Thích Tuệ Sỹ (tt)
Luật đặt ra cũng nói đến quan hệ
giữa tập thể Tỳ-kheo và cộng đồng ngoài đời. Tỳ-kheo bỏ
nhà bỏ cửa sống đời sống không tư hữu nhưng vẫn phải ăn,
vẫn phải mặc. Người đời không ai cho không những thứ họ
làm ra bằng trí óc hay thể lực; thành ra phải có sự trao
đổi theo những giao ước xă hội đă trở thành truyền thống,
văn hóa. Sự trao đổi đó nói rằng, một tập thể Tăng dù đă
thoát ly khỏi ràng buộc xă hội vẫn phải có nhiệm vụ gián
tiếp đối với xă hội; nh́n một mặt là gián tiếp nhưng mặt
khác vẫn là đóng góp trực tiếp trong sự phân công xă hội.
Ở đây phân biệt một Tỳ-kheo quan hệ với người đời có mấy
tư cách? Tỳ kheo sống dựa vào sự chu cấp của xă hội, cho
nên phân thành bốn hạng.
Thứ nhất, Tỳ-kheo ăn của tín thí
như bọn ăn trộm. Đó là Tỳ-kheo sống phá giới phạm trai.
Trong cái gọi là khế ước phân công xă hội, người đời cần
có những tấm gương đạo đức làm mẫu mực. Nh́n vào những
gương đạo đức để sống và có một trật tự xă hội. Một xă
hội mà không có những tập thể sống mẫu mực như vậy để
cho mọi người bắt chước th́ xă hội sẽ loạn. Nếu người
xuất gia mà không đáp ứng được điều đó, không phải là
những chuẩn mực đạo đức cho xă hội và như vậy là vi phạm
hợp đồng. Phật nói, những người xuất gia như vậy là hạng
người sống bằng sự ăn trộm của xă hội.
Thứ hai, Tỳ-kheo sống mà ăn như
đầy tớ. Đó là những người sống giữ giới luật nhưng là
phàm phu, chưa chứng quả Thánh. Họ sống như người làm
thuê cho tục gia. Thí chủ cúng cho ḿnh một bát cơm, mà
trong hiện tại, là muốn nuôi dưỡng chuẩn mực cho trật tự
xă hội, và cũng muốn phước báo đời sau nữa. Ăn cơm của
người ta và cầu nguyện cho người sống lâu, cho được giàu
sang, cũng như tôi tớ lao động để làm giàu cho chủ, phải
cày cuốc, làm ruộng vườn để được chủ trả lương ăn hằng
ngày. Thứ ba, Tỳ-kheo sống ăn như người vay nợ. Đây là
chỉ cho những vị đă chứng quả Thánh từ Tu-đà-hoàn trở
lên. Ngay trong đời này và ít nhất là trong bảy đời nữa
vị đó sẽ chứng quả A-la-hán. Ở đây nói ăn như vay nợ,
nghĩa là các vị chứng Thánh đạo giống như người có tài
sản, có đất đai muốn kinh doanh nhưng thiếu vốn nên phải
vay nợ và thế chấp bằng đất đai để buôn bán, một thời
gian sau khi trở thành người giàu có, thành ông chủ th́
trả nợ lại. Cũng vậy, bây giờ tạm thời các vị Tu-đàhoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm đi vay nợ ăn để nuôi thân ḿnh cho
tới khi chứng quả A-la-hán mới thôi. Thứ tư, Tỳ-kheo
sống ăn như người chủ, giống như ông chủ ngân hàng, đó
là những vị đă chứng quả A-la-hán, là bậc ứng cúng, xứng
đáng được thọ nhận cúng dường. Đây là quan hệ giữa người
xuất gia và những người sống ngoài đời thường; c̣n sống
c̣n ăn là c̣n có quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ.
Chính điều này đă đặt ra luật. Lần đầu tiên khi Phật
thuyết pháp tại Ma-kiệt-đà, ngay sau đó đă có nhiều
người từ bỏ gia đ́nh theo Phật xuất gia, trong đó phần
lớn là thanh niên. Bấy giờ hầu như cả thành phố bối rối
và lo sợ. Dân chúng phản đối rằng, Sa-môn Cồ-đàm đến đây
phá hoại, v́ sao? V́ bấy giờ, những người trụ cột trong
gia đ́nh hoặc là cha, hoặc là chồng, hoặc là con đều bỏ
đi xuất gia theo Phật hết. Đó là mâu thuẫn đầu tiên giữa
Giáo đoàn đệ tử Phật và xă hội thế tục. Một người sống ở
ngoài đời th́ họ có nhiệm vụ với đời, nên khi họ đi tu
th́ xă hội bị một khoảng trống. Khi xă hội bị khoảng
trống như vậy, người ta phải bù đắp lại một cái ǵ đó.
Dù muốn dù không, người xuất gia vẫn phải bị ràng buộc
với khế ước phân công xă hội, nghĩa là vẫn phải có nghĩa
vụ, hay trách nhiệm nào đó đối với xă hội để được người
đời chu cấp, nuôi dưỡng.
Cho đến thời hiện đại, chúng ta
thấy chuyện này lại càng rơ hơn. Như hiện tại trẻ em
sinh ra được nhà nước, người quản lư và giám sát nghĩa
vụ chấp hành khế ước xă hội chăm lo. Nhà nước chăm lo
bằng sự đóng thuế của dân. V́ thế, một thành viên của xă
hội th́ lớn lên phải có nhiệm vụ hoàn trả. Nếu nửa chừng
mà đi tu, từ chối mọi trách nhiệm và nghĩa vụ thế gian,
tức là cướp công của xă hội, th́ phải bù lại cho xă hội
cái ǵ đó. Cái duy nhất mà người xuất gia có thể bù lại
cho xă hội như là bồi hoàn món nợ, đó chính là đạo đức,
là giềng mối duy tŕ trật tự ổn định của xă hội, nền
tảng của hạnh phúc và thịnh vượng theo nghĩa thế tục.
Cho nên, quan hệ giữa tập thể xuất gia, nh́n mặt ngoài
tuy thấy lỏng lẻo nhưng là mối quan hệ tự bản chất không
thể phân ly.
Điểm nữa, khi tạo thành một tập
thể, tuy rằng mục đích của người xuất gia cao thượng
không tranh chấp ǵ với thế gian nữa, nhưng đă tạo thành
cộng đồng, th́ cộng đồng này sẽ xung đột với những cộng
đồng khác. Thí dụ, cộng đồng Phật giáo sẽ xung đột với
những cộng đồng không phải Phật giáo như cộng đồng
Bà-la-môn, cộng đồng Hồi giáo… Ngay trong thời Phật tại
thế cũng vậy, khi Phật đi đến nơi nào th́ nơi đó Phật
giáo mỗi ngày một thịnh hành và các nhóm khác như Kỳ-na
giáo hay như Lục sư ngoại đạo tất nhiên bị giảm quyền
lợi, mất sự tôn trọng và cúng dường của dân chúng, do đó
họ sanh ra đố kỵ, ghen ghét cho rằng:
“Ngày xưa ḿnh sống ở đây, mọi mgười chung quanh kính
trọng cúng dường. Bây giờ, Samôn Cồ-đàm đến nói pháp nên
mọi người không cúng dường
nữa”.
Cho nên, nhiều chỗ đức Phật thuyết pháp trước một đám
đông có cả đạo sĩ, phạm chí, những người xuất gia ngoại
đạo như trường hợp với Phạm chí Nigroda. Sau khi thuyết
pháp xong, Phật nói ông Phạm chí và các đệ tử của ông ấy
rằng:
Các ngươi tưởng rằng Ta đến đây
nói pháp để giành quyền lợi vật chất hay sao? Không,
quyền lợi vật chất của các ngươi vẫn c̣n y nguyên là của
các ngươi, Ta không đụng chạm ǵ đến. Ta đến đây thuyết
pháp không phải v́ mục đích để cho người khác cúng dường…
Vấn đề rơ ràng là Ngài thuyết pháp không phải v́ mục
đích để tranh giành quyền lợi. Và Ngài nói rằng, những
ǵ các ông lâu nay cho rằng phải, là thích hợp, th́ hăy
cứ giữ nguyên như thế; đức Phật không bác bỏ, nhưng khi
nhận thấy cái ǵ hay, cái ǵ thích hợp th́ theo.
Dù Ngài đă thuyết pháp và xác
định rơ như vậy, nhưng các ngoại đạo vẫn phân biệt và
cho rằng do Sa-môn Cồ-đàm nói pháp như vậy như vậy nên
quần chúng của ḿnh bỏ đi theo hết, hay như người cư sĩ
Ni-kiền Tử sau khi quy y Phật th́ không c̣n sẵn sàng
cúng dường cho nhóm Ni-kiền-tử nữa. Có rất nhiều chuyện
xảy ra như vậy. Như một vị cư sĩ tại gia sau khi quy y
Phật rồi nói rằng: Con đă quy y Phật rồi, từ nay cấm
không cho đám Ni-kiền-tử tới nữa. Phật dạy rằng: Từ xưa
tới nay, ông là nguồn suối của những người xuất gia Ni-kiền-tử
th́ nay ông cũng cứ nên tiếp tục như vậy. Mặc dù vậy,
vẫn xảy ra nhiều âm mưu chống đối, phá hoại của các
ngoại đạo như thường. Cho nên, đại đệ tử Mục-kiền-liên
bị ngoại đạo phục kích đánh chết và nhiều đệ tử khác của
Phật cũng bị hành hung, ngay cả Phật nhiều khi cũng bị
bao vây không cho đi và vu khống, đặt điều xuyên tạc đủ
thứ để triệt hạ uy tín. Nghĩa là, dù đức Phật đă tuyên
bố như vậy, đă khuyên cả những phú hộ giàu sang sau khi
quy y Phật tiếp tục ủng hộ những người ngoại đạo trước
đó đă từng ủng hộ, chứ không nhất thiết chỉ ủng hộ đức
Phật và chúng đệ tử, nhưng vẫn xảy ra tranh chấp nhiều
khi dẫn đến bạo lực mà các đệ tử Phật luôn luôn là nạn
nhân.
Thành ra một tập thể Tăng, cơ bản
nhất là cộng đồng tôn giáo này sẽ tranh chấp với cộng
đồng tôn giáo khác, nên cần phải có luật ứng xử thế nào
để tránh những tranh chấp này. Nếu không như vậy, xung
đột, đấu tranh và mâu thuẫn quyền lợi hoặc vật chất hoặc
tinh thần vốn là quy luật phát triển của xă hội, thay v́
cộng đồng Tăng lữ xuất hiện là để đem lại trật tự cho xă
hội, mà khi đi vào xă hội lại làm cho xă hội rối loạn
thêm nữa. Đó là sai ư nghĩa mà Phật thiết lập lập tổ
chức Tăng-già. Tăng-già là một cộng đồng đệ tử xuất gia
của Phật phải sống giữa cộng đồng xă hội có nhiều phe
phái, nhiều tổ chức chính trị, nhiều đoàn thể; mỗi tổ
chức có mục đích riêng, quyền lợi vật chất riêng và họ
luôn luôn có xu hướng tranh chấp với ḿnh. Chúng ta nói
rằng người xuất gia không có mục đích như thế gian,
nhưng cơ bản nhất vẫn phải có miếng ăn, có cái để mặc,
mà ăn và mặc th́ làm thế nào để có? Dù sống khổ hạnh,
mỗi ngày chỉ ăn một bữa, nhưng cơm vẫn là khẩu phần, mà
một tập thể tăng vẫn tiêu thụ mất một khoản ruộng lúa
nào đó. Khi đám ruộng lúa đó thuộc về Tăng th́ những
nhóm khác sẽ bị mất khiến thế gian phải tranh chấp để
dành lại dưới h́nh thức thu nhập nào đó, hoặc vật chất
hiện tại, hoặc bằng điều gọi là phước báo cho đời sau.
Cho nên, mục đích chế luật của
Phật là để đệ tử xuất gia không tranh chấp với thế gian
mà vẫn có thể tồn tại được. Nếu không có luật th́ chúng
ta không thể tồn tại v́ chỗ nào, đi đến đâu, cũng vẫn là
đất đai của người đời; bất cứ vật dụng ǵ mà người xuất
gia cần cũng là sở hữu của người đời. Trong cả thế gian
này, không có cái ǵ là sở hữu của người xuất gia cả,
thậm chí cho đến một khoảng đất trống để tọa thiền.
Thật sự, chúng ta nói rằng ḿnh
không tranh chấp nhưng nh́n vào đâu cũng thấy có tranh
chấp khốc liệt. Từ khi con người có tư hữu th́ có sự
tranh chấp khốc liệt cho nên luật cần thiết là chỗ đó.
V́ vậy, học luật cần phải nh́n thấy rơ điểm này. Trong
Luật chúng ta học cũng c̣n nhiều điều khó lư giải theo
kiến thức phổ thông hiện nay, có thể là do giới hạn hiểu
biết của chúng ta và cũng do giới hạn của thời đại lịch
sử nữa. Tức là những điều luật được lưu truyền đă trải
qua một thời kỳ quá xa xưa, qua nhiều quốc độ mà phong
tục, tập quán khác biệt nhau, khiến cho ư nghĩa nhiều
khi thoạt xem không thể chấp nhận theo giá trị đương đại.
Chính v́ vậy mà có nhiều người cho rằng luật ngày xưa cổ
hủ và đ̣i thay đổi. Thế nhưng, tự bản chất, không có ǵ
là cổ hủ cả hay lỗi thời trong các điều luật Phật chế.
Luật ngày xưa gắn liền với những xung đột mà những xung
đột đó cho đến hôm nay vẫn c̣n nhưng dưới h́nh thức khác.
Xung đột của con người vẫn là những xung đột về tài sản
vật chất, tranh chấp ruộng vườn, nhà cửa, v.v… Theo đó
mà nói, Luật Phật chế nếu nh́n sâu trong bản chất th́
không chỗ nào lạc hậu hết, trừ khi xă hội loài người xóa
tan không c̣n tranh chấp nữa th́ bấy giờ, hẳn nhiên luật
Phật mới không c̣n cần thiết hay thích hợp. C̣n tranh
chấp th́ luật vẫn c̣n, tranh chấp từ thời thái cổ,
thượng cổ cho tới bây giờ. Tức là bắt đầu từ thời giành
nhau từng bó lúa trong kinh
Khởi thế
nhân bổn, th́ quy luật tranh chấp cho tới bây
giờ vẫn c̣n đó, chỉ có điều xă hội phức tạp quá do nhân
số tăng gia nhảy vọt nên cần có nhiều luật lệ. Ngày xưa
chỉ là buôn bán trong làng trong xóm, c̣n bây giờ th́
buôn bán rộng cả thế giới; ngày xưa dùng vỏ ṣ, rồi tiền
vàng, tiền bạc… c̣n bây giờ th́ đủ loại tiền, nên xung
đột xă hội có khác nhưng bản chất th́ giống nhau. Nh́n
ra được bản chất đó th́ luật Phật không có ǵ là lạc hậu,
chỉ là do chúng ta không thấy mà cho là luật Phật lạc
hậu rồi t́m cách thay đổi. Điều chắc chắn là xă hội c̣n
thay đổi, liên tục thay đổi; đừng nói 200 năm nhiều khi
100 năm hay 50 năm sau xă hội vẫn liên tục thay đổi nữa,
theo đó mà thay đổi Luật Phật, rồi cuối cùng mọi thứ
thay đổi, không c̣n đâu là lời Phật. Chúng ta sẽ biến
chánh pháp thành tà pháp lúc nào mà không hay. Thật sự,
xă hội thay đổi liên tục nhưng cơ bản tự bản chất của
con người không có ǵ thay đổi. Quan hệ giữa con người
gốc từ tham sân si, từ ngă và ngă sở không hề thay đổi,
không có ǵ thay đổi, cho đến khi chuyển phàm thành
Thánh, th́ luật Phật cũng sẽ không bao giờ thay đổi.
Phải nh́n thấy bản chất của nó. Đây là chỗ mà chúng ta
phải học để nhận thấy.
Vậy, chúng ta học Luật để thấy
những ǵ ḿnh làm đúng hay sai, những ǵ chấp tŕ được
và những ǵ không kham, để cầu mong thấy rơ bản tâm của
ḿnh, là nhân tố thiết yếu để giác ngộ và giải thoát.
Không phải học Luật, với mớ hiểu biết hạn hẹp, với trí
tuệ thiển cận, và bằng sự si ngốc do bị chi phối bởi
danh vọng hăo huyền thế gian, rồi tự cao và tự tiện sửa
đổi Luật Phật, do bởi sự dốt nát của ḿnh, cho phù hợp
hợp tâm lượng phàm phu và tham vọng mù quáng.
■
Thích Tuệ Sỹ