|
Đức
Thầy Độ Vợ Chồng Ông Ký Giỏi
(*)
LGT: Sau khi thấy rằng không thể mưu hại
được Đức Thầy mà để Đức Thầy Tại Sài Gòn thì có thể tạo nên những rắc
rối, bất ổn về mặt chính trị, nhà cầm quyền thực dân Pháp quyết định
đưa Ngài về câu thúc tại Bạc Liêu. Tại đây Ngài được một tín đồ trung
kiên là bà Ký Võ Văn Giỏi nhờ chồng -một quan chức đang làm việc cho
Pháp tại địa phương- bảo lãnh về nhà với tính cách an trí tại gia.
Đức Thầy đã độ cho hai vợ chồng ông
Ký Giỏi trong hai trường hợp khác nhau. Trước tiên, có thể do duyên
lành từ nhiều kiếp, Bà Ký Giỏi đã lặn lội đi tìm Thầy qua một giấc mơ
và gặp được Đức Thầy rồi Ngài cho thọ giáo quy y. Còn ông Ký Giỏi là
người theo Tây học, không hề tin vào những chuyện mà ông cho là có
tính cách huyền hoặc, "mê tín dị đoan", chỉ sau này khi Đức Thầy về an
trí tại nhà ông, thấy được nhân cách và những điều huyền diệu phi
thường của Đức Thầy ông mới tin phục và quy y theo.
Câu chuyện Đức Thầy độ ông bà Ký Giỏi đã
được kể lại như sau: Long Hoa.
*
Đức Thầy Độ Ông Ký Võ
Văn Giỏi
Lúc Đức Thầy bị thực dân Pháp đưa về an
trí tại Bạc Liêu, Ngài được ông bà Ký Giỏi thỉnh về cư trú tại nhà.
Lúc này bà Ký đã quy y với Đức Thầy rồi, còn ông Ký thì chưa.
Ông Ký Giỏi đang làm việc cho Pháp. Vì
chưa hiểu đạo nên ông không tin Đức Thầy là Phật, nhưng có một điều là
nhìn tư cách của Đức Thầy thì ông rất qúy trọng và thường gọi Đức Thầy
bằng Ngài.
Hôm nọ có người bạn ở Pháp gởi tặng ông
ba gói trà hiếm qúy được chế biến đặc biệt hơn các loại trà khác,
người ta thường dùng để đãi khách qúy của họ. Có được trà, ông Ký suy
nghĩ trà này nên dùng để đãi ai. Sực nhớ lại trong nhà mình có mặt Đức
Thầy là vị thượng khách, buổi trưa hôm đó, ông Ký đặc biệt đích thân
vào bếp nấu nước pha trà chứ không sai gia nhân như mọi khi. Ông cũng
tự rửa lấy ly tách để vào bộ kỹ trà. Sau khi châm trà xong ông gọi bà
Ký:
- Tôi nhờ bà mời Thầy của bà ra nhà
khách dùng trà.
Ông luôn dùng từ "Thầy của bà" chứ không
phải là thầy của ông. Đức Thầy bước ra, Ngài nói:
- Ông Ký mời tôi uống trà?
Ông Ký cúi đầui:
- Dạ! Tôi mời Ngài dùng trà
Ngay lúc đó Đức Thầy ngồi xuống ghế. Ông
Ký rót tách trà, đứng lên kính cẩn dùng hai taydâng tách nước cho
Thầy. Ngài đưa tay lấy tách nước và nói:
-Ông Ký ngồi xuống đi.
Ngay lúc đó bỗng dưng Ngài trầm ngâm một
lúc, xong hất đổ tách trà của ông Ký mới dâng ra sân. Trước sự việc
như vậy ông Ký rất đỗi ngạc nhiên và trong lòng không khỏi băn khoăn,
không biết mình có làm điều gì xúc phạm đến Đức Thầy để Ngài phải hất
đổ tách trà đi.
Trong khi ông Ký còn đang ngẩn ngơ thì
Đức Thầy ôn tồn bảo:
- Ông Ký à! Chắc ông khó chịu trước
hành động lạ thường của tôi, tách trà qúy tôi không uống lại hất đổ ra
sân? Lý do chỉ vì cách đây khoảng một cây số có kho xăng đang bốc cháy
dữ dội, nhờ tách trà của ông, tôi dùng kịp thời để tưới tắt ngọn lửa.
Nghe Đức Thầy nói xong ông Ký còn thêm
hoang mang ngờ vực hơn nữa. Ông nghĩ, chỉ với một tách trà nhỏ như thế
này làm sao lại có thể dập tắt được ngọn lửa của một kho xăng đang
cháy cách đây hơn một ngàn thước? Thật là một chuyện hoang đường,
ngoài sự hiểu biết và tưởng tượng của con người, nhất là một người có
trình độ hiểu biết về khoa học như ông. Thế là lúc đó ông Ký đứng thộn
người ra, chưa biết phải làm thế nào hay đối đáp ra sao với Đức
Thầy. Thấy thế Ngài mới bảo:
- Tôi biết ông khó tin lời của tôi.
Vậy ông hãy vào lấy chiếc xe của ông ra đây, tôi sẽ chỉ đường cho ông
chở tôi đến nơi đang cháy. Khi chứng kiến sự thực xảy ra, chừng đó ông
sẽ được giải đáp những gì ông đang thắc mắc trong lòng.
Ông Ký nghe nói vậy buộc lòng phải ra
lấy xe chở Ngài đi. Ông mở cửa xe để Đức Thầy vào ngồi và Ngài liền
chỉ đường cho ông chạy về hướng cây cầu. Ông Ký nghe theo lời lái xe
đi đến nơi nhưng vừa mới đến dốc cầu thì ông phải cho xe ngừng lại vì
có rất đông người đang đứng nhốn nháo trên cầu. Dân chúng ở đây vừa
thấy ông Ký đến thì xúm nhau lại chào hỏi và ngạc nhiên tại sao ông Ký
biết có đám cháy mà đến sớm như vậy. Mỗi người nói một câu, phải một
hồi lâu trật tự mới được ổn định. Ông Ký hỏi nguyên nhân thế nào thì
bà con ở đây cho ông biết:
- Trưa nay nắng quá gắt, kho xăng
bỗng nhiên bị bốc cháy dữ dội, mà kho xăng chứa trên hai chục ngàn
lít, ngọn lửa bốc cao lên, nhà cửa chung quanh ai nấy đều nghĩ rằng sẽ
bị thiêu hủy tất cả. Ai cũng kinh hoàng tột độ vì không biết cách nào
dập tắt được ngọn lửa. Thì ngay lúc đó bỗng đâu có đám mây đen kéo lẹ
đến, rồi cơn mưa ào ào phủ xuống ướt cả vùng đang cháy, trận hoả hoạn
được dập tắt tức khắc. Nhưng có một đìều lạ lùng làm sao là nước mưa
lại thơm ngát mùi trà, một loại trà thơm hiếm qúy mà chúng tôi có thể
chưa được dùng qua bao giờ. Mọi người ai cũng ngẩn ngơ, cho là chuyện
lạ lùng chưa hề xảy ra.
Chỉ riêng có ông Ký là biết nguyên nhân.
Ông lén liếc nhìn Đức Thầy mà trong lòng có một sự biến chuyển, kính
ngưỡng đặc biệt.
Ông Ký hỏi thăm họ có thiệt hại gì
không. Họ cho biết nhờ có trận mưa kịp thời dập tắt ngọn lửa nên đã
không xảy ra sự thiệt hại nào, Đức Thầy cùng ông Ký liền quay xe trở
lại nhà.
Ngay ngày hôm đó khi Đức Thầy còn đang
nghỉ trưa trong phòng của Ngài thì ông Ký gọi bà Ký nhờ chuyển lời xin
của ông được quy y làm đệ tử của Ngài.
Bà Ký vô cùng mừng rỡ, chờ Thầy thức
giấc để vào trình với Ngài còn ông Ký thì tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo
tề chĩnh, đứng trước ngôi Tam Bảo chờ nhận lễ quy y. Nhưng khi ông Ký
lên nhang, sắp sửa đốt đôi đèn trên bàn thờ Phật thì Đức Thầy ngăn
lại. Ngài chưa cho ông Ký quy y mà dạy rằng:
- Ông mới thấy sự linh nghiệm mà vui
mừng muốn quy y theo tôi khi tâm của ông chưa thực sự nhìn vào chân
lý, như vậy khó bền chắc, cần thêm một thời gian nữa, khi cơ duyên đã
chín mùi thì lúc đó quy y cũng chưa muộn.
Trước những sự việc xảy ra trong ngày,
đêm nay ông Ký trằn trọc không yên, khó lòng dỗ giác ngủ. Không biết
tâm sự cùng ai, ông liền nhớ đến những người bạn đã cùng chia xẻ kiến
thức học hỏi với nhau khi họ còn du học tại Pháp, ông liền ngồi dậy
viết thư gửi cho họ.
Khoảng chừng tuần lễ sau, một sáng nọ
bỗng dưng Đức Thầy gọi ông Ký bảo rằng:
- Ông nên chuẩn bị đón tiếp những
người bạn thân của ông, họ từ Sàigòn sắp đến rồi đó.
Ông Ký lại thêm một phen sửng sốt không
hiểu tại sao Đức Thầy lại biết rõ việc này vì có bao giờ ông nói cho
ai biết đâu. Đức Thầy lại bảo:
- Họ đến đủ ba người như trong thư
ông đã mời họ.
Quả nhiên đến mười giờ hơn thì có tiếng
còi xe hơi ở trước cổng nhà. Ông Ký đích thân ra mở cổng thì quả nhiên
đúng là ba người bạn thân của ông. Mừng rỡ chào hỏi nhau xong, kế tiếp
là bửa cơm trưa, ông Ký nhờ bà mới Đức Thầy dùng cơm chung với khách.
Thường thì Đức Thầy làm việc và nghỉ
ngơi ở phòng riêng của Ngài. Phòng này bà Ký tự trang hoàng lấy với
giường ngủ bằng đồng, bên cạnh kê một cái bàn viết.
Trên bàn cơm câu chuyện cũng chưa có gì
đặc biệt. Đến lúc dùng trà, khách mới vào đề câu chuyện và hỏi Đức
Thầy:
- Thưa Ông, chúng tôi được ông Ký
viết thư kể rõ chuyện ông dùng tách trà tưới tắt ngọn lửa đang bốc
cháy tại kho xăng cách đây hơn một ngàn thước. Điều này nghe qua chúng
tôi không thể nào tin hay hiểu cho được. Vậy có cách nào ông chứng
minh cho chúng tôi hiểu được không?
Người kế tiếp nói vào: Hiện giờ khoa học
đang trên đà tiến bộ. Ông có thấy họ chế tạo ra điện lực, quạt máy,
tài thủy, máy bay, trên đà đưa nhân loại vào thời đại kỹ nghệ hoá,
hoàn toàn dựa trên khoa học thực nghiệm, còn chuyện của ông có tính
cách huyền thoại, làm sao chứng minh được cho mọi người hiểu?
Bởi có túc duyên với Ngài, Đức Thầy nhìn
họ với ánh mắt cảm thông, ôn tồn bảo khách:
- Các ông nên hiểu, khoa học là con
đẻ của Phật học. Muốn chứng minh sự nhiệm mầu của Phật học thì không
thể lấy khoa học thực tiển mà chứng minh được vì khoa học chỉ được
giới hạn trong phạm vi kiến thức của con người. Các ông muốn làm gì
thì lấy trí của kẻ phàm để suy nghĩ, còn hàng tiến hoá thì có khác
hơn.
Các vị khách chỉ biết suy nghĩ theo cung
cách khoa học thực nghiệm, họ chưa hiểu thấu được lẽ nhiệm mầu của
Phật pháp nên thưa với Ngài:
- Việc ông làm, lời ông nói, trên
phương diện thực tế không có gì chứng minh được. Còn ông hãy xem, đây
là cái quạt máy, tôi chỉ việc mở cái "contact" điện là quạt máy chạy
ngay, tôi mở "contact" đèn là có ngay ánh sáng...
Miệng nói, tay làm, họ tạo cho căn phòng
tràn đầy ánh sáng và mát mẻ và hãnh diện nói tiếp với Ngài:
- Đó, ông xem. Khoa học đã thực tế
giúp ích cho đời sống con người, còn với ông thì ông làm sao?
Đức Thầy nhìn họ với sự cảm mến và từ
tốn Ngài nói cùng họ:
- Các ông cần điện đèn mới sáng, quạt
mới quay. Tôi thì không cần điện cũng sử dụng được các thứ như thường.
Các ông tắt hết đi, tôi sẽ dùng tay để cho chúng hoạt động trở lại, mà
tôi báo trước, sức sáng và sức quay sẽ tăng lên nhiều lắm.
Nghe qua, ai nấy cũng đều nhìn Ngài với
ánh mắt ngờ vực, nhưng rồi họ cũng y theo lời tắt hết điện cho bóng
đền, quạt máy ngưng hoạt động. Ông Ký lúc này ngồi yên không lên tiếng
còn bà Ký thì đứng sau lưng hầu Đức Thầy cũng trong tư thế yên lặng,
lắng nghe sự trao đổi giữa Đức Thầy cùng các vị khách.
Lập tức ngay lúc đó Đức Thầy dùng ngón
tay chỉ vào bóng đèn, bóng đèn liền bật sáng, sức sáng tăng lên gấp
bội phần so với lúc dùng điện. Ngài lại đưa tay chỉ cánh quạt ở trên
trần nhà, chiếc quạt liền quay với một tốc độ cực nhanh, làm cho cánh
quạt trần như muốn cong lên không còn sức chịu đựng được nữa khiến các
ông khách vô cùng sợ hãi, vội vàng thưa với Ngài:
- Thưa ông Tư! Chúng tôi đã tin ông
là Phật rồi. Ông cho nó ngưng ngay lập tức, nếu không, chắc chắn tai
nạn sẽ xảy ra!
Cũng trưa hôm đó, các ông khách tắm rửa
sạch sẽ, họ nhờ chủ nhà xin phép với Đức Thầy để họ được quy y với
Ngài.
Buổi lễ quy y thật trang nghiêm. Ba
người khách cùng ông chủ nhà quỳ trước ngôi Tam Bảo với sự chứng kiến,
điểm đạo của một vị Hoạt Phật lâm phàm tại đất nước Việt Nam. Hôm đó
Đức Thầy có tặng họ một bài thơ như sau:
Khoa học đời nay thật khéo cho!
Bày ra cái máy chạy vo-vo
Tranh quyền tạo hoá nồng thay lạnh,
Đông Á lần hồi phụ quạt mo.
*
Có tiền mua lấy cũng nên cho
Tủ sắt còn đầy còn gió vo
Nhưng ngặt khan dầu e hết điện
Trở về lối cũ lượm cau mo
*
Cau mo chừng ấy đắt tiền cho
Ngóng cổ thêm dài hút gió vo
Chủ khách ngẩn ngơ cơn nóng bức
Thôi thì "toa mỏa" tạm dùng mo.
(Vịnh Quạt Máy -Sám Giảng TTTB, Tr. 362)
Tiếp theo Đức Thầy thuyết pháp và giảng
dạy cho họ pháp tu Tịnh Độ. Ông Ký Võ Văn Giỏi được Đức Thầy trao
truyền cho pháp tu này, ông hành trì hàng ngày, luôn luôn trì niệm.
Lúc nào ông cũng mặc một chiếc áo tràng dù có khách hay không cũng vậy
và ông thường ở riêng trong phòng tịnh niệm của ông.
Một thời gian trôi qua, một hôm ông báo
cho gia đình thân nhân hay là ông sắp vãng sanh qua miền Cực Lạc.
Quả nhiên đúng vào ngày giờ mà ông đã
báo trước, ông tắm rửa thay đồ sạch sẽ, nằm trên giường xuôi tay chân
niệm Phật cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, sắc mặt rất an nhiên tự
tại. Một điều cần được biết là ông đang khoẻ mạnh bình thường chớ
không hề đau ốm bệnh hoạn gì cả.
Ông Ký Võ Văn Giỏi được Đức Thầy cho bốn
câu thơ tại Bạc Liêu ngày 11 tháng 9 năm 1941 (nhằm ngày 20 tháng 7
năm Tân Tỵ):
Hào quang chư Phật rọi mười phương,
Đạo Pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên chú nghĩ suy từ nét dấu,
Cố công gìn giữ tánh thuần lương.
(Khuyến Thiện, Quyển 5)
CHÚ THÍCH:
(*) Tiêu đề do Toà Soạn đặt.

  [BANTIN]
|