QUẢNG NINH
Nguyễn Thanh Liêm
Trước đây chúng ta đă có lần đi thăm Châu
Đốc, một tỉnh địa đầu vùng biên giới Miên Việt ở tận
phương Nam, lần này chúng ta sẽ đi thăm một tỉnh địa đầu
vùng biên giới Hoa Việt ở tận Miền Bắc. Đây là tỉnh
Quảng Ninh.
Nếu Châu Đốc thuộc về loại tỉnh mới nhất của Việt Nam
th́ Quảng Ninh là một trong những tỉnh xưa nhất của nước
ḿnh. Nó đă có và đă thuộc về nước ta từ rất xa xưa,
thuở Hùng Vương, qua nhà Thục, nhà Triệu. . . . qua bao
đời cho đến ngày nay. Tên xa xưa của nó là Hải Ninh, và
trong thời xa xưa đó Hải Ninh là vùng “viễn châu ác địa”,
là nơi mà các triều đại phong kiến xưa đày ải giam cầm
những kẻ có tội với triều đ́nh. Lùi xa hơn nữa trong
lịch sử loài người, th́ nơi này là một trong số một ít
nơi trên phần đất Việt Nam có người tiền sử sinh sống.
Nằm ở toạ độ từ 20o40’ đến 22o40’ vĩ độ Bắc, Quảng Ninh
giáp với tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ở phía Bắc (132
km cùng ranh giới), phía Đông là Vịnh Bắc Việt (có cùng
ranh giới trên biển với Trung Quốc), phía Tây là Lạng
Sơn, phía Tây Nam là các tỉnh Bắc Giang và Hải Dương,
phía Nam là tỉnh Hải Pḥng. Với diện tích gần 6,000 km2,
Quảng Ninh là một tỉnh lớn, đứng vào hàng thứ 21 trong
số 61 tỉnh hiện nay của Việt Nam. Dân số Quảng Ninh có
hơn 1 triệu người từ năm 1999. Quảng Ninh có vị trí địa
lư đặc biệt : đây là cửa ngơ quan trọng đi vào vùng sông
Hồng trù phú hay ra thế giới bên ngoài, đặc biệt là
Trung Quốc, có cảng biển quan trọng ở vùng Móng Cái, có
lợi thế về thị trường và giao lưu quốc tế. Nói đến Quảng
Ninh là phải nói đến các dân tộc thiểu số gốc từ Trung
Quốc sang định cư nhiều đời ở đây, đến các mỏ than và
các lán nơi sinh sống của những người phu mỏ, các làng
nổi hay làng đánh cá và nhà trên ghe của dân chúng sống
về nghề đánh cá, đến sông Bạch Đằng hùng dũng với bao
lần vùi chôn các đoàn chiến thuyền xăm lược của Bắc
phương, đến núi Yên Tử và thiền phái Trúc Lâm của vua
Trần Nhân Tông, và nhất là Vịnh Hạ Long – một di sản
thiên nhiên của nhân loại vừa mới được UNESCO công nhận
là một Di Sản Thế Giới “xứng đáng được bảo quản và
ghi vào danh mục Di Sản Thế Giới với tiêu chuẩn là một
Di Sản Thiên Nhiên” (James Thorsell, chuyên gia
tổ chức Di Sản Thiên Nhiên – IUCN – của UNESCO).
Phong cảnh và địa h́nh tỉnh Quảng Ninh rất đa dạng, rất
phong phú, vừa có núi non trùng điệp, vừa có biển rộng
mênh mông với hằng ngàn ḥn đảo, vừa có những vùng b́nh
địa với những cánh đồng xanh và ba mươi con sông ngắn
chảy qua. Những đỉnh núi cao nhất ở đây gồm có Quảng Nam
Châu cao 1,507 m, Cao Xiêm 1,330 m, Am Váp 1,094 m, và
Yên Tử 1,068 m. Cả nước Việt Nam, theo thống kê, có
2,779 ḥn đảo ở ven bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên,
trong số này đă có đến 2,078 đảo là của tỉnh Quảng Ninh.
Các đảo quần tụ thành ba lớp hay ba dăy từ gần đến xa bờ
biển. Xa nhất ngoài biển khơi là các đảo Chắn Nhặn, quần
đảo Cô Tô, quần đảo Đầu Bê. Ở lớp giữa có quần đảo Vân
Hải, đảo Bồ Ḥn và hằng trăm đảo đá vôi xen kẻ nhau, dày
đặc. Sát cạnh bờ biển là một lớp cả ngàn ḥn đảo khác.
Giữa những lớp đảo là những trủng biển, luồng lạch biển,
rộng có, hẹp có, quanh co, tạo thành những hải cảng,
những đường giao thông kín đáo, vô cùng thuận lợi cho sự
pḥng thủ và trốn tránh sóng gió bảo bùng. Quảng Ninh
cũng là tỉnh có rất nhiều sông – 30 con sông - nhưng hầu
hết là những con sông ngắn. Sông lớn ở đây là sông Bạch
Đằng, sông Ca Long, sông Tiên Yên, sông Ba Chẽ. Nói về
địa h́nh và vị trí đặc biệt của Quảng Ninh, sách Đại Nam
Nhất Thống Chí ghi : “Đất nhân thế núi làm thành, dựa
chổ cao mà giữ hiểm, có núi để dựa, có biển ṿng quanh,
địa thế xa lánh mà xung yếu, trong th́ giữ vững cương
vực, ngoài th́ khống chế đất Thanh. Núi cao có Lôi Âm,
sông lớn có Bạch Đằng; 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải, hải
đảo quanh co, sông biển khuất khúc, cũng là nơi then
chốt ở ven biển”. Từ xưa đến giờ Quảng Ninh vẫn được
xem như một pháo đài then chốt ở vùng Đông Bắc của nước
Việt.
Quảng Ninh là nơi cư ngụ của nhiều dân tộc : người Việt
(người Kinh), người Hoa (Trung Hoa), người Dao, người
Tày, người Sán d́u, người Sán Chay, người Nùng, người
Mường, người Cao Lan, người Thái. Đại đa số là dân tộc
Việt, chiếm 89,24% tổng số dân toàn tỉnh. Người Việt xem
như dân bản địa, đă định cư sinh sống ở đây lâu đời nhất,
từ hậu kỳ đồ đá mới, tức trên năm ngàn năm rồi. Họ sống
thành làng xă cũng như phần lớn các làng xă ở các nơi
nhưng ngoài các làng cổ truyền của người dân Việt, ở đây
c̣n có hai loại làng nghề rất đặc biệt : đó là làng
mỏ và làng nổi. Làng mỏ là làng của những
người phu làm ở các mỏ than. Làng mỏ bắt đầu được thành
h́nh từ những cái “lán” do những người cai mỏ dựng lên
cho phu mỏ mướn để ở trong lúc làm việc ở mỏ than. Lán
là một loại nhà làm bằng tre từ cột kèo đến mái nhà, dài
độ 25 m, rộng chừng 5 m, chứa những cái sạp (làm giường
ngủ) giống như trong các trại lính nhưng tù túng, ẩm
thấp rất khổ sở khi chui ra chui vào. Câu ca dao sau đây
nói lên t́nh trạng khốn khổ của người phu mỏ sống trong
các lán :
“Khi vào cúi rập thuôn thuôn
Khi ra chân bước lệ tuôn hai
hàng.”
Mỗi lán chứa từ 40 đến 50 người phu mỏ. Ba hay bốn lán
gom lại thành một cụm, và nhiều cụm họp lại thành một
làng.
Làng nổi là những ghe thuyền đánh cá mà người ta sống
luôn trên đó xem như là nhà của họ vậy. Vừa là phương
tiện đánh cá, vừa là nhà ở, nên dù lớn hay nhỏ mỗi
thuyền đều có nơi ăn nghỉ, bếp núc, chổ thờ cúng, nơi
sinh hoạt cho cả một gia đ́nh thường gồm có bố mẹ và con
cái. Nhưng khi con cái lớn lên lập gia đ́nh xong th́ bắt
đầu tách ra ở một thuyền khác. Những thuyền cùng liên hệ
gia đ́nh, họ hàng, hay bạn bè quen lớn, thường họp thành
“vạn chày” ngày xưa gọi là “phường thuỷ” cùng sống bên
nhau, lênh đênh dọc theo bờ biển Quảng Ninh, từ ngư
trường này đến ngư trường khác, trôi nổi quanh năm,
không có một chổ cư trú nhất định nào. Tuy nhiên, trên
vách đá ở một nơi nào đó người ta có dựng lên miếu thờ
tổ, thờ thần biển để làm giỗ, cúng tế và ăn Tết. Ở đó có
ghi tên làng như làng nổi Trúc Vơng, làng nổi Cửa Vạn,
làng nổi Gia Vơng, v v . . . Hiện nay tại Cửa Vạn người
ta đóng thành bè nổi thật lớn để làm chổ định cư cho
những người lớn tuổi và trẻ em, trên đó có trường học,
trạm y tế, nơi giải trí. . . để các thuyền, sau khi đánh
cá xong có thể trở về đây nghỉ ngơi cùng với gia đ́nh
ḿnh. Nó như một cái làng nhưng thay v́ ở trên đất liền
th́ ở đây nó là cái bè to trên mặt biển. Ở làng nổi có
tục hát giao duyên hằng tháng vào lúc trời có trăng. Lúc
này không có cá nên thuyền thường đậu bên nhau, chia hai
phe nam nữ để hát đối đáp với nhau. Ở đây cũng có tục lễ
cưới rất đặc biệt. Thuyền bên đàng trai khi đến đón dâu,
bắt buộc phải hát đối đáp với bên đàng gái. Đàng trai
phải thắng th́ mới được bên đàng gái cho vào rước dâu,
bằng không th́ sẽ bị từ chối không cho vào.
Trước năm 1979, số lượng người Hoa ở Quảng Ninh rất lớn,
gần 100,000, xem như đông nhất trong các tỉnh Bắc Việt.
Người Hoa ở đây gồm có người Ngáy quê gốc ở Ngũ Động và
Pḥng Thành (ở Quảng Tây), người Hắc Cá gốc ở An B́nh và
Gia Hưng (cũng thuộc tỉnh Quảng Tây). Phần đông sống ở
vùng Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên. Họ rất thành
công trong nghề làm ruộng, buôn bán, đánh cá, vận tải,
và khai thác mỏ. Hợp tác xă đánh cá Bắc Vàn Thầu thuộc
đảo Thanh Lân, huyện Cô Tô gồm toàn người Hoa, rất thành
công trong nghề với năng suất cao nhất trong toàn Miền
Bắc Việt Nam. Trong nghề mỏ những công trường quy mô đầu
tiên như công trường của Vạn Lợi ở Cẩm Phả, của Ngô
Nguyên Thành và Trần Mục Thần ở Mạo Khê đều do người Hoa
làm chủ khai thác, và sau này họ là những chủ thầu cho
Pháp trong thời kỳ Pháp đô hộ. Sau sự kiện tống khứ
người Hoa ra khỏi Việt Nam hồi năm 1978 phần lớn người
Hoa ở Quảng Ninh phải bỏ về nước. Theo thống kê năm 1989
th́ số người Hoa c̣n lại ở Quảng Ninh chỉ c̣n 3,567
người, rải rác ở các thị xă và thành phố trong tỉnh.
Người Dao chiếm khoảng 4,45% tổng số dân ở Quảng Ninh.
Đây là dân tộc thiểu số đông nhất ở vùng này, nhất là ở
các huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ, Tiên Yên, B́nh Liêu, Đầm Hà
và Hải Hà. Người Dao gồm hai nhóm chính : nhóm Thanh
Phán và nhóm Thanh Y. Nhóm Thanh Phán c̣n chia ra Thanh
Phán lớn và Thanh Phán con. Ngoài ra người ta c̣n căn cứ
vào màu sắc quần áo mà đặt tên như Dao Đỏ (mặc áo bông
đỏ), Dao Thanh Y (mặc áo xanh), Dao Quần Trắng, Dao Quần
Cộc (quần ngắn), Dao Áo Dài, v v. . . Căn cứ vào cách
đội đầu người ta gọi Dao Đội Ván, nếu ván to th́ gọi là
Dao Đại Bản, nếu ván nhỏ th́ gọi là Dao Tiểu Bản. Người
Dao tự gọi họ là Kiềm Miền, Kiềm Ḿn, Diều Miền, hay In
Miền. . . và Miền hay Ḿn có nghĩa là rừng, và tất cả
các danh xưng vừa nêu ra theo tiếng Dao đều có nghĩa là
“người rừng”. Theo tài liệu lịch sử th́ người Dao bắt
đầu vào định cư ở Quảng Ninh vào khoảng thế kỷ thứ XII,
theo đường ven biển từ Quảng Đông đến Móng Cái rồi từ đó
lan sâu vào trong tỉnh. Buổi đầu họ sống trên núi cao,
với nghề làm nương rẩy, du canh, du cư. Trang phục phụ
nữ có nhiều màu sắc rực rỡ. Họ có tục bịt răng vàng v́
họ cho rằng răng vàng làm tăng vẽ đẹp của nụ cười. Mỗi
người thường có hai răng vàng, hoặc là hai răng cửa,
hoặc là hai răng chó (răng nanh). Thiếu nữ th́ thường
nhổ hết lông mày để làm cho gương mặt thêm phần hấp dẫn
(theo quan niệm đẹp của người Dao). Người Dao, cũng như
một số người dân tộc thiểu số khác, khi sanh con họ sanh
ở vị trí ngồi, tức “đẻ ngồi” thay v́ nằm như người Việt.
Họ cũng có tục ở rể như phần đông các dân tộc thiểu số
khác. Thời gian ở rể có thể kéo dài từ 3 đến 12 năm.
Sau người Dao là người Tày, vào năm 1989 có khoảng trên
23 ngàn, đông vào hàng thứ ba trong số các dân tộc ở
Quảng Ninh. Người Tày sống tập trung trong các huyện
miền núi ở B́nh Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hải Hà.
Một số ít sống ở Đông Triều, Hoành Bồ. Họ thạo nghề canh
tác lúa nước, ở nhà sàn. Người Tày tự gọi họ là người
Phén, gốc ở huyện Pḥng Thành tỉnh Quảng Tây, di cư qua
Việt Nam từ lâu. Một số khác gốc ở Khâm Châu thuộc tỉnh
Quảng Tây di cư qua Quảng Ninh hàng chục đời nay. Số
người này thường được người Hoa (Hán) gọi là Thổ Nhằn và
người Việt gọi là Thổ Nhân. Người Tày nói chung, dù Thổ
hay Phén, đều thuộc tộc người Việt (hoặc Lạc Việt, hoặc
Âu Việt). Trang phục của người Tày không cầu kỳ như
trang phục của người Dao. Phụ nữ Tày mặc áo cánh hay áo
dài màu chàm hay màu nâu, có thắt lưng, mặc váy gồm bốn
mảnh khâu lại thành ống. Đồ trang sức gồm có ṿng cổ,
ṿng tay, ṿng chân, khuyên tai, nhẫn. . . Cũng như phụ
nữ Dao, người Tày có tục đẻ ngồi. Thường người ta cột
thắt lưng vào xà nhà cho người sanh vịn vào đó mà đẻ.
Người Tày rất tin ở Thó Tỷ, là vị thần bảo vệ con người,
gia súc và mùa màng. Miếu thờ Thó Thỷ thường được dựng ở
nơi có nhiều tàn cây rậm rạp, u tịch, luôn được người
dân giử ǵn nghiêm nhặt. Hằng năm có lễ cúng Thó Tỷ vào
ngày mùng một Tết. Ngoài lễ cúng Thó Tỷ, người Tày c̣n
có những lễ khác cũng được mọi người coi trọng như lễ
“lồng tồng” (tức là xuống đồng) và lễ “khẩu mấu” (hay
cơm mới).
Sau dân tộc Tày là dân tộc Sán D́u. Dân tộc Sán D́u có
khoảng 15 ngàn người trong cả tỉnh Quảng Ninh (khoảng 2%
dân số toàn tỉnh). Họ sống rải rác nhiều nơi nhưng đông
nhất là ở vùng Cẩm Phả, Vân Đồn và Hoành Bồ. Tuy sống
rải rác, chen lẫn với các dân tộc khác nhưng học vẫn gom
thành xóm, làng riêng mà họ gọi là sôn. Phụ nữ Sán D́u
để tóc dài, đội khăn như phụ nữ Việt Nam ở nông thôn. Đồ
trang sức của phụ nữ gồm có ṿng cổ, ṿng tay, ṿng chân,
nhẫn, xà tích như phụ nữ Tày, nhưng có thêm túi đựng
trầu thêu thùa tỉ mỉ, nhiều màu sắc đẹp đẽ. Vào các dịp
hội hè, tết nhất lễ nghi, người phụ nữ Sán D́u nào cũng
có mang túi đựng trầu trước ngực và dao cau tra vào vỏ
cây có những chạm khắc cầu kỳ. Các chàng trai muốn được
sự chú ư, yêu thương của các nàng con gái Sán D́u th́
phải sắm các túi đựng trầu và dao cau cho đẹp để tặng
người ḿnh mơ ước. Khi sinh nở th́ người phụ nữ Sán D́u
giử vị thề đứng, gọi là “đẻ đứng”, thay vỉ đẻ ngồi như
phụ nữ Tày hay phụ nữ Dao.
Hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ trước kia tách riêng nhưng
bây giờ nhập chung thành dân tộc Sán Chay. Họ gốc ở tỉng
Quảng Tây di cư qua Việt Nam hồi cuối đời Minh, tới vùng
Móng Cái trước nhất, rồi từ đó lan đi ra các vùng khác.
Theo thống kê năm 1989 th́ số người Sán Cháy có khoảng 9
ngàn (1,11% dân số toàn tỉnh) tập trung ở vùng B́nh Liêu,
Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà. Nghề nuôi sống chính
của họ là trồng lúa nước và làm vườn. Ruộng của họ phần
lớn là ruộng bậc thang (culture terrace). Nhà ở của họ
là nhà sàn. Phụ nữ Sán Chay khi có thai không được bước
qua dây thừng và cử đến các miếu thổ thần. Khi sanh th́
họ sanh ở vị trí ngồi (đẻ ngồi). Ngày hội của họ là Ó P̣
tổ chức vào tháng Ba mỗi năm. Vào ngày này, khi cây rừng
đăm hoa kết trái, trai gái các thôn bản rủ nhau ra bờ
suối thổi khèn, hát giao duyên, đêm này qua đêm khác.
Sau ngày hội nhiều cặp trai gái trở thành vợ chồngï.
Nói về phong tục ở Quảng Ninh, Đại Nam Nhất Thống Chí
viết : “Lễ tiết, tế tự đại để giống nhau nhà nào c̣n
cha mẹ th́ hằng năm cứ các tháng Giêng, Hai, Ba, Bốn và
Sáu, chọn ngày tốt lành, đều làm cổ bàn kính dâng, lại
kính biếu thầy học; châu Vạn Ninh, người Thanh (người
Hoa), người Nùng ở lẫn lộn, tiết Nguyên Đán đốt pháo,
đêm trừ tịch thấp đèn, tiết Thanh Minh tảo mộ, tiết Đông
Chí tế thần, tiết Đoan Dương đặt tiệc rượu tế tiên tổ,
lại đua thuyền, hát xướng để cầu thần, tết Trung Thu làm
bánh mặt trăng để thưởng nguyệt. . . Châu Tiên Yên,
người Nùng người Thổ ở lẫn lộn, đầu năm nếu chưa ai động
thổ, th́ đi đêm không dám cầm đuốc, gặp mưa không dám
đội nón; chọn ngày tốt để chơi đánh đu, tết Đoan Dương
hái lá ngải treo ở cửa, nấu rượu xương bồ để tế tổ. Về
lễ giá thú th́ mỗi nơi một khác. Tục huyện Hoành Bồ, đến
kỳ cưới th́ họ nhà gái đưa dâu ra cửa, con trai đi trước,
con gái đi sau; khi hôn lễ đă thành, hai họ cùng nhau
hát xướng, tặng nhau bằng tiền. Tục châu Tiên Yên, nhà
trai đến nhà gái, ở cửa có đặt bàn chắn, trên treo hoa
lá, ở bàn để trầu cau, mỗi thứ một điă và một đĩa hoa,
ngoài ra c̣n một đĩa để không. Nhà trai, nhà gái, mỗi
bên hai người lần lượt hát xướng, nếu nhà trai hát
“thắng” th́ nhà gái cất bàn, mở cửa cho vào. Người Nùng,
người Thổ ở châu Vạn Ninh. . . đến ngày lễ cưới, cô dâu
ra cửa th́ đánh trống, thanh la, thổi kèn nhộn nhịp, cha
mẹ họ hàng tỏ t́nh thương nhớ.”
Quảng Ninh có con sông nổi tiếng là sông Bạch Đằng. Bạch
Đằng là phần cuối của sông Thái B́nh sau hai khúc sông
Kinh Thâỳ và Đá Bạc, dài độ 10 km, đổ ra Vịnh Hạ Long ở
cửa Nam Triệu. Khi nước triều lên cao sông Bạch Đằng
trải rộng hơn 1,200 mét. Khi thuỷ triều xuống thấp th́
độ sâu của sông thường từ 8 m đến 11 m, nhưng cũng có
chổ sâu đến 16 m. Từ xưa sông Bạch Đằng đă nổi tiếng là
con sông chiến lược, vô cùng hiểm trở. Trong Dư Địa Chí,
Nguyễn Trải viết : “Rộng 2 dặm 69 trượng, sâu 5 thước,
núi cao chót vót, nước nguồn giao lưu, sóng tung lên tận
trời, cây cối che bờ, thật là nơi hiểm yếu. Nước ta
chống với người phương Bắc lấy sông này làm nơi yết hầu”.
Sông Bạch Đằng c̣n được người dân địa phương gọi là sông
Rừng, và sự hiểm trở của nó đă được người dân ở đây nhắc
nhở qua câu ca dao :
“Con ơi nhớ lấy lời cha,
Mưa to gió lớn chớ qua sông Rừng.”
Trong lịch sử chống xăm lăng phương Bắc của người Việt
Nam, Bạch Đằng Giang đă giúp người ḿnh tạo nhiều chiến
công oanh liệt, từng là nơi chôn vùi hằng vạn thuỷ quân
Trung Quốc. Chiến công đầu tiên là của Ngô Quyền hồi năm
938. Năm này vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Lưu
Hoằng Thao đem một đạo binh thuyền đi đường thuỷ qua
Vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng xăm lược nước ta. Ngô
Quyền sai người đem cọc lớn vót nhọn, đầu bịt sắt, đóng
ngầm ở cửa biển trước. Theo nước triều lên, quân Hoằng
Thao mạnh mẽ tiến vào sông Bạch Đằng. Quân Ngô Quyền vừa
đánh vừa chạy, dụ quân Hoằng Thao tiến sâu vào khỏi
những hàng cọc nhọn. Đợi khi nước triều xuống nhiều, Ngô
Quyền tung đại quân ra chiến đấu hùng dũng, mănh liệt.
Quân Nam Hán bị đẩy ngược lại, các chiến thuyền đâm vào
cọc nhọn phải vở ra và bị ch́m không biết bao nhiêu mà
kể. Hằng vạn quân giặc cùng chủ tướng Hoằng Thao bỏ mạng
trên sông Bạch Đằng.
Rồi hơn 40 năm sau, vào năm 981, một lần nữa sóng Bạch
Đằng lại đánh ch́m đoàn quân xăm lăng của Tống Triều.
Mùa xuân năm này vua Tống tung đại quân qua xăm lấn Việt
Nam bằng đường bộ qua ngả Lạng Sơn và bằng đường thuỷ
qua Vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng. Thái Hậu Dương Vân
Nga trao hoàng bào cho tướng quân Lê Hoàn để gánh vác
việc đánh đuổi xăm lăng. Thông Giám Cương Mục ghi rằng
“nhà vua tự làm tướng ra kháng chiến, sai quân sĩ
đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch.” Quân
Tống bị thất bại hoàn toàn trên mặt thuỷ cũng như trên
đường bộ, bắt buộc phải công nhận nước Việt là một vương
quốc đôc lập.
Nhưng vẽ vang lừng lẩy nhất là trận chiến Bạch Đằng vào
năm 1288 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tiêu diệt cả
đoàn thuỷ quân trên 500 chiến thuyền của Ô Mả Nhi. Trong
trận chiến kinh hồn này các chiến thuyền của quân Nguyên
hoặc bị vở ch́m v́ đâm vào các cọc nhọn, hoặc bị dồn vào
nhau ở một nơi để bị thiêu đốt rụi, không một tên giặc
nào chạy thoát. Ô Mả Nhi và Phàn Tiếp bị bắt sống,
Trương Ngọc tử trận, hằng vạn quân địch vùi thây ở chiến
trường Bạch Đằng, lớp chết ch́m, lớp chết thiêu, lớp
chết v́ lằn tên mủi đạn hay đao kiếm, máu chảy đầy sông.
Trận chiến kinh hồn này đă ám ảnh quân Nguyên thật nhiều
năm. Sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu mười mấy năm sau
sang Việt Nam giao hảo khi nghe tiếng trống đồng bổng
hải hùng tưởng như tiếng trống trận Bạch Đằng nổi lên
hồi thuở nào :
“Kim qua ảnh lư tâm đan khổ
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh.”
(Bóng loè gươm sắc ḷng thêm đắng
Tiếng rộn trống đồng tóc đốm hoa)
Nếu sông Bạch Đằng nêu cao chiến thắng lẫy
lừng của Trần Hưng Đạo về phương diện quân sự th́ núi
Yên Tử cũng làm rạng danh vua Trần Nhân Tông trong công
tŕnh tôn giáo cao cả của Ngài. Là một nhà vua có công
lớn trong việc bảo vệ giang san, Trần Nhân Tông cũng là
một nhà sư mở đầu một thiền phái được rất nhiều người
ngưởng mộ. Tiếng vang Yên Tử Trúc Lâm là danh xưng của
một thiền phái quan trọng do Trần Nhân Tông sáng lập ở
núi Yên Tử. Cao hơn ngàn mét, Yên Tử sơn nằm vút giữa
những núi rừng trùng điệp của khu Đông Bắc Quảng Ninh,
cách thị xă Uông Bí 14 km về phía Tây Bắc. Từ xưa Yên Tử
vẫn được liệt vào hàng danh sơn ở nước ta. Tháng 10 năm
Kỷ Hợi (1299) Trần Nhân Tông chánh thức đến Yên Tử đi tu,
lấy Phật danh là Điều Ngự Giác Hoàng. Trong thời gian tu
hành tại đây Trần Nhân Tông đă hoàn thiện học thuyết của
Ngài tựa trên nền tảng “Phật tức là Đời và Thiền ở
tại Tâm”, lập nên phái Trúc Lâm Yên Tử mà Ngài
là vị Tổ Thứ Nhất. Ngài viên tịch năm 1308 và người kế
tục sự nghiệp của Ngài là sư Pháp Loa, vị tổ thứ nh́ của
phái này.
Có sông Bạch Đằng, có núi Yên Tử, Quảng Ninh
c̣n có một danh lam thắng cảnh có một không hai của Việt
Nam : Vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long ở về phía Đông Bắc nước
Việt, cách Hà Nội 165 km. Hạ Long có nghĩa là rồng hạ
xuống. Đây là tên trong dân gian, bắt nguồn từ câu
chuyện thần thoại sau đây:
“ Ngày xưa khi người Việt Nam mới lập nước, trong một
lần bị giặc ngoại xâm, trời sai Rồng mẹ mang theo một
đàn Rồng con xuống giúp người Việt đánh giặc. Thuyền
giặc từ biển cả ào ạt tấn công vào bờ th́ đàn Rồng cũng
hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc, những
châu ngọc ấy thoát biến thành muôn đảo đá sừng sững,
liên kết lại như bức trường thành vững chăi, bất ngờ
chận bước tiến quân giặc. Thuyền giặc đang lao nhanh, bị
chặn lại đột ngột, liền đâm vào các đảo đá, đâm vào nhau
vở tan tành. Sau khi giặc tan, Rồng mẹ Rồng con không
trở về trời, mà ở lại hạ giới. Chổ Rồng mẹ xuống là Hạ
Long, chổ Rồng con xuống là Bái Tử Long. Đuôi của đàn
Rồng quẫy lên trắng xoá là Long Vĩ, tức bán đảo Trà Cổ
ngày nay với băi cát mịn dài hàng chục cây số.”
Hạ Long thật đẹp, thật đúng là một tác phẩm nghệ thuật
có một không hai của tạo vật. Hơn 100 năm xưa, một kư
giả Pháp đă nhận thấy : “Dưới ánh sáng vầng thái
dương nhiệt đới, mặt biển chổ tối chổ sáng do những dăy
núi đá phản chiếu đă tạo thành một cảnh mơ huyền không
bút nào tả nổi. Lúc chiều tà đây là một đám lửa cháy
bùng lên, biến tất cả hải đảo thành một cảnh thần tiên
ngoạn mục” (John Rey). Nhà thơ Tiêu Tam của Trung
Quốc th́ cho rằng cảnh đẹp Vịnh Hạ Long là độc nhất vô
nhị trên trần gian này, chỉ có thể so sánh với cảnh Đào
Nguyên trên thượng giới :
“Vịnh Hạ Long
Đẹp vô vàn
Nổi lên non non đảo đảo có muôn ngàn
Ai bảo Đào Nguyên chỉ có ngoài trần
thế
Trước mắt bày ra ḱa lớp lớp kỳ quan.”
Cái đẹp của Vịnh Hạ Long. . . xin hẹn lại một lần khác,
để tỉnh Quảng Ninh tạm thời chấm dứt ở nơi đây.
Nguyễn
Thanh Liêm