|
HAI D̉NG HỌ
LÍ VIỆT NAM ĐĂ VƯỢT BIÊN TỚI
ĐẠI HÀN TỪ THẾ KỈ 12 VÀ 13
Trần
Vinh
Biến cố Bắc Hàn thử nghiệm vũ khí nguyên tử lần thứ nhất ngày
09 tháng 10 năm 2006 gợi cho chúng tôi nhớ tới những người yêu
chuộng ḥa b́nh trên bán đảo Triều Tiên, trong đó có những
người Đại Hàn ở cả hai miền Nam Bắc vốn là đồng bào Việt Nam
như chúng ta, tổ tiên họ thuộc ḍng họ triều nhà Lí Đại Việt
đă vượt biên tị nạn chính trị măi hồi thế kỉ 12, 13).
Vị trí nước ta khá xa nước Cao Li (Triều Tiên và Đại Hàn ngày
nay), nhưng cùng chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa rất sâu sắc,
nhất là về văn tự và nền đạo đức Khổng Mạnh. Cũng v́ ‘thiên
triều’ Trung Hoa là trung tâm các phiên quốc phải quy về, cho
nên sứ giả nước Việt đă từng gặp gỡ sứ giả Cao Li. Chuyện kể
học giả kiệt xuất Lê quư Đôn thi đậu tiến sĩ, làm quan đời vua
Lê Hiển Tông; năm 1760-1762, ông đi sứ Tầu, đă cùng các danh
sĩ Tầu và sứ thần các nước Nhật Bản, Cao Li xướng họa và được
họ khâm phục. Riêng vị sứ thần Cao Li là trạng nguyên Hồng
Khải Hi đă tặng quan sứ nước Việt một chiếc quạt và một bài
thơ. Trạng nguyên Lê Quư Đôn làm thơ tặng lại:
Tản Viên khái tự Tùng sơn tú
Áp Lục ưng đồng Nội thủy trường…
(Núi Tùng của Cao li và núi Tản Viên nước Việt cùng khoe sắc.
Sông Áp Lục của Cao li và sông Nhị Hà nước Việt cùng nối dài..).
Trạng nguyên Hồng Khải Hi c̣n đề tựa cho bộ sách Quần Thư Khảo
Biện của Lê Quư Đôn như sau: ‘Chọn lấy trong thư tịch các đời
mà khảo đính, biện luận trên dưới vài ngh́n năm, cái được cái
mất, ai được ai thua, như thế này th́ an, không như thế này
th́ nguy, không điều nào là không soi xét và tính đến; lật đổ
những xét đoán đă định trước đây cũng có, phê phán những kẻ
thừa tiếp sai lầm cũng có, cách lí giải tinh diệu tràn đầy
trên giấy mực…’
Đến sau này, vào những năm cao điểm của cuộc chiến Việt Nam
1966-1970, có 2 sư đoàn của Nam Hàn sang tham chiến ở miền
Trung Việt Nam. Đó là sư đoàn Mănh Hổ và sư đoàn Bạch Mă. (Danh
hiệu sư đoàn Bạch Mă có liên quan tới một nhân vật trong lịch
sử Việt Nam và Cao Li, như sẽ thấy trong bài này). Đương nhiên
đă xẩy ra hàng trăm cuộc hôn nhân giữa những chiến binh Đại
Hàn và những cô gái Việt. Do đó ngay từ hồi thập niên 1970,
nhiều cô gái Việt đă theo chồng về làm dâu bên Đại Hàn rồi.
Ngày nay, từ thập niên 1980, khi kinh tế bắt đầu ‘mở cửa’, con
rồng Nam Hàn đă tràn vào làm ăn lớn ở Việt Nam. Họ đến làm ăn
nhưng cũng đă mang theo cả những sản phẩm văn hóa, nhất là
phim ảnh. Người Việt bây giờ chẳng c̣n xa lạ ǵ với con ngựi
và đất nước Đại Hàn nữa.
Với những chuyện kể trên, chỉ là những diễn biến b́nh thường
xẩy ra giữa hai quốc gia, không có điều chi mới lạ!
Sự thực không phải thế. Ẩn nấp dưới ḍng lịch sử lạnh lùng, đă
phát hiện câu chuyện ḱ thú về hai vị hoàng tử triều nhà Lí
Việt Nam là ‘thuyền nhân’ tị nạn, phiêu bạt tới nước Cao li
măi hồi thế kỉ 12, 13!
Trước 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi có dịp quen biết 2 sinh
viên Đại Hàn sang học tại Đại học Sài G̣n với học bổng của Cơ
quan Nghiên Cứu Văn Hóa Á Châu: một tên là Kim học văn học
Việt Nam. Anh tâm sự học không hiểu mấy, nhất là môn chánh tả
Việt ngữ của Giáo sư Lê Ngọc Trụ cho nên anh đang mua sách vở
và chuẩn bị về nước. Người thứ hai là chị Lee. Chị nhận giáo
sư Nghiêm Thẩm đỡ đầu luận văn cao học sử với đề tài So Sánh
Hậu Quả Việc Cấm Đạo Giữa Đại Hàn Và Việt Nam. Chị Lee đọc đă
lâu ở thư viện Hội Nghiên Cứu Đông Dương (trong khuôn viên
Thảo Cầm Viên Sài G̣n) mà chưa viết ǵ. Chúng tôi làm quen và
biết chị đang lúng túng về đề tài, cho nên đă thử đề nghị với
chị xin Giáo sư Nghiêm Thẩm đổi đề tài thành So Sánh Việc Cấm
Đạo Giữa Việt Nam Và Đại Hàn (không tự hạn chế quá chặt chẽ
vào hậu quả của việc cấm đạo) để đề tài mở rộng hơn, dễ viết
hơn. Chị đă làm như vậy và rất hài ḷng. Từ đó chúng tôi trở
nên thân hơn. Chị thành thật nói ở cư xá Thanh Quan các chị
sinh viên Việt Nam ăn ít quá khiến chị mắc cở không dám ăn
nhiều, nên cứ phải sang tiệm New Seoul ở đường Ḱ Đồng để ăn
thêm! Rồi t́nh cờ một hôm chị nói chị là hậu duệ ḍng họ Lí
Việt Nam! Lúc đó chúng tôi rất ngạc nhiên nhưng phần v́ đang
chú tâm vào một công việc, phần v́ ‘tối dạ’ nên đă không hỏi
chị cho ra câu chuyện đàng hoàng mà chỉ kể lại với Giáo sư
Nghiêm Thẩm. Giáo sư đă biết chuyện này cho nên ông thản nhiên
bảo chính ông được Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, hồi sang làm
đại sứ bên Hàn quốc, nhờ làm cố vấn quay một cuốn phim tài
liệu, nói về mối quan hệ Việt-Hàn từ thế kỉ 12, 13 tới ngày
nay, nhưng v́ t́nh h́nh chuyển biến luôn nên chưa thực hiện
được.
Không ngờ trong lịch sử nước ta lại có những chuyện li ḱ đến
thế! Quả đây là câu chuyện lịch sử lí thú, ít ai biết tới.
Thế rồi t́nh h́nh miền Nam sang đầu năm 1975 biến chuyển mau
lẹ và sụp đổ tất cả… Măi tới thập niên 1990, chúng tôi mừng rỡ
được đọc vài bài có nhắc tới họ Lí Việt Nam tại Đại Hàn.
Truớc hết, trong bài Niềm Hănh Diện Chung viết tháng 9 năm
1988, nhà văn Trà Lũ kể sơ qua chuyện hoàng tử Lí Long Tường
cùng những người trong hoàng tộc nhà Lí đă vượt biên sang Cao
Li năm 1226 để trốn thoát bàn tay của thái sư Trần Thủ Độ.
Nhưng nhà văn Trà Lũ cho rằng hoàng tử Lí Long Tường đă đổ bộ
lên tỉnh Phu San miền cực Nam của Cao Li. Rồi v́ sau có công
chống quân Mông Cổ cho nên hoàng tử được vua Cao Li trọng đăi.
Khi mất, vua cho dựng tượng đồng, đề là Bạch Mă Tướng Công,
anh hùng dân tộc đuổi giặc Mông Cổ. (Trà Lũ. Miền Đất Hạnh
Phúc. Việt Pub.. 1989, trang 170).
Sau đó, trong cuốn Việt Nam Huyết Lệ Sử, do Đồng Hướng xuất
bản năm 1996, các trang 866-869, tác giả Cao Thế Dung cũng kể
chuyện hoàng tử Lí Long Tường vượt biển ‘đến một miền ven biển
giá lạnh sau này là Lư Hoa Trang hay Lư Hoa Sơn, vua Triều
Tiên cho định cư tại đây’. Tác giả chưa biết là có tới 2 đoàn
người Việt họ Lí vượt biển sang tị nạn tại Cao Li với nguyên
do khác nhau, một giạt vào bờ biển phía Nam, một giạt vào bờ
biển phía Bắc nước này và cách nhau tới 76 năm. Cả hai tác giả
Trà Lũ và Cao Thế Dung kể chuyện mà không cho biết đă căn cứ
vào đâu.
C̣n bài Trang Sử Bị Bỏ Quên của Trần Đ́nh Sơn đăng trên báo
Người Việt số ra ngày 02 tháng 02 năm 2002, kể chuyện hoàng tử
Lí Long Tường đưa 3 thuyền buồm lớn vượt biển: một chiếc giạt
vào lănh thổ Trung Hoa, 2 chiếc c̣n lại ‘dạt đến tận tỉnh
Pusan miền Nam nước Cao Ly’. Tác giả cho biết ông kể chuyện
căn cứ vào sử liệu do một sinh viên Đại Hàn du học tại Luân
Đôn cung cấp, vào lịch sử triều nhà Lí, vào lời của các nhân
chứng từng viếng thăm các di tích lịch sử và các bài báo. Thế
nhưng tác giả Trần Đ́nh Sơn cũng chỉ biết có một chuyến vượt
biên và đă lẫn lộn chuyến vượt biên thứ nhất vào năm 1150 của
hoàng tử Kiến Hải vương Lí Dương Côn với chuyến vượt biên thứ
hai vào năm 1226 của Kiến B́nh vương Lí Long Tường. Trần Đ́nh
Sơn không đếm xỉa ǵ tới sự mâu thuẫn lộ liễu về địa dư nước
Cao Li. Nước Cao Li là một bán đảo dài, chỉ có miền Bắc tiếp
giáp với lục địa. Khi xâm lăng Cao Li, bộ binh Mông Cổ đă vượt
qua biên giới phía Bắc, đánh lần xuống kinh đô nằm bên sông
Han ở phía Tây Trung bộ nước Cao Li. Không thể lẫn lộn mặt
trận vùng núi Hoa Sơn thuộc vùng này với lănh thổ tỉnh Pusan
nằm măi dưới cực Đông Nam Cao Li. Hơn nữa, tại sao tác giả
Trần Đ́nh Sơn lại quả quyết năm 1226 là năm vượt biên mà
‘Hoàng tử Lư Long Tường đang c̣n ở tuổi niên thiếu’? Thực sự
vị hoàng tử này sanh năm 1174, Giáp Ngọ, niên hiệu Chính long
Bảo ứng. Năm vượt biên 1226, hoàng tử đă được 52 tuổi.
Điểm lại, chỉ có bài viết của Bs.Trần Đại Sỹ trên Văn Nghệ
Tiền Phong số 560 mới cho biết rơ ràng hơn về sự kiện lịch sử
này với nhiều chi tiết và bằng chứng cụ thể.
Vào thời thịnh trị của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa, Tổng thống Đại
Hàn là Lí Thừa Văn đă viếng thăm chính thức Việt Nam Cộng Ḥa
ngày 6 tháng 11 năm 1958 để đáp lễ chuyến viếng thăm Hàn quốc
của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm năm trước vào ngày 17 tháng 9 năm
1957. Nhân dịp này, Lí Tổng thống đă nhận tổ tiên của ông là
người Việt Nam, ông c̣n nhờ Ngô tổng thống t́m hậu duệ họ Lí
và tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă cử thẩm phán Lí Quốc Sỉnh qua
Nam Hàn để t́m ḍng dơi họ Lí Việt Nam.
Chính v́ sự việc đáng ngạc nhiên này mà sinh viên y khoa Trần
Đại Sỹ, lúc đó 19 tuổi, đă viết thư hỏi thẳng sứ quán Nam Hàn
ở Sài G̣n để biết thêm tin tức. Hơn một tháng sau, sứ quán đă
trả lời: ‘Tổng thống Lí Thừa Văn là hậu duệ đời thứ 25 của
Kiến B́nh Vương Lư Long Tường. Kiến B́nh Vương là con thứ 6
của vua Lư Anh Tông. Người cùng tông tộc sang Cao ly vào đầu
thế kỷ thứ 13 v́ quốc nạn’.
Ngay năm sau, 1959, sinh viên Trần Đại Sỹ t́nh cờ t́m thấy Tập
san Sử Địa của Nhật Bản, số 2 ra năm 1941 để tại thư viện
Paris có lời Bạt về nguyên tổ họ Lí ở Đại Hàn như sau: ‘Năm
Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến Trung thứ nh́ đời
vua Thái tôn nhà Trần. Biết ḿnh là con thứ sáu của vua Lí Anh
tông, lại đang giữ chức đô đốc, tư lệnh hải quân, trước sau
cũng bị Trần Thủ Độ hăm hại, nên ông đă đem tướng sĩ dưới
quyền, tông tộc, cùng hạm đội ra đi, sau đó trôi dạt vào Cao
li’.
Hơn 20 năm sau, năm 1980, nhân chuyến đi dự hội nghị y khoa
tại Hàng Châu (Trung Hoa) trong phái đoàn của nước Pháp, cũng
chính Bs.Trần Đại Sỹ đă có duyên được gặp 2 nữ bác sĩ đến từ
Bắc Hàn, đó là Bs.Lí Chiếu Minh quê ở Hùng Xuyên (Hunchon) và
Bs.Lí Diệp Oanh quê ở Thuận Xuyên (Sunchon). Hai nữ bác sĩ Bắc
Hàn này đều tự nhận là hậu duệ của Kiến B́nh Vương Lí Long
Tường đến từ Việt Nam vào thế kỉ 13. Nh́n nhận nhau vốn là
‘đồng bào’ cả ba trở nên thân thiết. Chiếu Minh và Diệp Oanh
đă mời Bs.Trần Đại Sỹ, nhân tiện, đi thăm Bắc Hàn. Nhờ có giấy
thông hành Pháp và danh nghĩa đi nghiên cứu nhân sâm, bác sĩ
họ Trần dễ dàng được chấp nhận nhập cảnh và được sứ quán Pháp
cung cấp đủ mọi phương tiện.
Tại Hùng Xuyên cũng như tại Thuận Xuyên các chi họ Lí gốc gác
Việt Nam đă xin phép chính quyền để tụ họp nghe bác sĩ Trần
Đại Sỹ kể chuyện lịch sử thời nhà Lí (Ông dùng tiếng Quan
thoại, Chiếu Minh và Diệp Oanh phiên dịch). Có cuộc hội họp
đông tới 700 người.
Bs.Diệp Oanh đă hướng dẫn Bs.Trần Đại Sỹ đi thăm những vùng
đất thiêng liêng và những di tích hiện c̣n được bảo tồn kĩ
lưỡng, như: cửa biển Phú Lương Giang nơi hạm đội của Kiến B́nh
Vương cập bến năm xưa, miền đất Ung Tân nơi họ Lí được định cư
đầu tiên, lăng ngài Kiến B́nh Vương trên ngọn đồi Juhang thuộc
xă Đỗ Môn (Tômơ ki) và Vọng Quốc Đài trên Quảng Đại Sơn nơi
Vương lên đó để hướng vọng cố quốc.
Các chi tộc c̣n đưa gia phả
viết
bằng chữ Nho
tới
để hỏi han thêm về những chi tiết chưa rơ. Trong gia phả họ Lí
ở Thuận Xuyên có đôi câu đối như sau:
Thập bát anh hùng giai Phù Đổng,
Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê Linh
Câu thứ nhất vinh danh 18 vị tướng đời vua Lí Nhân Tông đă hi
sinh trong chiến tranh vệ quốc chống quân nhà Tống. Câu thứ
hai vinh danh 3000 nữ chiến sĩ dưới quyền nữ tướng Thiên Ninh
công chúa (tức Bà Chúa Kho) đă anh dũng chống lại quân nhà
Tống dưới quyền 2 danh tướng Quách Qùy và Triệu Tiết.
Tới năm 1983, Bs.Trần Đại Sỹ đi Nam Hàn, ông nhận thấy tại đây
ḍng họ Lí gốc Việt không đông như ở miền Bắc. Hầu như không
t́m thấy dấu vết nào về cuộc vượt biên của Kiến B́nh Vương Lí
Long Tường ở đây, bởi v́ hoàng tử Lí Long Tường đă dạt vào bờ
biển miền Bắc Cao li, chứ không phải ở miền Nam. Nhưng chính
tại đây ông đă may mắn khám phá ra thêm một sự kiện lịch sử li
ḱ, đó là có một ḍng họ Lí Việt Nam khác nữa cũng đă vượt
biển sang đây tị nạn. Người đầu tiên cho ông biết sự việc lạ
lùng này là ông Lí Gia Trung. Ông Lí Gia Trung xác nhân gốc
gác ḿnh là người Việt, tổ tiên là Kiến Hải Vương Lí Dương Côn,
ông không phải là ḍng dơi Kiến B́nh Vương Lí Long Tường.
Lời xác nhận của ông Lí Gia Trung đă được khám phá của giáo sư
Phiến Hoằng Cơ hỗ trợ.
Cuối năm 1996, Gs. Phiến Hoằng Cơ (Pyon Hong Ke), nhà nghiên
cứu phả hệ nổi tiếng ở Nam Hàn, sau khi nghiên cứu gia phả
mang tên Tinh Thiện Lư Thị Tộc Phả được lưu trữ tại thư viện
quốc gia Hán Thành rồi phối hợp với bộ sử Cao Li, đă công bố
phát hiện ḍng họ Lí gốc Việt Nam thứ hai tại Đại Hàn. Theo
Giáo sư, ḍng họ Lí tại Tinh Thiện, thuộc đạo Giang Nguyên,
phía Đông Nam Đại Hàn ngày nay là con cháu của hoàng tử Lí
Dương Côn thuộc triều Lí Việt Nam (1010-1225). Lư Dương Côn
hiệu là Nguyên Minh, hoàng tử thứ ba, con vua Càn Đức, ra đi
v́ sự đe dọa của nước Kim Đối với nước Tống vào năm 1115. Giáo
sư Phiến Hoằng Cơ cho rằng hậu duệ đời thứ 6 của hoàng tử Lí
Dương Côn là Lí Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) từng đảm trách những
chức vụ quan trọng trong lịch sử Cao Li. Thời vua Nghị Tông (Ui-jiong
1146-1170) Lí Nghĩa Mẫn được phong chức Biệt trưởng. Vua Minh
Tông (Mycong 1170-1179) thăng cho ông là Thượng tướng quân
(1174), là Tây Bắc Bộ binh Mă sứ (1178) và chức Tể tướng trong
suốt 14 năm (1183-1196). Tới năm 1196, tướng Thôi Chung Hiếu (Cho
Chung Heon) làm chính biến đă giết cha con tể tướng Lí Nghĩa
Mẫn. Sở dĩ ḍng họ Lí Việt Nam này c̣n tồn tại tới nay là nhờ
người anh trai của tể tướng Lí Nghĩa Mẫn và gia đ́nh được
thoát nạn.
Về thành tích sáng chói của nhân vật Lí Nghĩa Mẫn trong lịch
sử nước Cao Li chúng ta không thể có ư kiến ǵ khác. Song có
đôi điều thuộc gia phả chưa sáng tỏ. Thứ nhất, Giáo sư Phiến
Hoằng Cơ cho rằng hoàng tử Lí Dương Côn vượt biển tị nạn v́
nước Kim xâm lược nước Tống vào năm 1115 là điều khó hiểu.
Hoàng tử Lí Dương Côn là người Đại Việt, nếu nước Kim có xâm
lăng nước Tống th́ c̣n cách quá xa nước Đại Việt, tại sao Lí
hoàng tử lại phải vượt biển đi tị nạn. Vả lại nếu nói thời
điểm đi tị nạn là năm 1115 là rơi đúng vào thời thịnh trị của
vua Lí Nhân Tông (1072-1127), lúc đó binh lực nước ta rất hùng
mạnh. Năm 1075, anh hùng Lí Thường Kiệt cùng danh tướng Tôn
Đản vâng mệnh đưa trên 10 vạn tinh binh đánh sang châu Khâm,
châu Liêm (Quảng Đông, Quảng Tây) trong sách lược ‘tiên hạ thủ
vi cường’ của triều đ́nh nhà Lí để đập tan ư đồ xâm lăng Đại
Việt của triều nhà Tống bên Trung Hoa. V́ thế, lại càng không
có lí do để mà phải đi tị nạn xâm lăng. Điều chưa sáng tỏ thứ
hai là việc gia phả nói danh nhân Lí Nghĩa Mẫn là hậu duệ đời
thứ sáu của hoàng tử Lí Dương Côn, được vua Nghị Tông (Ui-jiong)
phong chức Biệt trưởng vào năm 1170 xem ra có sự nhầm lẫn. Bởi
v́ theo sử Việt, năm 1117 vua Lí Nhân Tông nhận 5 đứa cháu,
con của 5 người em, làm con nuôi và chọn cháu Dương Hoán lên 2
tuổi, con người em là Sùng Hiền hầu, làm hoàng thái tử, c̣n 4
cháu con của 4 người em khác được phong làm thái tử, trong đó
người cháu thái tử thứ 3 chính là hoàng tử Lí Dương Côn. Chắc
là hoàng tử Lí Dương Côn chỉ ngang hoặc kém hoàng thái tử Lí
Dương Hoán (tức là vua Thần Tông 1128-1138) một vài tuổi. Vậy
vào năm 1170 khi hậu duệ của ông là Lí Nghĩa Mẫn được vua Nghị
Tông (Ui-jiong) phong chức Biệt trưởng bên Cao Li th́ chính
hoàng tử Lí Dương Côn (nếu c̣n sống) khoảng 54 tuổi, làm ǵ đă
có hậu duệ 6 đời. Về điểm này, Bs. Trần Đại Sỹ cho rằng danh
nhân trong lịch sử Cao Li Lí Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) chính là
con của hoàng tử Lí Dương Côn và là hậu duệ đời thứ 6 kể từ
vua Lí Thái Tổ nhà Lí nước Đại Việt.
(Theo sử Việt, Càn Đức là tên huư của vua Lí Nhân Tông, con
trưởng vua Lí Thánh Tông, mẹ là bà Linh Nhân Thái hậu).
CUỘC VƯỢT BIÊN THỨ NHẤT CỦA HOÀNG TỬ LÍ DƯƠNG CÔN NĂM 1150
Nạn tranh bá đồ vương chốn cung đ́nh triều Lí là lí do cuộc
vượt biên tị nạn của Kiến hải vương Lí Dương Côn năm 1150.
Lí Dương Côn là con nuôi của vua Lí Nhân Tông, được phong là
hoàng tử thứ ba. Thân sinh của Lí Dương Côn là Thành Quảng hầu
em ruột vua Lí Nhân Tông. Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Bản kỉ,
quyển III viết: ‘Năm Đinh Dậu, Hội Tường Đại Khánh năm thứ 8
(1117)…T́m con trai họ tông thất để nuôi ở trong cung. Xuống
chiếu rằng: ‘Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối,
ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi
con trai của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng,
Thành Chiêu, Thành Hưng. Chọn người nào giỏi th́ lập làm thái
tử. Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán mới lên hai tuổi
mà thông minh lanh lợi, vua rất yêu và bèn lập làm hoàng thái
tử’.
Truy t́m nguyên do và thời điểm mà hoàng tử Lí Dương Côn vượt
biển tị nạn sang Cao Li, chỉ thấy Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Bản
Kỉ, Quyển IV ghi lại rằng: Năm 1138, vua Lí Thần Tông băng,
thái tử Thiên Tộ lên ngôi, tức là vua Lí Anh Tông, lú ấy mới
có 3 (2?) tuổi. Đến năm Canh ngọ 1150, sử chép: ‘Khi trước vua
c̣n trẻ thơ, chính sự không cứ việc lớn việc nhỏ đều ủy cho Đỗ
Anh Vũ cả. Anh Vũ sai vợ là Tô thị ra vào cung cấm hầu hạ Đỗ
Thái hậu, do đó mà Anh Vũ tư thông với Lê Thái hậu (lúc đó có
2 bà thái hậu), nhân thế lại càng kiêu…’ Trước t́nh h́nh ấy,
quan Điện tiền đô chỉ huy sứ là Vũ Đái cùng các công thần hợp
lại bắt Anh Vũ. Lê Thái hậu v́ t́nh riêng đă t́m cách đút lót
vàng cho Vũ Đái để nhất thời cứu mạng cho Anh Vũ. Khi vụ án
lên tới vua, Anh Vũ bị đầy đi cầy ruộng. Lê Thái hậu lại âm
mưu cho mở nhiều hội hè lớn và mỗi lần nhân có hội lớn th́ tội
nhân được ân giảm. Nhờ mấy lần giảm án, cuối cùng Anh Vũ ‘lại
làm Thái úy phụ chính như cũ, càng được yêu dùng hơn, do đấy
chuyên làm oai, làm phúc, sinh sát mà ḷng báo thù lúc nào
cũng tỏ rơ…’ Hậu quả là khắp nơi xẩy ra bắt bớ, máu đổ đầu rơi,
ngay cả ‘bọn Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái 20 người cũng bị
chém bêu đầu ở các bến sông…’
Thật vậy, năm 1127, khi vua Lư Nhân Tông qua đời, hoàng thái
tử Dương Hoán lên nối ngôi năm 1128, tức là vua Lí Thần Tông.
Sau này người em nuôi cũng là em họ của vua Lí Thần tông là Lí
Dương Côn được phong tước Kiến hải vương lănh chức Đại đô đốc
hải quân. Năm 1138, vua Lí Thần Tông qua đời, hoàng thái tử là
Thiên Tộ mới lên 2 tuổi, triều đ́nh muốn tôn hoàng tử Lí Dương
Côn (khoảng 22 tuổi) lên ngôi. Nhưng mẹ của thái tử Thiên Tộ
là Cảm thánh Hoàng hậu (họ Lê) đă đút lót vàng bạc cho các
quan, rồi bà liên kết với t́nh nhân là Đỗ Anh Vũ ( Anh Vũ là
em của Chiêu Hiếu thái hậu mẹ vua Thần Tông) để đưa hoàng tử
Thiên tộ lên ngôi tức là vua Anh Tông (1138-1175). Vua c̣n thơ
ấu, đương nhiên quyền lực nằm trong tay Cảm thánh Hoàng thái
hậu. Để củng cố quyền lực bà phải thanh toán mọi nguy cơ có
thể xẩy tới cho con bà. V́ thế bà cùng Đỗ Anh Vũ thẳng tay sát
hại các em nuôi của vua Thần tông và con của các em vua Nhân
Tông cùng toàn thể gia quyến của các vị này. May mắn cho Kiến
hải vương Lí Dương Côn đang đóng quân ở Đồ Sơn, thấy t́nh thế
nguy biến, đă đem gia quyến vưọt biển tị nạn. Chính Kiến hải
vương Lí Dương Côn mới là người táp vào bờ biển Pusan là một
tỉnh cực Đông Nam của nước Cao Li vào năm 1150, chứ không phải
là hoàng tử Lí Long Tường.
CUỘC VƯỢT BIÊN THỨ HAI CỦA HOÀNG TỬ LÍ LONG TƯỜNG NĂM 1226
Thái sư Trần Thủ Độ tiêu diệt nhà Lí, khai sáng nhà Trần là lí
do cuộc vượt biên tị nạn của hoàng tử Lí Long Tường năm 1226.
Theo các bộ sử Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và Việt
Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ th́ nhà Trần lấy được thiên hạ từ
tay nhà Lí đều do mưu lược của Trần Thủ Độ. Điều đó đúng, song
thiển nghĩ vẫn chưa đủ. Sở dĩ Trần Thủ Độ có thể làm được như
vậy cũng một phần do các vua cuối triều Lí không c̣n là những
minh quân, đă tỏ ra nhu nhược hoặc đau yếu về thể xác đâu c̣n
đủ sức cáng đáng việc nước. Song đó lại là chuyện khác. Ở đây
chỉ nhắc lại sơ lược việc Trần Thủ Độ đă chớp lấy thời cơ để
tiêu diệt nhà Lí, giành lấy thiên hạ vào tay nhà Trần khiến
cho hoàng tử Lí Long Tường phải liều lĩnh vượt biên tị nạn
chính trị. Năm Giáp thân 1224, vua Lí Huệ tông lập công chúa
Phật Kim làm thái tử rồi truyền ngôi cho công Chúa, tức Lí
Chiêu Hoàng, sau đó ra tu tại chùa Chân Giáo. Quyền bính nằm
trong tay thái hậu Trần Thị Dung và Trần Thủ Độ. Hai người vốn
là anh em họ nay lại tư thông với nhau. Tới tháng 10 năm Ất
Dậu 1225, Trần Thủ Độ mưu t́m cách cho Lí Chiêu Hoàng thành
hôn với cháu ông ta là Trần Cảnh mới lên 8, rồi dàn dựng để Lí
Chiêu hoàng truyền ngôi cho chồng. Đến đây quyền bính chính
thức chuyển từ nhà Lí sang tay nhà Trần. Thấy Huệ Tông đang
nhổ cỏ trong sân chùa, Trần Thủ Độ nói bóng gió với Huệ Tông:
Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, rồi tháng 8 năm Bính Tuất 1226, Trần
Thủ Độ bức tử nhà vua tại chùa Chân Giáo. Thái hậu Trần Thị
Dung bị giáng xuống là Thiên cực công chúa để có thể lấy Trần
Thủ Độ làm chồng. Nhằm tận diệt ḍng dơi nhà Lí, Trần Thủ Độ
thanh trừng tôn thất nhà Lí, gả các cung nhân và con gái nhà
Lí cho các tù trưởng sơn cước. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần
Trọng Kim: “Thủ Độ đă hại hết cả ḍng dơi nhà Lí, lại muốn cho
hậu thế không ai nhớ đến họ Lí nữa mới nhân v́ tổ nhà Trần là
Lư, bắt trong nước ai là họ Lư đếu phải cải là họ Nguyễn’ (Trần
Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược. Nhxb Văn hoá Thông tin, 1999.
Trang 126). Một ít năm sau, năm 1232 nhân dịp con cháu nhà Lí
c̣n sót lại tụ họp ở thôn Thái Đường, xă Hoa Lâm để làm lễ
cúng tổ tiên, Trần Thủ Độ cho đào hố sâu, dựng nhà lên trên,
rồi giật nhà đổ để chôn sống tôn thất nhà Lí. (Hoa Lâm nay là
huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, là hành cung của nhà Lí thuở
xưa). Trong bối cảnh chính trị hoàn toàn bất lợi như thế, tôn
thất nhà Lí nào c̣n sống sót đều phải cao bay xa chạy để thoát
nạn tận diệt của Trần Thủ Độ, trong đó có hoàng tử Lí Long
Tường là con thứ 7 của vua Lí Anh Tông. Hoàng tử Lí Long Tường
là chú của vua Huệ Tông, ông chú của Lí Chiêu Hoàng.
Vua Lí Anh Tông (1138-1175) sinh 7 hoàng tử: Long Xưởng, được
phong thái tử (1151-1181), Long Minh (1152-1175), Long Đức
(1153-1175), Long Ḥa (1152-1175), Long Ích (1167-1212), Long
Trát (1172-1210). Năm 1174 thái tử Long Xưởng phạm lỗi, bị phế
làm thứ dân, thái tử Long Trát được phong đông cung thái tử,
tức vua Lí Cao Tông (1176-1210). Hoàng tử thứ 7 là Long Tường.
Theo Trần tộc Vạn thế Ngọc phả của ḍng dơi Chiêu quốc vương
Trần Ích Tắc để tại từ đường thuộc thị xă Lănh Thủy, huyện
Chiêu Dương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc mà Bác sĩ Trần Đại Sỹ đă
đọc được th́ phần nói về hoàng tử Lí Long Tường nguyên văn như
sau: ‘Hoàng tử thứ bảy Long Tường do Hiền phi Lê Mỹ Nga, sinh
vào niên hiệu Chính long Bảo ứng thứ 12 (DL 1174, Giáp Ngọ).
Đức Thái Tông nhà ta( tức Trần Cảnh) phong chức tước như sau:
Thái sư Thượng trụ quốc, Khai phủ nghị đồng tam tư, Thượng thư
tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước Kiến B́nh vương. Niên hiệu
Kiến trung thứ nh́ đời đức Thái Tông nhà ta ( tức Trần Cảnh)
tháng tám ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn
xuất’. (Xin đánh dấu hỏi vào con số 6000 người vượt biên trong
hoàn cảnh tháo chạy và với khả năng kĩ thuật tầu bè vào thế kỉ
13).
Những ǵ Trần tộc Vạn thế Ngọc phả ghi về hoàng tử Lí Long
Tường trên đây không mâu thuẫn với nội dung tường thuật về vị
hoàng tử này c̣n ghi lại trong Tộc phả Lí Hoa Sơn (Địa danh
thuộc Bắc Hàn ngày nay):
Hoàng tử Lí Long Tường là vị thân vương duy nhất của triều nhà
Lí c̣n sót lại với những chức tước địa vị cực cao, nhất là
đang nắm thực lực binh quyền (Đại đô đốc hải quân) cho nên
hoàng tử đă lo sơ bị Thái sư Trần Thủ Độ ám hại. Buộc ḷng
hoàng tử phải quyết định vượt biên tị nạn chính trị. Trước khi
ra đi, hoàng tử đă bí mật lẻn về Kinh Bắc, vái lậy tạ biệt
lăng miếu Đ́nh Bảng, tới Thái miếu thu gom các bài vị, các đồ
tế khí, rồi trở lại Đồ Sơn đem hết tông tộc hơn 6 ngàn người
xuống chiến hạm ra đi. Sau hơn một tháng, hạm đội gạp băo,
phải táp vào trú tại đảo Đài Loan. Một con trai của hoàng tử
là Lí Đăng Hiền cùng với vợ con ở lại đảo này. Đoàn chiến hạm
tiếp tục cuộc vượt biển. Cuối cùng đoàn đă đổ bộ lên cửa Phú
Lương Giang, quận Khang Linh (Ong Jin-Gun), tỉnh Hoàng Hải
(Hwang hac), thuộc Bắc Cao Li. Vị trí đổ bộ này tên là
Nak-nac-wac (Bến của khách phương xa mang theo đồ thờ cúng).
Vương được vua Cao Tông (Kojong) cùng quần thần tiếp kiến bằng
bút đàm. Sau đó vua ban đồ tiếp tê và cho lập cư ở Ung Tân,
phủ Nam Trấn Sơn (Chin sang). Vương cùng thân tộc gắng sức mưu
sinh, phát huy học tập văn vơ.
Năm 1253, quân Mông Cổ xâm lăng Cao Li. Chiến thuyền và Bộ
binh Mông Cổ thắng lợi khắp nơi đe dọa kinh đô. Nhiều tướng
Cao li đă tử trận. Thấy t́nh h́nh bi đát, Kiến B́nh vương Lí
Long Tường t́nh nguyện tới yết kiến Thái úy Vi Hiển Khoan đang
nắm binh quyền để hiến kế sách binh pháp nước Đại Việt cho ông.
Hoàng tử Lí Long Tường thường cỡi con ngựa trắng chỉ huy đôn
đốc binh sĩ giữ thành. Sau 5 tháng kháng chiến kiên cường,
quân Nguyên Mông phải rút lui. Cao Li mừng chiến thắng. Nhà
vua tưởng thưởng hoàng tử Lí Long Tường, phong cho hoàng tử là
Hoa Sơn tướng công theo tên núi Hoa Sơn nơi ông cư ngụ. Vua
c̣n cho dựng bia trên núi Hoa Sơn ghi khắc công lao của tướng
công. Đích thân nhà vua tặng 3 chữ Thụ Hàng Môn (cửa tiếp nhận
sự đầu hàng của giặc).
Ngày nay, lăng mộ hoàng tử Lí Long Tường và con cháu đến 3 đời
vẫn c̣n trên đối Julbang, xă Đỗ Môn (Tô mơ ki) cách núi Hoa
Sơn 10 km về phía Tây. Trên Quảng Đại Sơn vẫn c̣n Vọng Quốc
Đàn là cái đàn hoàng tử thường lên đó để nh́n về phương Nam cố
quốc mà ôm mặt khóc. Mỏm đá nơi hoàng tử đặt chân lên đầu tiên
có tên là Việt Thanh Nham (tảng đá xanh in dấu vết người Việt).
Theo tác giả Trần Đ́nh Sơn trong bài Những Trang Sử Bị Bỏ Quên
đă nêu trên đây th́ ‘Ngày nay trên đại lộ từ phi trường về thủ
đô Hán Thành của Đại Hàn, du khách được chiêm ngưỡng pho tượng
Bạch Mă Tướng Công do chính phủ Đại Hàn xây dựng từ thập niên
1960’. Trong chiến tranh Việt Nam, ai cũng biết Đại Hàn đă
tham chiến với 2 sư đoàn Mănh Hổ và sư đoàn Bạch Mă. Sư đoàn
Bạch Mă lúc đó do Trung tướng Kim Yong Hiu chỉ huy. Sư đoàn
đóng ở Nha Trang và Đèo Cả. Không phải ngẫu nhiên chính phủ
Nam Hàn đưa sư đoàn Bạch Mă sang chiến đấu cho tự do tại Việt
Nam. Sở dĩ chính phủ mang sư đoàn này sang Việt Nam chắc chắn
là để chứng tỏ nước Đại Hàn con nhớ công ơn hoàng tử Lí Long
Tường của Việt Nam đă từng chiến đấu bảo vệ nền độc lập của
nước Cao Li vào thế kỉ thứ 13, nay để đền đáp, chính phủ Đại
Hàn cử sư đoàn Bạch Mă sang chiến đấu cho tự do của Miền Nam
Việt Nam.
Theo Bs. Trần Đại Sỹ, ḍng họ Lí Hoa Sơn nay truyền tới đời
thứ 28. Đa số họ Lí Việt Nam cư ngụ ở Bắc Hàn, không có cách
chi thống kê được hết. Riêng tại Nam Hàn, ḍng họ Lí này chỉ
có khoảng 200 hộ (600 người), nhưng hầu hết đều có tŕnh độ
văn hoá cao, nắm giữ những chức vụ trọng yếu. Như trên đă nói,
cựu tổng thống Nam Hàn Lí Thừa Văn là hậu duệ đời thứ 25 của
hoàng tử Lí Long Tường.
Cho đến bây giờ, hàng năm đến Tết Nguyên đán, hậu duệ Kiến
B́nh vương Lí Long Tường từ nhiều nơi vẫn t́m về Hoa Sơn làm
lễ tế tổ tiên. Năm 1995, đă có hơn 100 con cháu Kiến B́nh
vương từ Hàn quốc trở về làng Đ́nh Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh
Bắc Ninh để dự hội làng vào ngày 15 tháng 3 Âm lịch.
Thật là cảm động! Hậu duệ của Kiến B́nh vương Lí Long Tường
nay đă trở thành người Đại Hàn, không biết nói tiếng nói tổ
tiên, nhưng họ vẫn c̣n giữ đuợc những di vật, những gia phả,
hàng năm vẫn tụ vể miền đất Hoa Sơn linh thiêng để cử hành
nghi lễ cúng giỗ. Họ vẫn biết gốc gác họ từ nước Việt xa xôi.
Họ tự hào là hậu duệ ḍng họ Lí lẫy lừng trong lịch sử Việt
Nam. Khi có dịp họ hănh diện nhận ḿnh là người Việt (như tổng
thống Lí Thừa Văn, như sinh viên cao học Sử Lee...). Và 769
năm sau (1226-1996) họ đă trở về viếng thăm đất tổ.
Thời đại chúng ta, ngày quốc nạn 30 tháng 4 năm 1975 đă xua
đàn chim Việt tan tác khắp bốn phương trời làm lữ khách. Dẫu
biết khoa học kĩ thuật ngày nay tiến bộ vượt bậc cho phép thu
ngắn không gian và thời gian và nhân loại đang tiến tới toàn
cầu hoá. Tuy nhiên tiến bộ khoa học kĩ thuật không thể thay
thế được thiện chí, t́nh cảm thiêng liêng của những tấm ḷng
gắn bó với quê hương đất nước. Nơi xứ người, đă có biết bao
đồng hương đồng bào cống hiến những sáng kiến và công sức mong
ǵn giữ t́nh tự Việt, chất Việt cho con cháu lớn lên ở hải
ngoại. Thật đáng khâm phục. Hi vọng 100 năm sau, 200 năm sau,
300 năm sau…lớp hậu duệ vẫn c̣n biết gốc gác của ḿnh, vẫn
hănh diện nhận ḿnh là người Việt theo gương hậu duệ của
‘thuyền nhân’ Lí Dương Côn và Lí Long Tường thuở xưa.
Ghi chú: Những dịp chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Kim
Định rất ít, cho nên chúng tôi chỉ được nghe Giáo sư khen ngợi
có 3 vị. Đó là Giáo sư Lê Tôn Nghiêm, Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ và
Bác sĩ Trần Đại Sỹ. Tại giảng đường thuở xưa, Giáo sư Kim Định
khen ngợi Giáo sư Lê Tôn Nghiêm, bạn lâu đời của ông, là có
thế giá bậc nhất về Triết học Tây phương ở Miền Nam, và khen
Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, giáo sư Triết học Trung Hoa, là nếu có
Hàn lâm viện th́ Bác sĩ Thọ phải là một thành viên. (Trên
tường pḥng mạch của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ ở đường Vơ Tánh,
Phú Nhuận, chúng tôi đọc được 4 chữ ‘Thông Kim Bác Cổ’ do các
nhân sĩ Đà Nẵng tặng cho ông hồi ông c̣n là thiếu tá Giám đôc
bệnh viện quân y Duy Tân, Đà Nẵng). Khi sang đây, có dịp tới
tu viện Ḍng Đồng Công Missouri, chúng tôi lên lầu viếng thăm
Giáo sư Kim Định đang nằm đưỡng bệnh. Trong câu chuyện, chúng
tôi lại được nghe Giáo sư Kim Định khen ngợi Bác sĩ Trần Đại
Sỹ là ‘một tay rất khá đó’.
Bác sĩ Trần Đại Sỹ là Giám đốc Cơ quan Nghiên cứu Tổng Hợp Y
học Âu Á của nước Pháp, có nhiệm vụ trao đổi y học giữa nước
Pháp và nước Tầu. Do công vụ, ông có nhiều dịp đi sang Tầu. Là
một tay tinh thông Nho học lại say mê nghiên cứu cổ sử Việt,
ông đă lợi dụng những chuyến đi công tác để thực chứng những
vị trí và t́m đọc những tài liệu có liên quan tới lịch sử cổ
Việt. Năm 1980, ông đă tới Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam, đă
tới núi Ngũ Lĩnh, cánh đồng Tương, hồ Động Đ́nh và núi Tam Sơn.
Chính tại tỉnh Hồ Nam, Bs. Trần Đại Sỹ đă được đọc Trần tộc
Vạn thế Ngọc phả đă nêu trên. Bs Trần Đại Sỹ là tác giả của
nhiều bộ trường thiên tiểu thuyết dă sử như: Anh Hùng Lĩnh
Nam, 4 cuốn; Động Đ́nh Hồ Ngoại Sử, 3 cuốn; Cẩm Khê Di Hận, 4
cuốn; Nam Quốc Sơn Hà, 5 cuốn, ngót 2300 trang; Anh Hùng Đông
A-Dựng Cờ B́nh Mông, 5 cuốn, ngót 2500 trang. Ngoài ra ông c̣n
diễn thuyết trước các hội nghi quốc tế về triết lí, quan niệm
y học về t́nh dục rất lạ của người Tầu thuở xưa cùng phần tực
hành và các bài thuốc.
Trần Vinh |