Anh
Hùng Nguyễn Trung Trực
và Giáo Lư Tứ Ân.
Nguyễn
Hồng
Khánh

Trong cuộc chiến đấu chống
lại sự xâm lăng của Thực dân Pháp nhằm dành lại chủ
quyền cho dân tộc và sự toàn vẹn lănh thổ cho đất nước
Việt nam vào thế kỷ 19, tiền nhân chúng ta đă không quản
ngại máu xương, gian khổ cùng một ḷng quyết đánh đuổi
bọn xâm lăng ra khỏi mảnh đất thân yêu mà Tổ tiên ta đă
bao đời dày công gầy dựng. Xuyên suốt từ Nam đến Bắc, ở
đâu và lúc nào cũng có những vị anh hùng dân tộc đứng
lên liều ḿnh cứu nước.
Ngoài Bắc và Trung nổi tiếng
có Hùm thiêng Yên thế Hoàng hoa Thám (Đề Thám), có Đinh
Công Tráng với Chiến lũy Ba đ́nh, có Nguyễn Thiện Thuật
với Chiến khu Băi sậy, có Phan Đ́nh Phùng với Phong trào
Văn thân ….Cùng lúc, ở trong Nam có Nguyễn Hữu Huân (Thủ
khoa Huân), Truơng Công Định, Trần văn Thành, Vơ Duy
Dương (Thiên hộ Dương)…Và một trong những tấm gương hy
sinh sáng ngời mà chúng ta không thể quên được, đó là
Anh hùng Nguyễn Trung Trực.
Ngài Nguyễn Trung Trực tên
thật Nguyễn văn Chơn nhưng khi đầu quân với cụ Trương
Công Định lấy tên là Nguyễn văn Lịch, sau làm đến chức
Quản cơ nên được gọi là Quản Lịch. Gia đ́nh Ngài gốc
người miền Trung nguyên quán làng Vĩnh Hội, huyện Phù
Cát, tỉnh B́nh Định, sau di chuyển vào Nam lập nghiệp,
ngụ tại làng B́nh Nhựt, huyện Thuận An, phủ Tân An (nay
thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An), sống bằng nghề chài
lưới.
Sinh ra và lớn lên giữa lúc
Thực dân Pháp đem quân vào xâm lược Việt nam, Ngài không
thể khoanh tay ngồi nh́n cảnh quốc phá gia vong, sanh
linh đồ thán nên cùng bạn là Nguyễn văn Cầm chiêu tập
nghiă binh, áp dụng chiến thuật du kích đánh Pháp và mặc
dù với vũ khí thô sơ nhưng đoàn nghiă binh của Ngài đă
lập nên nhiều chiến tích lẫy lừng, làm khiếp đảm quân
thù xâm lược.
Điển h́nh là ngày 11-12-1864,
Ngài tổ chức hỏa công đốt ch́m chiến thuyền Espérance
tại vàm sông Nhựt Tảo (Tân An), tiêu diệt tất cả quân
Pháp trong đó có tên Trung tá Parfait. Chiến thắng nầy
đă làm phấn khởi ḷng dân chúng khắp nơi và làm quân
cướp nước giảm đi phần nào nhuệ khí.
Sau đó, vào đêm 15-7-1866,
Ngài chỉ huy nghiă binh đánh úp đồn Pháp tại Kiên Giang
trong một trận chiến đấu thần tốc ác liệt, tiêu diệt
toàn bộ quân giặc trong đó có năm tên vơ quan Pháp, tịch
thu hàng trăm khẩu súng và đă làm chủ t́nh h́nh Kiên
Giang suốt một tuần lễ.
Với hai chiến công hiển hách
nầy, nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt đă tán thán công nghiệp của
Ngài bằng hai câu đối như sau :
Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.
Nhưng sau đó khi nghe tin
quân Pháp mang viện binh từ Sài g̣n đến, Ngài cho chở
hết vơ khí, lương thực về núi Trầu (Hà Tiên) rồi sau đó
kéo qua đảo Phú Quốc lập chiến khu tại Cửa Cạn.
Quân Pháp cho cô lập hoàn
toàn chiến khu và huy động toàn lực tấn công nghĩa binh
nên lực lượng của Ngài dần dần suy yếu. Thêm vào đó, hai
tên Việt gian là Huỳnh Công Tấn và Đỗ Hữu Phương bày mưu
cho Pháp bắt mẹ Ngài và một số đồng bào làm con tin, rồi
báo cho Ngài biết nếu không chịu ra hàng, chúng sẽ chặt
đầu mẹ Ngài và giết hết dân làng. Biết không thể tiếp
tục chiến đấu được nữa, Ngài tự trói ḿnh ra hàng để cứu
mẹ và dân lành vô tội. Quân Pháp nhiều lần chiêu dụ
không được nên đem Ngài ra hành quyết tại chợ Rạch Giá
ngày 27 tháng 10 năm 1868 (nhằm ngày 28 tháng 8 năm Mậu
Th́n). Được tin Ngài thọ tử, Vua Tự Đức cho làm lễ truy
điệu và sắc phong Ngài làm Thượng Đẳng Linh Thần, thờ
tại làng Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá) nơi Ngài hiên ngang
chịu chết chớ không chịu đầu hàng giặc Pháp.
Được biết, các vị Thượng Đẳng
Thần của Việt nam đều được Triều đ́nh sắc phong và đồng
bào sùng bái như Đức Trần Hưng Đạo, Tả quân Lê văn Duyệt,
Chưởng cơ lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh…Tuy nhiên, có
người thắc mắc là đất nước Việt nam từ xưa đến nay có
biết bao là anh hùng, liệt nữ nhưng tại sao PGHH ngoài
các ngày lễ có tính cách Tôn giáo lại có Lễ giỗ của Anh
hùng Nguyễn Trung Trực ? và lư do nào khiến Ngài có được
vị thế quá đặc biệt như vậy ?
Như chúng ta đă biết, PGHH là
một tiếp nối của Bửu Sơn Kỳ Hương, một tông phái đạo
Phật do Phật Thầy Tây An khai sáng từ năm Kỷ Dậu (1849).
Với chủ truơng chấn hưng Phương pháp hành đạo, qui
nguyên Giáo điều; đồng thời xiển dương một Pháp môn tối
thắng nhằm hóa độ chúng sanh trong thời Hạ ngươn mạt
pháp nầy mà đa số là căn cơ thiển bạc, phước mỏng nghiệp
dầy được dễ tu, dễ hành hầu có mặt trong ngày Long Hoa
đại hội, đó chính là Pháp môn Học Phật Tu Nhân. Pháp môn
nầy dạy chúng ta muốn đạt được cứu cánh giải thoát, đạt
được Phật quả th́ trước hết phải làm tṛn nhân đạo, như
lời Đức Thầy chỉ bảo :
“Tu đền nợ thế cho rồi,
Th́ sao mới được đứng ngồi toà sen.”
“Tu đền nợ thế” tức là làm
tṛn nhân đạo, mà hễ muốn làm tṛn nhân đạo th́ phải
hành xử trọn vẹn Tứ Ân; đó là :
1/- Ân Tổ
Tiên cha mẹ.
2/- Ân
đất nước.
3/- Ân
Tam bảo.
4/- Ân
Đồng bào và Nhơn loại.
V́ vậy, nếu nghiên cứu kỹ về cuộc đời của
Anh hùng Nguyễn Trung Trực và Giáo lư Tứ Ân của PGHH,
chúng ta thấy có sự tương quan vô cùng mật thiết. Điều
đáng ghi nhận là ngoài cương vị của một lănh tụ kháng
chiến tài ba, đảm lược, Ngài c̣n là người có gồm đủ
Trung, Hiếu, Tiết, Nghiă và đă hành xử trọn vẹn Tứ đại
Trọng ân, là một tín đồ tiêu biểu của tông phái BSKH, là
tấm gương sáng cho hậu thế noi theo, đó là lư do tại sao
Ngài được người tín đồ PGHH ngày đêm súng bái.
Về TRUNG, v́ ư thức “quốc gia
hưng vong, thất phu hữu trách” nên Ngài đă đứng lên
chiêu mộ nghiă binh đánh đuổi bọn xâm lược cứu quê hương
dân tộc. Hành động nầy thể hiện tinh thần ái quốc cao độ
của một người yêu nước, thương dân, hết ḷng tận Trung
báo quốc; điều nầy Ngài đă đền xong Ân đất nước.
Về HIẾU, dù đa đoan công vụ
nhưng khi hay tin mẹ bịnh, Ngài đă hết ḷng lo lắng
thuốc thang cho mẹ. Một tay Ngài chống trên đốc kiếm,
tay kia cầm quạt để quạt siêu thuốc cho mẹ c̣n miệng th́
bàn luận kế hoạch hành quân với nghiă binh, đợi đến khi
mẹ hết bịnh mới chịu ra đi. Cuối cùng, v́ âm mưu thâm
độc của bọn Việt gian, Ngài phải tự trói ḿnh ra hàng để
cứu mẹ và dân chúng trong vùng. Hành động nầy, Ngài đă
hoàn thành chữ Hiếu và cũng là báo đền Ân Tổ Tiên
cha mẹ.
Về TIẾT, mỗi khi nhắc đến Anh
hùng Nguyễn Trung Trực, điều làm cho Thực dân Pháp nể
trọng nhứt là cái khí tiết của Ngài. Khi chúng dụ Ngài
chịu hàng sẽ ban cho chức phó Soái, Ngài khẳng khái trả
lời :”Tụi bây hăy kiếm cho tao chức ǵ giết Tây được
nhiều, chớ chức phó Soái tao không màng.” và khi chúng
hỏi Ngài muốn ǵ trước khi chết, Ngài ôn tồn đáp :”Số
mạng tôi đến đây đă đủ rồi, tôi muốn cứu nước mà không
thành công, tôi xin một chuyện là truất sự sống của tôi
càng sớm càng tốt.”
Điều quan trọng chúng tôi muốn nêu lên ở
đây là sự b́nh thản, an nhiên tự tại của Ngài trước khi
lên pháp trường. Thái độ nầy chỉ có được ở người đă đạt
Đạo. Thật vậy, khi đă đạt đến tŕnh độ xem xác thân nầy
là giả tạm là do tứ đại hợp thành, có đến phải có đi, có
sanh phải có tử th́ Ngài mới có được cái tâm b́nh tịnh,
cái tâm thanh thản để ngâm lên bài thơ bất hủ sau đây:
“Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
Yêu
gian đảm khí hữu long tuyền.
Anh
hùng nhược ngộ vô dung địa,
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.”
Thi sĩ Đông Hồ dịch như sau :
“Theo việc binh nhung tự thuở trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù
hận chang chang chẳng đội trời.”
Có nghiă là muốn đạt sự an nhiên, tự tại
nầy đương nhiên phải là người tinh thông đạo pháp, am
tường Giáo lư của đạo Phật, và đặc biệt là theo quyển
Bửu Sơn Kỳ Hương, học giả Vương Kim tŕnh bày rơ ràng
như sau :”Bị cô thế, Ông Nguyễn Trung Trực di binh về
miền Tây. Binh sĩ th́ cho đóng ở Tà Niên (Rạch Giá) c̣n
ông th́ ẩn náo nơi gia đ́nh họ Lâm tại Mỹ Hội Đông, tỉnh
Long Xuyên. Gia đ́nh nầy tu theo tông phái BSKH của Đức
Phật Thầy Tây An và trong thời gian nầy ông đă qui
ngưỡng theo Giáo pháp Học Phật Tu Nhân của BSKH. Ông
thuờng mặc nâu sồng và lâu lâu ngồi thuyền lên Cù lao
nhỏ ỏ B́nh Thạnh Đông thăm Đức Cố Quản Trần văn Thành,
một đại đệ tử của Đức Phật Thầy”.
Điều nầy, cho chúng ta thấy
sự giao t́nh thân thiết giữa Ngài và Đức Cố Quản Trần
văn Thành là việc đương nhiên v́ hai ông vừa là đồng chí
lại vừa là tín đồ thuần thành của BSKH. Nhờ thấm nhuần
Giáo lư Tứ Ân, Ngài đă tranh đấu trong tinh thần đ̣i hỏi
quyền b́nh đẳng cho dân tộc Việt nam, đó cũng là tinh
thần của Phật giáo mà Đức Huỳnh Giáo Chủ có lần xác nhận
:”Theo sự nhận xét của tôi về giáo lư nhà Phật do nơi
Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đă khai sáng lấy Chủ
nghiă từ bi bác ái đại đồng đối với tất cả chúng sanh
làm nồng cốt th́ tôi nhận Ngài là một nhà cách
mạng triệt để về tư tưởng; v́ những câu ”Nhứt
thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” và “Phật
cũng đồng nhứt thể b́nh đẳng với chúng sanh”. Đă
có những sự b́nh đẳng về thể tánh như thế
mà chúng sanh không c̣n bằng được Đức Phật là do nơi
tŕnh độ giác ngộ của họ không đồng đều, chớ không phải
họ không tiến hóa ngang hàng với chư Phật được. Nếu
trong cơi nhơn gian nầy c̣n có chúng sanh tiên tiến áp
bức những chúng sanh lạc hậu th́ là một việc trái hẳn
với những giáo lư chơn chánh ấy.” và Ngài Nguyễn Trung
Trực đă tranh đấu với tinh thần “những giáo lư chơn
chánh ấy” tức là Ngài thực hành Ân Tam bảo
vậy.
Về NGHIĂ, khi gặp cơn nguy
khốn, Ngài không nỡ bỏ nghiă binh mà ra đi một ḿnh dù
những thủ hạ nhiều lần khuyên nên trốn đi nhưng Ngài vẫn
cương quyết ở lại cùng sống chết với họ. Một trong những
điều kiện mà Ngài đưa ra với giặc Pháp trước khi ra hàng
là “Thả hết đồng bào và nghiă quân đă bị bắt cho họ đuợc
an lành trở về nhà và được tiếp tục làm ăn.” Ngay khi
dấn thân tranh đấu v́ đại nghiă cho dân tộc, Ngài lúc
nào cũng nghĩ đến sự an nguy và hạnh phúc của toàn dân,
v́ dân mà chiến đấu; cuối cùng, Ngài cũng v́ dân mà chịu
thọ h́nh. Đó chính là Ngài đă đền ơn đáp nghiă cho đồng
bào đă cưu mang, giúp đỡ trong thời gian chống Pháp và
cũng là cơ hội Ngài hoàn thành Ân Đồng bào và Nhơn
loại.
Chính v́ những đạo quả đắc
thành đó mà Danh hiệu Quan Thượng Đẳng Đại Thần Nguyễn
Trung Trực đă được Đức Huỳnh Giáo Chủ đưa vào bài nguyện
Quy Y trước ngôi Tam Bảo để nguời tín đồ PGHH cầu nguyện
vào hai thời cúng lạy mỗi ngày, trong đó có đoạn : “Nam
mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần, chư
quan cựu thần, chư vị sơn thần, chư vị Năm Non Bảy Núi,
cảm ứng chứng minh, nay con nguyện cải hối ăn năn, làm
lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.”
đă chứng tỏ Ngài Nguyễn Trung Trực là một vị tiền bối
hiển đạo.
Thật vậy, đáng lư Ngài là một
lănh tụ nghiă binh hết ḷng lo cho dân, cho nước th́
“Sanh vi Tướng, tử vi Thần” như sắc lịnh truy phong của
vua Tự Đức hay như Đức Huỳnh Giáo Chủ có dạy :
“Dù không siêu cũng đặng về Thần,
Nhờ hai chữ trung Quân ái Quốc”.
Nhưng v́ Ngài đă hoàn toàn quên ḿnh, đă
hy sinh v́ hạnh phúc của người khác tức là ĺa được “bản
ngă”, không c̣n cái Ta nữa; và nếu một người dù đang
hành đạo Nhân mà ĺa được cái Ta th́ sẽ được tiến thẳng
vào Phật đạo, như Đức Huỳnh Giáo Chủ cho biết :
“Hiếu Trung ḷng chớ vội quên,
Sống lo tṛn đạo, thác lên Tiên đài”.
Tóm lại, Anh hùng Nguyễn
Trung Trực không những là một biểu tượng, một niềm hănh
diện chung cho cả Dân tộc Việt nam, mà tinh thần Nguyễn
Trung Trực đă trở thành một truyền thống trong Tông phái
BSKH và PGHH. Cho nên, khi thành lập đơn vị Nghiă quân
kháng chiến chống Pháp đầu tiên của PGHH, Đức Huỳnh Giáo
Chủ đă đặt tên cho đơn vị nầy là Bộ đội Nguyễn Trung
Trực và hàng năm cứ đến ngày 28 tháng 8 âm lịch, hàng
triệu tín đồ PGHH nói riêng và đồng bào của 11 Tỉnh miền
Tây nói chung đều cử hành Lễ tuởng niệm để ghi nhớ công
đức của Ngài./.
Nguyễn
Hồng
Khánh
(Kỷ
niệm Lễ
giỗ lần thứ 138 của
Anh hùng Nguyễn Trung Trực).