|
TriẾt hỌc ThẾ ThÂn
Lê Mạnh
Thát
VỀ
NhỮng Ǵ HiỆn HỮu
Xác định tác phẩm nào là tác phẩm đầu tay trong số nhiều
tác phẩm do Thế Thân viết hay có thể thừa nhận do ông viết
là việc không dễ dàng. Dù có khó khăn này, nh́n chung mọi
người đều đồng ư Câu Xá Luận là tác phẩm chính đầu
tiên của ông đă thu hút sự chú ư đáng kể của những người
cùng thời cũng như các thế hệ sau đó, và cuối cùng đă dẫn
đến việc lập thành một trường phái tư tưởng là Câu Xá Tông.
Thật ra, bản đầu của Như Thực Luận mới là tác phẩm
đầu tay của ông, được sáng tác có lẽ trong thời gian ông
vẫn c̣n đang nghiên cứu. Đó là lúc ông nghiên cứu luận lư
Nyāya (Chánh Lư) và vẫn đang c̣n trẻ. Thật vậy, nếu so
sánh các học thuyết chính của hai tác phẩm này, ta sẽ thấy
ngay một đặc điểm chung là cả hai đều đề cập đến hai hệ
triết học mà Thế Thân đă thử đưa ra những phê phán của
riêng ḿnh. Không may, Như Thực Luận không c̣n giữ
được nguyên vẹn và vẫn c̣n một vài nghi vấn về mặt chân
thực của nó. V́ thế, chúng ta sẽ bắt đầu bằng Câu Xá
Luận và xem có thể t́m thấy trong đó những ǵ đă đặt
nền tảng cho tư duy hoằng viễn của ông sau này.
Câu Xá Luận đúng là luận thư dài nhất của Thế Thân,
tŕnh bày bao quát nhất kiến giải của ông về bất kỳ lănh
vực nào. Thế nhưng nhiều học giả đă không ngừng cho rằng
luận thư này, trái với các tác phẩm về sau của ông, thật
sự không phải là kiệt tác chín chắn nhất bởi v́ trong đó
c̣n nhiều lập luận không dứt khoát, quan điểm c̣n mơ hồ và
ngôn ngữ th́ rườm rà.[1]
Tuy nhiên, những điểm yếu này lại chuyển tải đến chúng ta
một điều ǵ đó rất hứng thú về chính Thế Thân và tư tưởng
ông. Chúng ẩn tàng một sự thắc mắc và ngạc nhiên nào đó về
phần ông đối với những ǵ ông đă biết và đă học. Và đây
mới thật sự là nền tảng cho Thế Thân thiết lập kiến trúc
tư tưởng của ḿnh, và cũng là điểm khởi đầu của chúng ta
nếu chúng ta muốn t́m hiểu bất cứ điều ǵ đó về ông. Nhưng,
nếu Câu Xá Luận chứa đầy những điểm không dứt khoát,
nhiều cái mơ hồ và rườm rà th́ chúng ta có thể mong đợi ǵ
từ một tác phẩm như thế? Thật ngạc nhiên là chúng ta mong
đợi rất nhiều điều.
Tính xác thực của một trả lời như thế rất dễ chứng minh,
bởi v́ nếu Câu Xá Luận diễn đạt ư thức hoài nghi và
phấn chấn của Thế Thân về thế giới th́ ta có thể hy vọng
t́m thấy điều này trong mỗi một ḍng chữ của từng trang
viết. V́ thế, nó có thể được xem là hiện thân cái nh́n của
ông về thế giới xung quanh cũng như thế giới ngoài tầm với
của ông, có nghĩa là về những ǵ đang hiện hữu. Vậy th́,
cái ǵ hiện hữu?
Vào lúc Thế Thân ra đời năm 315 sdl, đă có nhiều cố gắng
trả lời câu hỏi này, chẳng hạn những nỗ lực của Tỳ Bà Sa
và Số Luận (Sāṃkhya),
và những giải đáp của họ về sau đều bị Thế Thân minh nhiên
xem là ấu trĩ trong Câu Xá Luận.[2]
Như chúng ta thấy, khi ông viết tác phẩm đó, h́nh như ông
không biết chắc cái ǵ hiện hữu, nhưng điều chắc chắn là
nhiều thuyết khác nhau về vấn đề này hầu như hoặc sai hoặc
thấy có chứa nhiều điều không nhất quán, nhất là học
thuyết của Tỳ Bà Sa. Thật vậy Câu Xá Luận là một
tác phẩm nghiên cứu có phê phán về hệ tư tưởng Tỳ Bà Sa.
Quan điểm của Tỳ Bà Sa về vấn đề cái ǵ hiện hữu th́ nhạy
cảm và đồng thời cũng rất phức tạp. Nó chủ trương toàn bộ
thế giới vật lư có thể phá vỡ thành các nguyên tử (cực
vi). Các nguyên tử này tạo thành các nguyên tố (pháp)
tối hậu của thế giới và luôn luôn tồn tại chỉ trong khoảnh
khắc (sát na diệt) trong không gian vĩnh cửu; tất
cả những ǵ c̣n lại ngoài loại này không thuộc về thế giới
vật lư (sắc pháp) cũng không thuộc về thế giới tâm
lư (tâm pháp). V́ thế Tỳ Bà Sa lập ra một bảng liệt
kê những ǵ họ xem là hiện hữu, gồm 75 loại thực thể. Khi
so sánh với các bảng cùng loại của chính Thế Thân và văn
học A Tỳ Đàm Pāli, bảng này có thể viết như sau:[3]
|
Nhóm
Thế giới vật lư (sắc) |
Tỳ Bà Sa
11 |
Thế Thân
11 |
Pāli
28 |
|
Thức (tâm) |
1 |
8 |
89 |
|
Phát xuất từ thức (tâm
sở) |
46 |
51 |
52 |
|
Không kết hợp (bất
tương ưng) |
14 |
24 |
25 |
|
Không cấu thành (vô
vi) |
3 |
6 |
1 |
Bảng 2
Như vậy, trả lời của Tỳ Bà Sa cho câu hỏi cái ǵ hiện hữu
đă rơ ràng không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Những ǵ hiện hữu
được giản lược và có thể giản lược thành 75 thực thể căn
bản gọi là dravya, có nghĩa là 75 thực thể này thực
sự đang hiện hữu đúng theo thể tánh bản hữu của chúng. V́
vậy phần c̣n lại của thế giới chỉ tồn tại phụ thuộc vào
chúng và v́ thế không phải thực hữu (paramārthasat) mà chỉ
là giả hữu (prajñaptisat), tức chỉ hiện hữu theo cách mô
tả riêng của chúng ta. Thí dụ, cái được biểu thị qua chữ
“cây” chỉ hiện hữu một cách biểu hiện chứ không thực, bởi
v́ cái được biểu thị này có thể được chia chẻ thành các
yếu tố cấu tạo nó; trong trường hợp này, đó là các cực vi.
Chỉ “cây cực vi” mới thực hữu trong khi cái cây chúng ta
nh́n thấy chỉ hiện hữu qua mô tả. Như vậy, đối với Tỳ Bà
Sa, cái hiện hữu được công nhiên đồng nhất và đồng nghĩa
với cái thực. Hiện hữu đối với họ là thực và phải là thực.
Do sự đồng nhất này mà họ buộc phải t́m ra một giải đáp
cho sự hiện hữu thường nghiệm của những vật mà ta tri nhận.
Và như chúng ta đă thấy, giải đáp này không ǵ khác hơn sự
giả định có hai mức độ của sự thật là sự thật tuyệt đối (chân
đế) và sự thật mô tả (tục đế). Bảy mươi lăm
thực thể nói trên thuộc về sự thật thứ nhất, phần c̣n lại
thuộc sự thật thứ hai. Thế nhưng, những tiêu chuẩn nào cho
phép họ giản lược vạn pháp thành 75 thực thể và ấn định
chúng thuộc sự thật tuyệt đối?
Câu trả lời của Tỳ Bà Sa thật rơ ràng. Thứ nhất, họ cho
rằng bất kỳ cái ǵ thực hữu đều phải sở đắc khả năng tạo
ra một nhận thức đặc biệt đối với nó;[4]
và thứ hai, để có thể tạo ra một nhận thức đặc biệt đối
với nó th́ dĩ nhiên nó không chịu sự chia chẻ và phân tích
thêm nữa.[5]
Như vậy, cái cây không phải là một thực thể có thật theo
Tỳ Bà Sa, bởi v́ nó có thể chịu sự chia chẻ thêm nữa. V́
thế đối với họ, cái hiện hữu có thể được phát biểu như sau.
Bất kỳ vật ǵ ta có thể nghĩ về nó và nếu không có nó ta
không thể nghĩ đến, th́ vật đó nhất thiết phải thực. Nói
cách khác, mọi vật có giới hạn tối hậu của nó mà vượt qua
giới hạn này th́ không thể nghĩ về sự hiện hữu của nó.
Hoặc nói theo ngôn ngữ của Tỳ Bà Sa: “Cực vi là biên tế
của sắc pháp, giống hệt như vần là giới hạn của danh và
sát na là giới hạn của thời”.[6]
Vậy th́, cái có thực là cái làm giới hạn của tất cả những
ǵ hiện hữu và đồng thời tạo thành cái giới hạn mà nếu
vượt ra ngoài giới hạn này th́ sự suy nghĩ về những ǵ
hiện hữu không thể có được.
Sau khi định nghĩa cái thực, Tỳ Bà Sa bắt đầu cho chúng ta
một bảng liệt kê những ǵ họ xem là thực theo quan điểm
của họ, tức 75 pháp như đă thấy ở trên. Và rồi Thế Thân đă
nghiên cứu danh sách này. Ở giai đoạn này, điểm gây ngạc
nhiên nhất từ sự liệt kê này là có một số thuộc loại bất
tương ưng đă được Tỳ Bà Sa xem là những thực thể có thực.
Chẳng hạn, họ suy luận rằng phải thực sự tồn tại một cái
ǵ đó được gọi bằng những cái tên như “sinh”, “trụ”, “lăo”
và “diệt”. Thế Thân bắt đầu thắc mắc về giá trị của những
suy luận này. Do tính chất thu hút của chính thảo luận này
cũng như cho sự hiểu rơ hơn của chúng ta về thảo luận này
mà đoạn văn liên quan đến sự t́m hiểu vấn đề có thực sự
tồn tại một cái ǵ đó được gọi tên là “sinh”, v.v. hay
không đáng được phiên dịch đầy đủ ở đây:
“Các tính chất đặc trưng
của cái hiện hữu lại là sinh, lăo, trụ và vô thường. Đây
là bốn đặc tính (tướng) của cái được cấu tạo thành
(hữu vi). Bất kỳ nơi nào chúng hiện hữu, pháp đều
mang tính chất hữu vi; nếu không, tức là vô vi. Sinh là
cái khiến cho pháp sinh. Lăo là cái khiến cho nó suy yếu.
Trụ là cái khiến cho nó kéo dài. Vô thường là cái khiến
cho nó diệt. Nay Kinh chỉ nói về ba tướng của hữu vi,
trong khi lẽ ra phải nói về bốn. Tại sao Kinh không nói về
bốn tướng?
“Họ đă nói, bởi v́ trụ là
cái có sự “lưu lại-không đồng nhất” (sthityanyathātva,
staying-otherwiseness) đồng nghĩa với lăo, cũng như
sinh đồng nghĩa với khởi, vô thường đồng nghĩa với diệt;
và v́ pháp đă vận động để chuyển lực của chúng xuyên qua
thời gian; đó là lư do Kinh chỉ nói đến ba tướng cốt để
khởi chán ghét đối với chúng. Thật vậy, sinh là cái chuyển
lực của nó từ vị lai đến hiện tại, trong khi lăo và vô
thường chuyển lực từ hiện tại đến quá khứ, v́ chúng chấm
dứt lực sau khi đă hết lực. Ta có thể nói, giống như ba kẻ
thù của một người đang lang thang trong rừng: một người
trong số họ cố lôi kéo người đó ra khỏi rừng, người thứ
hai làm suy yếu ông ta, và người thứ ba giết ông ta.
“Hơn nữa, người ta thừa
nhận rằng trụ là cái khiến cho các lực an trụ sau khi làm
cho chúng xuất hiện. Như vậy, chính cái tướng đó của hữu
vi không bị thay đổi. Và đây cũng là tính chất đặc biệt
của vô vi bởi v́ tự tánh của vô vi là trụ.
“Lại nữa, người khác có
thể nghĩ rằng Kinh chỉ nói về một tướng, đó là trụ-lăo,
nhưng lại chỉ cho hai, là trụ và sự không đồng nhất. Có
thuận lợi ǵ? Để khởi chán ghét đối với sự đeo bám vào trụ,
như khi sự thịnh vượng được nói đến, nó chỉ cho Hắc Nhĩ.
“V́ thế, thật sự có bốn
tướng. Chúng lần lượt xuất hiện nhờ vào các sinh, v.v.
khác do tính chất hữu vi của chúng. Như vậy, chúng ta có
sinh của tướng sinh, v.v. của chúng. Chúng tạo thành bốn
tướng phụ (anulakṣaṇa,
tùy tướng), đó
là sinh của tướng sinh, trụ của tướng trụ, lăo của tướng
lăo, và vô thường của tướng vô thường. Nay bốn tướng này
lại tạo tướng cho nhau. V́ thế không có lỗi do sự tiến
triển vô cùng của chúng. Cũng không có sự quan hệ vô cùng
của một sinh đ̣i hỏi một sinh khác, v.v. Kết quả, chúng
chỉ tác động lên một pháp, trong khi bốn tướng khác (mūlalakṣaṇa,
bổn tướng) tác
động lên tám pháp.
“Các tướng tác động lên
tám pháp là tướng sinh, v.v. Tác động ở đây được hiểu theo
nghĩa “gây ra hoạt động”, “gây ra vận hành”. Các tướng tác
động lên chỉ một pháp là sinh của tướng sinh, v.v. Tại sao
một pháp thứ chín, sau khi đă tự tạo, không khởi cùng với
tám tướng [chính] và tướng phụ (tướng tùy tướng bát)?
Bởi v́ tướng sinh, chẳng hạn, làm cho tám pháp khác sinh
sau khi nó tự diệt. Người ta có thể nói, giống như một con
gà mái nào đó đẻ một số trứng, đến lượt mỗi một trong
chúng lại nở ra một con gà con. Cũng như thế, tướng trụ,
sau khi tự diệt, lại làm cho tám pháp kia an trụ, trong
khi trụ của tướng trụ chỉ làm cho nó (tùy tướng) và
tướng trụ (bổn tướng) được an trụ. Tương tự, tướng
lăo và vô thường cũng thế. V́ vậy, không có quan hệ vô
cùng.
“Kinh Lượng bộ (Sautrāntika)
nói, tất cả những luận bàn như thế đang phân tích căn cứ
vào hư không. Không có các pháp như sinh của tướng sinh,
v.v là các thực thể, giống như chúng không thể được phân
biệt bằng bất cứ cách nào. Tại sao? V́ không có cách biết
được chúng. Không có bất cứ hiểu biết nào về sự tồn tại
của chúng như là các thực thể bằng cách tri nhận trực tiếp
(hiện lượng) hoặc bằng lư luận (tỷ lượng)
hoặc bằng chứng cứ tài liệu (thánh giáo lượng),
giống như trong trường hợp liên quan đến pháp như thế giới
vật lư (sắc pháp), v.v.
“Nhưng Kinh nói rằng ta
nên biết sự sinh khởi của hữu vi, sự diệt của chúng và “sự
lưu lại-không đồng nhất” của chúng?
“Ôi! Những kẻ được trời
thương! Người ta biết các từ, mà không phải nghĩa của
chúng. Thế Tôn đă nói: nghĩa là chỗ ẩn náu duy nhất. Vậy
th́ nghĩa của Kinh vừa dẫn là ǵ? Mù ḷa do ngu dốt, người
ngu nghĩ ḍng lực (hành tương tục) là “ta” và “của
ta”, và bám chặt vào chúng. Để giải thoát những người ngu
ra khỏi suy nghĩ đó, Thế Tôn chỉ ra tính chất hữu vi của
ḍng lực phụ thuộc nhau cùng khởi (duyên sinh), và
v́ thế Ngài nói về ba tướng hữu vi của hữu vi và người ta
nên biết sự khởi của các tướng này hay sự khởi của các
tướng của các tướng này, v.v. Chúng cũng không thể hiện
hữu, cho dù chúng được biết đến. Đây là điều Kinh đă nói
khi nói về sự việc ta nên biết sự khởi của hữu vi.
“Tương tự, người ta nên
biết rằng tướng là dành cho sự hiểu pháp hữu vi dựa vào
tính chất hữu vi của nó. Như vậy, các tướng không nên được
tri nhận là sự (vastu) của pháp hữu vi qua việc có tồn tại
của chúng. Chúng giống như con c̣ [chỉ cho] nước gần đó
hay tướng của một thiếu nữ là chỉ cho cái tốt hay không
tốt của cô ta.
“Về ḍng lực, sự khởi của
nó là sự bắt đầu, sự diệt của nó là sự kết thúc, và khi
ḍng này đang vận hành liên tục, đó là trụ của nó, sự khác
nhau giữa sát na trước và sát na kế tiếp của nó là sự lưu
lại-không đồng nhất của nó. V́ thế, điều được nói về người
con trai của gia đ́nh tốt (thiện nam tử) Nan Đà là
ông ấy nên biết các cảm thọ đang khởi, đang trụ, đang biến
mất và bị hủy hoại. Về điểm này, họ nói thêm:
“Sinh là sự bắt đầu của
ḍng, diệt là kết thúc của nó, và trụ là chính nó/
Sự lưu lại-không đồng nhất
là sự khác nhau của các sát na trước và sau//
“Sinh là sự tồn tại của
cái không tồn tại trước đây, trụ là sự tương tục của nó,
diệt là sự hoại của cái đó/
Và sự lưu lại-không đồng
nhất được thừa nhận là sự khác nhau giữa các sát na trước
và sau của sự tương tục đó//
V́ không có trụ của pháp
sát na mà chỉ có diệt/
Và nếu không có trụ th́ nó
không diệt [cái ǵ cả] (bỉ tự nhiên diệt cố), v́
thế không cần nghĩ về diệt//
V́ vậy, trụ chính là ḍng.
Như vậy, giáo lư A Tỳ Đàm được chứng thực. Nó nói: ‘Trụ là
ǵ? Sự không-diệt của các lực đang khởi’. Người ta có thể
viện lẽ rằng thực sự không có sự không diệt của một sát na
đang khởi. Nhưng điều Phát Trí (Jñānaprasthāna) nói
đến là về một [sát na của] thức: ‘Khởi là ǵ? Sinh; diệt
là ǵ? Chết; sự lưu lại-không đồng nhất là ǵ? Lăo”. Và ở
đây nó liên quan đến thức của một hiện hữu thuần chủng (nikāyasabhāgacitta,
chúng đồng phần tâm).
“V́ thế, không xem chúng
là các thực thể th́ có thể kết luận rằng mỗi sát na có bốn
tướng đó của pháp hữu vi. Bằng cách nào? Mỗi sát na tồn
tại sau khi đă không tồn tại, đó là sự khởi của nó. Một
khi đă tồn tại mà không có tồn tại nào nữa, đó là diệt của
nó. Chuỗi sát na tương tục là trụ của nó. Sự khác nhau của
mỗi sát na của chuỗi này là sự lưu lại-không đồng nhất của
nó.
“Nhưng nếu các sát na
tương tự khởi th́ chúng không khác nhau. Lúc đó, làm sao
có thể biết sự khác nhau đó? Bởi v́ giống hệt như sự khác
nhau trong thời gian rơi, có thể nhanh hay chậm, của một
vajra, có thể được ném đi hay không ném đi, và nếu được
ném đi, nó có thể được ném có lực hay không có lực. V́ thế
sự khác nhau trong sự chuyển biến của các đại chủng được
chứng thực. Hơn nữa, không có nhiều khác biệt lớn trong
các lực bị phá vỡ. V́ lẽ này, dù có sự lưu lại-không đồng
nhất, chúng có thể được xem như tương tự.
Nhưng người ta có thể lập
luận rằng v́ không có sát na kế tiếp ở sát na cuối cùng
của một âm thanh hay một ngọn lửa hay vào lúc tận diệt của
sáu xứ cho nên không có sự lưu lại-không đồng nhất. V́ vậy,
định nghĩa về tướng ở trên không đầy đủ. Không, chúng tôi
không chủ trương có trụ đối với mọi pháp hữu vi, mà có một
tướng là sự ‘lưu lại-không đồng nhất’. V́ thế không có lỗi
trong định nghĩa của chúng tôi về tướng rằng bất cứ cái ǵ
có tướng trụ th́ chắc chắn có tướng lưu lại-không đồng
nhất.
“Tóm lại, điều được Thế
Tôn dạy trong Kinh khi Ngài nói ‘đây là tướng của pháp hữu
vi’ là: pháp hữu vi là cái tồn tại sau khi đă không tồn
tại và lại không tồn tại sau khi đă tồn tại, và chuỗi
tương tục của nó là cái được biểu thị như là trụ, vốn liên
tục thay đổi không đồng nhất.
“Nay, vấn đề ‘sinh’, v.v.
như là các thực thể là thế nào? Đối với bất cứ pháp nào,
nếu nó có các tính chất (năng tướng) của chúng th́
nó được gọi là tướng (sở tướng). V́ thế, tướng của
một người lớn th́ không khác với người lớn đó. Tướng của
một con ḅ như cái yếm, cái đuôi, cục u, móng, sừng, v.v.
th́ không khác với con ḅ. Tướng của địa giới (dhātu), v.v
như cứng, v.v th́ không khác với địa giới, v.v. Giống hệt
như sự bốc lên của khói nh́n từ xa mang tính chất của khói
và v́ lẽ này không khác ǵ với khói. Nên có một giải thích
rơ ràng ở đây. Chừng nào ta nắm bắt tự thể của một vật thể
vật lư (sắc pháp), v.v của pháp hữu vi mà không
biết được sự tồn tại trước đó của vật thể đó hay sự tồn
tại tiếp theo của nó hay sự khác biệt của ḍng lực của nó
th́ tính chất hữu vi không làm đặc tính cho nó. Như vậy,
nó không có đặc tính của sự được cấu thành. V́ thế, không
có sinh, v.v như là các thực thể đối với chúng.
“Hăy giả định sinh, v.v là
các thực thể. Có ǵ sai với nó? Lúc đó, ta sẽ phải giả
định rằng một pháp sinh, trụ, lăo và diệt cùng một lúc do
t́nh trạng ḥa hợp của chúng. Nếu không, ta sẽ phải giả
thiết sự khác biệt về thời gian của tác dụng của chúng mà
nói rằng sinh không c̣n cho ra sự sinh nữa, nhưng khi pháp
được sinh ra th́ trụ, diệt, v.v. khởi tác dụng của chúng,
như vậy khi một pháp không được sinh ra th́ nó trụ hoặc
lăo hoặc diệt. Nhưng điểm này ở đây phải được xem xét.
“Thứ nhất, vị lai có tồn
tại như các thực thể hay không sau khi cho ra sự sinh?
Hoặc là không có nhận thức nào về nó được chứng thực. Giả
sử như vị lai có tồn tại và sinh có tác dụng, lúc đó vị
lai được chứng thực như thế nào? Tính chất của vị lai phải
được định nghĩa. Nếu tác dụng của nó, một khi đă qua, lại
xuất hiện, th́ trụ được chứng thực như thế nào? Tính chất
của trụ phải được định nghĩa. Nếu trụ, v.v. có tác dụng
cùng thời, th́ tất nhiên trong một sát na tất cả các trạng
thái trụ, lăo, và diệt đều xảy ra. Mặt khác, nếu ta chủ
trương trụ, v.v. có tác dụng nối tiếp nhau theo nghĩa vào
bất kỳ sát na nào của thời gian cũng có cái ǵ đó trụ, cái
ǵ đó lăo, hay cái ǵ đó diệt, th́ ta phải bác bỏ thuyết
cho rằng pháp là sát na diệt. Nếu cho rằng “đối với chúng
ta sát na là cái trong đó mọi vật đều hoàn tất sự vận động
của nó”, th́ phải giải thích tại sao khởi cùng thời với
nhau mà trụ khiến cho các vật an trụ, trong khi lăo lại
khiến cho chúng suy yếu và diệt th́ hủy hoại chúng? Nếu v́
trụ mạnh hơn th́ nó mạnh hơn đối với cái ǵ? Chừng nào nó
cùng có với pháp th́ vô thường sẽ giết nó ngay. Nếu chủ
trương rằng trụ, một khi làm xong việc của nó, th́ không
thể làm việc đó lại như trong trường hợp của sinh, vậy th́
thí dụ không phù hợp. Bởi v́ tác dụng của sinh là khiến
cho cái sẽ sinh được sinh, và một khi cái đó đă được sinh
th́ nó không thể khiến cho cái đó được sinh lần nữa, trong
khi khả năng của trụ là khiến cho cái sẽ trụ được an trụ.
V́ thế, thí dụ không khớp.
Rồi th́ các chướng ngại ǵ
khiến cho trụ không thể an trụ? Nếu chúng là lăo và vô
thường th́ chúng lẽ ra phải mạnh hơn và có tác dụng trước.
Hơn nữa, nếu tác dụng của chúng là hủy diệt sự an trụ, và
không có trụ th́ pháp không an trụ được, th́ chúng có thể
khởi tác dụng ở nơi nào? Và làm thế nào để làm được điều
đó? Thật ra chính nhờ sự ǵn giữ của trụ mà một pháp vừa
khởi không diệt; mặt khác, một khi đă bị trụ từ bỏ th́
pháp chắc chắn không an trụ, và đó là sự diệt của nó. Như
vậy các tướng của một pháp vừa khởi là trụ của nó, diệt
của nó và vô thường của nó. Nhưng lăo th́ không hoàn toàn
như thế, bởi v́ sự khác biệt của các trạng thái trước đó
của nó đang được chuyển biến khác đi. V́ vậy, nó khác nhau
trong sự không đồng nhất của nó, bởi v́ nó được nói là:
Nếu nó giống như trước,
lăo không được chứng thực.
Nếu nó khác với cái trước
đó, nó là một cái khác/
V́ thế trong một pháp,
không thể lập thành lăo của nó//
“Nikāyāntarīya chủ trương
rằng vô thường hủy diệt một pháp nào đó sau khi nhờ vào
một nhân diệt khác nào đó ở bên ngoài. Nhưng điều này
giống như một người bệnh cầu trời cho thuốc có hiệu nghiệm
sau khi đă uống nó. Sự diệt của các sự vật do các nhân ở
ngoài cũng thế. Tuy nhiên người ta nghĩ rằng sự diệt của
tâm và các tâm sở của nó là do sự xảy ra của trạng thái
sát na do tính chất vô thường của nó, mà không cần phải
nương vào các nhân diệt ở ngoài. Nhưng, vậy th́ trụ và vô
thường sẽ khởi tác dụng cùng một lúc. Và người ta không
thừa nhận trạng thái trụ và diệt xảy ra cùng thời và cùng
chỗ.
“Kết quả, chính v́ liên
quan đến ḍng lực mà các tướng đó của hữu vi được công bố.
Đó là cách Kinh chỉ ra ư nghĩa của nó.
“Nhưng nếu sinh vị lai là
cái cho ra sự sinh của cái sẽ được sinh, vậy th́ tại sao
tất cả các vật vị lai không được sinh cùng lúc? Điều này
v́:
Sinh là cái cho ra sự sinh
của cái sẽ được sinh/
Nhưng không phải không có
nhân và duyên//
“Thật vậy, không có sự ḥa
hợp của nhân và duyên, sinh không phải là cái cho ra sự
sinh. Nhưng rồi chúng ta thấy rằng chính lực của nhân và
duyên, một khi xuất hiện với nhau, cho ra sự sinh đối với
cái tồn tại hoặc không cho ra sự sinh đối với nó (nhân
duyên lực), và không cho ra sự sinh đối với chính sự
sinh (sinh tướng). Chỉ có nhân và duyên là cái cho
ra sự sinh.
“Ồ! Thưa quư Ngài, quư
Ngài có nghĩ là quư Ngài biết mọi thứ? Thể tánh của pháp
th́ khá vi tế. Hơn nữa, nếu không có sự sinh, sẽ không có
ư tưởng về cái được sinh. Và nếu không có sự sinh, sẽ
không có sở thuộc cách thuộc loại “sự khởi của vật thể vật
lư”(sắc chi sinh), v́ trong trường hợp đó nó sẽ trở
thành “vật thể vật lư của vật thể vật lư” (sắc chi sắc).
Trường hợp của vô thường có thể được phát biểu theo cùng
cách này.
“Nhưng rồi, kết quả là
phải có một cái “vô ngă” để chứng minh ư tưởng về “vô ngă”.
Và người ta sẽ phải đề ra, như ngoại đạo đă tưởng tượng,
các vật như số, độ dài, cá biệt, hợp, ly, này, kia, hữu
thể, v.v. để chứng minh các ư tưởng một, hai, lớn, nhỏ, cá
thể, hợp, ly, này, kia, hiện hữu, v.v. Về vấn đề sở thuộc
cách, nó được dùng để chỉ cho những ǵ thuộc về vật thể
vật lư. Nếu không làm sao các ông có thể nói “tự tánh của
vật thể vật lư” [nếu như có sự kiện là các ông không thừa
nhận sự khác biệt giữa tự tánh của vật thể vật lư với
chính vật thể vật lư này].
“V́ thế, tất cả các từ đó
chỉ là những mô tả. Để hiển thị cái ǵ đó đang tồn tại đă
không tồn tại trước đây, người ta nói cái ǵ đó được sinh
ra. Và v́ có nhiều sự sinh ra mang tính chất của cái ǵ đó
đang tồn tại đă không tồn tại trước đây mà người ta,
v́ mục đích phân biệt, đă sử dụng sở thuộc cách để nói
rằng đó là sự sinh ra của vật thể vật lư để chỉ rơ rằng đó
là vật thể vật lư đang được sinh ra mà không phải cái ǵ
khác, giống như khi ta nói mùi, v.v của đàn hương hay thân
của bức tượng. Đó cũng là cách để hiểu các từ như trụ,
v.v.
“Nhưng nếu cái ǵ đó được
sinh ra mà không cần đến sự sinh (sinh tướng), tại
sao các vô vi như hư không, v.v. không được sinh ra? Bởi
v́ nói cái ǵ đó được sinh ra là nói rằng nó đă không tồn
tại trước đây. Và vô vi th́ luôn luôn tồn tại, v́ thế
chúng không được sinh ra. Khi tất cả sự sinh (sinh
tướng) không được chứng thực theo thể tánh của pháp
th́ phải thừa nhận rằng không phải tất cả đều được sinh ra.
Hơn nữa, các điều kiện khác, tất cả những ǵ có cùng khả
năng cho ra sự sinh, đều không thể cho ra sự sinh đối với
cái ǵ khác đó; v́ thế, tất cả chúng đều không thể cho ra
sự sinh của vô vi.
“Tuy nhiên, Tỳ Bà Sa nói
rằng sinh, v.v. đă được chứng thực là tồn tại như các thực
thể, rằng người ta không nên từ bỏ thánh giáo lượng (khí
sở tông) khi các vấn nạn được đặt ra, giống như người
ta không nên từ bỏ vụ mùa chỉ v́ sự có mặt của những con
nai hay từ bỏ việc ăn kẹo chỉ v́ có ruồi bay quanh. V́ lẽ
đó, các vấn nạn phải được bác bỏ và giáo thuyết phải được
duy tŕ.
Đó là phần bàn về các
tướng.[7]
Trên đây là đoạn dịch đầy đủ và khá dài lời bàn của Thế
Thân về vấn đề có thể thừa nhận các tướng sinh, diệt, v.v
của các pháp là để chỉ cho cái ǵ đó tự nó thực sự hiện
hữu hay không. Đây là lời bàn đặc trưng cho nhiều trường
hợp mà ta có thể dễ dàng t́m thấy trong Câu Xá Luận.
Chẳng hạn, lời bàn về thực thể của thời tính,[8]
về ngă tính,[9]
v.v. V́ thế nó phải được xem như biểu trưng cho tư tưởng
và sự quan tâm triết học của Thế Thân vào thời nó được
viết ra, một điều lẽ ra phải xảy ra sớm hơn trong đời ông.
Đọc lời bàn này, cảm tưởng ta có rất rơ ràng. Thế Thân
muốn chứng minh làm thế nào và tại sao ông lại xem những
từ như sinh, khởi, v.v chỉ là sự mô tả. Thật vậy, đối với
Tỳ Bà Sa cũng như phần lớn các luận sư Ấn độ khác vào thời
ông, nếu có cái ǵ đó được biết đến th́ cái đó phải thực
sự hiện hữu, giống như một cái cây hiện hữu để có được một
nhận thức về nó chẳng hạn. Đây là chi thứ nhất của định lư
(axiom) lừng danh “astivaṃ
jñeyatvam abhidheyatvam”, “hiện hữu có nghĩa là có thể
được biết đến và có thể được đặt tên” và ngược lại.[10]
V́ vậy, nếu ta biết được sự sinh hay diệt của một vật nào
đó th́, v́ lẽ đó, phải có hiện hữu nơi nào đó một vật được
gọi là sinh hay diệt. Như vậy, nếu chi đầu tiên của định
lư trên vẫn được duy tŕ, sẽ có một loạt các từ ngữ trong
ngôn ngữ con người đ̣i hỏi phải có một lănh vực các thực
thể hiện hữu tương ứng được xác chứng và tri nhận. Trong
đoạn văn trên chính Thế Thân đă đặt tên một số các thực
thể đó là số, sự khoáng trương, v.v.
Thật vậy, đă có lập luận rằng phải hiện hữu một cái ǵ đó
để chứng minh cho sự hiểu biết của chúng ta về những phát
biểu như “không có kỳ lân”, và ngay trong học thuyết của
Naiyāyika, họ cũng thừa nhận rằng tính phi-hữu (abhāva)
của một vật như kỳ lân thật sự có hiện hữu.[11]
Với Meinong, ông cho thấy rằng hoàn toàn không thể chứng
minh sự hiện diện của các phát biểu phủ định nếu không
định đặt sự hiện hữu của đối tượng phủ định; có nghĩa là,
tính chất phi-hữu là cái có thể được tri nhận hoặc hiểu
theo một cách nào đó. Nếu thật sự không có kỳ lân, làm sao
trước tiên có thể đưa ra một phát biểu như thế? Đối với
các trường hợp tương tự như “đứa con của người đàn bà vô
sinh” hay “hoa giữa không trung”, v.v. cũng thế. Và nếu
chúng ta tổng quát hóa trường hợp này, th́ điều tất yếu là
mỗi từ ngữ trong phạm vi của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng phải
chỉ cho một cái ǵ đó thật sự hiện hữu để ta có thể hiểu
được nó. Kết quả là khi Thích Ca Mâu Ni bảo Nan Đà rằng
ông ta nên biết sự sinh của cảm thọ, Tỳ Bà Sa đă lập luận
rằng có thật một cái ǵ đó gọi là sinh. Nếu không, sẽ hoàn
toàn ngốc nghếch khi bảo người khác biết một cái mà nó
không hề hiện hữu. Hơn nữa, quá hiển nhiên đối với mọi
người là sự vật thật sự có sinh, lăo và diệt. Không ai phủ
nhận một sự thật như thế. Đó thật sự là chân lư phổ quát
cho tất cả những ǵ tồn tại ở thế giới này. V́ thế, nếu ta
biết sự sinh của một vật, th́ sự sinh này tất yếu phải chỉ
cho một vật thể có tên là “sinh”. Như vậy, tư tưởng hệ của
Tỳ Bà Sa tràn đầy các thực thể; nó c̣n đông đúc hơn cả Ư
Giới của Plato, cho dù có sự kiện là họ đă cố ư sử dụng
một biện pháp khống chế dân số nào đó như xếp loại tất cả
các thực thể của họ chỉ c̣n 75 loại căn bản, như chúng ta
thấy ở trên.
Nhưng nói rằng có một vật thể gọi là “sinh” hay một thực
thể gọi là “phi-hữu” th́ có tác dụng tương đương với một
lời nói láo, bởi v́ người ta đă nh́n thấy con người được
sinh ra, loài vật được sinh ra, v.v. và họ đă hiểu những
phát biểu như “không có kỳ lân” có nghĩa là ǵ; thế nhưng
trong các sử liệu nhân loại chưa từng có bất kỳ ai tự cho
ḿnh đă nh́n thấy một vật thể có tên là “sinh” hay một
thực thể có tên là “phi-hữu”.
Hơn nữa nếu lập luận rằng các vật thể thuộc loại đó chỉ
hiện hữu trong một thế giới trừu tượng nào đó nằm ngoài
nhận thức của con người nhưng vẫn có thể đạt đến bằng lư
luận th́ ta có thể trả lời rằng sự hiện hữu được đặt ra
cho chúng là thừa hoặc không cần thiết. Thật vậy, Thế Thân
đă chỉ ra rằng nếu sinh (jāti) hiện hữu và tạo ra sự sinh
(janaka) th́ nó phải tạo ra sự sinh cho tất cả các vật
trong cùng một lúc. Nhưng trong thực tế, điều này không
xảy ra. Kết quả, như chính Tỳ Bà Sa thừa nhận, sinh không
xảy ra nếu không có sự kết hợp của nhân duyên. Tuy nhiên,
nếu cho rằng nhân duyên chịu trách nhiệm về sự sinh của
một vật th́ ta sẽ đặt để sự hiện hữu của vật thể có tên là
‘sinh’ và những cái tương tự như thế ở đâu? Như vậy, đối
với một vật thể như thế cũng như các trường hợp tương tự
“sẽ không có bất kỳ nhận thức nào về hiện hữu của chúng
như là các thực thể cho dù đó là nhận thức qua hiện lượng,
tỷ lượng hay thánh giáo lượng”.
Cho dù sinh và những cái tương tự không được chứng thực là
đang chỉ cho bất kỳ vật thể nào th́ ngôn ngữ vẫn có các từ
như sinh, v.v. và các phát biểu như “không có kỳ lân”. Cái
ǵ chứng thực chúng có ư nghĩa, có thể được hiểu, hay nói
vắn tắt, có tính khả tri? Trả lời của Thế Thân khá đơn
giản và chính xác. “Để biểu thị một cái ǵ đó đang hiện
hữu đă không hiện hữu trước đây, chúng ta nói rằng một cái
ǵ đó được sinh ra. Và v́ có nhiều sự sinh ra mang tính
chất đang hiện hữu đă không hiện hữu trước đây, cho
nên để phân biệt ta phải dùng sở thuộc cách cốt biểu thị
rằng đó là một đối tượng vật lư đang được sinh ra chứ
không phải đối tượng khác nào đó, giống hệt như khi ta nói
mùi, v.v. của đàn hương hay thân của bức tượng”. V́ thế,
đối với Thế Thân, sinh không chỉ cho bất kỳ đối tượng nào
cả, nó cũng không cần đến bất kỳ sự vật được biểu thị nào
cả, bởi v́ trong bất kỳ nội dung nào của ngôn ngữ, ta cũng
có thể thay sinh bằng nhiều nhóm từ thích hợp khác.
Như vậy, thay v́ nói “có sự sinh ra của một vật nào đó”,
ta có thể nói “một vật ǵ đó được h́nh thành”. Với quan
điểm của Thế Thân, ta c̣n có thể đi xa hơn khi nói “một
cái ǵ đó đang hiện hữu đă không hiện hữu trước đây”. V́
vậy, chủ trương của Tỳ Bà Sa cho rằng bất kỳ “nhóm từ biểu
thị đúng ngữ pháp”[12]
nào cũng biểu trưng một vật thể là một thuyết vừa thừa vừa
không cần thiết. Thừa v́ nhóm từ “một sự sinh ra” có thể
được thay thế và giản lược thành nhiều nhóm từ tương đương
khác nơi mà nhóm từ “một sự sinh ra” không xảy ra và trong
đó nó không được cần đến. Trong việc chỉ cho một vật thể
th́ nhóm từ “một sự sinh ra” không c̣n có giá trị nhiều
hơn nhóm từ “một cái ǵ đó được h́nh thành” hay “một cái
ǵ đó đang hiện hữu đă không hiện hữu trước đây”. Và không
cần thiết bởi v́ nó tạo thêm những khó khăn vừa không hợp
lư vừa ngoài ư muốn.
Trước hết, nếu bất kỳ nhóm từ nào cũng phải biểu thị một
vật th́ ta có thể cho rằng, như Thế Thân đă chỉ rơ, có
hiện hữu của một vật có tên là “phi ngă” cốt để có thể
khẳng định là không có một cái ngă. Thế nhưng điều này sẽ
phạm luật mâu thuẩn khi ta nói ngă hiện hữu đồng thời
không hiện hữu. Thật ra cả Meinong và Russell đều nhận ra
bế tắc này. Tuy nhiên, giống như trong trường hợp “sinh”,
nếu nhóm từ “phi ngă” và tương tự được giản lược thành một
số các nhóm từ khác nơi mà chúng không xảy ra như những
thành phần và trong đó chúng không được cần đến th́ ta
không những có thể thoát khỏi tất cả khó khăn do chủ
trương nói trên của Tỳ Bà Sa có thể tạo ra mà c̣n tránh
được chuyện phiền hà là phải giải thích làm thế nào vật
thể đó, tức vật thể mà “sinh” biểu thị, có thể có vị trí ở
trong một vật thể khác, tức vật thể được mô tả bởi phát
biểu ‘cái ǵ đó được h́nh thành’ hay một số các phát biểu
khác cùng loại, trong đó chữ ‘sinh’ không xảy ra và không
được cần đến.
Thứ hai, nếu bất kỳ nhóm từ nào cũng phải biểu thị một vật
th́ vật đó có thể t́m thấy ở đâu? Giả sử có một phát biểu
trong đó nhóm từ ‘phi ngă’ (anātman) xảy ra. Bây giờ, nếu
bất kỳ nhóm từ nào cũng biểu thị một vật th́ Tỳ Bà Sa có
thể dựa vào đâu để chứng minh rằng có một vật thể có tên
là “phi ngă” để xác minh được nhóm từ này. Như đă nói ở
trên, trong tư tưởng hệ của Tỳ Bà Sa đầy các thực thể và
c̣n đông đảo hơn cả tư tưởng hệ của Plato. Như vậy, bằng
một công cụ tinh xảo giản lược bất kỳ nhóm từ nào thành
một số các nhóm từ khác tương đương, ta có thể loại bỏ
ngay tất cả những khó khăn cũng như tất cả những ǵ không
muốn có trong học thuyết của Tỳ Bà Sa về thực tại.
Điều này c̣n giúp ta bất ngờ nh́n thấy học thuyết Tỳ Bà Sa
về chính ngôn ngữ. Thế Thân cho chúng ta biết rằng đối với
Tỳ Bà Sa th́ pháp hữu vi, trong số nhiều cái khác, c̣n là
“nền tảng của ngôn ngữ” (kathāvastu, ngôn y).[13]
Ông c̣n giải thích thêm những ǵ hàm ư trong từ “ngôn” (kathā),
vốn được xem như đồng nghĩa với từ “thuyết” (vākya),
khi nói rằng “nó bao gồm các vật và các chữ”. Nay, theo
phê phán của Thế Thân, khi Tỳ Bà Sa nói rằng “pháp hữu vi
là nền tảng của ngôn ngữ”, rơ ràng những ǵ họ muốn nói
không phải là cái ta mong đợi, tức mọi vật đang hiện hữu
có khả năng được diễn tả theo một cách nào đó trong thế
giới của ngôn ngữ, mà là cái ít hiển lộ nhất đối với độc
giả, có nghĩa là mỗi chữ phải biểu thị một vật thể nào đó
làm “nền tảng” cho nó. Thật ra, mặc dù một cách hiểu như
thế không được chứng minh hoàn toàn xác thực đối với chúng
ta, điều này đă được công khai xác nhận bởi tác giả vô
danh của Abhidharmadīpa khi ông phát biểu rơ ràng
rằng “các chữ biểu trưng cho vật thể”.[14]
Và tác giả này, nhờ khám phá được các thủ bản của ông, rơ
ràng là một đối thủ ác liệt của Thế Thân không thua kém ǵ
nhân vật Chúng Hiền tiếng tăm. V́ vậy chúng ta không đi
quá xa khi nói rằng Tỳ Bà Sa thật sự chủ trương thuyết bất
kỳ nhóm từ biểu thị đúng ngữ pháp nào cũng phải biểu trưng
cho một vật th́ vật thể đó mới có thể hiểu được. Thuyết
này, như đă nói, dẫn đến một số khó khăn và những kết luận
không muốn có, và trong số đó cái gây kinh động nhất là
cái dưới đây. Nó kinh động nhất không phải v́ vấn đề nó
đặt ra mà v́ những ǵ Tỳ Bà Sa đă đề ra như một giải pháp
cho vấn đề này.
Chúng ta đă nói rằng đối với Tỳ Bà Sa, bất kỳ nhóm từ biểu
thị đúng ngữ pháp nào cũng biểu thị một cái ǵ đó. Vậy th́
câu hỏi đặt ra là làm thế nào ta có thể giải thích sự hiện
hữu của một vật có tên là “sinh” khi ai đó thốt lên một
lời nói, chẳng hạn, “đó là sự sinh ra của con tôi”. Chúng
ta cũng đă nói rằng thực hiện việc giải thích như thế thật
sự là một việc phiền toái. Và sự thật là điều này không dễ
dàng chút nào đối với Tỳ Bà Sa. Họ đề nghị rằng chữ
cùng sinh (sahaja) với vật, và điều này có thể được
hiểu như sau nếu chúng ta chấp nhận giải thích của Phật Âm
(Buddhaghoṣa).
Phật Âm chia các từ chỉ vật, tức tên của chúng, thành bốn
loại: tên được đặt vào một dịp đặc biệt, tên được đặt dựa
vào phẩm tánh cá nhân, tên được đặt bởi cha mẹ, và tên tự
nhiên có. Loại cuối cùng được đưa ra v́, như chính ông cho
thấy, nếu không có nó sẽ không thể giải thích lư do những
trường hợp như người ta gọi ‘trăng’ là một vật tự nó thay
đổi liên tục và tự xuất hiện đầy đủ chỉ vào những đêm nào
đó trong tháng. V́ thế chữ ‘trăng’ thuộc loại “tự nhiên
khởi” (opapātika) cùng với vật mà sau này nó được biết đến
là trăng.[15]
Theo cách diễn đạt riêng của Tỳ Bà Sa, chữ ‘trăng’ cùng
sinh với vật thể có tên là ‘trăng’. V́ vậy, khi người ta
thốt lên “đó là sự sinh của con tôi” th́ chữ ‘sinh’ này
đang biểu trưng cho vật thể ‘sinh’ và cùng sinh ra với vật
thể đó. Vật thể đó, đến lượt nó, lại cùng sinh ra với vật
thể có tên là ‘con’, v.v. cho đến khi mọi chữ đều được
giải thích lư do. Đây quả là một lư thuyết kỳ lạ và cũng
là một kết luận phi lư. Thế nhưng, h́nh như sự cám dỗ đối
với Tỳ Bà Sa th́ không thể chống lại được dưới sức mạnh lư
luận của họ đến độ một lư thuyết về ngôn ngữ như thế đă ra
đời.
Nay qua cái công cụ tinh xảo mà Thế Thân giới thiệu, không
chỉ các từ như sinh, v.v. được chứng minh thật ra chỉ là
những nhóm từ biểu thị đúng ngữ pháp, mà tất cả các từ
cùng loại trong bất cứ ngôn ngữ được nói đến nào đều nên
được bàn đến theo cách như thế. Đối với ông, chúng không
ǵ khác hơn là những mô tả (prajñaptimātra) và không cần
biểu trưng cho bất kỳ vật thể nào cả. Như vậy bằng cách
giản lược một nhóm từ biểu thị đúng ngữ pháp thành bất kỳ
nhóm từ tương đương nào khác, Thế Thân đă vượt ra khỏi
việc làm phiền toái và vô tích sự là đi t́m những đối
tượng và những thực thể như “đứa con của người đàn bà vô
sinh” hay “hoa giữa hư không”, v.v, những thứ thật sự rất
khó t́m thấy, nếu không phải là không thể t́m thấy.
V́ thế, bất kỳ nhóm từ nào cũng được xem không biểu trưng
cho bất kỳ vật nào cả, mà chỉ thay cho một cái khả biến có
thể giản lược hoặc thay thế. Thay v́ giả định một số hạng
không đổi hay một tên riêng như ‘n’, ta luôn luôn có thể
sử dụng một thuộc từ ‘N’ chỉ đúng đối với vật thể mà ‘n’
có liên hệ và dùng ‘n’ như một chữ viết tắt của một mô tả
có thể hủy là ‘(ix)N(x)’. V́ thế ‘n’ không bao giờ có thể
xem như biểu trưng cho vật thể, và nó cũng không khẳng
định sự tồn tại phải có của vật thể đó mà nó có liên hệ.
Như vậy, cái bóng của mọi loại vật thể trừu tượng và hư
cấu không cần đến đều tan biến vĩnh viễn không để lại dấu
vết. Không c̣n cần thiết phải giả định sự tồn tại của các
vật như số, phi ngă, hay sự khoáng trương, v.v. để giải
thích lư do của các từ như một, hai, anātman, lớn, nhỏ,
v.v. Thế giới ngôn ngữ đă đủ để diễn tả chính nó và bảo
đảm cho sự có nghĩa của nó. Bởi v́ mỗi một từ của nó đều
có thể giản lược thành một mô tả tương đương nơi mà nó
không xảy ra và trong đó nó không được cần đến. Thật ra,
với kết luận này Thế Thân cũng giải thoát cho Tỳ Bà Sa ra
khỏi đường cùng của họ ở điểm họ sẵn sàng đồng ư với ông
rằng không có một cái ngă (ātman) thường hằng. Nay, nếu Tỳ
Bà Sa xem bất kỳ nhóm từ biểu thị đúng ngữ pháp nào cũng
đều biểu trưng cho một vật nào đó th́ họ buộc phải mâu
thuẩn với chính họ nếu họ đưa ra một phủ nhận như thế; bởi
v́ nếu có một vật như thế có tên là “ngă”, th́ nó phải
hiện hữu, và chúng ta không thể lúc đầu th́ giả định là có
một vật thể nào đó nhưng sau đó lại tiếp tục phủ nhận rằng
không có một vật thể như thế. ‘Ngă’ và tất cả các từ cùng
loại, v́ thế, không là ǵ cả mà chỉ là các mô tả.
Cái công cụ lư luận được dùng để phân tích ngôn ngữ này
chắc chắn không phải không được những người sống trước Thế
Thân biết đến. Ngay cả thuật ngữ “mô tả” cũng đă rất thịnh
hành kể từ thời đức Phật. Thật vậy, kinh
Photthapāda-sutta có ghi rằng đức Phật đă từng bàn về
nhiều suy luận khác nhau về thể tánh của linh hồn hằng cửu,
nói rằng theo đức Phật những từ như atta-patilàbha, sữa,
sữa đông, bơ, váng sữa, quá khứ, hiện tại, vị lai, v.v.
chỉ là “các tên gọi, thành ngữ, danh xưng, mô tả trong
cách dùng thông thường của thế gian”.[16]
Kinh Mahānidānasuttanta c̣n nói rơ hơn khi thuật
rằng đức Phật đă nói với A Nan điều sau đây trong số nhiều
điều khác: “Những mô tả về tên-và-h́nh dạng (danh sắc)
đều dựa vào các khía cạnh, các đặc trưng, các dấu hiệu và
các chỉ thị. Nếu các khía cạnh, các đặc trưng, các dấu
hiệu và các chỉ thị không tồn tại, sẽ không có sự mô tả về
ấn tượng ngôn ngữ tương ứng trong h́nh thức”.[17]
Rơ ràng, điều phát biểu này muốn nói là cái tên “danh-sắc”
và, v́ lư do này, tất cả các tên gọi cùng loại, đều có thể
được thay bằng bất kỳ nhóm từ nào khác tương đương.
Thật ra, như các bản kinh thuộc cùng loại vừa dẫn ở trên,
đức Phật, v́ để có thể bác bỏ các quan niệm mà Ngài xem là
sai lạc hay không đúng đang thịnh hành vào thời đó như
quan niệm về ngă, v.v. mà Ngài đă phải t́m ra một phương
tiện có thể giúp Ngài loại bỏ tất cả mà không phải kẹt vào
mâu thuẫn trên đây. Tức chúng ta không thể lúc đầu th́ giả
định một vật ǵ đó tồn tại nhưng sau đó lại đi phủ nhận
rằng không có một vật như thế đă từng hiện hữu hay đang
hiện hữu. Như vậy, nếu một phát biểu thuộc loại “đây là
một người” được đưa ra với Ngài th́ có lẽ Ngài sẽ trả lời
“đây là một vật được cấu thành bởi các thành phần vật lư
và tâm lư như bốn đại, các cảm thọ, sự khái niệm hóa, các
ư chí và các tri giác”. Như vậy, từ ngữ “người” sẽ biến
mất trong câu trả lời của Ngài. Từ đó, có lẽ Ngài sẽ tiếp
tục phủ nhận và phê phán bất kỳ học thuyết ǵ mà những kẻ
đối nghịch Ngài có thể đưa ra, những học thuyết mà Ngài
xem là sai lạc và không đúng đắn. Như vậy, theo Ngài,
không có ngă bởi v́ bất kỳ phát biểu nào về nó cũng có thể
thay bằng một vài phát biểu khác nơi mà nó không xảy ra và
trong đó nó không cần đến.
Tuy nhiên thí dụ rơ nhất về vấn đề từ ngữ “mô tả” đă được
sử dụng như thế nào trước thời Thế Thân không ǵ khác hơn
là lời bàn về cái mà chữ “xe” ám chỉ trong Milindapañha,
tác phẩm nổi tiếng Những Câu Hỏi Của Milinda.[18]
Bản gốc Phạn ngữ cuốn Milindapañha chắc chắn đă
được Thế Thân biết đến v́ rơ ràng ông đă trích dẫn một
đoạn của tác phẩm này trong phê phán của ông về Độc tử bộ
(Vātsīputrīya) ở Chương IX Câu Xá Luận.[19]
Na Tiên tỳ kheo (Nāgasena) đă bị cáo buộc là “nói lời
không thật, dối trá” sau khi trả lời câu hỏi của vua
Milinda về tên Ngài rằng Na Tiên chỉ là “một biểu thị, một
cái tên, một mô tả, một diễn đạt, v́ Na Tiên chỉ là một
cái tên, v́ không có con người nào được đạt đến ở đây”.
“Lúc đó Tôn giả Na Tiên đă nói như thế này với Vua Milinda:
“Thưa Ngài, ngài là một người cao thượng được dưỡng dục
cẩn thận, được dưỡng dục cực kỳ cẩn thận. Nếu ngài đi chân
không vào giữa trưa trên mặt đất khô cháy và cát nóng, dẫm
lên dăm đá nhọn và sỏi và cát, bàn chân ngài làm tổn
thương ngài, thân thể ngài suy kiệt, suy nghĩ của ngài bạc
nhược, và thân thức sinh khởi kèm theo sự đau đớn. Nay,
ngài đă đến bằng chân không hay bằng sự chuyên chở?”
“Bạch Tôn giả, tôi không
đến bằng chân không. Tôi đến bằng xe.”
“Đại vương, nếu ngài đến
bằng xe, hăy chỉ cho tôi chiếc xe. Có phải cái càng là
chiếc xe?”
“Ồ không, bạch Tôn giả.”
“Có phải cái trục là chiếc
xe?”
“Ồ không, bạch Tôn giả.”
“Có phải các bánh xe là
chiếc xe?”
“Ồ không, bạch Tôn giả”
“Có phải thân xe là chiếc
xe ... có phải cán cờ là chiếc xe... có phải cái ách là
chiếc xe... có phải dây cương là chiếc xe... có phải cái
roi là chiếc xe?”
“Ồ không, bạch Tôn giả.”
“Nhưng rồi, thưa Ngài, có
phải chiếc xe là cái càng, cái trục, các bánh xe, thân xe,
cán cờ, cái ách, dây cương, cái roi?”
“Ồ không, bạch Tôn giả.”
“Nhưng rồi, thưa Ngài, có
một chiếc xe tách rời khỏi cái càng, cái trục, các bánh xe,
thân xe, cán cờ, cái ách, dây cương, cái roi không?”
“Ồ không, bạch Tôn giả.”
“Thưa Ngài, dù tôi đang
hỏi ngài lập đi lập lại, tôi không thấy chiếc xe. Xe chỉ
là một âm thanh, thưa Ngài. Thế th́, chiếc xe là cái ǵ?
Thưa Ngài, ngài đang nói một lời không thật, dối trá.
Không có chiếc xe. Thưa Ngài, ngài là Đại vương ở toàn Ấn
độ. Ngài sợ ai mà ngài nói dối? Hăy để năm trăm vị
Bactrian Hy lạp cao quư và tám mươi ngàn tăng sĩ lắng nghe
tôi: Vua Milinda này nói như thế này: “Ta đă đến bằng xe.”
Nhưng khi được bảo: “Thưa Ngài, nếu ngài đă đến bằng xe,
hăy chỉ cho tôi chiếc xe”, th́ ông ta đă không tạo ra được
chiếc xe. Có thích hợp để tán thành điều đó không?” Khi
điều này đă được nói, năm trăm vị Bactrian Hy lạp, hoan hô
Tôn giả Na Tiên, nói như thế này với Vua Milinda: “Thưa
Ngài, nay ngài có nói nếu ngài có thể không?”. Lúc đó Vua
Milinda nói như thế này với Tôn giả Na Tiên:
“Bạch Tôn giả, tôi không
nói dối, bởi v́ chính do cái càng, do cái trục, các bánh
xe, thân xe, cột cờ, cái ách, dây cương, và do cái roi mà
‘xe’ hiện hữu như một biểu thị, một danh xưng, một mô tả,
như một diễn đạt, như một cái tên”.
“Thưa Ngài, thật khéo là
Ngài hiểu được một chiếc xe. Ngay cả đối với tôi cũng thế,
thưa Ngài, do tóc của đầu và do lông của thân . . . và do
năo trong đầu và do h́nh chất và thọ và tưởng và các
khuynh hướng tập quán và thức mà ‘Na Tiên” hiện hữu như
một biểu thị, một danh xưng, như một mô tả, như một diễn
đạt, chỉ như một cái tên. Nhưng theo ư nghĩa cao nhất th́
con người không được nắm bắt ở đây. Thưa Ngài, điều này đă
do tỳ-kheo-ni Vajirà nói trực tiếp với Thế Tôn:
Giống như v́ có sự kết hợp
các bộ phận nên có chữ xe, cũng vậy khi có các uẩn th́ có
‘hữu’ theo quy ước.” (yathā hi aṃgasambhāra
hoti saddo ratho iti/ evaṃ
khandhesu santesu hoti ‘satto’ ti sammuti//)[20]
Như vậy, một điều rất minh bạch là tác giả của
Milindapañha ít ra cũng biết rằng có một cách nào đó
để loại bỏ quan niệm cho rằng các chữ biểu trưng cho các
thực thể, và chúng chỉ là một biểu thị, một danh xưng, một
mô tả, một diễn đạt, một cái tên (sankhā sannā paññatti
vohāro nāmaṃ
pavattati). C̣n đáng chú ư hơn là bài kệ của nữ tu Vajirà
nói rơ rằng khi chúng ta nói “cái ǵ đó hiện hữu” th́
không nhất thiết phải kết luận rằng từ ngữ đó biểu thị sự
tồn tại tự thân của một vật nào đó. Cũng giống hệt như từ
‘xe’ không nhất thiết phải biểu trưng vật thể có tên là xe.
Chắc chắn cả Na Tiên và Milinda đều biết chữ ‘xe’ nghĩa là
ǵ. Nhưng điều Na Tiên muốn chỉ cho Milinda là sự kiện nếu
một chữ có nghĩa th́ điều đó không hàm ư rằng chữ đó phải
măi măi biểu trưng cho một vật nào đó ở nơi nào đó bên
ngoài. Bởi v́ nó có thể được thay bởi một số các nhóm từ
khác tương đương. Trong thí dụ được Na Tiên bàn đến, từ
‘xe’ không biểu thị bất kỳ bộ phận nào của chiếc xe, nó
cũng không thể biểu thị bất kỳ vật ǵ không có, hoặc nằm
ngoài, các bộ phận này. V́ thế, thay v́ dùng từ ‘xe’, một
từ có lẽ thích hợp với việc |