Khỏi khổ câu oán
ghét gặp nhau.
87.- Thân tâm thường trụ hết rạt rào,
Chất thô trược
tiêu tan mất cả.
Cõi Tịnh độ lắm
điều thanh nhã,
Khổ, buồn, rầu,
lo, sợ chẳng còn.
88.- Chốn Ta bà tim lụn dầu mòn,
Thân tứ đại của
người cũng thế.
Mau thức tỉnh tu
thân kẻo trễ,
Đến tội rồi mới
hối muộn màng.
89.- Chi cho bằng ta sớm lo toan,
Gìn giới luật nghe
Kinh trọng Phật.
Đến lâm chung quả
lành đâu mất,
Cõi Tây Phương chư
Phật đợi chờ.
90.- Việc tu thân thiện tín hẫng hờ,
Chừng họa đến e
cho khó tránh.
Môn Tịnh độ là
phương cứu cánh,
Rán phụng hành kẻo
phụ Phật xưa.
91.- Lòng từ bi chẳng quản nắng mưa,
Xông thuyền giác
rước đưa sanh chúng.
Trong một nước
nhân tài hữu dụng,
Kẻ tu hành đa
phước thì nên.
Quyết trau thân
tánh hạnh cho bền,
Niềm ơn nghĩa toan
đền dứt nợ.
92.- Ao sen báu Tây phương đua nở,
Chờ chúng sanh
niệm Phật chí tâm.
Rán tu cho quỉ
khiếp thần khâm,
Được tâm phát Bồ
Đề vững chắc.
93.- Giữ đừng cho Ma Vương dẫn dắt,
Thường nhớ câu Đại Lực, Đại Hùng.
Thắng Thất Tình
giữ vẹn Đạo Trung,
Trừ Lục Dục chớ
cho ô nhiễm.
Thập Tam Ma diệt
bằng trí kiếm,
Rứt xong rồi vô sự
thảnh thơi.
94.- Biển hồng trần lao lý diệu vơi,
Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ Trược.
Thân hôi tanh
muổi, ruồi đón rước,
Thêm nhọt u, ghẻ
lác, phung cùi.
Đâu lúc nào toàn
vẹn yên vui,
Là Kiếp Trược, Ta
xin kể trước.
95.- Dòm việc quấy ngắm điều bạo ngược,
Mắt trông vào
những chỗ đê hèn.
Nào được xem cảnh
báu đài sen,
Nghĩa Kiến Trược
giải ra như vậy.
96.- Trí vẩn vơ tưởng đó nhớ đây,
Thiết mưu kế toan bề thắng thối.
Ghi thù oán chưởng
điều đáp đối,
Nên ma Phiền - Não
Trược đắm say.
97.- Chuyển luân trong nhân vật các loài,
Căn mờ ám làm điều
dại dột.
Chúng - Sanh
Trược, Ta đà kể nốt,
98.- Còn thứ năm là Mạng Trược trung.
Số giàu sang, họa
phước, bần cùng,
Giàu hoa nguyệt
thung dung cẩu thả.
Ưa đẹp mắt mến
điều mới lạ,
Sang oai quyền, hối lộ gần xa.
Nghèo a dua, bợ đỡ nịnh tà,
Khó trộm cướp cũng
là nhơ xấu.
99.- Nguyện cùng Phật dứt duyên trần cấu,
Phải trừ thêm thập
ác huyễn thân.
100.- Khuyên nữ nam suy nghiệm ân cần,
Ác nơi khẩu nhứt
là Lưỡng Thiệt.
Với người này dùng
lời tha thiết,
Đến kẻ kia đâm
thọc cho gây.
Khá chừa đi hương
đảng bớt rầy,
Dùng sự thiệt giải
bày tâm trí.
Mà cũng không
hưởng được lợi danh.
Sau rõ ra chúng
lại ghét ganh,
Chiêu cảm quả bất
lành thêm nữa.
102.- Ác thứ nhì Ỷ Ngôn chất chứa,
Đợi cho người lầm
lỗi xéo vày.
Của tiền nhiều tự
phụ rằng hay,
Chủ ỷ thế nhiếc
xài kẻ dưới.
103.- Lắc léo chi có ba tấc lưỡi,
Quan ỷ khôn mạt
sát dân ngu.
Nghèo ỷ lanh láo
xược lu bù,
Ôi ! thấy thế lòng
đau tợ cắt.
104.- Khuyên bá tánh giữ gìn cho chặt,
Đừng để cho quỉ dắt đường cong.
Dùng từ ngôn nói
tận đáy lòng,
Dầu trên dưới cũng không mấy khác.
105.- Chúng vô phước đời này dốt nát,
Người khôn ngoan
chỉ dẫn mới là.
Lời trang nghiêm
êm ái thốt ra,
Đừng bao biếm mới là nhơn thiện.
106.- Tới Ác Khẩu thứ ba bày biện,
Tiếng tục tằn thô
lỗ hung hăng.
Nào chưởi cha,
mắng mẹ lăng xăng,
Chẳng kể đến luân thường thảo hiếu.
107.- Hăm đánh giết những người hèn yếu,
Hiếp xóm chòm cô bác chẳng kiêng.
Trong gia đình chưởi rủa liên
miên,
Hết Dương thế kêu sang Thần Thánh.
108.- Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
Cõi Long cung mời thỉnh tối ngày.
Đời ám u tội trạng thảm thay,
Khuyên bá tánh bá gia rán bỏ.
109.- Gương tổ phụ còn roi lại đó,
Sao không theo nề nếp gia phong.
Chư Thánh Thần đâu có mất lòng,
Mà kêu réo Đông, Tây, Nam, Bắc ?
110.- Mấy câu trên toàn là ròng rặc,
Những đàn bà khe
khắc cháu con.
Kể từ nay phải
giữ cho tròn,
Không chừa dứt ắt mang tai ách.
111.- Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch,
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.
Tích thiện thì
thường có phước dư,
|