|
DANH NHÂN VIỆT
NAM:
TRẦN NHÂN TÔNG
(1247-1308)
Minh quân và đạo sĩ
Nguyễn Đức Hiệp
"Nhà ta vốn là dân hạ bạn,
đời đời ưa chuộng việc hùng dũng..”
(Trần Nhân Tông)
Trong
lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lănh
đạo nước trong những t́nh huống khó khăn. Trần Nhân Tông là
một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần.
Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lănh
đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt
Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ reo rắc kinh
hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.
Trong
hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đă cùng
tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở
ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ư kiến toàn dân và cùng nhân dân đối
kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính
và gần dân mà c̣n là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong
ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.
1- Con người và sự nghiệp
(a)
Bản chất con
người
Thái
tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng
Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và
có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ư thức về
nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con
Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: "Nhà ta vốn là dân
hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng... thích h́nh rồng
vào đùi để tỏ ra không quên gốc." Tục xâm h́nh rất phổ biến
trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân
Tông th́ phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ
xâm h́nh rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này
người ta chẵng những quan niệm xâm h́nh rồng để khi xuống nước
không bị giao long làm hại mà c̣n ngầm nhắc nhở nhau về một
nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.
Tục
này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là "thái
long" tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, th́ mỗi người
dân Đại Việt c̣n thích chữ "Nghĩa di quyền phụ, h́nh vu báo
quốc" (V́ việc nghĩa mà liều thân, v́ ơn nước mà báo đền).
Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều
một ḷng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.
(b) Tư cách lănh đạo
Nhân
Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài.
Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp
nước, ḷng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư
Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn,
Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lăo, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật
.., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên,
Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người
khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên
Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.
Sự
hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu
chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con
trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm
hờn điều động binh mă ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại
Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến B́nh Than
có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng
sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi,
vua chợt nh́n ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền
lớn chở đầy than theo ḍng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền
có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người
quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:
-
Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?
Rồi
lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ
thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy
không chịu đến mà chỉ trả lời rằng:
- Lăo
già này là người bán than, có việc ǵ mà vua gọi đến!
Nghe
thấy thế, các quan rất đổi ngạc nhiên và lo cho người bán
than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm
chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:
- Thế
th́ đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời
ta như thế!
Rồi sai nội thị đi
gọi: lần này "lăo ta" chịu đến. Vua quan nh́n ra th́ đích thị
không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ
Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn
bạc phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần.
Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ
tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ
dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, v́ nóng tính
và trót phạm lỗi với triều đ́nh nên bị cách chức và tịch thu
gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông t́nh cờ lại hóa hay
- Thế
nào, liệu khanh c̣n đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông
ướm hỏi.
Nghe
thấy hai chữ "đánh giặc", mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:
- Dạ,
thần c̣n đủ sức. Mấy năm nay vung ŕu đẵn gỗ, cánh tay thần
xern ra c̣n rắng rỏi hơn xưa.
Nhân
Tông cười vui vẽ và ngợi khen:
- Quả
là gan Trần Khánh Dư c̣n bền hơn sắt đá. Được rồi c̣n phải xem
khanh lập công chuộc tội ra sao?
Đoạn
xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm
phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc
nước. Thế là triều đ́nh lại có thêm được một người tài giỏi
đứng ra pḥ vua giúp nước.
Sự
dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một
người lănh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.
(c) Cách cư xử người
Trần
Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao
phong ba băo táp, ông lănh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ
những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ư
đến t́nh trạng của quân dân.
Khi
quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo
Vương Trần Quoc Tuấn v́ kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp.
Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền
nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc,
nhân thấy quân ḿnh thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng
Đạo Vương rằng:
- Thế
giặc to như vậy, mà chống nó th́ dân sự tàn hại, hay là trẫm
hăy chịu hàng đi để cứu muôn dân?
Hưng
Đạo Vương tâu rằng:
- Bệ
hạ nói câu ấy th́ thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xă tắc
thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hăy chém đầu tôi đi
đă, rồi sau sẽ hàng.
Nhân
Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.
Cũng vậy, đối với
quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết
(Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết
và Ô Mă Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về
Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp,
Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết ḷng với chúa, nên
xúc động mới than rằng: "Làm bầy tôi nên như người này" rồi
cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng
cho tử tế.
Khi
bóng quân Mông Cổ không c̣n trên đất Nam, triều đ́nh bắt được
một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân
giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai ḷng, có giấy má
đi lại với chúng. Đ́nh thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng
Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giăi
dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên ḷng mọi người và
cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng
và hợp tác với giặc mới bị trị tội.
(d) Trị nước
Trách
nhiệm giữ nước đă xong, Nhân Tông c̣n phải lo việc ngoại giao
với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà
Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí,
khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ
thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua
không c̣n cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong
tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đă phải viết: "đốt phá hết
chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân
gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào
trừ ...".
Hậu
quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho nên phải có chính
sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến, Nhân Tông xuống
chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá th́ tha tô
ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ khác th́ xét miễn giảm
theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nh́n xa
này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư
tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đă được kể lại trong quyển
"Long thành dật sự" như sau:
Sau
chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân
Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành tŕ. Hưng Đạo vương
Trần Quốc Tuấn can rằng: "Việc sửa lại thành tŕ không cần kíp
lắm. Việc cần kíp của triều đ́nh phải làm ngay không thể chậm
trễ được là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai
lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng,
đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một ḷng hướng về
triều đ́nh, xuất tài, xuết lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên
một lực lượng mạnh cho triều đ́nh chống nhau với giặc. Nay nhà
vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ư ngay đến
dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ t́nh trạng nặng nhẹ mà cứu
tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm.
Có như thế dân mới nức ḷng càng quy hướng về triều đ́nh hơn
nữa. Người xưa đă nói: "chúng chí thành thành" nghĩa là ư chí
của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa
chữa ngay, xin nhà vua xử lư."
Vua
Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây
cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đă không
nắm mà nguy hơn nữa là đă làm ngược lại.
Cũng
vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp
dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các
quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và
quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến
các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu
cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm
viện, Thẩm h́nh viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty ..
khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :
" Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan
thế! "
Lại
một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta
đang trực tiếp đối diện
(e) Trung hiếu và gia huấn
Trần
Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với
thượng hoàng và các bề trên ông đều hết ḷng đáp nghĩa. Ông
thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ
của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn c̣n
để lại trong sử sách.
Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông ..
(Qua ngh́n cửa chào nghiêm túc,
Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)
Khi ông
là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự
do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân.
Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống
rượu và lẽn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. V́
thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.
Tháng
năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say
quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định),
nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong
triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung
điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông
ngoănh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?
Cung
nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm,
trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai
đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh,
biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài
cung gặp một người học tṛ tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài
biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi
suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng
một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không
uống rượu nữa.
2- Xuất thế và thơ văn
Sau khi
quân xâm lăng Mông Cổ không c̣n dám có tham vọng chiếm Đại
Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở
Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất
thế. Trước lúc đó, ông đă là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi
tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn
khác, việc nước và gia đ́nh đă xong giờ đến việc ḿnh và đời
sống tinh thần của bản thân.
Ông cùng
các đệ tử của ḿnh lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các
chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông
là vị "tổ" đă có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật
giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa
và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường
được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ v́ chỉ riêng ở Việt Nam mới
có.
Sự nhập
thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế.
Thiền Trúc Lâm mang một hình thái nữa có nữa không, nữa thực
nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật
giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo
đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa
chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của
thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta,
khi đốn ngộ th́ ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu
lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh b́nh
của quê hương ḿnh. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều,
trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới
con mắt Thiền của ḿnh, ông đă xúc cảm làm một bài thơ tựa đề
"Thiên Trường văn vọng"
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lư quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Mục đồng sáo vẵng trâu về hết
C̣ trắng từng đôi hạ xuống đồng)
Những
buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là
một hiện thực, đă có từ nghìn năm nay trong đời sống nhân
dân, và đă tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt cội rễ của
đạo sĩ Trần Nhân Tông.
Danh
tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến
tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng
có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua
quan đến nhân dân một ḷng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa
ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền
văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên
giới chỉ là một hàng rào giă tạo đặt ra bởi sự không thông
hiểu giữa con người. Ông đă nhìn xa và muốn thắt chặt t́nh
thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với
vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần
Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả
Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này,
đă hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman
III mà trước đây là thái tử Harijit đă cùng đồng minh Đại Việt
chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đă tặng Đại Việt hai
châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc
thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại
tái diễn giữa hai dân tộc.
Năm
1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi
Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn
hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.
Mùa thu
năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn
ở làng Quư Đức, Phủ Long Hưng (Thái B́nh). Khi nghe tin ấy, cả
nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối
cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp
phát dăn, đă đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy
khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng
không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo
rằng: "Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế
này th́ làm thế nào ?". Trọng Tử là người có tiếng là nhiều
tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc.
Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Tŕ gọi quan Hải khấu và quan
Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát
mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến
xem, cung điện mới giăn người, linh cửu mới rước đi được. Long
Ngâm khúc là một lối hát văn, giọng bi ai, nghe rất cảm động
... Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái B́nh, Long
Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ
cuối cùng.
Một ngôi
sao sáng đă vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể
xác ông không c̣n và đă tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng
hồn ông vẫn c̣n trong ḷng dân tộc Việt.
Lời bạt:
Trong
lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị v́ vừa
là một hiền triết. Văn minh La Mă có Marcus Aurelus, hoàng đế
triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người
và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương
đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh
quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với tác
phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1) không kém sâu sa.
Thiền
Trúc Lâm Yên tử tuy không c̣n, nhưng dư âm vẫn c̣n vọng: cuối
thế kỷ 18, Ngô Th́ Nhậm mong tái lập lại ḍng thiền này với
tác phẩm “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc
Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục ḍng thiền
Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đă được khám
phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi
phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đăi yến,
nơi linh cửu vua tạm quàn, h́nh dung cảnh quan và tưởng nhớ
mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng
tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân
Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đă có cáp treo, nhưng đi hành
hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng
hoàng Nhân Tông.
(1)
Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông
là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông.
Nguyễn Đức Hiệp
Tham khảo
(1)
Đại Việt
Sử Kư toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xă
Hội Việt Nam, 1993
(2)
Khuyết
danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990
(3)
Nguyễn
Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận,
http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html
|