|
PHÁP
BẢO ĐÀN KINH

LỤC TỔ HUỆ NĂNG
Bến Giác
từ xưa vốn sẵn đ̣,
Rừng Thiền
vi diệu khó t́m ḍ.
Hành nhân chưa
có người đưa lối,
Pháp Bảo Đàn
Kinh
hướng dẫn cho
-- *** --
Đức Phật Tổ thương đời tứ khổ,
Pháp vô vi đắc
độ hằng sa.
Giác thuyền vào
cơi ta bà,
Thiền tông Bát
Nhă Ma Ha giáo truyền..
Tâm trần thế đảo
điên nhân ngă,
Nẻo vô thường
nghiệp quả triền miên.
Chất chồng vay
trả tiền khiên,
Tháng năm tích
lũy nào yên thân phàm.
Vô minh khởi
muôn ngàn tội ác,
Sắc tướng sanh
tánh giác lu mờ.
Trầm luân nào rơ
bến bờ,
Thuyền Từ Bát
Nhă nương nhờ thoát ra.
Ngộ Chánh Pháp
lướt qua bỉ ngạn,
Huệ tâm khai
chơn tánh hiện ra.
Gội nhuần nguồn
nước Ma Ha,
Sáu căn bất
nhiễm ngự ṭa bảo liên.
Gắng tu học tông
Thiền đốn ngộ,
Nơi Tào Khê Lục
Tổ giáo truyền.
Đạt Ma chỉ rơ cơ
huyền,
Sớm mau tỉnh
thức, đoạn duyên ái hà.
Đang thời buổi
tinh hoa Phật giáo,
Diễn dịch sai,
hành đạo lạc lầm.
Không tin Phật
tại nơi tâm,
Măi lo vọng
ngoại kiếm tầm đâu đâu!
Đuốc vô vi năm
châu rực tỏa,
Pháp Ma Ha Bát
Nhă tông thiền.
Dứt ác nghiệp,
hết ưu phiền,
Giữ ḷng thanh
tịnh, chơn truyền bửu kinh.
Bát chánh đạo
liễu minh vô thượng,
Thoát mê đồ
nghiệp chướng tiêu vong.
Tu chánh pháp,
học Nam tông,
Soi đèn trí huệ
suốt thông đạo mầu.
Ánh thiền đăng
từ lâu sáng tỏ,
Pháp Bửu Đàn Lục
Tổ độ nhân.
Sớm mau rời dứt
duyên trần,
Không sanh,
chẳng diệt là chân Niết Bàn.
Xuân Ất Dậu – 03/2005
Dịch Giả:
Tu sĩ Thái Hoà
và Cư sĩ Hồ Minh Châu
Kính Cẩn.
TỰA
Đạo pháp rất vi diệu, không thể bàn giải tận tường, có
quên lời mới mong đạt lư và hiểu được ư nghĩa cao siêu,
mầu nhiệm. Nên khi Đức Thế Tôn thuyết pháp tại hội Linh
Sơn, trước tháp Đa Tử, Ngài phân đôi tọa cụ ¹ bảo Tôn giả
Ca Diếp ngồi bên, tay Ngài cầm cành hoa đưa trước đại
chúng, như ngầm chỉ mối diệu Đạo sẽ được truyền, như dùng
lửa chuyền lửa, dùng tâm ấn tâm.
Đạo ở Tây Vực truyền đến đức Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ 28,
Ngài từ Ấn Độ mang theo qua phương Đông "chỉ thẳng tâm
người, thấy tánh thành Phật" hoằng khai giáo pháp tại
xứ này. Đại sư Huệ Khả là vị thứ nhứt nghe giảng liền hiểu
ngay, lạy Tổ sư Bồ Đề ba lạy thọ Y. Tổ khen Đại Sư hiểu
tường tận như thấm nhập vào xương tủy và khiến tiếp nối
ngôi Tổ, khai xiển chánh tông. Truyền đến Đại sư Hoằng
Nhẫn, tức đức Huỳnh Mai, là đời thứ tư.²
Trong số hơn 700 cao tăng, môn đồ của Ngũ Tổ Huỳnh
Mai, duy có Huệ Năng, tức cư sĩ Phụ Thung ³ chỉ làm một
bài kệ mà được truyền Y, nối ngôi Tổ, đời thứ 6 - kể từ Tổ
Đạt Ma - nhưng Tổ Huệ Năng phải ẩn lánh hơn 15 năm ở
phương Nam trước khi chánh thức hoằng dương đạo pháp.
Ngày nọ, nhân dịp hai vị tăng ở chùa Pháp Tánh, Quảng
Châu, biện luận về "lá phướn động hay gió động",
Huệ Năng khai thị Chánh Pháp nhăn tạng,⁴
Niết Bàn diệu tâm
cho Ấn Tông. Từ đó cư sĩ mới thế phát và đăng đàn thuyết
pháp môn Đông Sơn, ứng đúng theo sám kư của đức Bạt Đà La.
Thứ sử Vi Cừ, nhờ thiền sư Pháp Hải chép lời thuyết pháp
của Tổ Huệ Năng, lập thành Kinh Pháp Bảo Đàn. Tổ ban đầu ở
Ngũ Dương, sau đến Tào Khê, thuyết pháp 37 năm, rưới cam
lộ pháp vị khắp nơi.⁵
Các vị nhập thánh, siêu phàm nhiều không kể xiết.
-------
1.- Chiếc nệm để trải ngồi.
2.- Kể theo hệ thống Trung Hoa
3.- Cư sĩ giă gạo
4.- Phép truyền tâm ấn đăc biệt của Thiền tông.
5.- Cam lộ là nước có chất ngọt. Được xem như phép báu
của Phật - Pháp vị.
Về hạng người thấu triệt tâm tông của Phật, thành bực đại
tri thức, có lưu danh trong quyển Truyền Đăng Lục. Riêng
hai vị thiền sư Nam Nhạc và Thanh Nguyên, nhờ theo phụng
sự Tổ Huệ Năng lâu năm, nên được truyền diệu pháp. Mă Tổ
và Thạch Đầu, hai vị sư này trí huệ sáng suốt, được diệu
huyền thông đạt, đều nhờ hai vị thiền sư Nam Nhạc và Thanh
Nguyên truyền dạy.
C̣n thêm các phái: Lâm Tế, Vi Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn,
Pháp Nhăn, lộng nhiên xuất hiện, đạo đức siêu quần, pháp
môn quảng đại. Các vị này đều phấn chí hoằng dương giáo
pháp, dày công d́u dắt chúng sanh. Giáo pháp mà 5 phái kể
trên truyền bá, đều phát xuất từ Đàn Kinh.
Đàn Kinh
lời giản dị, nghĩa phong phú, lư rơ ràng trong sáng, gồm
đầy đủ vô lượng pháp môn của chư Phật, mỗi mỗi pháp môn,
đầy đủ vô lượng diệu nghĩa, mỗi mỗi diệu nghĩa, phát huy
vô lượng diệu lư của chư Phật, tức là diệu pháp Chơn
không của đức Di Lặc và thần thông biến hóa của đức
Phổ Hiền. Nếu ai đạt được diệu pháp này, tức đồng bực với
Thiện Tài đồng tử ¹. Nếu trong một niệm tưởng mà công đức
viên măn, th́ được chứng quả như đức Phổ Hiền Bồ Tát, đồng
hàng với chư Phật.
Tiếc v́ Đàn Kinh bị người đời sau tóm lược quá
nhiều, nên chẳng thấy được tông chỉ đại toàn của Lục Tổ.
Đức Dị tôi lúc ấu niên thường xem bản xưa, sau này trải
hơn 30 năm đi khắp nơi t́m kiếm, măi lúc gần đây, nhờ một
vị thượng nhơn, nên nhận được toàn văn, đem khắc bản giữ
nơi thiền am của tôi, ở nước Ngô, để cùng các bậc thắng sĩ
² xử dụng.
Nguyện cầu khi chư vị khai mở quyển kinh này ra xem, liền
được trực nhập đại viên giác hải,³ nối huệ mạng của Phật
Tổ Như Lai muôn đời không dứt, được vậy mới thỏa măn chí
nguyện của tôi.
Đời Nguyên, năm thứ 27 Canh Dần, (1294) ngày Trung Xuân đề
tựa.
Cổ Duân Tỳ Kheo Đức Dị
soạn.
------
1.- Một vị đồng tử theo học đạo với các Thánh. Xin đọc
kinh Hoa Nghiêm.
2.- Bực tu học cao thâm
3.- Giác ngộ hoàn toàn - Biển Giác.
Bài Khen Ngợi Kinh Pháp Bảo Đàn Lục Tổ Đại Sư
--
*** --
Tán thán là lời ca tụng, tóm tắt phần mở đầu kinh. Nội
dung Kinh Pháp Bảo Đàn là nơi mà Lục Tổ Huệ Năng, một bực
chí nhơn, tuyên dương cái tâm.
Vậy th́ tâm là ǵ? Chính là tâm vi diệu do Phật truyền
lại. Lớn lao thay tâm ấy, từ khởi thủy vẫn luôn thanh
tịnh. Dù bực Thánh hay phàm, u hay hiển, ai ai cũng có tâm
nầy.
Ở cương vị Thánh tất sáng, ở địa vị phàm th́ tối. Tối do
biến đổi, được trở lại liền sáng. Biến đổi hay trở lại tuy
khác nhau, nhưng tâm vi diệu vẫn một.
Ban sơ Đức Phật Thích Ca đem tâm này truyền cho họ Đại
Quy, từ họ Đại Quy truyền lần tới đời thứ 33, là Đại Giám,
tức thụy hiệu của đức Lục Tổ. Thế rồi, Đại Giám tiếp tục
giáo truyền, ngày càng thêm thạnh hành. Nếu bàn đến cái
tâm th́ thật nhiêu khê. Cho nên, tên gọi tuy giống, nhưng
thực chất lại khác. V́ vậy, dầu có nhiều nghĩa, tâm vẫn
một. Nào là tâm
(tim)
máu thịt, tâm duyên lự, tâm tập khởi, tâm kiên thật ...
C̣n luận về tâm sở của tâm th́ nhiều vô số. Chẳng hạn tâm
chơn như, tâm sinh diệt, tâm phiền năo, tâm bồ đề... như
các kinh đă phân loại, không thể kể xiết. V́ vậy, mới bảo
nghĩa tuy nhiều, nhưng tâm chỉ một. Về nghĩa, có giác ngộ,
có bất giác. C̣n tâm, có tâm chơn thật, tâm hư vọng. Đó là
do phân tích tâm chơn như mà ra. Ở đây, kinh Pháp Bảo Đàn,
đức Lục Tổ giảng cái tâm về phương diện dụng, tức giác
ngộ; về phương diện thể, là chơn thật.
Ngày xưa, khi Thánh nhơn sắp ẩn ḿnh, dạy Quy Thị yếu lư
truyền pháp ở ngoài giáo điển, bởi v́ người đời vướng mắc
vào văn tự mà quên trở về nguồn gốc. Do đó, muốn người đời
sau dựa vào gốc để làm thẳng ngọn, nên kinh Niết Bàn chép:
"Ta có chánh pháp vô thượng đă phó chúc cho Ma Ha Ca
Diếp".
Đạo trời nhằm dung dị, đạo của đất lấy đơn giản, đạo của
Thánh nhơn ở cốt yếu. Cốt yếu nghĩa là cực kỳ vi diệu. V́
đạo của Thánh nhơn quư chỗ cốt yếu, nên có thể làm khuôn
mẫu cho cả pháp giới, chỗ tụ hội cho vô lượng nghĩa lư,
bánh xe kiên cố cho Đại thừa.
Kinh Pháp Hoa há chẳng dạy: "Nên biết diệu pháp này là
bí yếu của chư Phật". Kinh Hoa Nghiêm há chẳng chép: "Dùng
phương tiện nhỏ nhưng được giác ngộ nhanh chóng". V́
dựa vào chỗ cốt yếu nên đạo của Thánh nhơn thành tựu lớn
lao. Bởi vậy, cương lĩnh của kinh Pháp Bảo Đàn tôn vinh
tâm yếu. Tâm hoặc sáng, hoặc tối, hoặc không, hoặc linh,
hoặc tịch, hoặc tỉnh. Thế th́, tâm có h́nh tướng, hay
không h́nh tướng?
Gọi là một vật cho nên nó biến hóa thành muôn vật. Gọi
muôn vật, nên nó thống nhứt thành một vật. Nhưng một vật
biến ra muôn vật, muôn vật gồm lại một vật. Đó gọi là điều
có thể nghĩ bàn, c̣n điều không thể nghĩ, cũng không thể
nào bàn.
Thiên hạ gọi huyền giải
(âm thầm hiểu)
gọi thần hội
(tự nhiên khế hợp),
gọi tuyệt đăi
(dứt bặt so sánh),
gọi mặc thể
(lặng lẽ thấu triệt),
gọi minh thông
(mặc nhiên thông suốt)...
Cứ một mặt bỏ hết, loại trừ, loại trừ rồi loại trừ, th́
cũng có thể đạt đến chỗ tinh vi. Đến được chỗ đó, hiển
nhiên phù hợp với bực chí nhơn. Cho nên khó ai lường được.
Suy rộng ra, nếu không dấn thân, th́ không thể nào đạt
được.
T́m hiểu rồi suy nghiệm không có ǵ mà không thỏa đáng.
Giá như kiến tánh, sự thấy rất gần gũi với chơn tâm; giá
như tu tâm, chỗ đạt được rất chơn chánh; giá như sùng
thượng đức hạnh, biện biệt sai lầm tất chơn vọng dễ hiển
hiện; giá như xuất thế, Phật đạo chóng thành; giá như cứu
đời, trần lao dễ dứt. Đó chính tôn chỉ của đức Lục Tổ, nên
kinh Pháp Bảo Đàn lưu hành được thiên hạ khắp nơi vui mừng
tiếp nhận.
Trong kinh dạy "tức tâm tức Phật"
(tâm đó chính là Phật).
Hạng người thiển cận không biết tự lượng sức ḿnh, dùng
cái len gảy đào đất, cho rằng đất cạn, nh́n trời qua chỗ
mái nhà dột tưởng rằng trời nhỏ. Sự thật trời đất há như
vậy sao? Hầu như trăm nhà
(chúng sanh)
ai cũng nghĩ ḿnh đạt được chơn tâm, kỳ thật đâu có đúng.
C̣n bực chí nhơn đă thông suốt, quán triệt, phù hợp với
tinh thần của kinh điển, nên điều này thấy rơ.
Chí nhơn biến mà thông, nhưng nếu không dùng văn tự khó
diễn đạt được chơn tâm. Cho nên giải rơ ràng, có cơ sở, có
nghĩa lư; nói một cách bí mật th́ không đầu, không đuôi.
Những bực căn cơ bén nhạy mới đạt đến chỗ sâu xa, hàng căn
cơ chậm lụt chỉ hiểu đến chỗ thấp cạn. Như vậy há có thể
nghĩ được ư! Có thể bàn được ư! Khó được rốt ráo v́ đó là
giáo lư viên đốn, giáo lư tối thượng thừa, thiền định
thanh tịnh của đức Như Lai, chánh tông của Bồ tát tạng. Đó
là điều các luận sư gọi huyền học, chẳng rơ ràng lắm sao!
Thiên hạ gọi là tông môn, há chẳng đúng lắm sao!
Kinh Pháp Bảo Đàn chép: "Định, Tuệ là gốc, tức đầu mối
để đi đến đạo. Định, có nghĩa tịnh, Tuệ là sáng. Sáng dùng
để quán, tịnh dùng để an. An được tâm mới có thể lănh hội
được bổn thể của tâm. Quán rơ đạo mới có thể giảng về đạo".
Nhứt hạnh tam muội là tướng viên dung của pháp giới. Muôn
điều thiện tuy sai khác, nhưng chỉ bao hàm trong một hạnh
mà thôi. Lấy vô tướng làm thể là trân trọng tịnh giới; lấy
vô niệm làm tông, là tôn vinh thiền định lấy vô trụ làm
gốc, là sùng thượng trí tuệ. Giới, định, huệ là con đường
trọng yếu đi đến Tam thừa. Diệu tâm là cơ sở vững chắc cho
giới, định, huệ. Dùng một diệu tâm này mà dung thông cả ba
pháp, nên gọi là Đại
(lớn).
Dùng giới vô tướng tu hành mới mau đạt đến chánh giác.
C̣n 4 thệ nguyện lớn là: nguyện độ: độ khổ đau; nguyện
đoạn: đoạn tập khí; nguyện học: học đạo lư; nguyện thành:
thành tịch diệt. Diệt mà không diệt ǵ cả, nên không có ǵ
không đoạn trừ. Đạo mà không có chi là lư đạo, th́ không
có ǵ không cứu độ.
Vô tướng sám là sám hối cái không thể sám. Tam quy giới
tức quy về một. V́ là một, nên Tam Bảo xuất hiện. Giảng Ma
Ha Bát Nhă là giải đến chỗ chí trung của tâm. Bát Nhă là
phương tiện của Thánh nhơn, là đại trí của Thánh nhơn. Cho
nên gọi là tịch, là minh, là quyền, là thật. Thiên hạ dùng
tịch để dứt các điều ác. Thiên hạ dùng minh có thể kết tụ
mọi điều thiện. Thiên hạ dùng quyền biến để khuếch trương
thế hữu vi. Thiên hạ dùng chơn thật, để mở rộng pháp vô
vi. Ôi! cùng cực thay Bát Nhă!
Đạo của Thánh nhơn nếu không có Bát Nhă không thể làm sáng
tỏ, không thể nào thành tựu. Công việc của thiên hạ nếu
không có Bát Nhă, th́ không thích hợp, không thỏa đáng.
Bực Chí nhơn dùng Bát Nhă chấn chỉnh tự tâm th́ được viên
măn.
Pháp của đức Lục Tổ v́ hàng thượng căn mà giảng mới thích
hợp. Vật nhỏ dùng vào việc lớn không thể nào đảm đương
được; vật lớn trao cho người nhỏ là có lỗi.
Từ xưa đến nay âm thầm truyền trao, phân phó là ư nghĩa
của bí mật. Bí mật không phải không nói mà chứng ngộ một
cách âm thầm. Đó là bí mật chơn chánh.
Những người không hiểu lư này sinh tâm hủy báng th́ trăm
đời ngàn kiếp sẽ đoạn tuyệt hột giống Phật tánh. Nhằm nhắc
nhở người đời đừng quên tâm ḿnh, đó là yếu chỉ vô cùng to
lớn của kinh Pháp Bảo Đàn: Gốc là chánh, vết rất rơ, nhân
thật chơn, quả viên dung. Những bực Thánh đời trước, các
vị Thánh đời sau căn cứ vào đó để phát khởi, dùng đó chỉ
dạy, nhân đó trở về, thật bao la không bờ bến! Tựa hồ sự
trôi chảy của sông rộng, như sự thông suốt của không gian,
sáng soi của nhựt nguyệt, vô ngại của h́nh bóng, trật tự
của tiến hóa. Diệu mà đạt được th́ gọi là gốc; suy để ứng
dụng gọi là dấu; dùng khái niệm không phải từ ban sơ để
làm đầu mối, gọi là nhân, dùng biểu tượng không cần thành
tựu vẫn thành tựu gọi là quả. Quả không khác với nhân, là
chánh quả. Nhân không khác với quả, gọi là chánh nhân, dấu
ắt chiếu cố đến gốc, là đại dụng. Gốc ắt chiêm nghiệm đến
dấu, gọi Đại thừa. Thừa là khái niệm, Thánh nhơn dùng ví
dụ cho đạo.
Nhằm đến công dụng nên Thánh nhơn bắt đầu dạy bảo. Ôi! Đạo
của Thánh nhơn không ǵ hơn tâm ḿnh. Sự dạy bảo của Thánh
nhơn không ǵ hơn tu. Chuẩn bị tinh thần dấn thân vào đạo
không ǵ hơn nhứt tướng. Phép chỉ quán dựa vào việc thiện
để hoàn thành công đức không ǵ hơn nhứt hạnh tam muội. Hỗ
trợ cho tất cả giới luật không ǵ hơn vô tướng. Hoàn chỉnh
tất cả Thiền định không ǵ hơn vô niệm. Thông suốt tất cả
trí không ǵ hơn vô trụ. Sinh thiện diệt ác không ǵ hơn
giới vô tướng. Dốc ḷng v́ đạo, bồi đắp cho đức không ǵ
hơn 4 thệ nguyện lớn. Khéo quán xét lỗi lầm không ǵ hơn
sám hối vô tướng. Làm cho đạo được chơn chánh không ǵ hơn
giới Tam quy. Làm ngay ngắn đại thể, bồi đắp cho đại dụng
không ǵ hơn Đại Bát Nhă. Phát khởi niềm tin, dốc ḷng với
đại đạo không ǵ hơn Đại chí. Cùng lư tận tánh trong thiên
hạ không ǵ hơn lặng lẽ trao truyền. Muốn tâm không vướng
lỗi không ǵ hơn tránh nói xấu lẫn nhau.
Lấy Định Tuệ làm nhân tố khởi đầu đó là nền tảng của đạo.
Dùng Nhứt hạnh tam muội tu tập là cơ sở của công đức. Dùng
vô niệm làm tôn chỉ nên thành tựu giải thoát. Lấy vô trụ
làm gốc liền đạt trí tuệ. Thấu triệt lư vô tướng được
dung thông với pháp thân. Dùng giới vô tướng để tŕ giới,
là giới cao tột. Đem 4 nguyện lớn để lập nguyện, tức
nguyện cùng cực. Sám hối bằng phương pháp vô sám là sám
hối rốt ráo. Giới tam quy tức giới trở về đường chánh. Ma
ha trí tuệ là phạm trù to lớn của thánh phàm. V́ hạng
người thượng thượng căn mà tuyên thuyết, là cách thuyết
pháp trực tiếp. Trao truyền bằng im lặng là cách truyền
pháp ưu việt, nhằm mục đích ngăn ngừa những kẻ hủy báng.
Phàm diệu tâm th́ không phải do tu mà thành, không phải
chứng mà sáng. V́ nó vốn đă thành, đă sáng sẵn vậy. V́ mê
mất nguồn sáng nên phải làm sáng lại mới được chứng. Do
nghịch sự hoàn thiện, phải hoàn thiện lại, nên mới cần tu.
Lấy việc chưa tu để tu, nên gọi chánh tu. Lấy việc chưa
sáng để làm sáng nên gọi chánh chứng. Bực chí nhơn khù
khờ, không tỏ lộ oai nghi nhưng đức độ thấm nhuần trời
đất. Bực chí nhơn ung dung tựa hồ không giữ giới, mà đạo
hạnh hiển bày khắp thiên hạ. Đó, v́ dùng chánh tu để tu,
dùng chánh chứng để chứng. Thế nên bảo: không tu, không
chứng, không nhân, không quả. Những kẻ xuyên tạc chẻ sợi
tóc làm tư, tranh nhau bàn luận, làm sai lạc ư chỉ của chí
nhơn.
Ôi! Bỏ giới định tuệ th́ đương nhiên rơi vào sự hỗn loạn
của chấp không, tôi cũng chẳng biết phải làm sao. Hỡi ôi!
Chúng sanh để ch́m lấp chơn tâm cho khởi dậy tâm thức.
Thức và nghiệp theo nhau như bóng với h́nh, chưa từng dừng
lại bao giờ! Khi nó phát ra thành h́nh tướng, th́ người và
vật sinh sản tràn lan trong trời đất, nào ai có thể đếm
hết. Được mang lại thân người th́ hàng vạn mới có một.
Bậc giác ngộ cơ hồ rất ít. Bực Thánh Nhân ấp ủ điều đó,
vận dụng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ, nhưng người đời
vẫn không thấu hiểu. Thánh nhơn muốn cứu đời, tuy dùng
nhiều giải pháp mong sửa đổi, nhưng thiên hạ vẫn chưa thức
tỉnh.
Người hiền th́ bị trí làm rối loạn, kẻ bất tiếu bị u mê
che khuất. Hạng b́nh thường th́ bị vô kư làm cho hôn muội.
Cho nên, khi tiếp xúc với cảnh vật, phát sinh t́nh cảm, bị
những mừng, giận, buồn, vui, che khuất muôn ngàn mối, khác
nào lữ khách lần ḍ trong đêm tối chẳng biết sẽ về đâu.
Những ai theo lời dạy của thánh nhơn th́ được kế thừa và
phát huy. C̣n những kẻ mù mờ có tham vọng viễn vong th́
gọi nào có, nào không, nào chẳng có, chẳng không; nào vừa
có, vừa không. Đó, chỉ v́ không thấy nên bị khuất lấp,
khiến trọn kiếp chẳng thể nào thông tỏ được.
Biển là nơi tập trung nước từ muôn nơi đổ về, cá rồng sống
chết trong biển vẫn không hề thấy nước. Đạo tại tâm, nhưng
có người suốt ngày bàn về đạo vẫn không hề thấy tâm. Thật
đáng thương! Tâm rất vi diệu, cao vời, khó tỏ, khó thấu.
Thánh nhơn đă ẩn khuất, thiên hạ trăm đời tuy viết sách
truyền bá chánh đạo, chưa hề được chứng nghiệm. Thế nên,
kinh Pháp Bảo Đàn nêu ra tôn chỉ: chỉ thẳng tâm này,
bấy giờ thiên hạ mới thấy được tâm tánh của chính ḿnh,
khác nào vẹt mây mù chợt thấy trời xanh, lên đỉnh núi cao
phóng mắt nh́n được khắp vũ trụ.
Kinh Niết bàn chép: "Khởi đầu từ vườn Lộc Uyển, chí đến
lúc kết thúc tại sông Bạt đề, thời gian 50 năm, chưa từng
giảng một chữ nào", tức ngầm chỉ pháp chẳng phải do
văn tự, để pḥng những người chỉ căn cứ vào văn tự mà t́m
cầu thật tướng.
Dạy: "Y pháp không y người" v́ pháp th́ chân mà
người th́ giả.
Dạy: "Y trí không y thức" bởi trí th́ đến chỗ cùng
tột, c̣n thức th́ vọng.
Dạy: "Y nghĩa không y lời" v́ nghĩa th́ chơn, lời
là giả.
Dạy: "Y kinh liễu nghĩa, chớ y kinh không liễu nghĩa"
v́ kinh liễu nghĩa th́ tận lư, c̣n kinh không liễu nghĩa
vẫn chưa rốt ráo.
Thế nên, Bồ tát mới tuyên thuyết Đại Niết Bàn, những điều
thuyết ra đều phù hợp với kinh điển.
Bực thánh nhơn căn cứ vào 4 thứ này mà ra đời. Người hộ
tŕ chánh pháp cần thấu triệt. V́ thấu triệt, nên bực chí
nhơn mới nâng gốc để làm thẳng ngọn. Điều giảng giải phù
hợp với kinh điển, nên bực chí nhơn giảng kinh đúng kinh.
Y nghĩa, y kinh liễu nghĩa, nên bực chí nhơn tuyên thuyết
rơ ràng phù hợp với nghĩa, phù hợp với kinh. Y pháp, y
trí, nên bực chí nhơn mật thuyết liền thông suốt, không bị
chướng ngại, v́ muốn chỉ rơ pháp không phải do văn tự, nên
bực chí nhơn vận dụng tôn chỉ mật truyền. Bực chí nhơn như
cây cỏ mùa xuân, ngày càng phát triển. Bực chí nhơn như
ánh sáng mùa thu, càng chiếu soi càng tỏ rạng.
Thánh nhơn truyền lịnh bực chí nhơn liền tuân theo. Phải
bực chí nhơn mới xứng đáng môn đồ, và huân tập được đức độ
thù thắng của Thánh nhơn.
Bực chí nhơn ban đầu vờ như ḿnh thấp kém, không biết văn
tự thế tục. Đến khi thành nghiệp lớn, giáo hóa một phương,
tuyên dương đại pháp cứu độ đời, mới tỏ ra khế hợp với
công dụng của bực Đại Thánh nhơn. Thế nên, đối với bực đức
cao, thượng trí khi sinh ra đă biết, nhân v́ muốn hiển bày
diệu pháp mới bảo rằng ḿnh không biết.
Trải qua gần 400 năm, giáo pháp lưu truyền khắp bốn phương
không hề gián đoạn; nào là Đế vương, nào là Thánh hiền,
suốt 30 đời, càng t́m đến đạo của Tổ càng thêm tôn kính,
không ai là không đạt đến chỗ tận cùng của bực Đại Thánh
nhơn.
Ngày nay, giáo pháp đang lu mờ. Ôi! Tôi không nỡ nào im
lặng nh́n, nên cố gắng góp phần công mọn trong việc phục
hưng nền đạo, dầu tự biết ḿnh am tường đạo chẳng bao
nhiều, nhưng tôi nhờ may mắn như muỗi ṃng uống được nước
biển, biết được chút ít hương vị, nên mạo muội cúi đầu bộc
bạch, mong để lại đôi điều cho người hậu học.
Đại sư KHẾ TUNG hiệu MINH GIÁO đời Tống,
soạn. (Đ. 48, tr 346)
Dịch giả: Ẩn danh.
LỜI
NGƯỜI DỊCH
-- ***
--
Theo kinh Đại
Tạng do Ban tân tu của chùa Thiện Đạo ở Đài Bắc
(Đài Loan)
có 3 bản Kinh
Pháp Bửu Đàn, một do Thiền sư Pháp Hải soạn; bản
thứ hai, Tỳ kheo Linh Thao giữ tại Bửu tháp, nơi an trí
chơn thân Đức Lục Tổ; bản thứ ba do Tỳ kheo Đức Dị sưu
tầm, được Tỳ kheo Tông Bửu đúc kết, hiện để tại chùa Quang
Hiếu.
Nhờ duyên may,
chúng tôi đọc được hơn 10 bản dịch Kinh
Pháp Bửu Đàn,
về văn thể, cách tŕnh bày, phần diễn dịch, mỗi bản đều có
sắc thái riêng, về nội dung chỉ có vài khác biệt nhỏ.
Mỗi lần đọc một
bản là thêm một lần chúng tôi xúc động. Xúc động v́ thương
cảm hoàn cảnh khó khăn, cay đắng, khốn khổ, cũng như xót
xa, ngậm ngùi về những nguy hiểm mà Đức Lục Tổ kiên nhẫn
chịu đựng, nhiều phen sinh mạng Người như sợi tơ
treo.
Về phương diện
giáo lư, tôn chỉ của Đức Lục Tổ cũng giản dị, thực tế, như
đời sống của Người:
PHẬT
tại
TÂM,
nhận được
TÂM CHÚNG SANH
liền thành Phật đạo. Với pháp môn ĐỐN GIÁO, Người
khuyên môn đồ nên cố gắng trau
TÂM,
hành tŕ
VÔ TƯỚNG,
VÔ NIỆM, VÔ TRỤ...
Cách tu học của Người cũng rất thực tiễn, Người
thường nhắc nhở môn nhơn nên t́m hiểu nghĩa lư trong chơn
kinh không nên chú trọng vào văn chương chữ nghĩa, có
nghĩa
"ngộ
lư quên lời".
|