Sáng nay, thứ Sáu 13-10-2006, chị Thái Kim Lan từ Đức
báo tin thầy Thích Măn Giác vừa viên tịch tại Los
Angeles, tiểu bang California, Mỹ.
Tôi ở cách Thầy – Chùa Việt Nam – có một giờ bay hay 6
giờ lái xe mà biết tin c̣n chậm hơn người ở bên kia bờ
Đại Tây Dương. Cũng thế, trong trận băo Xiangsane vừa
qua, tôi ở Mỹ mà đóng vai người thông tin diễn tiến trận
thiên tai cho thân nhân và bạn bè ở Sài G̣n. Có lẽ
khoảng cách thế giới trong thời đại mới này phải đo bằng
chiều sâu của tấm ḷng hơn là chiều rộng của không gian
và chiều dài của thời gian mới chính xác chăng?
Không gian và thời gian tâm lư không phải là một phép lạ
biến đổi hoàn cảnh, nhưng nó giúp cho những con người
“có duyên” gặp lại nhau trong từng khoảng cách dài bằng
nửa đời người mà tưởng chừng như mới hôm qua. Sự gặp gỡ
của những tâm hồn đồng điệu, mang dấu ấn tâm linh có khi
cách nhau hàng chục thế kỷ mà vẫn gần nhau trong gang
tấc hay có khi gặp nhau một cách t́nh cờ giữa cuộc đời
vắng lặng. Có hai thiền sư Măn Giác. Một thiền sư Măn
Giác đời Lư (1052-1096) và một thiền sư Măn Giác đời nay
(1927-2006) đă gặp nhau trong thi ca: “Mái chùa che chở
hồn dân tộc…” hay “Đêm qua sân trước một cành mai…” cách
nhau đến cả ngh́n năm mà vẫn cùng nh́n thấy cái thường
hằng rỗng lặng và hư ảo của cành mai sân trước hiên chùa.
Một cách vô h́nh chung, tôi vẫn thường nghĩ đến những
vần thơ Huyền Không (thi bút hiệu của thầy Thích Măn
Giác đời nay) một cách nhẹ nhàng và sương khói như thế.
Năm 1967, lần đầu tôi được gặp thầy Măn Giác trong lớp
triết học Đông phương ở Mô-Ranh, trường đại học Văn khoa
Huế thời ấy. Ngày đó, Thầy là một giáo sư thỉnh giảng
c̣n quá trẻ, mới tốt nghiệp ở Nhật Bản về. Trong chiếc
áo tu sĩ màu nâu, Thầy có một dáng dấp rất tươi mát và
thanh thoát. Nhất là nụ cười lúc nào cũng mở rộng. Thầy
cười không chỉ bằng miệng mà bằng cả đôi mắt và dáng vẻ
nhẹ nhàng, phóng khoáng. Thầy giảng về triết học Ấn Độ,
Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và nhấn mạnh về sự tương
quan của các nguồn triết học Đông phương trong bối cảnh
triết học Phật giáo. Với kiến thức phong phú của một nhà
nghiên cứu, một nhà Phật học và khả năng đa dạng về
ngoại ngữ như Hán, Phạn, Pháp, Anh, Nhật… Thầy Măn Giác
thường biến những buổi học thành những buổi thuyết tŕnh
chuyên đề của một học giả có thẩm quyền chuyên biệt làm
cho sinh viên thích thú và kính trọng.
Năm 1976, tôi gặp lại Thầy tại chùa Xá Lợi ở Sài G̣n
trong ngày Phật Đản khi Thầy đang tiếp phái đoàn Phật tử
Huế do Mặt trận Tổ quốc B́nh Trị Thiên gởi vào. Thầy có
vẻ nghiêm nghị và đăm chiêu hơn qua giọng nói và thái độ
dè dặt cẩn trọng hiện lên rất rơ trong hàng chư tăng ni
hiện diện trước tiền đ́nh chùa Xá Lợi.
Và một buổi tối ngày 27 tháng 12 năm 2003, tôi gặp Thầy
lần cuối cùng tại chùa Kim Quang, Sacramento. Về mặt thể
lực, Thầy có vẻ yếu, đi phải có người theo bên cạnh. Thế
nhưng Thầy cững đă bay từ miến Nam California lên miền
Bắc để tham dự nhân dịp chùa làm lễ đặt đá xây dựng lại
ngôi chùa mới trên khu đất của ngôi chùa cũ đang đổ nát
v́ thời gian. Đêm hội ngộ, vẫn với nụ cười thanh thoát
của một nhà thơ, Thầy đọc và ngâm thơ. Tôi không c̣n nhớ
rơ nguyên văn bài thơ, nhưng nhớ đó là một bài thơ về
quê hương. Bài thơ do Thầy sáng tác nói đến nỗi xúc động
giữa quê nghèo với mái tranh, với liếp cửa mỏng manh
không chắn nổi ngọn gió lạnh mùa Đông. Thầy vừa đọc vừa
kéo dài cuối câu thơ ra như ngâm. Giọng nói trầm ấm của
Thầy thuở đứng trên bục giảng 40 năm trước không c̣n nữa.
Nhưng sự xúc động lại dâng trào. Miệng Thầy vẫn cười
nhưng thỉnh thoảng vẫn đưa chiếc khăn nhỏ lên chùi mắt…
Mỗi lần gặp lại Thầy, cách nhau cả 10 năm, 30 năm nhưng
sao tôi vẫn thấy gần nhau quá, như mới hôm qua.
Khi sắp từ biệt Thầy, tôi nhắc lại những kỷ niệm cũ của
thời c̣n học với Thầy ở đại học Văn khoa Huế làm Thầy
cười sảng khoái. Tôi kể lại và hỏi Thầy c̣n nhớ không,
Thầy gật đầu. Đó là buổi sáng khi linh mục Nguyễn Ngọc
Lan (giáo sư thỉnh giảng dạy về lịch sử triết học Tây
phương) chở Thầy từ cư xá giáo sư Viện Đại học Huế gần
Ga Huế xuống đại học Văn khoa. Bọn con nít thấy một h́nh
ảnh “đoàn kết tôn giáo” rất ngộ đă chạy theo reo ḥ:
“Ê, tụi bây ơi! Coi tề. Cha chở Thầy! Cha chở Thầy!”
Trong câu chuyện, thầy cũng nhắc lại lịch sử “thăng trầm”
của hai câu thơ:
Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Giềng mối muôn đời của tổ tông.
Tôi đă nói đùa với Thầy:
“Trong hai câu đó, con chỉ thích câu đầu v́ mỗi Măn Giác
thiền sư chỉ có một câu thơ tuyệt tác.”
Ư tôi muốn nói đến bài “Xuân đi, Xuân đến” của Măn Giác
Thiền sư đời Lư.
Thầy hỏi:
“Măn Giác kia câu chi?”
Tôi thưa:
“Bạch Thầy: Đêm qua sân trước một cành mai…”
Thầy lại cười rộng lượng:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc… Hôm qua sân trước một
cành mai. Ngộ hỉ.”
Tôi đợi chờ lời Thầy phê về sự liên tưởng và so sánh (rất
có thể) khập khiểng của tôi, nhưng Thầy chỉ nở nụ cười
ấm áp và nói: “Ngộ hỉ”.
Có thể nói không riêng tôi mà tất cả mọi người biết và
gần thầy Thích Măn Giác từ khi thầy c̣n trẻ cho đến bây
giờ đều hưởng được bầu không khí tươi mát của một phong
thái bao dung và một tinh thần không bao giờ chấp nhặt
những chuyện bé nhỏ. Nhờ đức độ của Thầy như thế nên
chùa Việt Nam nổi tiếng là nơi bảo lănh, hỗ trợ và cũng
là trạm dừng chân đầu tiên đông đảo nhất cho quư tăng ni
từ xa mới đến Mỹ.
Tin hoà thượng Thích Măn Giác vừa viên tịch không làm ai
ngạc nhiên v́ tuổi tác đă cao và t́nh trạng thể lực ngày
một yếu của Thầy. Nhưng tất cả mọi người, Phật tử cũng
như thân hữu, đều cảm thấy có một sự mất mát rất lớn v́
sự vắng bóng của Thầy. Thầy đă sống một cuộc đời thật
trọn vẹn. Một đời tu sĩ cho Đạo; một nghệ sĩ thi ca văn
bút cho Đạo, cho Đời; một sự dấn thân cụ thể để bảo tồn
và phát huy những giá trị tri thức và tâm linh cao quư
giữa chốn bụi trần. Một đời Thầy tu hành trong tinh thần
“tự giác, giác tha, giác hạnh, viên măn” với phong thái
khoan ḥa đĩnh đạc của một thiện tri thức và sự hành xử
công minh, vô úy v́ đạo v́ đời của một danh tăng qua
những năm tháng thăng trầm nhất trong lịch sử dân tộc và
đạo pháp.
Hướng về hoà thượng Thích Măn Giác, phần đông Phật tử và
thân hữu cũng giống như tôi. Chúng tôi t́m thấy ở Thầy
một sự kết hợp hài ḥa giữa tinh thần tu sĩ, nghệ sĩ và
kẻ sĩ. Tinh thần tu sĩ để hành đạo giải thoát; tinh
thần nghệ sĩ để cảm thông với cuộc đời; và tinh thần kẻ
sĩ để dấn thân vào đời mà hóa đạo giúp đời.
Văn phẩm mới nhất của Thầy mà tôi được đọc là bài tham
luận gửi đến cuộc Hội thảo Phật giáo năm 2006, nhan đề:“Thư
ngỏ của Sa môn Thích Măn Giác gửi chư vị tham dự khóa
hội thảo Cơ duyên và Thử thách của Phật giáo thế giới và
Phật giáo Việt Nam”. Trong thư Thầy đă viết về tinh
thần nhập thế cần thiết của người Phật tử:
“Kiên tŕ và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ
đă đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường
chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ
trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường.
Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi
quần chúng t́m đến Phật. Phật t́m đến quần chúng để được
quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để tạo
cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại
cho quần chúng. Nhờ tinh thần có qua có lại tiên khởi đó
mà đạo tràng chùa chiền tự viện mới không trở thành
những hải đảo xa lánh hồng trần và các Trưởng Tử Như Lai
không hành xử như những chủ quán, ngồi một chỗ chờ khách
hàng tới để thù tiếp mà kiếm lợi, hay như những người
lính đứng trong pháo đài lâu lâu lại kêu lên Pháp Nạn!
Pháp Nạn! Đó là bài học đầu tiên chúng ta cần suy gẫm để
rút tỉa hệ luận cho Phật sự.”
Phải chăng đây là một lời nhắn nhủ thiết tha của Thầy
đối với những người c̣n ở lại trước ngày từ biệt?
Dấu ấn của một nghệ sĩ là tác phẩm. Dấu ấn của một vị
chân tu là tấm gương soi cho thế hệ kế thừa.
Hoà thượng Thích Măn Giác đă viên tịch nhưng những dấu
ấn từ bi, trí tuệ và dũng mănh của Thầy vẫn c̣n thắp
sáng niềm tin cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Là một người học tṛ cũ, con xin lắng ḷng tưởng niệm
Thầy.
Là một Phật tử, con xin cung bái Giác Linh Thầy một tâm
thức hoàn toàn tự do và giải thoát, xả bỏ báo thân, an
nhiên trở về miền an lạc.
Kính bái biệt Thầy!
Sacramento 14-10-2006
Tóm tắt Tiểu sử Hoà thượng Thích Măn Giác
Ḥa thượng Thích Măn Giác sinh năm Kỷ Tỵ (1927) tại cố
đô Huế. Nguyên gốc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh
Quảng Trị. Xuất gia học Phật từ thuở nhỏ. Đă đảm nhận
nhiều trọng trách trong giáo hội Phật giáo:
Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ thanh niên. Tổng vụ Văn
hóa và Hội viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Phật giáo Bảo quốc, được Tổng
hội Phật giáo Việt Nam Trung phần cử làm giảng sư, Hội
trưởng Hội Phật giáo Đà Lạt từ năm 1953 và sau đó, vào
năm 1957 đại diện Tổng hội ở 5 tỉnh cao nguyên Trung
phần.
Năm 1960, được học bổng đi du học tại Tokyo, Nhật Bản.
Cuối năm 1965, tốt nghiệp tiến sĩ triết học, được Bộ
Giáo dục Việt Nam Cộng hoà mời về làm Giáo sư Đại học
Văn khoa Sài G̣n, chuyên phụ trách giảng dạy triết học
Ấn Độ và triết học Đông phương. Trong khi đó, Viện Hóa
đạo công cử trách vụ Khoa trưởng Phân khoa Phật học, Phó
viện trưởng đặc trách điều hành Viện Đại học Vạn Hạnh.
Ngoài ra, hoà thượng cũng đảm trách giảng dạy Đại học
Văn khoa Huế về triết học Đông phương và văn học đại
cương.
Ḥa thượng Thích Măn Giác là một nhà biên khảo với 25
tác phẩm về các lĩnh vực triết học, lịch sử, giáo dục,
xă hội và thi ca; trong đó có 5 tác phẩm viết bằng Anh
và 2 tác phẩm dịch thuật. Hoà thượng cũng là một nhà thơ
được mến mộ qua bút hiệu Huyền Không. Thi phẩm đă xuất
bản: Không bến hạn (1952), Hương trần gian
(1953), Không gian thành chiếc áo (1972), Kẻ
lữ hành cô độc (1972), Thơ Huyền Không
(2004).
Cuối tháng 6 năm 1977, ḥa thượng đến Mă Lai tỵ nạn bằng
thuyền đánh cá. Sau thời gian 3 tháng tạm trú trong trại
tỵ nạn, vào 12 tháng 10 năm 1977, ḥa thượng đă từ giă
trại tỵ nạn lên đường đi Paris, Pháp quốc.
Sau 3 tháng đi khắp châu Âu, hoà thượng đă tiếp xúc với
báo chí, Hội Ân xá Quốc tế, Đài BBC Luân Đôn… và đến
tháng Giêng năm 1978 th́ đến Hoa kỳ.
Cuối năm 1978, ḥa thượng mời Hội Phật giáo Việt Nam tại
Hoa Kỳ về Los Angeles dự đại hội để thành lập Tổng hội
Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Từ 1978 tới 1998, Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ
đă đóng góp nhiều vào công cuộc hoằng dương chánh pháp
nơi hải ngoại.
Ḥa thượng viên tịch lúc 7 giờ ngày 13 tháng 10 năm 2006
tại Los Angeles, tiểu bang California, Mỹ.