|
NGUỒN GỐC VIỆT
TỘC
TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần
1)
Phạm Trần Anh
CÂU ĐỐI TRONG ĐỀN HÙNG
“THÁC THUỶ KHAI CƠ .. “
Mở lối đắp nền ..
TỨ
CỐ SƠN HÀ Bốn hướng non sông ..
QUI
BẢN TỊCH về một mối ,
ĐĂNG CAO VỌNG VIỄN Lên cao nh́n rộng ..
QUẦN PHONG LA LIỆT Ngh́n trùng sông núi ..
TỰ
NHI TÔN”. tựa đàn con.”
|
VĂN HIẾN THIÊN
NIÊN QUỐC,
XA
THƯ VẠN LƯ ĐỒ ..
HỒNG BÀNG KHAI TỊCH HẬU,
NAM PHỤC NHẤT ĐƯỜNG NGU.
MINH MẠNG |
Ngàn năm văn hiến nước ta ..
Giang sơn Tổ quốc một nhà Việt Nam .
Khởi từ Tiên Tổ Hồng Bàng ,
Thái B́nh thịnh
trị vẻ vang giống ḍng !
PHẠM TRẦN cẩn dịch |
Chúng ta đều do Tổ Tiên
sinh ra, không cứ là trai gái, già trẻ, không cứ là chi tộc
nào, ḍng họ nào .. Mọi người đều là “ Con Rồng
cháu Tiên”, đều từ một bào thai của mẹ Âu nên tất cả từ một
họ sinh ra các ngành tức các chi mà thôi ..
Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước có ngh́n
ḍng sông, muôn ngọn suối, vốn có gốc từ một ngọn nguồn.
Cảnh vật c̣n như vậy, huống chi là con người chúng ta. Con
người sinh ra đời, đời đời nối tiếp về sau, đều do các người
đời trước nuôi nấng d́u dắt vậy.
Ngưỡng mộ và tưởng nhớ Tổ Tiên, chúng ta hăy lấy
việc siêng năng mà bồi đắp cho gốc rễ, Lấy sự cần kiệm làm
răn .. Rồi tu nhân tích đức, giàu ḷng thương người hơn là
chê bai ghen ghét người ..
Là con cháu th́ chúng ta phải nối tiếp truyền thống của Tổ
Tiên, chứ lẽ nào con cháu mà lại không suy nghĩ về ư nghĩa
thâm trầm cao đẹp nói trên hay sao ?
HOÀNG ĐẾ QUANG
TRUNG
(Nói
chuyện với các bô lăo làng Vân Nội)
LỜI
GIỚI THIỆU
ĐẠI VIỆT SỬ
LƯỢC là bộ sử đầu tiên của nước ta do một tác giả vô danh
đời Trần biên soạn. Bộ sử này bị giặc Minh tịch thu và bản
duy nhất c̣n lưu trữ trong “Tứ khố toàn thư ” của triều Măn
Thanh sau khi đă bị Tiền Hy Tộ sửa đổi toàn bộ nội dung kể
cả đặt lại tên là VIỆT SỬ LƯỢC. Năm 1272 sử gia Lê Văn Hưu
đời Trần, viết bộ Đại Việt Sử Kư (hiện nay bộ sử này không
c̣n nữa). Đời Lê, Ngô Sĩ Liên dựa vào Đại Việt Sử Kư để viết
bộ Đại Việt Sử Kư toàn thư hoàn thành năm 1479, Lê Quư Đôn
viết Đại Việt Thông sử, Ngô Thời Sĩ viết Việt Sử Tiêu án.
Đời Nguyễn biên soạn Khâm định Việt sử Thông Giám Cương mục,
Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược. Tiếp sau đó, có Phạm
Văn Sơn, Đào Duy Anh … cũng đă viết lịch sử nước Việt Nam,
từ sơ khai đến cận hiện đại.
Nay Quốc Việt
Phạm Trần Anh, một Phật tử trí thức, nối chí các bậc đàn anh
đi trước, đă vận dụng trí tuệ và tinh thần bát nhă để viết
bộ NGUỒN GỐC VIỆT TỘC, t́m về cội nguồn sử tích họ Hồng
Bàng. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân. Lạc
Long Quân lấy công chúa Aâu Cơ sinh ra 100 người con, 50 con
theo cha xuống miền ven bể, 50 con theo mẹ Aâu lên định cư ở
vùng cao Phong Châu và cùng tôn người con cả lên ngôi lấy
hiệu là Hùng Vương thứ nhất của nước Văn Lang, cách nay 4878
năm, đă khơi mở một nền minh triết Việt Tộc. Tác giả dẫn
chứng bằng những sử liệu chính xác, một công tŕnh nghiên
cứu đúng đắn, t́m về nguồn cội dân tộc, phục hoạt nền văn
minh cổ đại của ḍng giống Bách Việt, hợp sáng với nguyên lư
“ Nhân duyên sinh” của Đại thừa Phật giáo.
NGUỒN GỐC VIỆT
TỘC là một tác phẩm giá trị, tôi xin mời bạn hăy t́m vào nội
dung để thưởng thức những cái hay đẹp, những khám phá mới lạ
mà từ trước những nhà viết sử trong nước chưa ai đề cập tới.
Quốc Việt Phạm Trần Anh đă t́m ṭi trong các cổ và tân thư
về Khảo cổ học, Khảo tiền sử, Nhân chủng học, Dân tôïc học,
ngôn ngữ học và nhất là Di Truyền học để hoàn thành tác phẩm
biên khảo công phu về nguồn gốc Việt tộc. T́m về cội nguồn
dân tộc cũng chính là t́m về quê cha đất tổ, nơi tổ tiên
Việt tộc đă từng dày công vun bón ươm những kỳ hoa, dị thảo,
làm vinh hiển cho một ṇi giống thông minh vốn tự hào có
chiều sâu và bề dày lịch sử của ngót năm ngh́n năm “ Văn
hiến chi bang ”.
Phật
lịch 2543
Cố Hoà
Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN
Nguyên Chánh thư kư
Viện Tăng Thống GHPGVNTN
TRẦN T̀NH
Là người
Việt Nam, chúng ta tự hào là con RỒNG cháu TIÊN thế nhưng,
mỗi khi t́m về nguồn cội dân tộc th́ nỗi ray rứt niềm băn
khoăn làm nhức nhối tâm can biết bao con dân đất Việt. Ngay
từ khi c̣n cắp sách đến trường, bài học thuộc ḷng thuở đầu
đời “ Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra …”. Biết bao câu hỏi được đặt ra trong đầu óc
ngây thơ trong trắng như núi Thái Sơn ở đâu th́ được thầy
trả lời ở bên Tàu. Tại sao công cha nghĩa mẹ lại so sánh với
núi Thái Sơn ở bên Tàu? Lớn lên học văn chương truyện Kiều
của đại thi hào Nguyễn Du th́ lại được giảng thêm là Nguyễn
Du phỏng theo cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân
bên Tàu. Nhân vật Từ Hải quê ở Việt Đông “ người anh hùng
Việt tộc” một thời “ chọc trời khuấy nước” cũng lại ở bên
Tàu. Thế rồi ai trong chúng ta mà chẳng một lần ấm ức xen
lẫn hoài nghi khi nghe nói về huyền thoại Rồng Tiên, truyền
thuyết khởi nguyên của dân tộc bị một số trí thức “ Tây học”
chê là hoang đường huyền hoặc. Chúng ta lại càng hổ thẹn hụt
hẫng khi đọc quyển sử “Việt Nam thời khai sinh” của tiến sĩ
sử học Nguyễn Phương khẳng định người Việt chúng ta gốc là
người Tàu ..!
Thật đáng buồn
là các sử gia thời quân chủ phong kiến th́ nhất nhất chỉ tin
vào chính sử Trung Quốc c̣n các nguồn gốc sử liệu khác th́
chê là ngoại thư không thể tin được. Thậm chí các ông nho sĩ
ta thời trước c̣n tôn thờ Sĩ Nhiếp là sĩ vương trong khi các
ông quên hẳn một điều là dù muốn dù không, Sĩ Nhiếp cũng là
một tên thái thú sang cai trị dân ta. Chính Sĩ Nhiếp chứ
không ai khác đă đem chữ Hán nô dịch đồng hoá dân tộc ta.
Dân ta không chịu học chữ Hán, vẫn dùng ngôn ngữ Việt cổ nên
Sĩ Nhiếp cấm dân ta viết chữ tượng thanh của Việt tộc.
Trước đây, một
số sử gia tuy không cho rằng người Việt ta là gốc Tàu nhưng
chịu ảnh hưởng của Tàu trên nhiều phương diện nên cũng tán
đồng luận điểm áp đặt của các nhà Nhân chủng cho rằng dân
tộc ta thuộc chủng Mongoloid ngành Phương Nam. Ngày nay, các
nhà sử học CHXHCNVN viết sử theo nghị quyết của Đảng nên đă
không những không dám nói lên sự thật lịch sử mà lại c̣n
nhất tề phụ hoạ với luận điểm cho rằng nước Văn Lang ta chỉ
mới h́nh thành hơn 600 năm TDL cho phù hợp với sử quan bành
trướng Đại Hán xa xưa mà hiện nay là Trung Quốc XHCN anh em
… Họ phủ nhận cương giới của nhà nước Xích Qui sơ khai của
Việt Tộc, chống lại sử quan dân tộc của những người Việt nam
chân chính mà họ phê phán là khuynh hướng dân tộc cực đoan
hẹp ḥi .
Chính v́ những
ấm ức hổ thẹn đó, chúng tôi mới đủ can đảm viết quyển sách
nhỏ này. Bản thân người viết không có tham vọng viết sử mà
chỉ muốn nói lên những ư nghĩ của người Việt Nam yêu nước
xuyên suốt ḍng vận động lịch sử của dân tộc. Quyển sách này
ra đời trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, điều kiện sức khoẻ,
tài chính và thời gian không cho phép được lănh hội những
cao kiến của các bậc thức giả cũng như tham khảo nguồn sách
sử nhiều nên chắc chắn c̣n nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, chúng
tôi cũng mạnh dạn đặt vấn đề, đưa ra những giả thuyết để có
cái nh́n tổng quát xuyên suốt toàn bộ quá tŕnh lịch sử dân
tộc hầu mong nhận được những cao kiến đồng t́nh đóng góp
hoặc phê b́nh phản bác của các bậc thức giả, những người
Việt Nam yêu nước chân chính để vấn đề nguồn cội dân tộc
ngày càng sáng tỏ. Được như vậy, người viết sẽ rất hân hạnh
v́ đă góp được phần nhỏ nhoi của ḿnh trong công cuộc t́m về
nguồn cội dân tộc, chu toàn bổn phận của một con dân đất
Việt
Đồng thời người
viết cũng xin chân thành cảm ơn bằng hữu và những người có
ḷng ưu tư về nguồn gốc dân tộc đă giúp đỡ khích lệ cá nhân
tôi hoàn thành quyển sách này. Chúng tôi cũng xin trân trọng
tác giả những nguồn sử liệu và xin được phép tham khảo ngơ
hầu sáng tỏ thêm nguồn cội dân tộc chúng ta. Một số tư liệu
ghi chép đă lâu trong điều kiện khó khăn nên không nhớ rơ
xuất xứ, xin quư vị thông cảm. Chúng tôi may mắn là người đi
sau nên có được điều kiện tham khảo những nguồn sử liệu mới
nhất của nhà nghiên cứu B́nh Nguyên Lộc, Triết gia Kim Định,
giáo sư Nguyễn Đoàn Tuân, giáo sư Cung Đ́nh Thanh và Bác sĩ
Trần Đại Sĩ nên mạnh dạn đặt vấn đề t́m về cội nguồn dân
tộc.
Đứng trên quan
điểm dân tộc, chúng tôi chỉ dùng chữ “ Nhà” thân thương cho
các triều đại của nước ta như nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Lê, nhà
Lư, nhà Trần … c̣n Hán tộc th́ chúng tôi dùng chữ “ Triều ”
(đại) như triều Thương, triều Chu, triều Hán … Thứ nữa, lấy
năm thứ nhất Dương lịch làm điểm mốc lịch sử cho thật chính
xác thay v́ từ Công nguyên như vẫn dùng từ trước đến nay.
Sau cùng, chúng tôi quan niệm rằng yêu nước tất phải trân
trọng tất cả những thăng trầm hưng phế của ḍng vận động
lịch sử mà biết bao thế hệ đă vun trồng bằng máu và nước mắt
để viết lên những trang sử hào hùng hoành tráng. Đồng thời
phải học biết về lịch sử để hiểu rơ hơn về nguồn cội dân
tộc, hiểu rơ giá trị cao đẹp và ư nghĩa tuyệt vời của huyền
thoại Rồng tiên.
Tri ân tiền nhân
chưa đủ mà chúng ta phải học tập, noi gương các danh nhân
anh hùng khai sáng văn hoá, các anh hùng dân tộc của thời xa
xưa thấm đậm trong tâm thức Việt để rồi dân tộc sẽ sản sinh
ra những anh hùng của một ngày mai. Chính v́ vậy, có thể nói
lịch sử là ngọn nguồn của ḷng yêu nước, chính lịch sử quá
khứ anh hùng của một dân tộc sẽ là tương lai xán lạn huy
hoàng của dân tộc đó. Nói theo sử gia thời danh Arnol
Toynbee th́ “Nếu thiếu những sự thách thức tức là thiếu yêu
cầu bức bách đ̣i hỏi phải biết vận dụng được một cách vượt
bậc khả năng xoay chuyển t́nh thế th́ không có điều kiện để
một cộng đồng người thể hiện được sức mạnh và sự sáng tạo
của ḿnh. Chính sự đáp ứng thích hợp trước những thách thức,
sự vận dụng một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển t́nh thế,
đă đưa tới những thành tựu văn hoá lớn tạo nên bản lĩnh của
các dân tộc và có thể nói lịch sử h́nh thành một nền văn
minh lớn, không bao giờ diễn ra trên một con đường bằng
phẳng với những bước đi b́nh thản...”.
Trên thế giới
có lẽ không một dân tộc nào mà chịu đựng thử thách gian nan
khốn khó hơn dân tộc Việt. Lịch sử cũng đă chứng minh dân
tộc ta đáp ứng được những yêu cầu bức bách, sự thách thức
của từng thời đại để Việt Nam là một trong 35 nền văn minh
của nhân loại c̣n tồn tại măi đến ngày nay. Chúng ta có
quyền tự hào và tin tưởng hănh tiến hướng về tương lai trước
ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ III. Tuy nhiên chúng ta
không thể đứng yên mà trông chờ vào cái gọi là “ định mệnh
lịch sử ” mà nên nhớ rằng, Lịch sử hôm nay là chính trị của
những ngày qua và chính trị ngày nay sẽ là lịch sử ở ngày
mai. Lịch sử là cuộc trưng cầu dân ư mỗi ngày của một dân
tộc thế nên chính chúng ta, mỗi ngày đang góp phần lịch sử
vào tương lai của dân tộc chúng ta.
Trong ư thức
đó chúng tôi xin mời quư vị, chúng ta cùng t́m về cội nguồn
Việt tộc, Việt Nam thời lập quốc từ truyền thuyết đến hiện
thực lịch sử Việt Nam.
Mùa giỗ tổ Việt Lịch 4878
(DL1999).
PHẠM
TRẦN ANH.
CHƯƠNG I
DẪN LUẬN
Kể từ khi
nhân loại có chữ viết th́ đă nhận thức rằng việc ghi chép
những sự kiện xảy ra trong đời sống xă hội của một quốc gia
là điều cần thiết và sử biên niên đă ra đời. Người ta ghi
chép theo thứ tự thời gian, những sự kiện xảy ra trong một
triều đại. Lịch sử tự thân là sự thật khách quan và người
chép phải tôn trọng sự thật, phải thật sự khách quan trung
thực.Thật vậy, sự kiện lịch sử là sự thật tồn tại độc lập
bên ngoài ư thức của con người. Polibius, nhà sử học Hy Lạp
thế kỷ thứ II TDL đă nhận thấy rằng trong sử học có tính
thực dụng (Pragmatikos). Họ quan niệm lịch sử nhằm mục đích
thực dụng có nghĩa là phục vụ cho chế độ nên sự thật lịch sử
bị chà đạp một cách trắng trợn. Nhận thức lịch sử thường lại
chủ quan và người ta chép sử v́ những mục đích khác nhau. Sự
sùng bái cá nhân lănh đạo hoặc do yêu cầu đấu tranh tư
tưởng, tô hồng chuốt lục, đánh bóng cá nhân và chế độ nên
lịch sử đă bị lợi dụng. Sự thật bị bóp méo, xuyên tạc hoặc
thổi phồng cho phù hợp với ư đồ của bạo chúa độc tài. Chính
v́ vậy, lịch sử thành văn ngày nay đă không c̣n giữ được ư
nghĩa trung thực cao đẹp của buổi biên niên ban đầu nữa.
Cicéron, sử gia
nổi tiếng thời La Mă cổ đại đă định nghĩa:“Lịch sử là lịch
sử chính yếu của cuộc sống (Historia magistra vitae) gắn
liền với ánh sáng của sự thật(lux véritatis)”. Trong tác
phẩm De Oratore, Cicéron cho rằng “ Người viết sử phải tôn
trọng 2 điều luật: Điều thứ nhất buộc các nhà chép sử không
được nói nhiều điều giả mạo. Điều luật thứ hai buộc nhà chép
sử phải nói lên tất cả những ǵ là sự thật nghĩa là ghi rơ
sự kiện xảy ra theo thứ tự ngày giờ năm tháng v́ chỉ như thế
mới đạt yêu cầu trung thực của một sự kiện lịch sưû.”
Thế nhưng thực
tế đă hoàn toàn trái ngược với những ǵ Cicéron quan niệm.
Mỉa mai thay “ Nữ thần Clio” của nền văn minh Hy Lạp biểu
tượng cho sử mà ngữ nghĩa của chữ Clio theo ngôn ngữ cổ Hy
Lạp lại có nghĩa là ngợi khen, ca tụng. Nói là một chuyện
nhưng thực tế lại là chuyện khác v́ trong ṿng cương tỏa
của danh lợi nên Cicéron đă đánh mất lương tri của con người
và tính khách quan trung thực, sự vô tư trong sáng của một
sử gia chân chính khi ca tụng bạo chúa khét tiếng Néron.
Cicéron đă hết lời ca tụng cái thú vui vô nhân đạo của Néron
buộc hai người nô lệ phải chém giết lẫn nhau để một người
được sống. Thật chua xót khi Cicéron lợi dụng ngôn từ để đặt
bút viết một cách trơ trẽn “ vui thú biết bao, giải trí biết
bao cho một tinh thần đă được nhân bản hoá, được tinh luyện
khi xem một người đi săn người, đánh trúng ngực một trong
những kẻ giống ta, một kẻ yếu đuối bị xé xác bởi một con thú
mạnh mẽ hơn”. Phải chăng, cái thú tính “mạnh được yếu thua”
bất kể luân lư đạo đức đă lấn át tính người nơi “động vật
cao cấp” Cicéron ? Chính Sénèque, một sử gia táng tận lương
tâm khác, kẻ đă lên tiếng bào chữa bênh vực cho hành động
phi nhân giết mẹ đẻ của Néron, cũng phải lên án cảnh tượng
dă man của tṛ vui “giác đấu” v́ theo Sénèque th́ người đối
với người là một vật linh thiêng lại bị đem đi giết để làm
tṛ vui ư?
Nền văn minh
Phương Tây khởi đầu bàn về yếu tính của sự vật chứ không
phải khởi đầu từ nhân tính như triết học Đông Phương. Nhân
loại sau một thời gian dài sống dưới sự ngự trị của thần
quyền măi tới thời Socrate với chủ nghĩa duy lư đă giải
phóng con người ra khỏi sự nô lệ thần quyền. Socrate đă phá
bỏ ách thần thoại, đánh đổ quan niệm cổ hủ đă bóp chết tự do
tư tưởng của con người. Chủ nghĩa duy lư đạp đổ thần quyền
kéo theo sự sụp đổ của cả chế độ Hy Lạp xây dựng trên nền
tảng thần thoại để mở đầu cho một thời kỳ mới trong lịch sử.
Thế nhưng nhân loại vừa thoát khỏi sự nô dịch của thần quyền
lại bước vào thời kỳ độc tài duy lư ngự trị khống chế tư
tưởng nhân loại suốt 25 thế kỷ. Saint Paul đă gọi nền triết
học La-Hy là hoàn toàn thế tục v́ nó tự giam ḿnh trong phạm
trù hạn hẹp của lư trí nên dẫn người ta đến tư tưởng độc
hữu. T́nh trạng thái quá của ư niệm chiếm hữu dẫn tới độc
tôn, độc tài duy lư với mọi biến thái của nó, không bao giờ
siêu vượt lên hiện tượng để thấy rơ bản chất của sự vật. Một
sự thật phũ phàng là nhân loại càng văn minh bao nhiêu th́
những quan niệm về sử lại đối kháng bấy nhiêu. Lịch sử càng
xa rời sự thật nên Agustin Thière đến thế kỷ XIX mới bứt
thoát khỏi ṿng vây của duy lư để nhận ra một chân lư đó là:
“ Lịch sử thật chỉ t́m thấy trong các giai thoại truyền kỳ,
đó là sử dân gian truyền tụng sống động. Có thể nói rẳng ¾
nó thật hơn những cái mà chúng ta gọi là lịch sử”. Thật vậy,
truyền thuyết không hẳn là sự thật lịch sử nhưng những nhân
vật, những chứa đựng trong truyền thuyết là sản phẩm đúc kết
biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc sáng nhưng nó
c̣n chờ người đời sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lư
giải nên JUNG, triết gia thời đại của chúng ta đă nhận định:
“ Truyền thuyết, thần thoại với những ẩn tàng hàm chứa một ư
nghĩa đặc trưng của mỗi nền văn hoá riêng biệt với bản sắc
độc đáo đặc thù của nền văn minh mỗi dân tộc”.
Vào thời quân chủ
phong kiến người ta viết sử để ca tụng vua chúa, bạo quyền
th́ đến thời đại văn minh, nền văn minh duy lư với cái gọi
là yêu cầu tự do tư tưởng và do ư thức đấu tranh tư tưởng
nên có hai quan niệm sử đối chọi nhau. Thật vậy, sử quan duy
tâm với quan niệm thần bí cho rằng mỗi dân tộc có một định
mệnh riêng do Thượng Đế ban phát. Quan niệm này phủ nhận
tính khách quan của lịch sử và sự quyết định của ư chí con
người. Alfred de Vigny c̣n chủ trương thuyết chủng tộc ưu
việt, thuyết này cho rằng dân tộc Đức là dân tộc ưu việt
được Thượng Đế chọn lựa (les élus de Dieu). Thomas Carlyle,
nhà văn lớn của nước Anh cũng đề xướng quan niệm anh hùng
tạo thời thế “ Thế giới chính là sản phẩm của vĩ nhân. Lịch
sử thế giới chỉ là tiểu sử của các danh nhân”. Trong khi đó,
Nietzche ca tụng xiển dương chủng tộc Arian của Đức là ưu
việt và siêu nhân của tầng lớp đặc tuyển như nhà xă hội học
Áo Wieser quan niệm. Wieser cầu khẩn một lớp người siêu việt
ra đời để thống trị nhân loại. Chính từ quan niệm cực đoan
thiển cận trên đă dẫn tới sự h́nh thành của chế độ độc tài
phát xít Hitler mà hậu quả gây ra một tội ác ghê tởm trong
lịch sử loài người. Hơn 20 triệu người thiệt mạng trong thế
chiến thứ hai, hàng triệu người Do Thái đă bị đưa vào trại
tập trung lên ḷ thiêu người sống. Đó là vết nhơ trong lịch
sử nhân loại và để lại những ray rứt lương tâm không những
cho dân tộc Đức mà c̣n của cả nhân loại nữa.
Thuyết tiền
định thần bí lịch sử của Puskin về sau được Thomas cải biên
gọi là thuyết Néo-Thomas giải thích những sự kiện lịch sử
bởi một ư chí tuyệt đối ngoài sự tiên liệu, chủ động của con
người. Néo-Thomas cho rằng lịch sử hướng tới mục đích nào đó
được nhận thức thông qua ḷng tin cuồng tín và sự mặc khải
mà chỉ có Thượng Đế toàn năng mới quyết định số phận của mỗi
cá nhân và cả vận mệnh lịch sử của một dân tộc. Théodore
Lessing lại cho rằng lịch sử là sự vận động vô nghĩa và
không mục đích của những lực lượng dị chất, là sự hỗn loạn
của ḍng thác các biến cố không thể điều khiển được.
Không phải đợi
tới Karl Marx thế kỷ thứ XVIII mới đưa ra Duy vật sử quan mà
ngay từ thời Xuân Thu chiến quốc, Hàn Phi Tử một triết gia
nổi tiếng đă cho rằng Lịch sử xă hội loài người luôn luôn
thay đổi. Không một chế độ nào tồn tại măi cả nên nhà cầm
quyền phải biết căn cứ vào những nhu cầu khách quan đương
thời kết hợp với xu thế của thời đại mà đề ra những chính
sách, đường lối mới để xây dựng một chế độ mới phù hợp với
ḷng người. Hàn Phi Tử nổi tiếng là nhà vô thần luận khi cho
rằng chính dân số và yêu cầu xă hội nhiều ít là nguyên nhân
căn bản quyết định biến động của lịch sử .
Quan niệm duy
tâm lịch sử có ảnh hưởng trong nhận thức của dân gian nhưng
không thoả đáp được yêu cầu tri thức của thời đại, Thật vậy,
Puskin nhận định Hoàng Đế Napoléon là người được thiên định
chấp hành những định mệnh bí ẩn của lịch sử, trong khi chính
Napoléon lại phủ nhận cái mà người ta gọi ông là thiên tài,
là định mệnh thần bí gắn cho ông. Napoléon cho rằng thiên
tài chính là kết quả của công tŕnh học tập nghiên cứu được
chuẩn bị sẵn sàng để lúc hữu sự nắm thời cơ, chủ động đối
phó giải quyết một cách tài t́nh hữu hiệu mà thôi. Măi đến
thế kỷ XIX, quan niệm duy vật lịch sử ra đời phản bác những
quan niệm siêu h́nh thần bí trên. Karl Marx cho rằng sự kiện
lịch sử là hệ quả tất yếu của những quan hệ nhân quả và các
sự kiện lịch sử tác động nhau một cách biện chứng. Sử quan
duy vật biện chứng trên cơ sở hạ tầng kinh tế xă hội quyết
định thượng tầng kiến trúc chính trị. Duy vật sử quan phủ
nhận tính thường hằng bất biến của định mệnh lịch sử, thế
nhưng vẫn không thể lư giải được những quy luật thăng trầm
đầy bí ẩn của lịch sử. Mặt khác lại rơi vào tệ sùng bái cá
nhân, thần thánh hoá, vĩ đại hoá cá nhân và tô hồng chế độ
nên lịch sử ngày càng sai lạc, xa rời sự thật. Duy vật sử
quan Karl Marx đúng cho các hiện tượng phổ quát nhưng sự
thật hết sức éo le, phũ phàng khi nó lại rơi đúng vào những
ǵ mà Karl Marx hằng ấp ủ hoài băo: sự xụp đổ của Liên Xô
và các nước xă hội chủ nghĩa! Karl Marx nói: “Lịch sử tác
động lẫn nhau một cách biện chứng, nó không làm một cái ǵ
nửa vời cả một khi muốn đưa h́nh thái xă hội già cỗi đến
huyệt mộ th́ lịch sử sẽ là tấn bi hài kịch của chính nó. Tại
sao lịch sử lại diễn ra theo tiến tŕnh ấy? Đó chính là để
cho nhân loại rời bỏ được cái quá khứ ấy một cách vui vẻ
vậy!”.
(Trích
Đọan- Lần thứ nhất)
|