
Sự Khác Biệt Giữa HÁN
NHO và VIỆT NHO
Đông
Lan
Từ trước tới nay, ta thường
chỉ căn cứ vào những sách của Tàu , và chỉ xét Tàu từ thời Tần, Hán trở đi, với
lănh thổ rộng lớn, dân cư đông đúc, nên sự ngộ nhận có tới hàng nhiều ngàn năm,
rằng Tàu là “Trung Quốc”( nước ở giữa, chung quanh là chư hầu) như họ tự phong,
và Nho giáo có nguồn gốc ở bên Tàu. Nhất là với Tây Âu th́ không mấy người biết
về Nho, mà chỉ đồng hoá Nho với Khổng Tử, Nho là “Confucianism”.
Nhưng trước những công
tŕnh vô tư của khoa học liên ngành khảo cổ, di truyền, nhân chủng, hải dương…ngày
hôm nay, th́ những kiến thức trên bị coi là xưa cũ, không đúng với sự thực.
Cũng như, với công tŕnh
nghiên cứu nghiêm túc một đời người với 32 tác phẩm triết học ,Triết gia Kim
Định đă xác tín Nho Giáo đă có từ rất lâu, trước khi Tàu lập quốc, trước khi có
một dân tộc là Tàu xuất hiện. Nho xuất phát từ thời khuyết sử và gồm có bốn giai
đoạn:
Một là Hoàng Nho thuộc Tam
Ḥang từ 4480-3080 trước Tây Lịch.
Hai là Di Nho từ vua Thuấn
2255 – vua Vũ 2205 trước T.L.
Ba là Việt Nho hay Nguyên
Nho lối Xuân Thu 821 trước T.L. Nội dung Việt Nho được Khổng Tử công thức hóa
thành Ngũ Kinh của Nho giáo.
Bốn là Hán Nho cũng là
Khổng Giáo từ nhà Chu 1122 trước T.L. nhưng bị sa đoạ với sự xuyên tạc của nhà
Hán.
Hoàng Nho là Nho của Tam Hoàng: Phục Hy, Nữ Oa,
Thần Nông. Nho đợt
này được chứa
đựng trong bốn loại sách
gọi là : Tam Phần, Ngũ Điển, Bát Sách, Cửu Khâu. Đời nhà Chu (1122-225 trước T.L.)
có đặt chức quan “ ngoại sử”, để coi về bộ sách cổ xưa này.( Chu Lễ, chương Xuân
Quan Tông Bá, Tiết Ngoại Sử). Họ gọi là ngoại sử v́ những sách đó có trước khi
có nước và dân Tàu. Có lẽ chính v́ không phải là kinh sử của họ ( nội sử), nên
sử sách Tàu chỉ truyền lại một cách mơ hồ rằng nhà Chu đă “để mất” các cổ thư
này. Cũng như làm người sau quên dần ḍng văn hoá Hoàng Nho và họ chỉ c̣n tính
lịch sử từ Hoàng Đế 2696 trước T.L. trở lên Thần Nông là 2737 trước T.L. ,
Phục Hy 2852 trước T.L. Phần Hoàng Nho này, chính là nền tảng của Nho mà sau này
Khổng An Quốc ( Cháu nội 12 đời của Khổng Tử)trong bài tựa Kinh Thư gọi là “Đại
Đạo”.( Hoàng Nho chi Đại Đạo dă)
Thật ra những niên hiệu này
do Tàu đặt ra, sai với sự thực lịch sử, trái với những tin mới nhất về khảo
cổ.Nền văn minh lúa nước Hoà B́nh của người Việt cổ đă có ít nhất 10 ngàn năm
trước T. L., th́ Thần Nông người thuần phục cây lúa cũng phải có từ thời xa xưa
này.
Cho nên niên
hiệu lưu truyền trên về Hoàng Nho là bớt xa sự thực nhất.
Đợt Tổ thứ hai là
Nghiêu Thuấn.
Sách Trung Dung chương 30 viết:” Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn hiến chương Văn
Vũ”( Trọng Ni- tên Khổng Tử- thuật lại đạo của ông tổ ḿnh là Nghiêu ,Thuấn, c̣n
hiến chương th́ theo vua Văn, vua Vũ.)
Thế mà, trong sách Mạnh Tử
( Ly Lâu Hạ ) khi đề cập đến nguồn gốc của vua Thuấn và vua Văn Vương lại đề
quyết chính là người Man Di ( trích dẫn phần sau) .V́ thế, ta có thể gọi thời
này là DI NHO, tức là Nho của ḍng tộc Man Di.Xin lưu ư từ Man Di là chỉ tên của
chủng tộc Man và Di , c̣n gọi chung là Tứ Di - từ thời Chiến quốc th́ có tên là
Bách Việt - hoàn toàn không có ư nghiă xấu xa “mọi rợ” như từ sau này do người
Trung Hoa cố t́nh bôi bác. Chính các bậc Vương giả vẫn xưng danh ḿnh là Man Di.
Triệu Đà khi làm vua Nam Việt xưng là “Đại Tù Trưởng Man Di”.Hùng Địch nước Sở
năm 887 trước T.L.khước từ tước hiệu nhà Chu tặng, lấy lư do Man Kinh( tên cũ
của nước Sở) ít ra cũng ngang hàng với nhà Chu, nên không thèm nhận chức tước
nhà Chu. Hán Vũ Đế khi mới lên ngôi c̣n tự nhận ḿnh là “ Hán Man”, và vẫn tế Ly
Vưu một lănh tụ của Di thời xưa vậy.
Đợt ba là
VIỆT NHO.
Việt cũng là Bách Việt, là tên đặt ra sau để chỉ các ḍng tộc cũ như Tứ Di hay
Man Di. Đó là một liên đoàn các dân bản thổ đă cư ngụ từ phiá Nam sông Hoàng Hà
trải dài tới phiá Đông bờ Thái B́nh Dương, họ cư ngụ khắp nước Tàu ngày nay
trước khi Tàu lập quốc và xuất hiện một dân tộc gọi là Tàu. Đoàn cư dân bản địa
này gồm nhiều ḍng tộc như Viêm Chủng, Tam Miêu, Cửu Lê, rồi c̣n là Cửu Di, Tứ
Di...và sau này được gọi chung bằng tên Bách Việt gồm nhiều chi như :
Bộc Việt : miền
Kinh Sở.
Liêu Việt : miền
Hồ Quảng
U Việt : miền
Chiết Giang
Mân Việt : miền
Phúc Kiến
Nam Việt : miền
Lưỡng Quảng
Lạc Việt : miền
Bắc Việt Nam hiện nay.
Chữ VIỆT của đoàn
người Bách Việt này được viết với bộ Mễ, chỉ lúa Mễ của nền văn hoá nông nghiệp.
Mễ là loại lúa nước , khác loại lúa khô, lúa tắc của du mục.
Ḥang Nho, Di Nho
cũng chính là Việt Nho, v́ khởi thuỷ chỉ có đại chủng tộc Bách Việt cư ngụ toàn
cơi mênh mông từ miền Nam Hoàng Hà đến tận bờ Thái B́nh Dương, với nền văn hoá
chung là Nho Nguyên Thuỷ. Việt Nho do đó c̣n là Nguyên Nho.
Thời
HÁN NHO.
Khi Khổng Tử ( 551-479 trước T.L.) san định nền văn hoá cổ xưa thành Ngũ Kinh (
Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc)vẫn cứ nhấn mạnh sự việc ngài chỉ thuật lại đạo lư của
người xưa mà không hề sáng tác ǵ cả : « thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ »(
Luận Ngữ, quyển bốn). Cho nên nền văn hoá của « người xưa » mà « vạn thế sư
biểu » của Tàu ngưỡng vọng ở đây lại chính là người Tứ Di, Bách Việt của đại tộc
Việt của chúng ta. Trong sách Trung Dung có ghi rất rơ ràng cái học thuật của
Khổng Tử là : « Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn , Vũ ».Nghiêu
Thuấn là h́nh ảnh những minh quân, hiền triết thời cổ xưa mà Khổng tử coi là bậc
tổ của Nho. Mà chính trong sách Mạnh Tử( chương Ly Lâu Hạ) có câu « Vua Thuấn
sinh ra ở đất Chư Phùng, về sau dời đến đất Phụ Hạ và mất ở đất Minh Điều. Ấy là
người Di miền Đông vậy »( Thuấn sanh ư Chư Phùng, thiên ư Phụ Hạ, tốt ư Minh
Điều , Đông Di chi nhân dă). Thêm nữa, Mạnh Tử xác nhận nguồn gốc Văn Vương
cũng là Tứ Di « Vua Văn Vương sinh ra ở đất Kỳ Châu, mất ở đất Tất Dĩnh, ấy là
người Di miền Tây vậy( Văn Vương sanh ư Kỳ Châu , tốt ư Tất Dĩnh, Tây di chi
nhân dă). Sự việc quan trọng như vậy mà lịch sử ta thường bỏ quên không chú ư
tới khía cạnh này và cứ tưởng các minh quân Thuấn, Văn Vương là vua của Tàu.
Điều này lại càng thấy rơ văn hoá mà Khổng tử « chỉ thuật lại, mà không sáng
tác » chính là Văn hoá Việt Cổ, c̣n có tên là văn hoá Man Di, hay sau này gọi là
Văn Hoá Bách Việt cũng vậy. Xin mở ngoặc ở đây, Việt Nam chúng ta ngày nay là
chi nhánh Lạc Việt của đại tộc Bách Việt, điạ bàn Dương Tử và sông Hồng. Điạ bàn
của đại tộc Bách Việt rộng mênh mông, từ suốt bờ Nam Hoàng Hà đến Đông Thái B́nh
Dương.
Đại tộc Bách Việt
có rất nhiều chi tộc như : Mân Việt, Đông Việt, U Việt, Lạc Việt ... Điểm nổi
bật chung của đoàn dân bản thổ Bách Việt là chung một
Nền Văn Hoá Nho
Nguyên Thuỷ :
Anh em kế nghiệp
tộc trưởng, khi múa đeo lông
chim, huyền thoại mang nét Lưỡng Hợp.
Kho tàng
Huyền sử
Dân Tộc Lạc Việt của ta vẫn măi mấy ngàn năm lưu truyền trong dân gian những
câu chuyện với tŕnh độ Tâm
Thức Lưỡng Hợp như Con Rồng Cháu Tiên, Bánh Dầy Bánh Chưng
..., hay h́nh người từng đoàn ca múa trang trí bằng lông chim khắc trên mặt
Trống Đồng Ngọc Lữ là bằng chứng của tính kế thừa nền văn hoá xưa của đại chủng
Việt.
Sau Khổng tử
th́ nhà Tần « phần thư, khanh Nho »( đốt sách, chôn học tṛ). Tiếp theo, khi
Hán Cao Tổ mới lên ngôi c̣n tự đắc về cái dũng của kẻ ngồi trên lưng ngựa mà
được ngôi vua, nên không trọng Nho. Sau đến đời Hán Vũ Đế nghe lời một Nho gia
là Đổng Trọng Thư, theo Nho để sử dụng Nho Giáo như công cụ củng cố quyền lực.
Hán Vũ Đế sai Lưu Hâm sửa kinh sách cũ của cổ nhân , gọi là bí thư trong thư
viện Thạch Cừ của triều đ́nh. Các nhà Thái Học ở kinh đô đều phải dùng nguỵ kinh
ở thư viện Thạch Cừ. Sau này các triều đại của Tàu tiếp tục con đường của nhà
Hán, cứ pha chế thêm các yếu tố của họ vào Nho, đó là tính chất DU MỤC phiá Tây
Bắc, khiến trong Nho Giáo có vẻ mâu thuẫn :vừa có các nét nhân bản như nhân
nghiă lễ trí tín, nhưng lại có những h́nh luật khắt khe như hoạn quan, chôn sống
người,
nặng về phần lễ
nghi phiền tạp,
đàn áp phụ nữ,
tục lệ phi nhân ...Nhất là ta thấy những bộ tộc của Tàu c̣n tục bó chân phụ
nữ, ngay cả thời đại này họ vẫn giết con gái, ăn thai nhi. Nho có nghiă là NHU
thuận. Vậy mà Triều đ́nh của Nho Tàu th́ chủ trương bạo ngựợc đồng hoá các dân
tộc nông nghiệp bản địa sau khi đă xâm lăng đất đai và chiếm hữu nền văn hoá
của họ. Sự khác biệt sâu xa nằm trong vấn đề cội nguồn h́nh thành Nho Nguyên
Thuỷ mà lịch sử cố t́nh bỏ quên. Văn hoá phát triển theo môi sinh . Công việc
nhà nông tạo bản chất cần cù hiền hoà nên mới có đạo Nhu, c̣n dân du mục quen
dùng sức mạnh để chém giết thú rừng ăn thịt, sử dụng lư trí cứng rắn để cai
trị bầy đoàn lang thang hung dữ, nên không có nhiều môi trường phát triển nhân
đạo. Là một nhà nghiên cứu văn hoá ,Khổng Tử khi san định Việt Nho, thấu hiểu
cái khác biệt cốt tuỷ ấy của hai nền văn hoá nông nghiệp và du mục, nên đă
khuyên « Hăy làm quân tử Nho, đừng làm tiểu nhân Nho » và chủ trương dùng
Vương Đạo thay cho Bá Đạo, tức lấy Văn Trị thay cho Vơ trị. Trong Luận Ngữ, rất
nhiều lần Khổng Tử bày tỏ sự so sánh khác biệt ấy ( Trích dẫn trong phần Nhà
Chu ) .Tóm lại, Nho giáo th́ lập thuyết trên đức Nhân Ái và Tương Dung, nhưng
Tàu là dân gốc du mục hiếu chiến , tuy nói lư thuyết H̉A của Nho , nhưng lại
làm theo bản chất trọng vơ, tàn bạo, cực đoan của họ. Dân nông nghiệp Bách Việt
hiền ḥa đă bị đồng hoá .Việt Nho đă bị sa đoạ thành Hán Nho .Cho nên không lạ
ǵ Nho giáo là một thực thể hỗn độn của Nhân Bản Nông Nghiệp và Du Mục Hiếu
Chiến Phi Nhân.
Khi vua quan
triều đ́nh Việt v́ tiếp cận với Nho qua ngả Kinh Điển như Ngũ Kinh và Tứ Thư
cùng các học thuật của người Tàu, nên có phần nào truyền bá loại HÁN NHO vào
chính sách cai trị và học vấn. Tuy nhiên, v́ trước khi là Nho gia , trước khi
học để làm quan, th́ nho sĩ cũng thường xuất thân từ dân giă, sinh trưởng giữa
chốn làng quê, cái nôi của nền văn hoá nhân bản, trọng t́nh, nên dù có học Hán
Nho, làm quan với triều đ́nh ảnh hưởng Nho Tàu, nhưng giữ được bản gốc văn hoá
dân tộc, nên các vua quan ta vẫn thường tiếp thu có chọn lọc Nho giáo. Thời vua
Lê Thánh Tôn có để lại một Bộ Luật giá trị « Luật Hồng Đức » 1482 khác xa và
cao hơn về tính Nhân Bản so với luật của Tàu.Về giáo dục đa số mọi người được đi
học rộng răi ,có trường tư thục do các thầy đồ hay nho sĩ hiển đạt không làm
quan trở về dậy học. Về luật gia đ́nh, hôn sản người đàn bà đưoc luật pháp bảo
vệ nên có quyền giữ của hồi môn, có tài sản riêng, hưởng quyền thừa kế.... Ngược
lại Tàu không cho người phụ nữ các quyền trên, người đàn bà Tàu lệ thuộc hoàn
toàn chồng và con trai, có nơi c̣n phải chôn sống khi chồng chết.
Nhưng đặc biệt
nhất là Nho nơi đời sống dân gian c̣n bảo lưu, chứa đựng nhiều nhất nền Văn Hoá
Nhân Bản Tâm Linh của dân tộc. Người b́nh dân lao động không biết đọc, không
biết viết, nên loại Hán Nho của Ngũ Kinh, Tứ Thư không tác dụng được. Người Việt
trong đời sống xa triều đ́nh, mộc mạc, hồn nhiên sống đời An Vi trong luỹ tre
làng nơi thôn dă có một nền văn hoá tự cổ xưa, truyền miệng từ đời này sang đời
khác, mà c̣n sót lại nơi các câu ca dao , các lời ngạn ngữ, các phong tục, lễ
hội dân gian...
Đây là loại Nho
mà Triết Gia Kim Định gọi là Nho Siêu Việt, là loại Nho đă khắc sâu vào đời
sống, hoà làm một tri với hành, loại Nho « bất lập văn tự ». Loại VIỆT NHO này
đă có từ thưở người Việt c̣n là đoàn dân Tứ Di , Bách Việt mênh mông từ Nam
Hoàng Hà tới bờ Đông biển Thái B́nh, thưở nước Việt c̣n trong nôi của Họ Hồng
Bàng, truyền đến thời cácVua Hùng Vương .
Việt Nho, Nho
Siêu Việt, Nho của Việt Tộc có thể thấy rơ qua các kho tàng Huyền Sử Việt
.Những chuyện về Vũ Trụ quan như Con Rồng Cháu Tiên, về Nhân Sinh quan như Bánh
Dầy Bánh Chưng, Phù Đổng Thiên Vương nói lên cái nhận thức Hai Chiều Kích Rồng –
Tiên, Tṛn – Vuông làm nền tảng cho một sự dung hợp, tương quan hoà ái để tạo
một cuộc nhân sinh THÁI H̉A từ trong nội tâm lẫn sinh hoạt ngoại giới. Ngoài ra
với các vần ca dao tuyệt vời chuyên chở cả một nền đạo lư truyền đạt qua tâm
t́nh lúc tát nước, giă gạo, mời nhau miếng trầu ... Rồi có khi lại là những câu
nhắn gửi cho con cháu biết sự tiêu vong của Đạo Việt theo bước chân xâm lăng du
mục : « Cái c̣ chết tối hôm qua, có hai (2)hạt gạo với ba (3)đồng tiền »...
Có lẽ từ xưa cứ
cho là ca dao chỉ thể hiện yếu tố tâm t́nh của nhân dân , v́ ca dao thiên về
t́nh. Nhưng khi nghiên cứu sâu xa , nền tảng hơn,ta c̣n thấy trong ca dao chuyên
chở những dấu chỉ của nền Minh Triết Việt. Hai và Ba ở đây lại trùng hợp với con
số 2 và 3 nền tảng của Kinh Dịch « : Tham( Tam) thiên lưỡng điạ nhi ỷ số » ( Số
2 và số 3 là số căn cơ của Trời Đất). Thành ra, nghiên cứu tới cái hồn Minh
Triết của Huyền Sử, Ca Dao Dân Tộc, ta mới thấy cả một nền tảng của Âm Dương,
Tam Tài, Ngũ Hành của Nho giáo tàng ẩn nơi đây. Rồng Tiên chính là ngôn ngữ
Huyền Thoại của Âm Dương Dịch Lư. Bánh Chưng Vuông Bánh Dầy Tṛn chính là Tam
Tài Thiên Địa Nhân trong Trung Dung ...Nhưng mà, cái c̣ đă chết tối qua rồi, văn
hoá bị đánh cướp rồi, gia tài HAI hạt gạo Rồng –Tiên thành Âm Dương, BA đồng
tiền Nhân Chủ của Lang Liêu một tay Đúc Kết Tṛn Vuông trong buổi sớm mùa Xuân
- mà chỉ Triết Vươnng Hùng mới biết mà chấm giải khôi nguyên- nay đă thành Tam
Tài theo công thức ngôn từ của kẻ chiến thắng.
C̣n nhiều , nhiều
nữa... Như những câu tục ngữ, các hoa văn trên các h́nh tượng khảo cổ, như trống
đồng, những con số huyền bí 2 - 3,5,9.. mà người Việt tin tưởng là những sắp xếp
hài hoà của chân lư đă xuất hiện đầy khắp trong ngôn ngữ, nhất là cả một đời
sống con người chan hoà lễ nghiă, nặng t́nh hơn lư, trong luỹ tre làng với trời
cùng đất, tất cả đă chứng minh cho một nền Minh Triết Việt . Thật vậy, bản sắc
dân tộc điển h́nh qua bốn lănh vực : Ngôn ngữ huyền sử, h́nh tượng khảo cổ,
những số huyền cơ và thể chế nhân chủ, dân chủ nơi chốn làng quê đă được
Triết Gia Kim Định khám phá và gọi tắt là : Từ , Tượng , Số Chế .(Xin đọc
thêm dunglac.org, mevietnam.org, Đông Lan,T́m Hiểu Triết Việt , tập I ) .
Do đó, VIỆT NHO
chính là văn hoá dân tộc, trong tận cùng tiềm thức cái hồn dân tộc bàng bạc hồn
nhiên mộc mạc chốn làng quê, hay kinh viện bác học nơi triều đ́nh trường học.
Nghiên cứu về
nguồn gốc văn hoá Việt Nam Triết Gia Kim Định đă xác tín điều ấy. Ngài cho rằng
, nếu bỏ Nho sang một bên th́ ta chỉ t́m thấy ngọn chứ chưa đến gốc của Văn Hoá,
v́ Nho giáo chứ đựng những hằng số văn minh của nước ta. V́, như đă tŕnh bày ở
trên, Nho giáo có từ thời xa xưa, chính Việt Tộc mới là tác giả của Văn hoá Nho
giáo mà Khổng Tử chỉ là người làm cái việc san định 2000 năm sau mà thôi.Theo
sau bao nhiêu nghiên cứu của Triết Gia Kim Định, cũng như gần đây khoa khảo cổ
trên thế giới đă chứng minh, sắc dân BÁCH VIỆT đă vào và cư ngụ trên đất Tàu
ngày nay trước khi có một dân tộc thực sự là Tàu xuất hiện.
Thật vậy, về
nguồn gốc dân tộc Trung Hoa, dưới ánh sáng mới nhất của khoa học ngày nay, sự
việc hầu như được khẳng định là khởi thuỷ người Trung Hoa là do nhóm dân định cư
tại vùng Đông Nam Á đến từ Phi Châu ở đợt thiên di đầu tiên qua ngả Nam Á, cách
đây khoảng 60,000 năm, tiến đến Đông Á cách đây khoảng 40,000 năm khi khí hậu
miền Bắc bắt đầu ấm áp, sau đó từ Đông Á và Đông Nam Á tiến lên phía Bắc Trung
Hoa. Đó là những nhóm dân đầu tiên cư ngụ trên nước Tàu mà sau này được gọi
chung bằng tên Đại Tộc Bách Việt.
C̣n người Hoa Hán
là kết quả của đợt thiên di về sau từ Phi châu vào đất Trung Hoa qua ngả Trung á
và Âu Châu khoảng một, hai chục ngàn năm sau, và lai giống với những người đă
định cư từ trước tại Tàu..
Về sử kư, nước
Tàu chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ thứ 17 trước T.L. Trước đó tuy có tộc Hạ nhưng
không t́m được ấn tích, nên giới nghiên cứu chưa công nhận. Nhưng dù có tính từ
nhà Hạ th́ Tàu cũng chỉ có từ khoảng 20 thế kỷ trước Tây Lịch và chính thức gọi
là Tàu từ đời nhà Tần năm 221 trước Tây Lịch. Do đó, ta có thể tạm phác hoạ lịch
sử Tàu một cách rộng răi như sau : Khởi đầu của lịch sử nước Tàu trước đời nhà
Tần là nhà Hạ, Thương, Chu.
Nhà
HẠ kéo dài
439 năm( 2205-1766 trước T. L.)
Tiếng Hạ không
phải là tên chủng tộc, mà chỉ là môt mảnh đất nhỏ ở mạn Nam sông Hoàng Hà. Đối
với người mạn Bắc th́ Nam kể như Hạ.
Nhà
THƯƠNG
kéo dài 612 năm.( 1776-1154 trước T. L.)
Về văn hoá th́
nhà Thương xuất phát từ Di, Việt. Di và Việt có liên hệ chặt chẽ về tiếng nói
và cùng một gốc Nam Á. Bà Giản Địch tổ nhà Thương sinh con theo lối Dă Hợp của
Di, theo mẫu hệ, gọi tên theo lối Việt như vua Đế Ất( Tàu th́ gọi Ất Đế, Hoàng
Đế). Tộc Thương là một bộ tộc hùng mạnh , đất đai nhỏ bé , sau bao chinh phục
đất đai mà chỉ rộng chừng 120,000km2, c̣n nhỏ hơn Bắc Việt của ta bây giờ(
160,000 km2). C̣n chung quanh toàn là đất của Di, có thể nói suốt từ bờ Thái
B́nh Dương đến mạn Nam Trung quốc đều là đất của Di. Khối lớn lao đó gồm hàng
vạn nước , mỗi nước chỉ nhỏ bằng một tổng hoặc huyện bây giờ. Sử thường gọi là
« vạn quốc chư hầu. ». rồi cứ bộ tộc này mạnh th́ thôn t́nh các bộ tộc yếu họn
để sát nhập thành một nước lớn hơn. Tất cả các bộ tộc này đều có CHUNG một nền
văn hoá cổ, không có chi phân biệt , như đă viết ở trên: Anh em kế nghiệp tộc
trưởng, khi múa đeo lông chim, huyền thoại mang nét LƯỠNG HỢP. Huyền Sử « Con
Rồng Cháu Tiên », « Bánh Chưng Vuông, Bánh Dầy Tṛn. »...của Lạc Việt chúng ta
là một điển h́nh của nét văn hoá Tứ Di hay c̣n gọi là Bách Việt sau này. Ngoài
ra, tục « Tả nhậm » tức là trọng tay trái, dùng tay trái để cài nút áo của Tứ
Di c̣n ghi lại trong Kinh Thư là một cổ thư mà Khổng Tử san định sau này « Tứ
Di Tả Nhậm ». Người Việt mặc áo cài tay trái, theo dấu văn hoá « tứ di tả nhậm
» ( vạt áo tay phải) (Ngược lại, Tàu mặc áo vạt bên trái, dùng tay phải cài
nút áo , là hữu nhậm).
Nhà
CHU
kéo dài 897 năm(1122-225 trước T.L.) phát xuất từ Tây Di, họ Cơ, thuộc bộ tộc
Khương. Đến thời nhà Chu các bộ tộc c̣n lại từ vạn quốc là 160. Xem trong bản đồ
Kinh Thư của Legge ( quyển IV, trang 126) địa vực nhà Chu chỉ quanh quẩn bên
sông Hoàng Hà, tức là điạ phương Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây, Hiệp Tây ngày nay, mà
chung quanh c̣n vô số những bộ tộc của Di.Nhà CHU thuộc dân phía Tây Bắc thuộc
về dân Du Mục, hoặc bán du mục, hiếu chiến, theo phụ hệ, trọng vơ lực. Khổng Tử
sống dưới thời nhà Chu, tôn thờ Chu Công, nhưng có lẽ khi nghiên cứu san định
kinh sách của dân bản địa , tâm truyền tâm, Khổng Tử không tiếc lời ca ngợi.
Trong sách Trung Dung, Tử Lộ hỏi về Sức Mạnh. Khổng Tử đáp : « Cái sức mạnh
nào ? Sức Mạnh của nhà ngươi ? sức Mạnh của Phương Bắc ? Hay của Phương Nam ?
Khoan Hoà mà Giáo hoá, không báo thù kẻ vô đạo, đó là Sức Mạnh của người PHƯƠNG
NAM. Người QUÂN TỬ theo đạo lư Phương Nam . C̣n khi ngủ cũng đeo gươm mặc giáp,
vào chỗ chết cũng không sợ. Hạng cường dũng trụ nơi sức mạnh ấy » ( Tử Lộ vấn
cường. Tử viết : « Nam Phương chi cường dư ? Bắc Phương chi cường dư ? Ức nhi
cường dư ? Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vộ đạo : Nam Phương chi cường dă. Quân tử
cư chi. Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm : Bắc phương chi cường dă, nhi cường giả
cư chi » Trung Dung 10)., Khổng Tử cũng thường QUAY MẶT VỀ PHƯƠNG NAM để tỏ ḷng
tôn kính nền Văn Hoá Nho của Phương Nam. Là một nhà Văn Hoá, nên Khổng Tử có
những thái độ trung thực với ḷng , nên ông mới có thể làm cái việc san định
gia tài văn hoá bản điạ một cách chân thành và truyền lưu muôn thế hệ.Ta thấy
sau này vua thường hướng về phía Nam mà tế Trời . Điều này càng thấy phương Bắc
chịu ảnh hưởng văn hoá bản điạ của phương Nam mạnh mẽ dường nào !
Trở lại với nhà
CHU , sau khi nhà Chu chinh phục xong nhà Thương là một xă hội định cư, nông
nghiệp. Khi xếp đặt guồng máy cai trị, nhà Chu đưa vào văn hoá Di những yếu tố
khác biệt :
-
Ư niệm Thiên Tử.
-
Quân đội chuyên nghiệp
-
Luật h́nh
-
Hoạn quan
-
Trọng tay phải, ưa số 6,8 ( số chẵn)
-
Đàn áp phụ nữ
-
Khinh miệt dân chúng, gọi là lê dân( dân đầu đen)
-
Chuyển tài sản từ làng xă sang tay nhà vua.
-
Những yếu tố chính như thiên tử , hoạn quan, luật h́nh là vay mượn bên
miền Lưỡng Hà như Perse, Assyria ngược lại với văn hoá cổ, làm bẻ quặt Di Nho,
nên sau này so với Di Nho, nhà Chu đă là văn hoá du mục. Và cũng từ đấy, th́ xă
hội bắt đầu phân biệt Tàu với Di Việt bằng cách coi khinh và chữ « Di, Địch »
mới bị hàm nghiă « rợ, mọi », chứ trước thời Chu không hề có thế. V́ Tàu đều
xuất phát từ Tứ Di cả, nhưng khi chinh phục được Tứ Di rồi, th́ quay lai khinh
dễ chính gốc rễ của ḿnh.
Do đó khi pha
trộn các yếu tố văn hoá, nhà Chu trở thành bán du mục. Và , Khổng Tử là người
cuối cùng đại biểu cho Việt Nho, san định nền văn hoá Việt Nho, trước khi Nho
giáo chuyển sang tay chế độ phong kiến Tần, Hán, Tuỳ, Đường, Tống, Nguyên, Minh,
Thanh với tất cả biến thiên và sa đoạ của nó mà lịch sử c̣n ghi lại.
Như vậy, thời
Khổng Tử nước Tàu vẫn c̣n nhỏ bé, chưa có tên nước , và các nước tranh giành
ngôi báu, không thần phục nhà Chu .
Khi Tần Thuỷ
Hoàng thống nhất Trung Nguyên 221 trước T.L., tuy để lại h́nh ảnh một nước Tàu
to lớn, mà địa vực chưa quá sông Dương Tử bao nhiêu. Thời gian cai trị ngắn, ,
49 năm( 255-206 trước T.L.) .
Nhà Hán ( 206-32
trước T.L) cũng phát xuất từ Tứ Di, miền Giang Tô. Khi mới lên ngôi c̣n tế Li
Vưu , tù trưởng của Tứ Di xưa, và xưng ḿnh là Hán Man. Chữ Hán là một h́nh dung
từ chỉ cao sang vinh hiển, chứ không là tên một ḍng tộc nào, y như chữ Hạ và
Hoa cũng thế. V́ Tàu chỉ từ Tứ Di mà ra nên không có ḍng tộc riêng và tên
riêng. Do đó Tàu chỉ như một thực thể chính trị, văn hoá chứ không có nghiă một
chủng tộc nào Nhựng vị thủy tổ mà Tàu nhận là của họ như Phục Hi, Nữ Oa đều xuất
thân từ Di, miền châu thổ sông Hoài. Rồi nhà Hán tiếp tục sự xâm lăng, chiếm
đất, giành dân, mở rộng nước Tàu thêm ra, cuối cùng Tàu mới có một nước rộng lớn
như ngày nay.. Theo sự nghiên cứu của Triết Gia Kim Định, ít nhất 70% dân Tàu
ngày nay là gốc Việt.
Có nghiă là liên
đoàn người Bách Việt ở lại trên mảnh đất của ḿnh, bị đồng hoá bởi đoàn du mục
hiếu chiến Tây bắc tràn xuống tạo thành người Tàu ngày nay.Người Tàu không muốn
nhớ tới nguồn gốc Bách Việt của ḿnh v́ tổ tiên họ đă cam chịu nhục đồng hoá, và
nhà cầm quyền cũng muốn người Bách Việt quên đi quá khứ để dễ cai trị, nên toàn
bộ sử sách bị cạo sửa. Nhà Thương sửa sách của nhà Hạ, nhà Chu sửa sách của nhà
Thương, nhà Tần c̣n tàn bạo hơn cả, đốt sách Nho, chôn sống nho sĩ. Nhà Hán
cũng sai Lưu Hâm sửa kinh sách tại thư viện Thạch Cừ... Rồi cứ mỗi triều đại
người cai trị đều sửa kinh sách theo ư ḿnh nên ngày nay muốn t́m về Nho Nguyên
Thuỷ không phải là việc đơn giản.
May mắn là trong
đại tộc Bách Việt đông đúc lớn lao cổ xưa chỉ có được một chi tộc duy nhất đă
kiên cường bất khuất tồn tại đó là tộc Lạc Việt chúng ta. Do đó qua Từ, Tượng,
Số, Chế của Tộc Lạc Việt rồi quán chiếu lên những văn bản khả tín c̣n lại như
Ngũ Kinh mà Khổng Tử san định của Việt Nho ta thấy sự trùng khớp đó là Nho
Nguyên Thuỷ của nền văn hoá nông nghiệp. Minh chứng thêm nữa là những khám phá
mới nhất về khảo cổ, di truyền, sinh học, hải dương.. với nền văn minh lúa nước
mà Triết gia Kim Định gọi là lúa Mễ của người Hoà B́nh, nền văn minh trống đồng
của Việt Tộc . Giới khoa học khảo cổ đă xác nhận chủ nhân người Hoà B́nh làm chủ
hai nền văn minh lúa nước và Trống Đồng. Triết Gia Kim Định đă khám phá trước
các công bố khoa học, xác tín về nền văn hoá Việt Nho của người Bách Việt, của
nền văn minh Hoà B́nh.
Phát kiến mới mẻ
dồn dập của khoa học liên ngành trùng hợp với lốt chân Minh Triết Việt làm chấn
động các niềm tin xưa cũ.Sau Kim Định người ta không thể suy nghĩ như trước Kim
Định nữa. Vấn đề hôm nay là chúng ta phải cần đẩy mạnh lư thuyết Khoa Học VIỆT
NHO ra ánh sáng công luận bằng những công tŕnh dài hơi của nhiều đóng góp trí
tuệ để trả lại sự thật cho lịch sử . Cũng như tạo điều kiện cho một tương lai
các giống người Bách Việt ngày xưa từ Đông Nam Á toả đi các nơi nay có cơ duyên
t́m về cội nguồn và nhất là Văn Hoá Nho của đại chủng, để phát triển một Đạo
Trường Chung cho Đông Á.
Con người hôm nay
mới chỉ liên kết với nhau trên lănh vực lợi nhuận, nên thành lập những khối
« thị trường chung ». Con người hoàn chỉnh hơn trong tương quan t́m về điểm
chung của Đạo. Đạo Trường Chung cho Đông Á, một viễn kiến cho nền Hoà B́nh và
Phát Triển Đông Nam Á , là một đóng góp lớn của Chủ Thuyết An Vi và Việt Nho
cho Dân Tộc, Đại Tộc , và Nhân Loại.( xem Kim Định, Đạo Trường Chung Cho Đông
Á).
Về
Ư Niệm Thiên Tử.
Đây
là môt điểm trọng yếu đầu tiên để phân biệt Hán Nho và Việt Nho.
Lư tưởng là những
điều ấp ủ trong giấc mơ, có khi chưa hiện thực được, nhưng nó lại là cái ánh
sáng dẫn đường cho lịch sử.Lư tưởng về chân thiện mỹ thời nào cũng có, mặc dù
những biểu tượng tŕnh bày khác nhau. Gạt bỏ yếu tố lệ thuộc tính lịch sử giới
hạn, ta hăy xét sâu rộng hơn về Nghiêu Thuấn như một biểu tượng văn hoá, là lư
tưởng của văn hoá.Phần trên khi đề cập đến đợt tổ thứ hai của Nho giáo là Nghiêu
-Thuấn, th́ chính sử sách c̣nn ghi lại về sự việc vua Nghiêu truyền ngôi cho vua
Thuấn không dựa trên yếu tố ḍng tộc cha truyền con nối như các triều đại phong
kiến sau này. Thuấn là một nông dân hiền đức, thờ cha rất có hiếu, đang cầy
ruộng trên núi Lịch th́ được vua Nghiêu thân hành ra đến giữa đồng mà cầu người
hiền thay ḿnh làm vua . Như vậy đề cao vua Nghiêu ở đây là đánh giá cao tinh
thần « truyền hiền » chứ không « truyền tử » như quân chủ phong kiến . Chính v́
tinh thần truyền hiền này mà vua Nghiêu mới là vua thời Hoàng Kim, con người c̣n
sống trong nền văn hoá Nhân Bản của Nho Nguyên Thuỷ trước khi bị Hán Nho làm sa
đoạ với ư niệm « vua là con Trời » , và cứ thế mà cha truyền con nối cái ngôi vị
thiên tử.
Khổng Tử có công
san định Ngũ Kinh( Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc) Nho được rơ ràng rành mạch với
những câu văn ngắn, gọn,súc tích. Kim Định gọi công của Khổng Tử là đă «
công thức hoá »
Việt Nho . Chẳng hạn Truyện Con Rồng Cháu Tiên là ngôn ngữ Huyền Thoại của nền
văn hoá truyền khẩu trong nhân dân. Rồng và Tiên là hai biểu tượng chỉ sức sống
nền tảng linh thiêng của vũ trụ vạn vật, nhưng b́nh dân không cần ư thức một
cách minh nhiên, cái tâm thức lưỡng nghi Hai chiều kích ấy. Nó đă ở tại miền
tiềm thức, vô thức, siêu thức để muôn người như một ai cũng tự nhận ḿnh là Con
Rồng Cháu Tiên, để rồi sống như Rồng, sống như Tiên : « Có thực ( Rồng) mới vực
được đạo( Tiên) ». Hay là khi bị Hán Nho xâm lược thâu tóm vật chất và cả tinh
thần th́ chỉ c̣n rấm rức mà thương nhớ cái con c̣ Văn Hoá ruộng đồng Việt Nho
« Cái c̣ chết tối hôm
qua,
có HAI hạt gạo với BA đồng tiền. »...
Phải rồi Hai hạt gạo Rồng Tiên gia bảo ấy đă bị bọn vô chủng tộc, vô tổ quốc xâm
lược chiếm hữu, bôi xoá. Nền văn minh du mục hiếu chiến tranh dành tận dụng
thiên nhiên làm ǵ dung chứa nổi cái chiều kích GIAO CHỈ sâu xa trên thông với
TIÊN trời cao dưới hợp với RỒNG dưới đất nước .Kim Định giải thích tài hoa cái
nghiă Giao Chỉ : Giao Chỉ là Chỉ Trời với Chỉ Đất giao nhau, giao cái HỮU hạn
với VÔ biên, thành AN VI tức là Chân Không Diệu Hữu. Người là tác hành đong
đưa giữa hai đối cực, ngày nay ta có thể gọi những đối cực này như tinh thần với
vật chất, tuyệt đối và tương đối, thời gian và không gian... thật ra đó chính là
Ư Nghĩa Minh Triết GIAO CHỈ mà không may bị Hán Nho đă xuyên tạc ra nghiă cuả «
hai ngón chân cái giao nhau » . Trên thực tế có ai thấy hai ngón chân cái nào
hướng về nhau đâu ? Vậy mà hàng bao ngàn năm, không ai hoá giải sự mạ lỵ này của
Tàu. Cho nên, khi dân tộc Việt có triết gia, ta phải suy nghĩ khác - Cuộc
Cách Mạng Tư Duy Việt.
Là một hiền
triết, một nhà tâm lư và giáo dục, nhưng Khổng tử cũng c̣n là một người dân
trong thời đại mà chế độ quân chủ phong kiến cha truyền con nối hàng mấy ngàn
năm. Mặc dù ngưỡng vọng cái vũ trụ quan âm dương nhân chủ thái ḥa của phương
Nam, Khổng Tử cũng không thể vượt qua cái tầm nh́n chính trị hàng ngàn năm được.
Ông chủ trương thi hành chính sự nhà Chu, tức tôn quân, trong sự dè dặt phải có
của một người trí thức giữa thời đại phong kiến hàng ngàn năm.Sự sáng suốt và
minh triết của Khổng Tử là đă đề ra thuyết CHÍNH DANH, để tiết chế các quan hệ
xă hội. tạo nên cuộc sống tương kính, hài ḥa, an lạc . Khổng Tử không là một
nhà cách mạng triệt để theo nghiă ngày nay, nhưng ông thực tế giải quyết các vấn
nạn của chế độ quân chủ nói riêng và con người nói chung . Về chính trị, nói
rộng ra, chính trị là quyền lực, th́ thời nào cũng vậy, không phải chỉ quân chủ
phong kiến mới có vấn đề quyền lực. Vấn đề là như ngày nay nói, « quyền lợi đi
đôi với trách nhiệm », th́ xưa Khổng Tử dùng thuyết chính danh để chỉnh đốn lại
từquân vương cho đến thứ dân. Trong Luận Ngữ, Vấn chính., khi Tử Lộ, một học
tṛ,hỏi Khổng Tử rằng « Nếu vua nước Vệ đợi Thầy về đặng giúp ngài cai trị,
Thầy sẽ làm điều ǵ trước hết ? », Khổng Tử đáp : « Ta sẽ làm cho ra Chính
Danh định phận »( Vệ quân đăi Tử vi chính, Tử tương hề tiên ?, Tử viết : «
Tất dă Chính Danh hồ » ).
Ta có thể t́m
thấy tư tưởng Chính Danh qua các câu :
Luận Ngữ : Nhan
Uyên,XII : « Chính giả, chính dă, tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính » :Chính
trị là làm mọi việc cho ngay thẳng, ông lấy ngay thẳng mà khiến người, th́ ai
dám không ngay thẳng ?
LN, Tử lộ XIII:
« Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành, kỳ thân bất chính , tuy lệnh bất ṭng. »
Ḿnh ngay chính, th́ không sai khiến, người ta cũng làm, ḿnh không ngay chính
th́ tuy có sai khiến, cũng không ai theo.
LN , Tử Lộ
XIII : « Danh bất chính,tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận, tắc sự bất
thành ».
LN, Bát Dật III :
« Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung ».
LN, Nhan Uyên :
« Quân quân, thần thần,phụ phụ, tử tử ».
Ngoài ra, Khổng
tử làm kinh Xuân Thu để bày tỏ ư kiến ḿnh về đuờng chính trị, chủ yếu :Chính
danh tự, định danh phận, tôn quân quyền.
Xuân thu cắt
nghiă chính danh, định phận, khiến cho sự ngôn luận có tiêu chuẩn.
Như vậy chế độ
nào cũng vậy, nếu người có quyền mà thực hiện Chính Danh th́ cũng xứng đáng
hưởng cái quyền ấy, như vua cho ra vua, th́ tôi mới làm tôi được, lănh đạo cho
xứng danh lănh đạo th́ người dân mới làm công dân tốt được, cha cho ra cha th́
con mới là con hiếu được. Do đó khi đề cao việc đầu tiên của chính trị là phải
chính danh, vào thời quân chủ cũng đủ giá trị như công dụng của một giám sát
viện . Khổng Tử là một nhà cách mạng ôn ḥa, dùng văn hoá sửa đổi định chế chính
trị, cũng như điều ḥa nhân tâm, nên Ư Niệm Thiên Tử của tinh thần du mục trọng
vơ đă chuyển sang chiều hướng chính danh để phục vụ đạo H̉A của Nho giáo hay
chính xác hơn là Việt Nho.
Hán Nho triệt để
khai thác Ư Niệm Thiên Tử để cai trị và hưởng lợi, nhưng sĩ tử theo học Nho
Giáo, mà Nho Giáo lại có thuyết Chính Danh của Khổng Tử làm giám sát viện của
nhân tâm, thế đạo. Nên tuy Hán Nho nơi triều đ́nh của vua quan có phần chuyên
chế, lễ nghi phiền toái, giả tạo,nhưng đời sống dân gian lại duy tŕ được phần
nhân nghiă, nhất là kẻ sĩ theo học Nho, hiểu biết thiên lư,đạo nghiă, cũng tiết
chế được nhân dục.Có thể nói , Khổng Tử là cái gạch nối giữa tinh thần Nhân Bản
Việt Nho và chuyên chế Hán Nho .
Tổ Hùng Vương của
chúng ta cũng chính danh là Tổ Văn Hóa Việt Nho. Ta thấy sách Tàu c̣n chế giễu
« Vua ǵ mà ở trần mà cũng xưng vương ». Nhưng chính trong chi tiết này ta lại
thấy sự khác biệt về Việt và Tàu trong quan niệm về ngôi vua. Như đă phân tích ở
trên, ư niệm Thiên Tử của Tàu xuất phát từ văn hoá du mục, trọng vơ lực, nên vua
cai trị bằng quyền lực, nên phải bày đặt ra thuyết vua là con trời để lấy uy
quyền tối cao của ông trời mà trị dân. Ngược lại vua Hùng vương , tổ văn hoá
Việt lại sống theo tinh thần dung hoà, đơn giản, chất phác của người nông
nghiệp, nên làm vua chỉ là để giúp dân an cư lạc nghiệp, nên không có cách sống
cao xa với dân, không xem ḿnh là con trời mà dân là kẻ phục vụ. Thuở vua Hùng,
vua như người cha lo cho dân như con ḿnh, vua cùng sống đơn giản như dân, con
cái vua cũng vẫn phải làm việc b́nh thường như bao người . Chính vua Hùng mới là
hậu thân của h́nh ảnh vua Nghiêu Thuấn như xưa. Chính
vua Hùng mới là Tổ Văn Hoá Nho như Nghiêu Thuấn,
mà Khổng Tử ca ngợi lấy làm mẫu mực. Nơi vua Hùng,
ư niệm Thiên Tử
vắng bóng.Nơi biểu tượng vua Hùng, Nho Nguyên Thuỷ sáng danh. Nơi vua Hùng, Việt
Nho đă thực hiện.
Với Nhân Bản
tính, Nho giáo mới khẳng định « Nghe giết một tên bạo ngược là Kiệt và Trụ, chứ
chưa hề nghe giết vua Kiệt vua Trụ bao giờ ! ». Như vậy thuyết Chính Danh hai
chiều tương quan vua-tôi cách nhân bản của Nho mới giải quyết cái bế tắc của sự
« tôn quân » một chiều của nền quân chủ.
Tóm lại,
Việt Nho là Nho thời trước
Khổng Tử.
Sau khi Khổng tử thu thập văn hoá Việt Nho mà san định Ngũ Kinh , rồi lại trải
qua các thời Tần, Hán, khi Hán Vũ Đế nghe lời một nho gia là Đổng Trọng Thư phát
triển Nho giáo để xây dựng quyền lực cho chế độ phong kiến, th́ Việt Nho bị phá
sản. Kèm theo , nào là nhà Tần đốt sách, chôn học tṛ, nhà Hán sửa đổi kinh
sách: Hán Vũ Đế sai Lưu Hâm làm « nguỵ kinh » tại thư viện Thạch Cừ trong
triều, các nhà Thái học sinh phải sử dụng loại nguỵ kinh này. Rồi qua biết bao
nhiêu triều đại, kinh sách Nho mà chúng ta có ngày nay rút cục lại là tổng hơp
các biến cố trên, là một thực thể hỗn độn, nhiều mâu thuẫn, bất nhất. Trong Nho
giáo, có những yếu tố nhân nghiă, đạo lư cao siêu thâm diệu, nhưng cũng có nhiều
yếu tố nghịch lại, phi nhân, thiển cận . Thí dụ quyển Luận Ngữ là quyển được coi
như khả tín gần với tư tưởng Khổng Tử nhất, vẫn có những câu đặt vào lời Khổng
Tử mà ta không thấy có lư chút nào ( về Quản Trọng).
Như thế, làm vua
theo Việt Nho là người có đức trách nhiệm bảo vệ đời sống an b́nh cho dân, không
tham quyền, chỉ tham Đức. điển h́nh như vua Nghiêu, Thuấn. Đức cao nên nhà vua
theo thể chế « truyền hiền » chứ không « truyền tử ». Vua Nghiêu truyền ngôi
cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền cho vua Vũ . Vua Vũ nghe lời nói phải, th́ bái
tạ ( Vũ văn thiện ngôn, tắc bái, Mạnh Tử).
Khi cuộc sống
người dân thời Xuân Thu quá hỗn loạn mà Khổng tử là người muốn ổn định trật tự
cho chế độ phong kiến, đă t́m ra thuyết Chính Danh để lấy thời Hoàng Kim với
các Thánh Triết, Thánh Vương làm lư tưởng, để giới hạn cái uy quyền của Vua và
nâng cao cái nhân quyền của dân. Khổng Tử là một nhà cải cách của xă hội phong
kiến. Khổng Tử đă mang cái văn hoá Việt Nho của dân bản địa kết hợp trong môi
trường nhân sinh thời đại của ông để làm thành cuộc san định tập đại thành nền
văn hoá Nho của Trung Hoa với Ngũ Kinh. Sau này nhà Tần đốt sách, chôn học tṛ,
cũng như Hán Vũ Đế, Đổng Trọng Thư, Lưu Hâm...cầm đầu một cuộc biến thể, tô vẽ
lại để Nho trở thành công cụ phục vụ triều đại phong kiến, đàn áp con người mà
ta thường biết chính là loại Nho trá nguỵ từ Hán Nho.
Gần ba ngàn năm
sau khi Khổng Tử san định Ngũ Kinh cho Nho giáo, máu vẫn không ngừng đổ cho một
chữ VIỆT
linh thiêng, đă đúc kết tâm t́nh và trí tuệ của một thiên tài. KIM ĐỊNH đă t́m
lại được cội nguồn văn hoá quê hương bị lăng quên và ân cần trao lại cho thế hệ
chúng ta công tŕnh khám phá VIỆT NHO, một bức hoạ đồ nền tảng khi « ôn cố tri
tân »
để
đổi mới tư duy
-
Triệt
để và viên măn.
Đông Lan |