|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU
PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG III
Các Vị Đại Đệ Tử của
Đức Phật Thầy Tây An
GS Nguyễn Văn
Hầu.
I. ĐỨC CỐ QUẢN (?-1783)
A. Thân Thế
Ngài tên thật là Trần Văn Thành, làm đến chức Chánh Quản
Cơ dưói triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Bởi có công nghiệp
rất lớn lao với đời và đạo, vă lại con của Ngài là Trần Văn
Nhu, cháu nội là Trần Quang Nhơn đều là những bậc đạo hạnh cao
siêu, ân nhuần thiện tín, cho nên người đời sau kỉnh trọng mà
gọi Ngài là Đức Cố Quản.
Ngài sanh năm nào không t́m ra được. Quê ở Cồn Nhỏ, thuộc làng
B́nh Thạnh Đông, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc. Ông Bà thân
sinh ra Ngài vốn là nhà khá giả, có nhiều ruộng đất, nên khi
Ngài vừa lớn lên th́ được đi học chữ Nho. Ngài có khiếu thông
minh, học ít biết nhiều, và khi trưởng thành, Ngài chuyên
luyện rất rành về vơ nghệ.
Tướng Ngài mập chắc, không cao không thấp, nước da trắng, lúc
về già thường bịt một cái khăn xước bằng nhiễu điều, và mỗi
khi ra trận, người ta thấy Ngài luôn luôn mặc ở ngoài một cái
áo lá nhuộm màu dà.
Ngài cưới vợ tại Rạch Sa Nhiên (Sadec). Nhũ danh của bà Cố
Quản là Nguyễn Thị Thạnh. H́nh vóc ốm yếu, nhỏ người (1) nhưng
văn vơ kiêm toàn. Bà sanh hạ được sáu người con: ba trai, ba
gái.Người con trưởng nam là Trần Văn Nhu (tục gọi là câu hai
Nhu), và kế theo đó là Trần Thị Hè, Trần Thị Chái, Trần Thị
Nên, Trần Thị Núi và cậu Trạng Bảy. Cậu này sỡ dĩ có cái đặc
danh là cậu Trạng Bảy là v́ cậu thứ bảy và chết hồi 7 tuổi
(không ai được biết tên), và khi c̣n sống rất thông minh đĩnh
ngộ, mặc dù tuổi c̣n thơ ấu nhưng đă tiên tri được nhiều việc.
B. Đánh Giặc
Tần
Nhờ cái chí khí hùng tráng sẵn có từ lúc thiếu thời, lại thdêm
được hun đúc nhiều bởi khí thiêng của dăy Thất Sơn hùng vĩ,
nên khi có giặc Tần nhiẽu loạn ở miền biên thùy và Sóc Trăng,
NGài đứng lên chieu mộ binh sĩ, rồi hiệp cùng binh lực triều
đ́nh dẹp loạn cứu dân.
Trong những trận đánh ở gần biên thùy Miên Việt, NGài có chiêu
phục được hai người tướng lănh Cao Miên là ông Bướm và ông
Vôi. Ha ông này sau tu hành đạo đức khá cao làm cho uy danh
Ngài càng thêm lừng lẫy.
Trong giai đoạn đánh Tần, dưới trướng Ngài c̣n có ông Hai Lănh
(tục gọi là Cậu Hai G̣ Sặc) là người em bạn đạo, vơ nghệ và
pháp thuật rất cao cho nên quân trẩy đến đâu, giặc đều khiếp
phục đến đó.
C. Quy Y Với
Đức Phật Thầy
Khi có tin đồn Đức Phật Thầy Tây An là một vị Phật giáng phàm
vừa mới đến Xẻo Môn (Long Xuyên) để trị bịnh cứu đời, Đức Cố
Quản thân hành đến đó để xem hư thực. Gặp lúc bịnh nhơn đông
đảo Ngài phải đợi đến ba hôm ngoài sân. Bỗng nhiên Đức Phật
Thầy cho người kêu ngay vào vui vẻ hỏi chào rồi cùng Ngài
chuyện văn rất thân mật. Ngay lúc ấy, Ngài xin quy y với Đức
Phật Thầy.
Khi trở về B́nh Thạnh Đông, Đức Cố Quản đem chuyện gặp được
Đức Phật Thầy là một bậc siêu phàm mà thuật lại cho gia quyến
nghe và khuyên cùng quy y theo. Cả nhà đều đồng ḷng ưng chịu.
Khi Đức Phật Thầy bị dời về An Giang, rồi vào núi Sam, Ngài
thu xếp nhà cửa và giao hết ruộng vườn (hầu hết ruộng đất ở
làng B́nh Thạnh Đông hồi ấy là của Ngài) lại cho Nguyễn Văn
Dồng (tục gọi là ông Tham ĐỒng) là người trong thân tộc rồi bỏ
làng ra đi, theo đường đạo hạnh.
Có lúc Ngài đem cả gia cư lên núi Voi và về sau Ngài được Đức
Phật Thầy giao cho trọng trách đi cắm bốn cây thẻ quanh vùng
Thất Sơn, cùng trở về coi sóc trại ruộn Bửu Hương Các ở Láng
Linh.
Trên đường đạo có thể nói Ngài là người đạo đức cao siêu, có
được nhiều bí pháp chân truyền của Đức Phật Thầy truyền dạy.
Cái áo lá dà và một cây cờ dà mà lúc nào người ta cũng thấy
Ngài không rời xa, ấy là những bảo vật mà Ngài đă được Đức
Phật Thầy huệ tứ trong khi sắp dấn thân vào ṿng tên đạn để
phục vụ cho nước, cho dân vậy.
D. Đánh Giặc
Tây
Năm 1862, quân Pháp chiếm ba tỉnh Miền Đông (Biên Hoà, Gia
Định, Định Tường) và triều đ́nh Huế đă kư tờ hoà ước bằng ḷng
nhượng đứt ba tỉnh ấy cho Pháp cai trị. Các sĩ phu và dân
chúng bấy giờ uất hận nổi lên chống cự, gây nên cảnh chiến
tranh vô cùng khốc liệt.
Ở miền Tây t́nh thế cũng không kém phần nghiêm trọng, nhứt là
tại tỉnh An Giang, năm 1864 có vụ ông Thủ Khoa Huân không tuân
lịnh ngưng chiến của triều đ́nh (3) nên bị bắt. Thủy Sư Dô Đốc
De Lagrandière nhờ có kẻ mật báo nên hạ lịnh cho Doudart De
Lagrèe từ Uodong (Cao Miên) đem tàu và đại bác đến hăm dọa nả
kích vào châu thành đẻ giành lại ông Huân. Cảnh tượng đă gieo
rắc sự kinh khủng trong dân chúng và nung nấu thêm sự bực tức
trong ḷng những người đầy khí phách, ái quốc ưu dân. Cho nên,
từ đó trở đi, Đức Cố Quản chiêu mộ thêm các tay nghĩa dơng
quanh miền, lập cản phá cầu, đúc rèn súng đạn, thương, đao chờ
khi đối địch.
Mặt khác Ngài cho thăm ḍ tin tức chiến đấu của những người
đồng thời ở miền Đông như ngài Phó Quản Cơ Trương Công Định và
ngài Thiên Hộ Vơ Duy Dương để hiểu rơ t́nh thế của giặc.
Đoạn này trong bài kư thuật về Đức Cố Quản, ông Vương Thông có
chép:
Các quan ẩn ảnh sơn đầu,
Chiêu binh ra đánh giải sầu một phen.
Nam Kỳ có tướng quân Thiên (Thiên Hộ Dương)
Cùng quan lớn Định cầm quyền đánh Tây (Quản Định)
An Giang có một ông đây (Đức Cố Quản)
Chử dạ ngay Thầy ái quốc ưu dân.
Ngày 19-5 năm Đinh Măo (Tự Đức thứ 20, 1857) De Lagrandière
đem 2000 binh đến uy hiếp tỉnh Vĩnh Long buộc ông Phan Thanh
Giản phải giao luôn ba tỉnh miền Tây là An Giang, Hà Tiên và
Vĩnh Long. Ông Phan Thanh Giản phải uống thuốc độc tự tử. Từ
đó ba tỉnh mièn Tây đă lọt vào tay Pháp.
Đức Cố Quản tuy biết thời cơ đă đưa vận nước tới chỗ suy vi
không thể nào cưỡng lại được, song v́ ḷng trung nghĩa, tiết
tháo nên sau mấy trận đánh quyết liệt với quân Pháp khi chúng
mới đến An Giang, Ngài rút lui về cứ hiểm ở Bảy Thưa (giữa
Long Xuyên, Châu Đốc) đánh cầm cự mà đợi thời:
Hơn thua cũng đánh cầm chừng,
Kéo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần (4)
Để cho Trời Đất định phân,
Làm tôi phải trả nghĩa ân cho toàn.
Nhưng chẳng được bao lâu, quân Pháp do biết được địa điểm đóng
binh của Đức Cố Quản nên kéo đến vây đánh. Trận này quân của
Ngài đạ bại, nhân dân nheo nhóc, binh tướng lạc loài:
Giặc vô bốn phía phủ vây,
Rập bô nó bắn gảy cây hư đồn.
Đội cai thất vía kinh hồn,
Đâm đầu mà chạy lũy đồn tan haong,
Lao xao dân lộn với quan,
Kẻ chạy về làng người lội xuống sông.
Con kêu mẹ sợ quên bồng,
Tai nghe súngbắn vợ chồng bôn phi.
Trời xui Tây thạnh Nam suy,
Biết làm sao đặng phục quy Nam trào,
Tướng binh đă dẹp đồng dao,
Người thôi lên núi, kẻ thời đầu Tây.
Sa cuộc tan ră này, Đức Cố Quản trở về Láng Linh, ẩn náu trong
túp lều tranh, tu hành để đợi thời cơ thuận tiện:
Thân Ngài chẳng quản rách lành,
Ở trong láng đó lều tranh chờ thời.
Người trung đứng giữa mặt trời,
Đắng cay bao quản vận thời chớ than.
Khoảng cuối năm Nhâm Thân (1872), Ngài được sắc chỉ triều đ́nh
(?) bảo phải cầm binh chống Pháp trở lại. Thừ mạng lịnh ấy,
Ngài khởi nghĩa ở Bảy Thưa, và nhiều nơi khác quanh vùng Láng
Linh. Nhưng th́nh ĺnh, vào ngày 21 tháng 2 năm Quí Dậu (1873)
quân Pháp kéo đến bao vây ba mặt: mé sông Hậu Giang,miệt Trà
Kiết phía Châu Đốc.
Thế rồi từ ấy trở đi, Đức Cố Quản biệt vô âm tín. Người ta
không c̣n thấy Ngài ở đâu nữa.
Suốt đời của Ngài, chỉ nhứt tâm v́ đạo v́ dân, xả thân để đi
t́m lẽ sống hạnh phúc cho người đời, Ngài quả là một vị đệ tử
thứ nhứt của Đức Phật Thầy, đă nêu lên gương đại hùng đại lực
và bác ái vị tha cho đời sau noi dấu. (5)
GS Nguyễn Văn
Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) Hiện giờ c̣n thấy di tích một cái tay áo của Bà Cố Quản,
ngoài cửa tay độ chừng 3 ngón tay của người to lớn xỏ vào th́
vừa chẹt
(2) Trong quyển Bổn Tuồng của ông Ba Thới có đoạn chép:
Tần hữu Phật Bướm Vôi
Hớn đa ngôi Tiên Thánh
(3) Thủ Khoa Huân đánh trận Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) đại bại trong
đêm tháng 9-1863 nên chạy về vùng Thất Sơn ẩn trú, bị quan của
triều đ́nh bắt giam. V́ lúc này đă kư tờ hoà ước 1862 rồi nên
ra lịnh ngưng chiến, ai căi th́ bị nă tróc.
(4) Có chỗ chép:
Thà thua xuống láng xuống bưng,
Nếu ra đầu giặc lỗi chưng quân thần.
(5) T́m dọc tài liệu đầy đủ hhon trong quyển Tiểu Sử Đức Cố
Quản của Nguyễn Văn Hầu, đă xuất bản.
|