|
(Trương Nhân Tuấn lược dịch từ hồ-sơ « Les
Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa, Territoire Vietnamien » 1981,
......, CAOM, Aix-En-Provence, Pháp-Quốc )
Dẫn-nhập :
Từ nhiều thập-niên nhà cầm-quyền Trung-Hoa đă
biểu-lộ những hành-động nhắm về hai quần-đảo Hoàng-Sa
(Paracels) và Trường-Sa (Spratley hay Spratly) của Việt-Nam mà
họ đặt tên là Xisha (Tây-Sa) và Nansha (Nam-Sa).
Nước nầy đă sưu-tập nhiều tài-liệu nhằm
chứng-minh rằng từ lâu tổ-tiên của người Trung-Hoa đă
« khám-phá » hai quần đảo nầy đồng-thời đến những nơi đó để
« khai-thác » ; nhưng nhà cầm-quyền Trung-Hoa sẽ vô cùng
lúng-túng để trả lời hai điểm sau : Từ bao giờ Trung-Hoa chiếm
đóng hai quần-đảo nầy và họ đă hành-sử « chủ-quyền » của họ
tại những nơi nầy như thế nào ?
Phần I : Quốc-gia
Việt-Nam đă từ lâu đă hành-sử quyền làm chủ của ḿnh một cách
liên-tục tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Hoàng-Sa và Trường-Sa tọa lạc ngoài biển khơi
Việt-Nam, giữa Biển Đông, điểm gần nhất của Hoàng-Sa cách
cù-lao Ré - một đảo cận bờ của Việt-Nam – khoảng 120 hải-lư
và cách Đà-Nẵng, về phía Đông, 170 hảI-lư ; điểm gần nhất của
quần-đảo Trường-Sa th́ cách vịnh Cam-Ranh khoảng chừng 250
hải-lư về hướng Đông.
Những nhà du-hành ở thời-kỳ khai-phá chỉ có
một khái-niệm rất mơ-hồ về Hoàng-Sa và Trường-Sa. Họ cho rằng
nơi đó hiện-hữu một vùng biển rộng lớn có nhiều dăi cát và đá
ngầm, vô cùng nguy-hiểm cho thuyền bè qua lại.
Thời xưa người Việt-Nam gọi đó là Băi Cát Vàng, Hoàng-Sa,
Vạn-Lư Hoàng-Sa, Đại Trường-Sa hay Vạn-Lư Trường-Sa... Trong
cổ-sử cũng như trên các bản-đồ của Việt-Nam th́ ghi-nhận như
thế. Hầu-hết các bản-đồ của những nhà hải-hành Tây-Phương từ
thế-kỷ thứ 16 đến thế-kỷ thứ 18, Hoàng-Sa và Trường-Sa được
ghi dưới các tên Pracel, Parcel hay Paracels[i][1].
Một cách tổng-quát, những bản-đồ nầy đă vẽ vùng Hoàng-Sa ở
giữa biển Đông, về phía Đông bờ biển Việt-Nam và cách xa những
đảo cận-bờ.
Sau nầy nhờ tiến-bộ khoa-học và sự phát-triển
của ngành hàng-hải người ta mới phát-hiện có những khác-biệt
rơ-rệt giữa Hoàng-Sa và Trường Sa.
Hai quần-đảo được vẽ hiện nay trên những
bản-đồ hàng-hải quốc-tế dưới những tên Paracels và Spratley
hay Spratly, thực-sự là Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam.
Các tên “Xhisha” và “Nansha” là những cái tên mà nhà cầm-quyền
Bắc-Kinh chỉ mới đặt ra từ vài thập-niên nay cho hai quần-đảo
nầy với dụng-ư làm cớ nhằm biện-hộ cho việc xâm-lấn của họ sau
nầy.
1/
Chủ-quyền lịch-sử của Việt-Nam tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Dân-tộc Việt-Nam từ lâu đă khám-phá Hoàng-Sa
và Trường-Sa. Quốc-gia Việt-Nam đă chiếm-hữu và hành-sử
chủ-quyền của ḿnh tại các nơi đây.
Nhiều bộ cổ-sử và nhiều bản-đồ xưa của
Việt-Nam đă ghi-nhận một cách rơ-rệt rằng Băi Cát Vàng,
Hoàng-Sa, Vạn-Lư Hoàng-Sa, Đại Trường-Sa hay Vạn-Lư Trường-Sa
đă từ lâu là lănh-thổ của Việt-Nam.
* Bộ Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, là
bộ bản-đồ của Việt-Nam do Đỗ-Bá, tự Công-Đạo, thành-lập vào
thế-kỷ thứ 17, đă ghi đại-ư rất rơ-rệt trong phần phụ-chú phủ
Quảng-Ngăi, tỉnh Quảng-Nam rằng: “ngoài biển khơi có một
quần-đảo với những băi cát dài, được gọi là Băi Cát Vàng”,
“mỗi năm vào tháng cuối mùa đông, Chúa Nguyễn[ii][2]
phái ra đó một hải-đội gồm 18 chiếc thuyền để thu-nhặt
hàng-hóa, nhờ vậy mới có được một số-lượng lớn vàng, bạc,
tiền, súng-ống và đạn-dược”.
* Bản-đồ Giáp-Ngọ B́nh Nam Đồ do Đức-Doăn
Quận-Công Bùi Thế Đạt thiết-lập năm 1774 cũng có ghi-nhận Băi
Cát Vàng là một phần lănh-thổ Việt-Nam.[iii][3]
* Tác-phẩm Phủ-Biên Tạp-Lục của nhà bác-học
Lê Quí Đôn (1726-1784) viết về lịch-sử, địa-lư và hành-chánh
của Đàng Trong (miền Nam hiện nay) dưới thời Chúa Nguyễn, viết
rằng những đảo Đại Trường-Sa (tức Hoàng-Sa và Trường-Sa) th́
thuộc về phủ Quảng-Ngăi:
“Ngoài khơi cửa An-Vĩnh[iv][4]
thuộc huyện B́nh-Sơn, phủ Quảng-Ngăi, có một đảo tên là đảo
Ré, chiều dài khoảng 30 dặm[v][5].
Ngày xưa, dân làng Tu-Chính ra trồng đậu tại đó. Người ta vượt
biển đến đó mất bốn canh (một đêm có năm canh). Phía xa hơn
đảo Ré là những đảo Đại Trường-Sa. Ở đó có nhiều hải-sản và
hàng-hóa các loại. Công-Ty Hoàng-Sa được thành-lập để ra đó
thu-nhặt đồ vật. Phải mất ba ngày ba đêm để đến những đảo nầy,
đây là vùng gần Bắc Hải”.
* Đại-Nam Nhất-Thống Toàn Đồ là bản-đồ
Việt-Nam thành-lập năm 1838, có ghi nhận Hoàng-Sa và Trường-Sa
là một phần lănh-thổ của Việt-Nam.
* Đại-Nam Nhất Thống Chí, địa-dư chí của
Việt-Nam được Quốc-Sử Quán nhà Nguyễn (1802-1945) viết năm
1882, ghi-nhận rằng Hoàng-Sa thuộc lănh-thổ Việt-Nam và
trực-thuộc hành-chánh tỉnh Quảng-Ngăi. Đoạn văn liên-hệ viết
về tỉnh nầy đại-để như sau:
“Ở phía Đông của tỉnh Quảng-Ngăi th́ có
những đảo cát gọi là Hoàng-Sa; nơi đây cát và biển kết-lẫn vào
nhau để tạo thành bờ triền; phía Tây là vùng núi dựng như là
những tường-thành chắc-chắn; phía Nam tiếp-giáp với B́nh-Định
ở đèo nằm ngang thuộc Bến Đá; phía Bắc tiếp-cận với tỉnh
Quảng-Nam ở đèo Sa-Thọ”.
Từ nhiều thế-kỷ đă qua, nhiều nhà hàng-hải và
truyền-giáo tây-phương đă xác-nhận rằng Hoàng-Sa (Parcel hay
Paracels) th́ thuộc về Việt-Nam:
* Một nhà truyền-giáo tây-phương, đi từ Pháp
đến Trung-Hoa năm 1701 trên chiếc thuyền tên Amphitrite, đă
viết trong một lá thư như sau: “Hoàng-Sa là một quần-đảo
thuộc vương-quốc An-Nam”
[vi][6].
* Linh-mục J. B. Chaigneau (Bá-Đa-Lộc),
cố-vấn của vua Gia-Long, năm 1820 có viết một phụ-chú thêm vào
trong bút-kư “Mémoire sur la Cochinchine”[vii][7]:
“Nước Nam (Cochinchine), đứng đầu là vị
Hoàng-Đế, gồm có Cochinchine (tức miền Nam), Tonkin (miền
Bắc)... một số đảo có người sinh-sống không xa bờ và quần-đảo
Hoàng-Sa (Paracels), gồm có nhiều đảo nhỏ, đá, băi san-hô...
không có người ở”[viii][8]
* Linh-mục J. L. Tabert, trong “Ghi-nhận về
Địa-Lư Việt-Nam” (Note sur la géographie de la Cochinchine),
xuất-bản năm 1837, đă tŕnh-bày quần-đảo Hoàng-Sa như là một
phần của lănh-thổ Việt-Nam và ghi rơ thêm rằng Việt-Nam gọi
“Paracels” hay “Pracel” dưới tên là Cát Vàng[ix][9].
Bản-đồ An-Nam Đại-Quốc Họa Đồ do ông năm 1838,
có vẽ một phần của quần-đảo Hoàng-Sa với phụ-chú : “Paracel
hay Cát Vàng”, ở phía ngoài những đảo cận bờ của miền Trung
Việt-Nam, tức ở vào vị-trí của Hoàng-Sa hiện-tại.
* Qua bài viết “Géographie de l’Empire
Cochinchine” của Gutzlaff năm 1849 trong đó có một đoạn
ghi-nhận rằng Paracels thuộc lănh-thổ Việt-Nam, có tên là “Kat
Vang”
[x][10].
Các triều-đại vua chúa cai-trị Việt-Nam trong
những thế-kỷ đă qua đă phái nhiều đội thuyền để thám-hiểm nhằm
thẩm-định tài-nguyên ở Hoàng-Sa và Trường-Sa. Những bộ sử và
địa-dư chí của Việt-Nam từ thế-kỷ thứ 17 đă ghi lại kết-quả
của những cuộc thám-hiểm nầy:
* Toàn Tập Thiên-Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (thế-kỷ
thứ 17) đại-ư viết:
“Ngoài biển khơi có một quần-đảo kết-tạo
bằng những dăi cát dài, có tên “Băi Cát Vàng”, độ dài khoảng
400 dặm và rộng khoảng 20 dặm, nổi lên từ biển sâu, đối-diện
với đoạn bờ biển từ bến Đại-Chiêm
[xi][11]
đến bến Sa-Vinh
[xii][12].
Vào mùa gió Tây-Nam, những thương-thuyền của các nước đi ngang
vùng nầy thường bị đắm. Những người đi trên thuyền th́ bị chết
đói. Hàng-hóa th́ dồn đống ở nơi đó.”
[xiii][13]
Lê Quí Đôn (1776) viết trong Phủ Biên Tạp Lục
đại-ư như sau:
“Làng An-Vĩnh, thuộc huyện B́nh-Sơn, phủ
Quảng-Ngăi th́ ở cận biển. Ở ngoài khơi của làng nầy, về hướng
Đông-Bắc, có trên 130 đảo trải dài, lớn nhỏ hay đá ngầm, từ
đảo nầy qua đảo khác khi th́ mất một ngày, khi th́ mất vài
canh bơi thuyền. Trên một vài đảo th́ có nước ngọt. Một trong
những đảo đó có tên Băi Cát Vàng, có chiều dài ước-lượng 30
dặm, mặt đảo bằng-phẳng, tọa-lạc ở một vùng nước rất trong;
nơi đây có rất nhiều ổ yến. Chim-chóc th́ nhiều vô số kể và
chúng tấn-công người không sợ-hăi. Người ta cũng gặp rất nhiều
ṣ-ốc quái-dị, có mầu sắc sặc-sở gọi là ốc tai-tượng, lớn bằng
cái nia và dấu trong thân những hạt to bằng ngón tay, màu đục
nhưng không đẹp như ngọc trai; vỏ ốc người ta có thể đẽo ra
từng miếng hay dùng để chế-biến vôi làm nhà. Cũng có những
loại ốc xa-cừ dùng để chạm trổ và ốc hương. Thịt ốc có thể
muối hay dùng làm nhiều món ăn. Những thương-thuyền ngoại-quốc
bị gặp băo ở vùng biển nầy th́ thường bị đắm và trôi dạt vào ở
những đảo nầy”.
* Đại-Nam Thực-Lục Tiên Biên, là một quyển
lịch-sử nói về các Chúa Nguyễn, do Quốc-Sử Quán viết năm 1844
(nhà Nguyễn) viết đại-ư như sau:
“Ngoài khơi làng An-Vĩnh huyện B́nh-Sơn phủ
Quảng-Ngăi có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, trải dài hàng
ngàn dậm nên gọi là Vạn-Lư Trường-Sa; khoảng cách từ đảo nầy
đến đảo kia độ một ngày hoặc vài canh đi thuyền. Trên một vài
đảo có giếng nước ngọt. Sản-phẩm ở đây gồm hải-sâm, rùa,
đồi-mồi, ṣ ốc có h́nh màu sắc sặc-sở v.v...”
* Đại-Nam Nhất Thống Chí (1882) có ghi đại-ư:
“Quần-đảo Hoàng-Sa ở phía Đông của đảo Ré,
huyện B́nh-Sơn. Bắt đầu từ bờ biển Sa-Kỳ, nếu thuận gió người
ta có thể đi đến đó trong ba hay bốn ngày thuyền. Người ta
tính có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, những đảo nầy cách
nhau có khi một ngày, có khi vài canh đi thuyền. Trong những
đảo nầy, có những băi cát vàng trải dài hàng trăm dặm gọi là
Vạn-Lư Trường-Sa. Trên những dăi cát đó có giếng nước ngọt và
chim-chóc ở đó nhiều vô số kể. Ngựi ta cũng thấy có hải-sâm,
rùa, ṣ-ốc có màu sắc sặc-sở, đồi-mồi... và hàng-hoá của những
thương-thuyền bị băo đánh đắm”.
* Theo Đại-Nam Thực-Lục Chính-Biên, lịch-sử
của nhà Nguyễn, viết năm 1848, Trương Phúc Sĩ là Đội-Trưởng,
sau khi lănh mệnh đi Hoàng-Sa để lấy địa-h́nh th́ trở về có
tâu lên vua Minh-Mệnh rằng Hoàng-Sa “được kết-tạo do những dăi
cát ở ngoài khơi và kéo dài vô-định”.[xiv][14]
Những bộ sách khác viết dưới thời nhà Nguyễn
như Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821), Hoàng-Việt Địa-Dư
Chí (1833), Việt-Sử Cương Giám Khảo Lược (1876) đều diễn-tả
Hoàng-Sa với những chi-tiết tương-tự.
V́ biết rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa có nhiều
hải-sản quí-giá và nhiều hàng-hóa do những thuyền buôn bị đắm
trôi dạt vào, cho nên các triều-đại của Việt-Nam từ thời xa
xưa ấy đă tổ-chức để gây huê-lợi các nơi đây, biểu-lộ v́ thế
tính chủ-quyền của quốc-gia Việt-Nam tại các nơi đó. Có nhiều
sách về lịch-sử và địa-dư của Việt-Nam đă ghi-nhận một cách
rất rơ-rệt việc tổ-chức và cách-thức sinh-hoạt của các công-ty
Hoàng-Sa có nhiệm-vụ làm huê-lợi tại các đảo nầy.
* Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (thế-kỷ
17) có viết đại-ư:
“Mỗi năm vào tháng cuối của mùa Đông, chúa
Nguyễn gởi ra Băi Cát Vàng một đội thuyền gồm 18 chiếc để
thu-nhặt hàng-hóa, có được v́ thế một số lượng vàng, bạc,
tiền, súng-ống và đạn dược.”
* Phủ-Biên Tạp Lục (1776) ghi đại-ư:
“Thời nhà Nguyễn có thành-lập công-ty Hoàng-Sa
gồm có 70 người, thuộc làng An-Vĩnh, tuyển theo lối
luân-phiên. Mỗi năm, vào tháng 3, công-ty được lệnh chuẫn-bị
lương-thực trong 6 tháng, gồm 5 chiếc thuyên giong buồm đi ra
đảo. Phải mất 3 ngày 3 đêm đi thuyền mới đến. Ở đây đi săn và
đi đánh cá thỏa-thuê. Công-ty thu-nhặt những hàng-hóa của
những thương-thuyền bị đắm gồm có: dao-kiếm, tiền-bạc,
ṿng-kiền bạc, đồ-vật bằng đồng, những thỏi kẽm, ch́, súng,
ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, vải-vóc bằng len cũng như văy rùa,
vỏ đồi-mồi, hải-sâm, những hạt trai ở trong loại ṣ-ốc có màu
sắc rực-rỡ. Đến tháng 8 cùng năm th́ đoàn thuyền trở về cập
bến Cửa Eo để giao những phẩm-vật thu được vào thành Phú-Xuân.
Những hàng-hóa nầy sau khi cân-lượng, khảo-sát và định-giá và
xếp loại tùy theo giá-trị. Sau đó người ta có thể bán để lấy
tiền riêng những phẩm vật như hải-sâm, đồi-mồi, ṣ-ốc, nhận
giấy chứng-nhận và được trở về nhà...”
“Nhà Nguyễn cũng cho thành-lập công-ty
Bắc-Hải nhưng không xác-định công việc của công-ty nầy. Người
ta tuyển người ở hoặc ở làng Tu-Chính thuộc phủ B́nh-Thuận,
hoặc ở làng Cảnh-Dương, những người t́nh-nguyện khi đă nhận
được lệnh công-tác th́ được miễn các thứ thuế. Những người nầy
xuống thuyền để đi về Bắc-Hải, những đảo Côn-Lôn, những đảo
thuộc vùng Hà-Tiên, để đánh bắt rùa, đồi-mồi, bào-ngư,
hải-sâm. Chỉ-huy trưởng công-ty Hoàng-Sa cũng là chỉ-huy
trưởng của công-ty Bắc-Hải”.
* Đại-Nam Thực-Lục Chính Biên (1844) viết
đại-ư:
“Trong những ngày đầu trị-v́, nhà Nguyễn đă
thành-lập công-ty Hoàng-Sa gồm 70 người, tuyển từ dân làng
An-Vĩnh. Mỗi năm, vào tháng thứ ba, những người nầy xuống
thuyền giong buồm ra khơi. Phải mất ba ngày ba đêm mới đến
nơi. Họ thu nhặt hàng-hóa, đến tháng tám th́ trở về và giao
nộp những hàng-hóa nầy. Cũng có công-ty Bắc-Hải tuyển người ở
làng Tu-Chính, thuộc phủ B́nh-Thuận, hay ở làng Cảnh-Dương.
Công-ty nầy giong thuyền ra Bắc-Hải, Côn-Lôn để thu-nhặt
hàng-hóa. Công-ty nầy cũng được đội-trưởng của công-ty
Hoàng-Sa điều-khiển.”
* Sau thời chúa Nguyễn, nhà Tây-Sơn mặc dầu
bận-rộn với sự quấy-nhiểu liên-tục của nhà Thanh và Xiêm-La,
nhưng cũng nhận thấy sự hữu-dụng ở các đảo nầy nên vẫn giữ
nguyên các công-ty Hoàng-Sa. Trong những tài-liệu t́m thấy
được, người ta có thể nhắc đến lệnh đại-khái sau đây của quan
Thượng Tướng Công:
“Lệnh cho Hồi Đức Hầu thuộc công-ty
Hoàng-Sa dẫn 4 thuyền ra Hoàng-Sa và những đảo khác để
thu-nhặt những đồ vật bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng và những
khẩu đại-bác lớn nhỏ cũng như các loại rùa có văy, đồi-mồi,
các loại cá quí sau đó đem những phẩm-vật nầy về kinh-đô như
tập-tục ngày trước.”
V́ thế dưới thời Tây-Sơn, chính-quyền nước
Việt-Nam tiếp-tục thâu-hoạch huê-lợi tại Hoàng-Sa va thiết-lập
chủ-quyền của Việt-Nam tại đó.
* Từ khi lên ngôi năm 1802 cho đến khi kư
hiệp-ước bảo-hộ với Pháp 1884, những vị hoàng-đế nhà Nguyễn
liên-tục có nhiều hành-động để củng-cố chủ-quyền của Việt-Nam
tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.
-
-
Năm 1815 hoàng-đế Gia-Long phái Phạm
Quang Anh cầm đầu công-ty Hoàng-Sa lănh sứ-mạng t́m hiểu
lộ-tŕnh hàng-hải đi ra Hoàng-Sa.
[xv][15]
-
-
Năm 1816 hoàng-đế Gia-Long ra lệnh cho
thủy-binh và công-ty Hoàng-Sa đi ra đảo Hoàng-Sa để nghiên-cứu
lộ-tŕnh đi đến Hoàng-Sa.
[xvi][16]
-
-
Năm 1833 hoàng-đế Minh-Mệnh ra lệnh cho
bộ Công chuẫn-bị thuyền-bè và người để ra Hoàng-Sa vào năm tới
nhằm xây một đền thờ, dựng một bia và trồng cây.[xvii][17]
-
-
Năm 1834 hoàng-đế Minh-Mệnh gởi ra
Hoàng-Sa đội thủy-quân gồm khoảng 20 người, đội-trưởng là
Trương Phúc Sĩ để làm công-tác lấy địa-h́nh.[xviii][18]
-
-
Năm 1835 hoàng-đế Minh-Mệnh ra lệnch
cho thủy-quân Đô-Đốc Phạm Văn Nguyên đem quân và nhân-công
thuộc hai tỉnh Quảng-Ngăi và B́nh-Định ra đảo Hoàng-Sa cùng
với vật-liệu để nhằm xây-dựng tại đó một ngôi đền. Một tấm
bia, được dựng phía bên trái và một tấm chắn gió, dựng phía
trước, của ngôi đền.[xix][19]
-
-
Năm 1836 hoàng-đế Minh-Mệnh chấp-thuận
một đề-nghị của bộ Công, ra lệnh cho thủy-quân Đô-Đốc Phạm Hữu
Nhật đem một số chiến-thuyền ra Hoàng-Sa để làm công việc
trắc-địa. Công-tác nầy được ghi lại qua Đại-Nam Thực Lục Chính
Biên đại ư như sau:
“Tất-cả những hải-đảo được thăm viếng, dầu
là đảo nhỏ hay dăi cát, đều được thám-hiểm và được mô-tả
chính-xác chiều dài, chiều rộng, diện-tích và chu-vi, độ sâu
của vùng biển chung-quanh, những khó-khăn hay dễ-dàng lúc tàu
bè gặp phải lúc cặp bến. Tất cả được đo-đạc và được tŕnh bày
trên bản-đồ. Mặc khác, cũng phải ghi rơ bến khởi-hành, hướng
theo đó đi đến nơi và chiều dài ước-lượng bằng dặm. Đồng thời
phải định-vị các đảo đă cặp bến so với bờ trên đất liền bằng
cách xác-định tên, tọa-độ, phương-hướng của phủ, huyện
đối-diện hay ở kế bên và ước-lượng độ dài của đảo đối với bờ
trên đất liền bằng dặm. Tóm lại, tất cả đều được ghi-chép,
mô-tả chi-tiết tỉ-mỉ để tŕnh lên hoàng-đế.”
Đại-Nam Thực
Lục Chính Biên cũng ghi rằng những cột mốc gỗ do Đô-Đốc Phạm
Hữu Nhật đem theo để cắm trên các đảo được viết những chữ có
ư-nghĩa như sau:
“Vào năm Bính-Thân, tức triều Minh-Mệnh thứ
17 (1836), Thủy-Sư Đô-Đốc Tổng-Quản Hải-Quân Phạm Hữu Nhật
lănh chiếu-chỉ ra đảo Hoàng-Sa để phụ-trách việc lấy trắc-địa,
đến nơi đây để cắm mốc nầy để ghi-nhớ muôn đời”.[xx][20]
* Những hoàng-đế nhà Nguyễn không những chỉ
để ư về chủ-quyền và lợi-lộc của Hoàng-Sa và Trường-Sa mà c̣n
lo-ngại cho sự an-ninh của thuyền-bè các nước khác đi ngang
qua vùng biển nầy. Năm 1833 hoàng-đế Minh-Mệnh ra chiếu lệnh
cho bộ Công, có nội-dung như sau: Lănh-hải đối-diện vùng tỉnh
Quảng-Ngăi là những đảo Trường-Sa trải dài bao-la mút mắt mà
nơi đó bầu trời lẫn-lộn với nước biển có chung một màu, người
ta không biết được mực nước tại đây nông hay sâu. Thời-gian
gần đây có nhiều thương-thuyền bị đắm. V́ thế bắt đầu từ bây
giờ chuẫn-bị thuyền lớn để vào năm tới “gởi người đến đó để
trồng cây. Cây-cối khi lớn lên trở thành rừng, cho phép những
nhà hàng-hải trông thấy dễ-dàng vùng đá ngầm nầy và tránh xa.
Đây là một công-việc mà các thế-hệ tương-lai sẽ hưởng được
kết-quả.”[xxi][21]
Đây chắc-chắn là một hành-động biểu-lộ
trách-nhiệm của vị chủ-tể quốc-gia về lănh-thổ của nước ḿnh
đối với các thương-thuyền ngoại-quốc. Việc nầy cho thấy
đích-thực Hoàng-Sa và Trường-Sa hiển-nhiên là một phần
lănh-thổ của Việt-Nam.
Những bộ cổ-sử và địa-chí của Việt-Nam cũng
như những lời ghi-nhận của các nhà hàng-hải hay truyền-giáo
Tây-Phương ghi trên, cho thấy rằng từ lâu, và trải dài hàng
nhiều thế-kỷ, từ triều-đại nầy sang triều-đại khác, quốc-gia
Việt-Nam đă làm chủ một cách liên-tục hai quần-đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa. Sự có mặt đều-đặn của của công-ty Hoàng-Sa do
nhà-nước thành-lập tại hai quần-đảo nầy để thi-hành công-việc
trong thời-gian 5, 6 tháng mỗi năm, là một bằng-chứng không
thể phản-biện việc hành-sử chủ-quyền của quốc-gia Việt-Nam tại
hai quần-đảo nầy. Việc quốc-gia Việt-Nam chiếm-hữu cũng như
khai-thác huê-lợi hai quần-đảo nầy chưa bao giờ gặp sự
chống-đối của bất-kỳ một nước nào, kể cả nước Trung-Hoa. Việc
nầy cũng là một bằng-chứng khác cho thấy đă từ lâu, Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc lănh-thổ nước Việt-Nam.
2/ Pháp-Quốc
nhân-danh Việt-Nam tiếp-tục hành-sử chủ-quyền của quốc-gia
Việt-Nam tại các quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Từ khi kư-kết hiệp-ước 1884 với triều-đ́nh
nhà Nguyễn, nước Pháp đă thay mặt Việt-Nam trong những quan-hệ
ngoại-giao với các nước ngoài đồng-thời bảo-đảm chủ-quyền cùng
toàn-vẹn lănh-thổ của Việt-Nam. Theo tinh-thần của hiệp-ước
nầy, nước Pháp tiếp-tục hành-sử chủ-quyền của Việt-Nam tại
Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Theo đây là một vài bằng-chứng:
* Những pháo-hạm của Pháp thường-xuyên
tuần-tiễu trong Biển-Đông, kể cả những vùng Hoàng-Sa và
Trường-Sa.
* Năm 1899, Toàn-Quyền Paul Doumer đề-nghị
Paris một dự-án xây-dựng tại đảo Hoàng-Sa (Pattle) thuộc
quần-đảo Hoàng-Sa một đèn pha nhằm hướng-dẫn thuyền-bè qua lại
trong vùng biển nầy. Dự-án không thực-hiện được v́ thiếu
tài-chánh.
* Bắt đầu từ năm 1920, đội hải-thuyền thuộc
quan-thuế Đông-Dương tăng-cường thêm những vụ tuần-tra trong
vùng Hoàng-Sa để trừ-khử nạn buôn lậu.
* Năm 1925, Hải-Học Viện Nha-Trang đă gởi
chiếc thuyền mang tên De Lanessan đến Hoàng-Sa để thực-hiện
một công-tác nghiên-cứu hải-học. Ngoài ông chủ-tịch Viện
Hải-Học là A. Krempf, người ta c̣n ghi-nhận có những nhà
bác-học khác như Delacour, Jabouille... đă thực-hiện những
cuộc nghiên-cứu về địa-chất, về sinh-vật v.v...
* Tháng 3 cùng năm (1925), Binh-Bộ Thượng-Thư
Thân Trọng Huệ của triều-đ́nh Huế xác-nhận thêm lần nữa là
Hoàng-Sa thuộc lănh-thổ Việt-Nam.
* Năm 1927 chiếc thuyền De Lanessan thực-hiện
một công-tác nghiên-cứu khoa-học tại Trường-Sa.
* Năm 1929 sứ-bộ Perrier – De Rouville
đề-nghị xây-dựng bốn đèn pha ở bốn góc quần-đảo Hoàng-Sa [trên
các đảo Tri-Tôn (Triton), Linh-Côn (Lincoln), băi Đá Bắc
(recif Nord), Bom-Bay (Bombay)].
* Năm 1930 Thông-Báo Hạm mang tên Malicieuse
đến quần-đảo Hoàng-Sa.
* Tháng 3 năm 1931 chiếc Inconstant đến
quần-đảo Hoàng-Sa.
* Tháng 6 năm 1931 chiếc De Lanessan đến
quần-đảo Hoàng-Sa.
* Tháng 5 năm 1932 pháo-hạm mang tên Alerte
đến quần-đảo Hoàng-Sa.
* Từ ngày 13 tháng 4 năm 1930 đến 12 tháng 4
năm 1933, chính-phủ Pháp đă gởi những đội-ngũ hải-quân thả neo
liên-tiếp trên những đảo chính của quần-đảo Trường-Sa. Đó là:
Trường-Sa (Spratley), An-Bang (Caye Amboine), Itu Aba, nhóm
hai đảo Sóng-Tụ
[xxii][22],
Loại-Ta, Thị-Tứ.
* Ngày 21 tháng 12 năm 1933, Toàn-Quyền M.J.
Krautheimer kư một nghị-định sát-nhập những đảo Trường-Sa,
An-Bang, Itu Aba , Sóng-Tụ, Loại-Ta, Thị-Tứ vào tỉnh Bà-Rịa.
* Năm 1937 chính-quyền Pháp gởi viên kỷ-sư
trưởng ngành công-chánh tên Gauthier ra đảo Hoàng-Sa để
lựa-chọn nơi thích-hợp nhằm dựng một đèn pha và một băi đáp
cho thủy-phi-cơ.
Tháng 2 năm 1937 tuần-dương-hạm tên Lamotte
Piquet do Phó Đô-Đốc Estava chỉ-huy ghé thăm quần-đảo
Hoàng-Sa.
* Ngày 30 tháng 3 năm 1938, Hoàng-Đế Bảo-Đại
kư sắc-lệnh nhằm tách Hoàng-Sa ra khỏi tỉnh Quảng-Ngăi để sát
nhập lănh-địa tỉnh Thừa-Thiên.
* Ngày 15 tháng 6 năm 1938, toàn-Quyền Brévié
kư nghị-định nhằm thành-lập một ủy-ban hành-chánh tại Hoàng-Sa
tùy-thuộc tỉnh Thừa-Thiên.
* Năm 1938 Pháp cho dựng một cột đánh dấu
chủ-quyền, hoàn-tất việc xây-dựng một đèn pha, một trạm
thời-tiết và một trạm vô-tuyến trên đảo Hoàng-Sa (Pattle)
đồng-thời cho xây-dựng một trạm thời-tiết và một trạm vô-tuyến
tại đảo Itu Aba thuộc quần-đảo Trường-Sa.
* Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn-Quyền Brévié
kư nghị-định nhằm sửa đổi nghị-định ngày 15 tháng 6 năm 1938
và thành-lập hai ủy-ban hành-chánh trên quần-đảo Hoàng-Sa:
Ủy-Ban Nguyệt-Thiềm “Croissant et indépendances” và Ủy-Ban
“d’Amphitrite et dépendances”.
Trong suốt thời-kỳ đại-diện Việt-Nam trong
lănh-vực giao-tiếp với nước ngoài, nước Pháp không ngừng
xác-nhận chủ-quyền của Việt-Nam tại các quần-đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa và phản-đối chống lại mọi hành-động ảnh-hưởng đến
việc nầy.
* Trong chiều hướng đó, ngày 4 tháng 12 năm
1931 và ngày 24 tháng 4 năm 1932, nước Pháp đă phản-đối
chính-quyền Trung-Hoa về vấn-đề chính-quyền địa-phương tỉnh
Quảng-Đông tổ-chức đấu-thầu nhằm khai-thác phân chim tại quần
đảo Hoàng-Sa.
* Ngày 24 tháng 7 năm 1933, nước Pháp đă
thông-báo cho Nhật-Bản việc gởi quân ra các đảo chính của
Hoàng-Sa; Nhật-Bản đă phản-đối việc nầy nhưng Pháp đă bác bỏ.
* Ngày 4 tháng 4 năm 1939, nước Pháp đă
phản-đối việc Nhật-Bản đă đặt một số đảo thuộc Hoàng-Sa dưới
quyền của Nhật-Bản.
3/ Việc pḥng-vệ và sự hành-sử chủ-quyền của
Việt-Nam ở Hoàng-Sa và Trường-Sa từ khi Thế-Chiến Thứ 2
kết-thúc.
* Sau khi trở lại Việt-Nam sau Thế-Chiến Thứ
2, chính-quyền Pháp đă gởi các chiến-hạm đến Hoàng-Sa,
xây-dựng một trạm thời-tiết trên đảo Hoàng-Sa và chống lại
những hành-vi xâm-lấn của Trung-Hoa.
* Ngày 7 tháng 9 năm 1951, trưởng phái-đoàn
của chính-phủ Bảo-Đại là ông Trần Văn Hữu, nhân-dịp Hội-Nghị
San Francisco về việc kư hiệp-ước ḥa-b́nh với Nhật-Bản, có
tuyên-bố rằng đă từ lâu Hoàng-Sa và Trường-Sa là lănh-thổ của
Việt-Nam: “... Và v́ phải nắm lấy mọi cơ-hội để triệt-tiêu
tất-cả những mầm-mống tranh-chấp sau nầy, chúng tôi xác-nhận
chủ-quyền của dân-tộc chúng tôi tại Hoàng-Sa và Trường-Sa, từ
muôn đời, những quần-đảo nầy là một phần lănh-thổ của nước
Việt-Nam.”
Tuyên-bố nầy đă không gây một phản-đối, hay
một sự dè-dặt nào trong 51 nước tham-dự tại Hội-Nghị.
* Năm 1953, thuyền của kỷ-sư trưởng Girod đến
Hoàng-Sa để làm những nghiên-cứu về hải-học, địa-chất, địa-lư
và môi-trường.
Chính-quyền Việt-Nam Cộng-Ḥa sau đó là
chính-quyền lâm-thời Cộng-Ḥa Miền-Nam Việt-Nam cũng đă
hành-sử chủ-quyền của Việt-Nam tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Một vài bằng-chứng:
* Năm 1956 hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa
tiếp-thâu Hoàng-Sa và Trường-Sa sau khi Pháp rút đi.
* Năm 1956, cục Hầm-Mỏ thuộc bộ Công-Nghiệp và
Thủ-Công-Nghiệp với sự giúp đỡ của lực-lượng Hải-Quân của
Việt-Nam Cộng-Ḥa đă thực-hiện một cuộc nghiên-cứu trên bốn
đảo: Hoàng-Sa (Pattle), Quang-Ảnh (Monkey), Hữu-Nhật (Robert),
Duy-Mộng (Drumond).
* Ngày 22 tháng 10, Việt-Nam Cộng-Ḥa sát-nhập
quần-đảo Trường-Sa vào tỉnh Phức-Tuy.
* Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Việt-Nam Cộng-Ḥa
sát-nhập quần-đảo Hoàng-Sa vào tỉnh Quảng-Nam mà trước đó
thuộc Thừa-Thiên đồng-thời thiết-lập tại đó một làng đặt tên
là Định-Hải, trực-thuộc quận Ḥa-Vang và đặt ra một ủy-viên
hành-chánh để điều-hành.
* Từ năm 1961 đến năm 1963, Việt-Nam Cộng-Ḥa
đă cho xây-dựng lần-lược những trụ cột chủ-quyền tại những đảo
chính của quần-đảo Trường-Sa: Trường-Sa, An-Bang, Sóng-Tụ-Tây,
Sóng-Tụ-Đông, Thị-Tứ, Loại-Ta.
* Ngày 21 tháng 10 năm 1969, Việt-Nam Cộng-Ḥa
sát-nhập làng Định-Hải vào quận Ḥa-Long, trước đó thuộc quận
Ḥa-Vang, tỉnh Quảng-Nam.
* Vào tháng 7 năm 1973, Viện Nghiên-Cứu
Nông-Nghiệp thuộc Bộ Phát-Triển Nông-Nghiệp của Việt-Nam
Cộng-Ḥa đă thực-hiện một cuộc nghiên-cứu tại đảo Nam-Ai (Nam
Yit) thuộc quần-đảo Trường-Sa.
* Tháng 8 năm 1973, bộ Kế-Hoạch và Phát-Triển
Quốc-Gia Việt-Nam Cộng-Ḥa đă tổ-chức, cùng với sự hợp-tác của
xí-nghiệp Nhật-Bản có tên Maruben Corporation, việc khảo-sát
phân-chim tại quần-đảo Hoàng-Sa.
* Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Việt-Nam Cộng-Ḥa
sát-nhập các đảo Trường-Sa, An-Bang, Itu Aba, Sóng-Tụ-Đông,
Sóng-Tụ-Tây, Loại-Ta, Thị-Tứ, Nam-Ai (Nam Yit), Sinh-Tồn
(Sin-cowe) và những đảo chung-quanh vào xă Phước-Hải, quận
Đất-Đỏ tỉnh Phước-Tuy.
Ư-thức Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc lănh-thổ
Việt-Nam đă truyền từ đời nầy sang đời nọ, v́ thế chính-phủ
Việt-Nam Cộng-Ḥa đă hết ḷng bảo-vệ chủ-quyền của ḿnh tại
hai quần-đảo nầy mỗi khi có ngoại-bang manh-nha ư-đồ
tranh-chấp hay muốn lấn chiếm bất-kỳ đảo nào tại nơi đây.
* Ngày 1 tháng 6 năm 1956, khi các nước
Trung-Quốc, Đài-Loan và Phi-Luật-Tân dành chủ-quyền tại
quần-đảo Hoàng-Sa, bộ Ngoại-Giao Việt-Nam Cộng-Ḥa liền
công-bố một tuyên-cáo xác-định chủ-quyền của Việt-Nam tại
quần-đảo nầy.
* Ngày 22 tháng 1 năm 1959, nhà cầm-quyền
Việt-Nam Cộng-Ḥa bắt giữ và giam-cầm 82 người dân Trung-Hoa
lục-địa v́ những người nầy đă xâm-nhập bất-hợp-pháp lên đảo
Hữu-Nhật, Duy-Mộng, Quang-Ḥa thuộc quần-đảo Hoàng-Sa.
* Ngày 20 tháng 4 năm 1971, Việt-Nam Cộng-Ḥa
xác-nhận lại chủ-quyền của Việt-Nam tại Trường-Sa nhằm trả lời
Mă-Lai nhân nước nầy đ̣i chủ-quyền tại một số đảo thuộc
quần-đảo nầy.
* Ngày 10 tháng 7 năm 1971, nhân một cuộc họp
báo, Tổng-Thống Phi-Luật-Tân ra tuyên-bố về quần-đảo Hoàng-Sa,
Bộ-Trưởng Bộ Ngoại-Giao Việt-Nam Cộng-Ḥa xác-nhận lại ngày 13
tháng 7 năm 1971 chủ-quyền của Việt-Nam tại quần-đảo nầy.
* Năm 1974, Trung-Quốc đă dùng vũ-lực xâm-lăng
nhóm đảo phía Tây-Nam quần-đảo Hoàng-Sa. Ngày 19 tháng 1 năm
1974 chính-quyền Việt-Nam Cộng-Ḥa ra tuyên-cáo lên-án
Trung-Quốc đă xâm-phạm chủ-quyền lănh-thổ Việt-Nam; ngày 28
tháng 6 năm 1974, tuyên-bố trước kỳ họp thứ 2 và thứ 3 của
Hội-Nghị Liên-Hiệp-Quốc về Luật Về Biển tổ-chức tại Caracas
rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc về Việt-Nam; ngày 14 tháng 2
năm 1974, công-bố một tuyên-cáo xác-nhận hai quần-đảo nầy
thuộc lănh-thổ Việt-Nam. Chính-Phủ Cách-Mạng Lâm-Thời CHMNVN
cũng ra tuyên-bố ngày 20 tháng 1 năm 1974 quan-điểm của ḿnh
qua ba điểm nhằm giải-quyết những sai-biệt về lănh-thổ.
Ngày 5 và 6 tháng 5 năm 1975, Chính-Phủ
CMLTCHMNVN công-bố đă giải-phóng Trường-Sa.
* Tháng 9 năm 1975, đại-diện của Chính-Phủ
CMLTCHMNVN tại Hội-Nghị Thời-Tiết ở Colombo tuyên-bố rằng
Hoàng-Sa thuộc về Việt-Nam và yêu-cầu OMM tiếp-tục ghi-nhận
trạm thời-tiết của Việt-Nam tại Hoàng-Sa trong danh-sách các
trạm thời-tiết của OMM (Trạm thời-tiết Hoàng-Sa được ghi trong
danh-mục OMM với mă-số 48.860).
Sau khi thống-nhứt năm 1976, Chính-Phủ
CHXHCNVN đă nhiều lần xác-nhận chủ-quyền của Việt-Nam tại
Hoàng-Sa và Trường-Sa, như qua nội-dung văn thư đă gởi đến các
nước liên-quan, hay trong lúc thương-thuyết ở cấp phó
bộ-trưởng bộ Ngoại-Giao, bắt đầu ở Bắc-Kinh vào tháng 10 năm
1977, hay trong những tuyên-bố của bộ-trưởng bộ Ngoại-Giao
nhân-dịp Hội-Nghị OMM tại Genéve (1980), Đại-Hội Quốc-Tế về
Địa-Chất tại Paris (tháng 7 năm 1980), v.v...
Dựa trên căn-bản những dữ-kiện lịch-sử cụ-thể
và những nguyên-tắc của luật quốc-tế cũng như tập-quán của
quốc-tế, người ta có thể lấy ra những kết-luận như sau:
Thứ nhứt: Quốc-Gia Việt-Nam đă từ lâu
chiếm-hữu thực-tế các quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa vào lúc
mà chúng không thuộc về một nước bất-kỳ nào.
Thứ nh́: Từ lúc chiếm-hữu đó đến nay trải qua
nhiều thế-kỷ, Quốc-Gia Việt-Nam đă hành-sử một cách liên-tục
và cụ-thể chủ-quyền của ḿnh tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Thứ ba: Quốc-Gia Việt-Nam đă luôn bảo-vệ
mạnh-mẽ thẩm-quyền và danh-nghĩa của ḿnh đối với bất-kỳ một
hành-động nào xâm-phạm đến chủ-quyền, lănh-thổ và quyền-lợi
của Việt-Nam liên-hệ đến Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Phần II: Hoàng-Sa
và Trường-Sa chưa bao giờ là lănh-thổ của Trung-Hoa.
Bất-chấp thực-tế hiển-nhiên là Trường-Sa và
Hoàng-Sa thuộc lănh-thổ của Quốc-gia Việt-Nam, trung-ương đảng
cộng-sản lănh-đạo Trung-Hoa đă thử biện-hộ cho mưu-đồ
bành-trướng của họ tại Hoàng-Sa và Trường-Sa qua việc bóp méo
nội-dung một số cổ-sử để mạo nhận rằng “Trung-Hoa là nước
đầu tiên đă khám-phá, khai-khẩn, thâu huê-lợi và quản-lư các
quần-đảo gọi là Xisha (Tây-Sa) và Nansha (Nam-Sa). Từ ngàn năm
nay, những chính-phủ Trung-Hoa liên-tục đă đặt quyền-pháp trên
những nơi đây. Dân-tộc Trung-Hoa là người chủ tại hai quần-đảo
nầy không thể phản-biện”.[xxiii][23]
Mặc khác, trung-ương đảng CS Trung-Hoa đă
xảo-ngôn cho rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam chỉ là
những đảo và những dăi cát cận bờ thuộc miền Trung Việt-Nam,
chứng-minh v́ thế hai quần-đảo nầy không phải là Tây-Sa và
Nam-Sa của Trung-Hoa.
Nhưng thực-tế vẫn là thực-tế, hai quần-đảo
Hoàng-Sa và Trường-Sa đă và sẽ vĩnh-viễn là của Việt-Nam.
1/ Những lư-lẽ của
nhà cầm-quyền Trung-Hoa đưa ra nhằm ngụy-biện các việc
« khám-phá », « khai-khẩn » và « thâu huê-lợi » của dân-tộc
Trung-Hoa tại Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Những tài-liệu đă được Bộ Ngoại-Giao
Trung-Quốc công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 đă nhắc tới hai
tác-phẩm[xxiv][24]
từ thời Tam-Quốc (220-265) để chứng-minh rằng từ lâu Trung-Hoa
đă « khám-phá » Tây-Sa và Nam-Sa. Họ cũng đưa ra một danh-sách
6 tác-phẩm[xxv][25]
từ đời Tống đến đời Thanh (thế-kỷ 11 đến thế-kỷ thứ 19) và
xác-nhận rằng những tác-phẩm nầy « kể lại những cuộc
hành-tŕnh của người Hoa đi đến Tây-Sa và Nam-Sa và những
hoạt-động sản-xuất mà họ đă thực-hiện từ hơn ngàn năm » và
« đă đặt tên lần-lượt cho hai quần đảo nầy với những tên
sau đây : Jiurulozhou, Shitang, Qianlishitang, Wanlishitang,
Changsha, Qianlichangsha, Wanlichangsha » v.v..., để
chứng-minh rằng dân-tộc Trung-Hoa đă « khám-phá »,
« khai-khẩn » và « thu-hoạch huê-lợi » ở Nam-Sa và Tây-Sa.
Nhưng thực-tế th́ nội-dung phần trích-dẫn từ
hai tác-phẩm thời Tam-Quốc th́ rất mơ-hồ. Riêng về 6 tác-phẩm
từ đời Tống đến đời Thanh th́ chúng chỉ nhằm vào việc ghi-chép
những sự hiểu-biết của dân Trung-Hoa qua các thời-đại nầy về
các lănh-vực địa-lư, lịch-sử, tập-quán… của những xứ khác
trong vùng Đông-Nam Châu Á và vùng Nam Châu Á và về các
hải-tŕnh từ Trung-Hoa đi đến các nước khác ; trong đó
không hề có những ghi-chép về những cuộc du-hành của người Hoa
tại hai quần-đảo nầy cũng như sự mô-tả về « hoạt-động
sản-xuất » tại đó. Những cái tên ngày xưa, theo Bắc-Kinh,
là tên mà các tác-phẩm đó chỉ hai quần-đảo, giả-sử rằng
thực-sự đúng là như thế, th́ chúng chỉ là những tên mà người
Trung-Hoa đă sử-dụng trong quá-khứ để mô-tả địa-lư các nước
ngoài hay là những hải-tŕnh ở trên Biển-Đông, những cái tên
của các địa-phương nầy không hề có giá-trị pháp-lư để
chứng-minh rằng các quần-đảo đó thuộc Trung-Hoa.
Riêng về việc « khám-phá » của Trung-Hoa,
giả-sử sự việc nầy đúng như thế, th́ nó cũng không có một
ư-nghĩa pháp-lư nào để chứng-minh rằng từ thời-kỳ đó, những
quần-đảo mà người Trung-Hoa gọi là Tây-Sa và Nam-Sa thuộc
lănh-thổ của Trung-Hoa. Sự việc « khai-khẩn » và sự việc
« thâu huê-lợi » của người Hoa tại Tây-Sa và Nam-Sa giả-sử có
thật th́ cũng chỉ là hành-động của cá-nhân, v́ thế quốc-gia
Trung-Hoa không có cách nào để nhận chủ-quyền ở hai quần-đảo
đó.
2/ Vấn-đề giả-mạo dữ-kiện để minh-chứng
thẩm-quyền của các triều-đại Trung-Hoa tại Hoàng-Sa và
Trường-Sa qua hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc.
Điểm chính mà công-luận đ̣i-hỏi chính-quyền
Trung-Hoa phải chứng-minh là : từ bao giờ và bằng cách nào
quốc-gia Trung-Hoa chiếm-đóng Tây-Sa và Nam-Sa ? Bắc-Kinh đă
vô-phương giải-thích một cách đứng-đắn. V́ thế chính-quyền
Trung-Hoa chỉ xác-nhận bằng những lời nói chung-chung như « những
nhà cầm-quyền Trung-Hoa tiếp-nối đă hành-sử thẩm-quyền »
tại hai quần-đảo. Và để chứng-minh họ đưa ra một số bằng-chứng
trong thời-kỳ từ thế-kỷ thứ 11 đến thế-kỷ thứ 19, mà 3
bằng-chứng giả-mạo như sau :
2.1/ Bằng-chứng 1 : Hồ-sơ đă ghi ở trên của
bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đă trích-dẫn một đọan văn và cho là
của Wu Jing Zong Yao, viết dưới triều Renzong (1023-1063)
Bắc-Tống : Triều-đ́nh Bắc-Tống « ra lệnh cho quân-đội
hoàng-gia tuần-tiễu xây-dựng ở Guangnan (hiện thời là
Quảng-Đông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần-tiễu trên
biển » và « xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có
sống giữa (navire à quille)»... « Nếu người ta theo gió
Đông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để từ
Tunmenshan đến Jiuruluozhou ».
Cho rằng rằng Jiuruluozhou là « quần-đảo
Tây-Sa », hồ-sơ trên kết-luận-rằng « triều-đ́nh Bắc-Tống đă
sử-dụng thẩm-quyền của ḿnh ở quần-đảo Tây-Sa », và « hải-quân
Trung-Hoa đă tuần-tiễu cho đến Tây-Sa ».
Nhưng sự-thật th́ hoàn-toàn không đúng như
thế. Wu Jing Zong Yao đă viết như sau :
« ... ra lệnh cho quân-đội hoàng-gia
thực-hiện việc tuần-tiễu, xây-dựng một trại quân cho việc
tuần-tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Đông và phía Tây
khoảng-cách là 280 trượng[xxvi][26],
cách Tunmenshan 200 lí[xxvii][27]
và xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa.
Nếu người ta theo gió Đông để cho thuyền đi
về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan[xxviii][28]
đến Jiuruluoshou, thêm 3 ngày nữa th́ đến Pulaoshan (thuộc
Huanzhou)
[xxix][29],
sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam th́ tới Lingshandong. Ở
phía Tây-Nam của nơi này th́ có các nước Dashifu, Sizi,
Tianzhu[xxx][30]
. Không thể ước-lượng được khoảng-cách.[xxxi][31] »
Như thế rơ-ràng trong phần trích-dẫn ghi trên
đây của Wu Jing Zong Yao, một đoạn ghi lại việc hoàng-đế của
Bắc-Tống ra lệnh « xây-dựng một trại quân dùng vào việc
tuần-tiễu trên biển » ở bến Quảng-Châu (Guangzhou), một
đoạn khác mô-tả vị-trí địa-lư của trại quân ghi trên, và một
đoạn khác mô-tả hải-tŕnh đi từ bến Quảng-Châu cho đến Ấn-Độ
Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải-quân Trung-Hoa đi
tuần-tiễu cho đến quần-đảo « Xisha » (Tây-Sa). Như thế, hồ-sơ
của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc đă cắt một đoạn để dán vào một
đoạn khác nhằm ngụy-tạo bằng-chứng để dành lấy Hoàng-Sa của
Việt-Nam.[xxxii][32]
2.2/ Bằng-chứng 2 : Hồ-sơ dẫn trên của bộ
Ngoại-Giao Trung-Quốc đă dựa lên những việc quan-sát thiên-văn
xăy ra ở Nam-Hải và đầu triều Nguyên (Yuan) để khẳng-định rằng
« dưới triều Nguyên, quần-đảo Xisha - Tây-Sa - thuộc
lănh-thổ Trung-Hoa ».
Theo Yuanshi, lịch-sử chính-thức của triều
Nguyên (Yuan), những quan-sát thiên-văn đă thực-hiện vào đầu
triều-đại nầy được kể lại như sau :
« Những đo-lường về bóng của mặt trời tại
bốn biển được thực-hiện ở 27 vị-trí, phía Đông cho tới Kaoli -
Cao-Ly, phía Tây cho tới Tianchi, phía Nam cho tới Zhuya, phía
Bắc cho tới Tiele. »[xxxiii][33]
Dưới tựa-đề « quan-sát bốn biển », Yuanshi đă
ghi lại 27 vị-trí
[xxxiv][34]
mà nơi đó đă được thực-hiện những quan-sát thiên-văn, trong đó
gồm có các nơi Kaoli, Tiele, Beihai, Nanhai.
Những dữ-kiện đă ghi lại trong « Yuanshi » cho
thấy rơ-ràng rằng những quan-sát thiên-văn tại 27 vị-trí không
phải là việc « quan-sát khắp đất nước » như hồ-sơ của Bắc-Kinh
đă khẳng-định, mà là việc « quan-sát ở bốn biển ».
Đó chính là lư-do mà « Yuanshi » cũng đă
ghi-chú những vị-trí ở ngoài lănh-thổ Trung-hoa như Kaoli
(Đại-Hàn), Tiele (Sibérie, Nga), Beihai (vùng bờ biển ở
Sibérie), Nanhai (Biển-Đông).[xxxv][35]
Giả-sử rằng vị-trí quan-sát thiên-văn vùng
« Nanhai » ở tại Xisha (Tây-Sa tức Hoàng-Sa), việc nầy cũng
không có nghĩa là Xisha thuộc lănh-thổ Trung-Hoa từ thời Yuan
(Nguyên). Bộ Yuanshi cũng đă xác-nhận rằng lănh-thổ Trung-Hoa
về hướng Nam chỉ đến đảo Hải-Nam và không vượt qua sa-mạc Gobi[xxxvi][36]
ở phương Bắc.
2.3/ Bằng-chứng 3 : Hồ-sơ của bộ Ngoại-Giao
Trung-Quốc đă trích-dẫn việc một toán tuần-tiễu trên biển do
Phó Đô-Đốc Wu Sheng chỉ-huy, từ 1710 và 1712, dưới đời nhà
Thanh : « Khởi-hành từ Qiongya, đội hải-quân đi đến Tonggu
và đi ngang qua Qizhouyang và Sigengsha, trải qua như vậy
3.000 lí, để tự ḿnh thực-hiện một ṿng kiểm-soát », để
khẳng-định « Quizhouyang là vùng đảo Xisha – Tây-Sa, tại đó
lực-lượng hải-quân của tỉnh Quảng-Đông đảm-trách việc
tuần-tiễu ».
Nhưng sự thực th́ hoàn-toàn không phải như
vậy. Những địa-danh trong đoạn trích-dẫn trên đây th́ ở trong
vùng chung-quanh đảo Hải-Nam :
-
-
Quiongya, đó là « vùng quân-sự Quiongya
(đảo Hải-Nam) dưới triều Thanh, bộ chỉ-huy đóng ở Qiongshan
gần thành-phố Hải-Khẩu (Haikou), ở phía Bắc đảo Hải-Nam.[xxxvii][37]
-
-
Tonggu th́ ở điểm Đông-Bắc đảo Hải-Nam.[xxxviii][38]
-
-
Qizhouyang chỉ vùng biển có 7 đảo mang
tên Qizhou ở về phía Đông đảo Hải-Nam.[xxxix][39]
-
-
Sigengsha là một dăi cát ở phía Tây đảo
Hải-Nam.[xl][40]
Sư thật t́m thấy qua sự nghiên-cứu khách-quan
ở những văn-bản gốc. Việc nầy cho thấy rằng bộ Ngoại-Giao
Trung-Quốc đă có hành-động cố ư giả-mạo để cho Qizhouyang trở
thành « vùng đảo Tây-Sa » và việc tuần-tiễu của Wu Sheng chung
quanh đảo Hải-Nam trở thành việc tuần-tiễu « vùng đảo
Tây-Sa », cuối cùng kết-luận rằng vùng nầy ngày xưa « được
lực-lượng hải-quân tỉnh Quảng-Đông phụ-trách việc tuần-tiễu ».
Sự đối-chiếu những đoạn trích-dẫn trên đây do
Bắc-Kinh đưa ra với các bản chánh đă cho thấy rơ-rệt rằng ba
điểm nầy không hề có một tương-quan nào với quần-đảo
« Xisha ».
Bắc-Kinh cũng đă nói sai khi cho rằng một số
địa-dư chí của các địa-phương của Trung-Hoa dưới thời Minh và
Thanh có viết « Quảng-Châu (Wanzhou) bao gồm Qianlichangsha
(Thiên-Lư Trường-Sa) và Wanlishitang »[xli][41]
nhằm mục-đích chứng-minh rằng « quần-đảo Xisha và Nansha
vào thời đó thuộc Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou
(Khâm-Châu), tỉnh Quảng-Đông ». Nhưng trong bộ Da Qing Yi
Tongzhi (Đại Thanh Nhất Thống Chí), bộ địa-dư chính-thức được
viết bởi Viện Quốc-Gia Sử-Học dưới triều nhà Thanh với lời
dẫn-nhập của hoàng-đế Xuanzong năm 1842, không hề có đoạn nào
ghi-nhận rằng « Qianlichangsha » và « Wanlishitang » thuộc về
Wanzhou (Quảng-Châu), phủ Qiongzhou (Khâm-Châu), tỉnh
Quảng-Đông. Cũng có thể do lư-do nầy mà nhà cầm-quyền Bắc-Kinh
đă không trích-dẫn đoạn nào thuộc bộ sách nầy, mặc dầu đây là
một bộ sách chính-thức của quốc-gia Trung-Hoa.
Mặc khác, nhà cầm-quyền Bắc-Kinh cũng tạo
dựng lên bằng-chứng đó là ba bản-đồ Trung-Hoa (tất-cả được
thực-hiện dưới triều nhà Thanh)[xlii][42].
Người đọc có thể tự hỏi rằng tại sao họ không công-bố những
bản-đồ nầy. Hành-động dấu-diếm nầy người ta có thể hiểu
dễ-dàng, đó là tất cả những bản-đồ của Trung-Hoa, cho đến
những năm đầu của Cộng-Hoà Trung-Hoa, th́ không có ghi-nhận về
Xisha và Nansha như là nhà cầm-quyền Bắc-Kinh đă tuyên-bố. Hay
là họ phải cần thời-gian để vẽ bản-đồ ?
Về việc đổ-bộ chớp-nhoáng quần-đảo Xisha,
thừa lệnh của Tổng-Đốc Quảng-Đông Zhang Renjim, Đô-Đốc
Hải-Quân Li Zhun cầm đầu 170 quan quân, vào năm 1909, đă đổ bộ
lên một số đảo thuộc Xisha, th́ đây là một hành-động
bất-hợp-lệ, bởi v́ ít nhất từ hàng thế-kỷ, Hoàng-Sa mà
Trung-Hoa gọi là Xisha, đă là một lănh-thổ của Việt-Nam. Đây
không phải là một vùng hải-đảo vô chủ.
Về việc đổ bộ của Hải-Quân Cộng-Ḥa Trung-Hoa
trên đảo Phú-Lâm (Ile Boisée) thuộc Hoàng-Sa và đảo Itu Aba
thuộc Trường-Sa vào tháng 12 năm 1946 là một hành-động
xâm-lăng, bởi v́ đă từ lâu, hai quần-đảo nầy đă thuộc
chủ-quyền Việt-Nam.
Về việc chiếm đóng của Cộng-Ḥa Nhân-Dân
Trung-Hoa tại nhóm đảo Đông-Bắc từ năm 1950 và từ 1974 nhóm
Tây-Nam của quần-đảo Hoàng-Sa lúc đó dưới sự kiểm-soát của
Việt-Nam Cộng-Ḥa, cũng là một hành-động xâm-lăng bằng vũ-lực.
Việc xâm-lăng, xăy ra chớp-nhoáng hay sau đó
chiếm đóng lâu dài, hoặc bất-kỳ hành-động nào của Trung-Hoa ở
Hoàng-Sa và trên đảo Itu Aba thuộc Trường-Sa là một hành-vi
xâm-phạm chủ-quyền và toàn-vẹn lănh-thổ của Việt-Nam. Những
hành-động nầy chà đạp luật-pháp quốc-tế và sẽ không đem lại
cho kẽ gây-hấn bất-kỳ một quyền-hạn hay có một chủ-quyền nào ở
những nơi nầy.
3/ Một dẫn-chứng mới của Bắc-Kinh :
Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam không phải là « Xisha » và
« Nansha » của Trung-Hoa.
Hồ-sơ dẫn trên của bộ Ngoại-Giao Trung-Quốc
được kết-luận bằng một sự khẳng-định long-trọng : « Quần-đảo
Hoàng-Sa của Việt-Nam không phải Xisha của Trung-Hoa »,
cũng tương-tự « Quần-đảo Trường-Sa của việt-Nam không phải
Nansha của Trung-Hoa » ; Hoàng-Sa và Trường-Sa của
Việt-Nam chỉ có thể là « những đảo và những dăi cát cận bờ
ở Trung-phần Việt-Nam ». Phía Trung-Hoa c̣n khẳng-định
thêm rằng phía Việt-Nam không thể « chứng-minh rằng
Trường-Sa tức là Nansha của Trung-Hoa ». Đây là những
lư-lẽ mới-mẻ mà Trung-Hoa chưa từng sử-dụng.
Từ những lư-lẽ nầy lại người ta thấy rằng,
một mặt, Bắc-Kinh công-nhận sự hiện-hữu của những đảo Hoàng-Sa
và Trường-Sa của Việt-Nam, mặc khác họ cũng cho rằng có sự
hiện-hữu của những đảo gọi là Xisha và Nansha. Như thế th́
những cái gọi là « Xisha » và « Nansha » th́ chúng ở đâu ?
Những quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa từ lâu đă thuộc lănh-thổ
của Việt-Nam, chúng đă được ghi-nhận trong một số lượng lớn
sử-sách của Việt-Nam và được vẽ trên nhiều bản-đồ của Việt-Nam
cũng như Tây-Phương (dưới tên Paracels và Spratley hay
Spratly). Những người lănh-đạo Trung-Quốc đă tự cho rằng hai
quần-đảo nầy thuộc về lănh-thổ của Trung-Hoa mà không
tŕnh-bày ra một bằng-chứng nào và đặt tên cho hai quần-đảo
nầy là « Xisha » và « Nansha ». Và hôm nay họ lại lên tiếng
cho rằng Việt-Nam không thể chứng-minh rằng Hoàng-Sa và
Trường-Sa tức là « Xisha » và « Nansha » của họ. Thật là không
có cách nào để diễn-tả cái điêu-ngoa của những lời xảo-trá
nầy. Việc nầy cho thấy Bắc-Kinh đă không c̣n t́m thấy được một
lư-do nào đứng-đắn và thuyết-phục hơn để tranh-căi với
Việt-Nam về Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Tất cả những tác-phẩm của Việt-Nam đă
phân-biệt một cách rơ-rệt giữa Hoàng-Sa và những đảo cận bờ ở
miền Trung-Việt. Trong Phủ-Biên Tạp Lục, nhà bác-học Lê Quí
Đôn đă ghi rơ rằng Đại Trường-Sa ở về phía bên kia của đảo Ré
và để đi đến đó phải mất ba ngày và ba đêm.
Bản-đồ Đại-Nam Nhất-Thống Toàn Đồ cũng có vẽ
Hoàng-Sa - Vạn-Lư Trường-Sa ở về phía bên kia các đảo cận bờ
như cù-lao Chàm, cù-lao Ré, cù-lao Xanh (Puolo gambi), cù-lao
Thu (Poulo Cécir de mer) v.v…
Mặc khác, những người cầm-quyền Trung-Quốc đă
bóp méo bài viết năm 1837 của linh-mục J.L. Tabert để cho rằng
quần-đảo Hoàng-Sa mà linh-mục nầy đề-cập chỉ là « những đảo
và dăi cát gần bờ thuộc miền Trung Việt-Nam ». Những người
nầy không biết thật hay là giả đ̣ không biết ? Bởi v́ năm sau,
1838, Linh-mục Tabert cho in bản-đồ An-Nam Đại-Quốc Họa-Đồ
trong quyển Tự-Điển Latin-Việt (Dictionarium
Latino-Anamiticum) và trên bản- |