
T́m Lại
Dấu
Vết
Vườn
Lâm Tỳ Ni
Tâm Hà Lê Công Đa
Trong kinh
Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật hứa khả rằng, có bốn thánh tích mà bất cứ thiện nam
tín nữ nào đến chiêm bái với ḷng thành kính sẽ hưởng được phước báu vô lượng.
Đó là: Nơi Phật đản sanh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển pháp luân, và nơi
Phật nhập niết bàn. Đối với người Phật tử, nhu cầu thăm viếng những thánh tích
này không hẵn chỉ để t́m cầu phước báu mà hơn thế nữa, đó là một ước mơ, một nhu
cầu tâm linh, một t́nh cảm tôn giáo. Không phải là Phật tử, thế nhưng đối với
những nhà khảo cổ học và Đông phương học người Anh, việc truy t́m lại dấu vết
vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sanh là một thôi thúc, một mối ám ảnh lớn lao. Tuy
nhiên Phật giáo hầu như đă hoàn toàn biến mất tại Ấn Độ từ bao nhiêu thế kỷ qua.
Mảnh đất nơi Đức Phật chào đời và lớn khôn, mảnh đất nuôi dưỡng một thời huy
hoàng, b́nh minh của nền văn minh Phật giáo đă không c̣n lưu lại một vết tích
nào. Tang thương dâu biển đă biến những kinh thành tráng lệ của một thời xa xưa
thành những cánh rừng hoang vu bất tận không dấu chân người. Đi t́m lại ngôi
vườn xưa giữa một vùng núi rừng bao la bát ngát của xứ Ấn Độ quả là chuyện ṃ
kim đáy biển, một thách đố lớn lao đối với những nhà Đông phương học. Thế nên
việc t́m và khôi phục lại thánh tích Lâm Tỳ Ni -ngày nay hằng năm thu hút hàng
triệu người đến hành hương chiêm bái- là cả một công tŕnh tim óc lớn lao của
không biết bao nhiêu người, trải dài hơn nửa thế kỷ. Nói là công tŕnh tim óc,
bởi v́ những nhà Đông phương học, khảo cổ Tây phương này đến với xứ Ấn Độ thuộc
Anh không phải chỉ được vơ trang bằng những kiến thức hàn lâm, những phương tiện
kỹ thuật mới mẻ mà điều quan trọng hơn, họ là những người rất nặng ḷng với Phật
giáo. May mắn thay cho họ, và cho tất cả những Phật tử chúng ta, chuyện ṃ kim
đáy biển này đă được thành tựu nhờ hai bộ cẩm nang chỉ đường quư giá của hai bậc
danh tăng lỗi lạc Trung Quốc, Pháp Hiền đời Đông Tấn và Huyền Trang đời Đường.
Cả hai ngài đă để lại hai bộ kư sự nổi tiếng “Phật Quốc Kư” và "Đại Đường Tây
Vưc Kư", ghi lại những chi tiết quư giá trên đường hành hương vào đất Phật.
Những chi tiết này đă chiếu dọi lên những tia sáng mà nhờ đó các nhà Đông phương
học và khảo cổ học người Anh có cơ sở truy t́m lại dấu vết nơi Phật đản sanh -vườn
Lâm T́ Ni- cũng như quê hương của Phật, thành Ca T́ La Vệ.
Pháp Hiền, Huyền Trang Và Cuộc Hành Hương Chiêm Bái Đất Phật
Ngài Pháp
Hiền xuất phát từ Tràng An năm 399 vượt qua những những sa mạc mênh mông không
dấu chân người, những vùng đất hoang dă miền Tây vực, quê hương của những bộ tộc
người Hung nô, băng ngang qua khu vực thượng lưu sống Ấn hà và cuối cùng đặt
chân đến phía bắc Punjab và A phú Hản - tức là vùng văn hoá Phật giáo nổi tiếng
Càn Đà La trải dài đến tận Mathura với hàng trăm chùa tháp, tự viện trong từng
mỗi thôn ấp. Từ Mathura ngài Pháp Hiền xuôi về hướng Đông, nơi Đức Phật ra đời
và hoằng truyền chánh pháp. Điều ngạc nhiên đối với ngài Pháp Hiền là, càng đi
về hướng đông bắc quang cảnh ngày càng tiêu sơ hoang dă, chỉ thỉnh thoảng mới
thấy rải rác một vài tịnh xá đó đây. Khi ngài đặt chân đến thành Ca T́ La Vệ và
vườn Lâm T́ Ni th́ hai thánh tích này đă hoàn toàn hoang phế. Từ đây, ngài đi về
hướng đông nam, viếng thăm nơi Đức Phật nhập niết bàn, và bước vào kinh thành Xá
Vệ, thủ phủ của xứ Lichchavis. Vượt qua sông Hằng, ngài Pháp Hiền đặt chân đến
kinh thành Hoa Thị
(Pataliputra,)
thủ phủ của vương quốc Ma Kiệt Đà, mà trung tâm là một vương thành tráng lệ, nơi
mà ngài Pháp Hiền mô tả như là một thành phố trù phú vào bậc nhất tại Ấn Độ
đương thời.
Từ
kinh thành
Hoa Thị
ngài đi về hướng Nam đến vương thành Rajagriha, cố đô của vị quân vương Phật tử
nổi tiếng B́nh Sa Vương, vùng đất một thời vàng son của Phật giáo. Nhưng nơi đây
nay cũng đă hoàn toàn hoang phế, những ǵ c̣n lưu dấu lại những chùa tháp và
hang động có giá trị lịch sử gắn liền với những sinh hoạt của Đức Phật và những
đại đệ tử lúc c̣n tại thế. Cách Rajagriha không xa là quê hương của Xá Lợi Phất,
nơi mà vị thánh tăng đă chọn để nhập niết bàn. Sau khi thăm viếng nơi này, ngài
Pháp Hiền tiếp tục đi về hướng nam, viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng và những thánh
tích nổi tiếng. Sau đó Ngài Pháp Hiền trở lại
kinh thành
Hoa Thị,
trú ngụ tại một tịnh xá trong suốt ba năm, bắt đầu công tŕnh nghiên cứu và sao
chép kinh sách. Rồi từ đây ngài Pháp Hiền xuôi dọc theo sông Hằng vượt biển đến
Tích Lan, chiêm bái hai thánh tích nổi tiếng là cây Bồ Đề được chiết từ cây bồ
đề gốc nơi Đức Phật thành đạo và xá lợi răng Phật. Ngài Pháp Hiền trở lại Trung
Quốc vào năm 414 bằng đường biển, kết thúc cuộc hành hương kéo dài suốt 14 năm.
Hơn hai
trăm năm sau (629), ngài Huyền Trang dưới thời Đường Thái Tông cũng phát xuất từ
Trường An, lên đường vào Tây Trúc qua "Con Đường Lụa" nối liền Ấn Độ-Trung Quốc.
Cuộc hành hương chiêm bái của vị tăng sĩ 27 tuổi nổi tiếng này đă được huyền
thoại hoá qua tác phẩm Tây Du Kư làm say mê hàng bao nhiêu thế hệ người đọc tại
Trung Quốc cũng như Việt Nam. Băng qua Ngọc Môn Quan, cửa ải cuối cùng của đế
quốc Trung Hoa với vùng Tây Vực, ngài Huyền Trang bắt đầu một cuộc hành tŕnh
gian khổ, đối đầu với bao nhiêu gian nguy thử thách của thiên nhiên hiểm trở,
của những băng đảng cướp của giết người không gớm tay. Có lần lạc lối trong sa
mạc Đại Qua Bích (Gobi), một biển cát bao la kéo dài bất tận, không có bóng chim
bay, không có sinh vật sống, tưởng như sắp chết đến nơi, nhưng với ḷng tin kiên
cố vào Tâm Kinh, vào Bồ Tát Quán Thế Âm, ngài đă vượt thoát tử thần một cách mầu
nhiệm, và cuối cùng đặt chân đến Mathura, một trung tâm văn hoá quan trọng của
Ấn Độ vào năm 634.
Từ
Mathura, ngài Huyền Trang đă ghé lại Ayodhya, thăm viếng ngôi tu viện cổ kính
nơi mà trước đây ngài Thế Thân, vị tổ của Duy Thức đă từng tu tập và cải đổi từ
Tiểu thừa sang Đại Thừa. Sau đó, vượt qua ḍng sông Hằng, ngài Huyền Trang đi về
hướng bắc và bắt đầu bước vào vùng thánh địa Phật Giáo. Cũng như Pháp Hiền trước
đây, trạm dừng chân đầu tiên của ngài Huyền Trang là kinh thành Xá Vệ, quê hương
của vị quân vương Phật tử nổi tiếng Ba Tư Nặc. Cố đô Xá Vệ và tất cả những tu
viện Phật giáo ở đây nay đă hoàn toàn hoang phế, kể cả vườn Ḱ Viên của Thái Tử
Kỳ Đà, nơi mà Đức Phật thành lập cộng đồng Phật giáo đầu tiên, đồng thời cũng là
nơi mà Ngài cho phép thành lập Ni bộ. Từ Xá Vệ đi về hướng Tây Bắc, ngài Huyền
Trang đặt chân đến kinh thành Ca T́ La Vệ, bây giờ chỉ c̣n trơ lại những bức
tường đổ nát. Cách đó không xa là một ngôi cổ tháp ghi dấu vị tiên A Tư Đà đă
tiên đoán về tương lai của Thái tử Tất Đạt Đa. Ở cửa Đông thành Ca T́ La Vệ là
một ngôi đền kỷ niệm chuyến ra khỏi hoàng cung lần đầu tiên của Thái tử, đối
diện với thực tại sinh, lăo, bệnh, tử. Đi khoảng 9, 10 dặm về hướng Tây vương
thành Ca T́ La Vệ là vườn Lâm T́ Ni. Tại đây ngài trông thấy một trụ đá do vua A
Dục dựng lên, với những hàng chữ ghi dấu kỉ niệm nơi Đức Phật đản sanh. Trụ đá
này được khám phá vào năm 1895 và là một đầu mối quan trọng cho các nhà khảo cổ,
Đông phương học trong việc xác định vị trí chính xác của vườn Lâm T́ Ni sau này.
Chúng ta tạm dừng cuộc hành hương chiêm bái đất Phật của ngài Huyền Trang tại
đây để đi vào nỗ lực truy t́m lại dấu vết của một trong những thánh tích quan
trọng của Phật giáo sau hơn 1000 năm mất dấu.
Nỗ Lực Truy T́m Lại Dấu Vết Vườn Lâm Tỳ Ni
Tập "Phật
Quốc Kư" đă được Jean Pière Abel Rémusat dịch ra tiếng Pháp "Foe Kuoe Ki" vào
năm 1837. Mười một năm sau, năm 1848, ấn bản tiếng Anh ra đời: "The Pilgrimage
of Fa Hian from the French Edition of the Foe Kuoe Ki of MM Rémusat, Klaproth
and Landresse". Với ấn bản tiếng Anh trong tay, những nhà khảo cổ và Đông phương
học đă có một cơ hột tốt đẹp để thử nghiệm sự chính xác về những ǵ đă được ghi
lại trong chuyến hành hương của ngài Pháp Hiền.
Như đă nói
ở trên, công việc truy t́m lại dấu vết nơi Phật đản sanh là một nỗ lực của rất
nhiều người, nhiều tổ chức, kéo dài qua nhiều thập niên trong số đó phải kể đến
một số tên tuổi nổi bật như James Prinsep, Alexander Cunningham, Vincent
Smith... Tuy nhiên hai nhân vật then chốt đă hoàn tất những nỗ lực cuối cùng
trong việc đưa Lâm T́ Ni và Ca T́ La Vệ ra ánh sáng là Bác sĩ Lawrence Austine
Waddell, một quân y sĩ phục vụ trong quân đội Hoàng gia Anh và Tiến sĩ Fuhrer,
chuyên gia về Đông phương và khảo cổ học của chính phủ Anh. Bác sĩ Waddell là
một nhân vật khá đặc biệt. Sinh trưởng trong một gia đ́nh mục sư Tin Lành theo
hệ phái Presbyterian, tuy nhiên trong thời gian bảy năm phục vụ tại Darjeeling,
ông bắt đầu say mê nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Được phục vụ tại Ấn Độ là một
cơ duyên tốt để ông theo đuổi một giấc mơ không ngừng ám ảnh ḿnh, là lần theo
dấu chân của hai nhà hành hương Pháp Hiền và Huyền Trang t́m lại dấu vết nơi
Phật đản sanh.

Như ánh
sáng lóe lên ở cuối đường hầm, nỗ lực truy t́m dấu vết vuờn Lâm Tỳ Ni chuyển qua
một khúc quanh quan trọng khi tháng 3 năm 1893, Thiếu tá Jaskaran Śngh của
chính phủ Nepal t́nh cờ trong một chuyến săn bắn ở khu rừng Nigliva, phía bắc
Ba La Nại (Benares) gần biên giới Ấn Độ - Nepal có nghe phong phanh những thổ
dân địa phương nói đến vết tích của một trụ đá c̣n lưu dấu ở đây. Hàng bao thế
kỷ qua, đây là một vùng rừng rậm hoang vu không người lai văng ngoại trừ một
nhóm nhỏ thổ dân đă được miễn dịch khỏi căn bệnh sốt rét rừng ác tính hoàn hành
trong những khu rừng nhiệt đới này. Ông liền nhờ họ dẫn đến khu vực này và sau
khi dọn dẹp cây cối chung quanh đă t́m thấy ngoài trụ đá nằm nghiêng đổ trên mặt
đất bên cạnh đó là một cái bệ c̣n nguyên vẹn có khắc bốn ḍng chữ bằng cổ ngữ.
Sự phát
hiện của Thiếu Tá Jaskaran Śngh dẫn đến việc chính phủ Nepal thỉnh cầu chính
phủ Ấn Độ giúp giải mă bốn hàng chữ khắc trên bệ đá và đây là đầu mối dẫn đến
những sự kiện lịch sử sau này trong việc truy t́m lại dấu vết của nơi Phật đản
sanh. Nhận được tin này một phái đoàn khảo sát của Tiến sĩ Fuhrer đă lập tức
t́m đến khu vực này và t́m ra trụ và bệ đá không mấy khó khăn. Tuy nhiên không
hiểu v́ một lư do thầm kín nào đó, măi một năm sau, tháng 4 năm 1895, bản dịch
này mới được công bố trên tờ The Academy, nguyên văn như sau: "Khi vị quân vưong
được chư Thần thương yêu,
Piyadasi, thụ phong được 14 năm, người đă cho nâng cấp ngôi tháp thờ vị cổ Phật
Konakamana lên lần thứ hai, và sau khi thụ phong ... năm, người đă đích thân đến
đảnh lễ ngài, tạo nên..." Điều đáng nói là trong bản ghi chú của Tiến sĩ Fuhrer,
ông ta đă không đề cập đến hoặc không nhận ra rằng danh hiệu của vị cổ Phật
Konakamana được nhắc đến trong trụ đá của vua A Dục chính là vị Phật Kanakamuni
trong Phạn ngữ Sanskrit. Chi tiết này vô cùng quan trọng v́ cả hai nhà chiêm bái
Pháp Hiền và Huyền Trang đều đă đến viếng ngôi tháp Kanakamuni này và cho biết
vị trí của nó thuộc vùng phụ cận vương thành Ca Tỳ La Vệ và vườn Lâm Tỳ Ni.
Ngài Huyền
Trang c̣n mô tả một cách chi tiết hơn về vị trí của ngôi tháp này. Để đến ngôi
tháp Kanakmuni, ngài đă khởi hành từ thành Ca T́ La Vệ đi về hướng nam khoảng 50
lí -khoảng 10 miles- đến một cổ thành và từ cổ thành này ngài đi thêm khoảng 30
lí, tức 6 miles về hướng đông bắc. Ngài c̣n mô tả thêm là đă trông thấy ở đây ba
ngôi tháp khác, trong đó một ngôi tháp được truyền tụng là thờ xá lợi của Phật
Kanakamuni. Trước mặt ngôi tháp thứ ba này là "một trụ đá cao khoảng 20 feet mà
trên đỉnh là một con sư tử cùng với những lời Phật dạy trước khi nhập niết bàn
ở chung quanh. Trụ đá này cũng do vua A Dục dựng lên." Như vậy, nếu trụ đá A Dục
do Thiếu Tá Jaskaran Śngh t́m thấy tại Nigliva cho ta biết vị trí của tháp thờ
cổ Phật Kanakamuni và nếu phương hướng mà ngài Huyền Trang ghi lại là đúng đắn
th́ chắc chắn rằng vương thành Ca Tỳ La Vệ cũng như vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản
sanh, chỉ nằm trong khoảng vài dặm về hướng Tây Bắc của trụ đá này.

Vườn Lâm
T́ Ni Ngày nay
Với những
phát hiện này và lời hướng dẫn trong cuốn kư sự của ngài Huyền Trang, Bác sĩ
Waddell đă lịch sự viết một bức thư cho Tổng Thư Kư của Hiệp Hội Á Châu Bengal
(The Asiatic Society of Bengal), tỏ ra ngạc nhiên là đă không có ai quan tâm đến
việc phát hiện trụ đá A Dục tại Nigliva, mà ông cho là "một sự kiện quan
trọng c̣n vượt xa hơn cả những hàng chữ khắc trên trụ đá, bởi v́ nó cung cấp một
đầu mối quan trọng cho việc khám phá nơi đản sanh của Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni... Trụ đá Konalkamana t́m thấy trong cánh rừng của xứ Nepal có vẻ như đang ở
trong vị trí nguyên thủy, trong một địa h́nh đáng tin cậy, và theo như lời hướng
dẫn của Huyền Trang th́ "thành phố" Ca Tỳ La Vệ chỉ nằm trong ṿng 7 dặm hướng
Tây-Bắc của trụ đá này."

Trụ đá vua
A Dục xác định vị trí Vườn Lâm T́ Ni
Tuy nhiên
Bác sĩ Waddell đă không dấu được nỗi bất b́nh khi nhận được thư trả lời thiếu
nhiệt t́nh của vị Tổng Thư Kư báo cho biết vấn đề này sẽ được đem ra thảo luận
trong phiên họp tới của Hiệp Hội, khoảng hai tháng sau, tỏ ra Hiệp Hội đă không
quan tâm mấy đến sự kiện quan trọng này. Bác sĩ Waddell quyết định đưa vấn đề ra
công luận. Trong bài viết dưới tựa đề: "Đâu là nơi Phật Đản Sanh?", đăng
trên tờ Englishman, Calcutta ông khẳng định rằng, "Nơi Phật Thích Ca Mâu Ni
đản sanh từ lâu mất dấu, chắc chắn nằm trong khu vực NepaleseTarai, khoảng 7 dặm
hướng Tây Băc ngôi làng Nigliva của Nepal ... Rằng, Lâm Tỳ Ni hay vườn Lâm Tỳ Ni
nằm trong khoảng từ 3 đến 4 dặm phía bắc ngôi làng này." Cho rằng mọi người
đang đứng trước ngưỡng cửa của một trong những khám phá quan trọng hàng đầu của
thế kỷ của ngành khảo cổ học Ấn Độ, Bác sĩ Waddell kêu gọi chính phủ Ấn Độ tiến
hành những bước sớm nhất nhằm đạt đến những thỏa thuận với chính phủ Nepal trong
việc khảo sát toàn bộ khu vực này.
Bài viết
của Bác sĩ Waddell lập tức được đăng lại bởi tất cả các báo chí Anh ngữ tại Ấn
Độ, tạo nên một luồng sóng quan tâm hưởng ứng của công luận. Thế là trong tuần
lễ cuối cùng của tháng 11, 1896 ba phái đoàn khảo sát đă được gởi đến vùng này,
một của Nepal và hai của Ấn Độ dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Fuhrer, tất cả đều
nhận được sự giúp đỡ của vị Thống Đốc địa phương, Tướng Khadga Rana. Tuy nhiên
Tướng Khadga Rana, do nhận được một bức thư riêng từ Bác sĩ Waddell, đă cho tiến
hành khai quật một trụ đá khác cạnh ngôi làng Rumindei cách Nigliva khoảng 10
dặm, do Duncan Ricketts phát hiện vào năm 1885. Đào sâu xuống mặt đất khoảng
3feet, người ta t́m thấy năm hàng chữ khắc trên trụ đá c̣n nguyên vẹn. Đây là
một trụ đá khác do vua A Dục dựng lên mà mục đích đă được ghi rơ qua hàng chữ
c̣n lưu lại: Vua Piyadasi,
Người được
chư Thần thương yêu, sau khi trị v́ đất nước 20 năm, đă đến nơi đây, cung kính
đảnh lễ, phán rằng, "Đây là nơi Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh", và cho dựng lên
một trụ đá xác minh: "Đây là vườn Lâm Tỳ Ni, nơi đản sanh của Đấng Thế Tôn."
Không c̣n
nghi ngờ ǵ nữa, cuối cùng người ta đă t́m thấy vị trí chính xác của vườn Lâm Tỳ
Ni, nơi Phật đản sanh.

Dấu vết
hoàng cung Ca T́ La Vệ, khu vực cư trú.

Hoàng cung
Ca T́ La Vệ, cửa Đông thành.

Hoàng cung
Ca T́ La Vệ, cửa Tây thành.
Đă t́m
thấy vườn Lâm Tỳ Ni th́ việc truy t́m dấu vết của vương thành Ca Tỳ La Vệ sẽ
không gặp mấy khó khăn.
Bác sĩ Waddell,
căn cứ vào cuốn Đại Đường Tây Vực Kư của ngài Huyền Trang, xác quyết rằng vương
thành Ca Tỳ La Vệ "nằm vào khoảng 7 dặm hướng Tây Bắc của ngôi làng Nigliva."
Theo lời hướng dẫn này,
Tiến sĩ
Fuhrer đă t́m ra vị trí của cổ thành hoang phế Ca Tỳ La Vệ. Ngày 23 tháng 12, tờ
Allahhabad Pioneer đă cho đăng độc quyền hai công tŕnh khám phá quan trọng này.
Năm ngày sau, tờ Times của London và một số báo chí tầm cỡ quốc gia khác
đă cho đăng lại công tŕnh khám phá vườn Lâm Tỳ Ni và vương thành CaTỳ La Vệ.
Tiến sĩ Fuhrer đă giải thích một cách chi tiết v́ệc khám phá thành Ca Tỳ La Vệ
như sau:
Việc khám
phá trụ đá A Dục tại vườn Lâm Tỳ Ni, làng Rumindei, đă giúp tôi điều chỉnh một
cách tuyệt đối chính xác khu vực vương thành Ca Tỳ La Vệ và những thánh tích tôn
nghiêm trong vùng phụ cận. Cảm ơn những kư sự rất mực chính xác ghi lại bởi hai
nhà hành hương chiêm bái Trung Quốc đă giúp tôi khám phá ra vương thành hoang
phế, khoảng 18 dặm hướng Tây Bắc trụ đá Lâm Tỳ Ni và 6 dặm hướng Tây Bắc ngôi
làng Nigliva... Toàn bộ khu vực này bây giờ cũng hoang phế thê lương như Pháp
Hiền và Huyền Trang đă chứng kiến trước đây, tuy nhiên mỗi một thánh tích mà hai
nhà hành hương chiêm bái này ghi nhận đều được xác minh một cách dễ dàng.
Trong công
tŕnh khám phá này, Tiến sĩ Fuhrer đă dành hết mọi công trạng về ḿnh, từ việc
khám phá trụ đá đầu tiên tại làng Nigliva, cho đến việc khám phá trụ đá Lâm Tỳ
Ni ngày 1 tháng 12 năm 1896, cũng như vương thành Ca Tỳ La Vệ. Công bằng
mà nói, Bác sĩ Waddell
là người tiên phong, phải có một vị trí xứng đáng, và phải được chia xẻ vinh dự
trong hai phát hiện quan trọng này.
Kết Luận
Nỗ lực
truy t́m lại dấu vết nơi Phật đản sanh được thành tựu trước tiên phải ghi nhận
là do chính sách khoan dung tôn giáo và văn hoá của vương quốc Anh. Xâm chiếm và
đô hộ Ấn Độ, người Anh đă không làm những công việc như các thế lực đế quốc và
thực dân khác đă làm, tức là t́m cách xoá bỏ nền văn hóa và tôn giáo bản địa.
Thay v́ Kitô hoá Ấn Độ, người Anh đă cho phục hồi lại những giá trị văn hoá, tôn
giáo cổ truyền của người Ấn. Dĩ nhiên chính sách này đă bị chống đối bởi phe bảo
thủ, nhưng cuối cùng phe cấp tiến đă thắng thế, thế nên công tŕnh t́m kiếm vườn
Lâm T́ Ni đă được sự ủng hộ nhiệt thành của cả chính phủ thuộc địa Anh tại Ấn,
chính quyền Bengal và chính phủ Nepal.
Hơn 100
năm sau ngày khám phá ra nơi Phật đản sanh, khuôn mặt vườn Lâm Tỳ Ni nay đă đổi
khác. Từ một nơi rừng rậm hoang vu, quê hương của rắn rết và muổi ṃng của bệnh
sốt rét rừng ác tính, vườn Lâm Tỳ Ni nay đă trở lại vị thế xứng đáng của một
thánh địa hàng đầu của Phật giáo, thu hút hàng triệu Phật tử khắp thế giới về
hành hương chiêm bái mỗi năm. Viếng thăm Lâm Tỳ Ni, tắm mát trong suối nguồn
Phật giáo, theo dấu những bước chân của đấng Từ phụ đă bước đi trên hai ngàn năm
trăm năm trước đây, người Phật tử không thể nào không nhớ đến công lao của những
người đă truy t́m và khôi phục lại giá trị văn hoá và tôn giáo của mảnh đất này.
Đồng thời
đây cũng là cơ hội để chúng ta chiêm nghiệm về lẽ vô thường của đời sống. Mấy
ngàn năm trước đây, mảnh đât này là nơi tranh chấp của biết bao nhiêu vương quốc,
bộ tôc. Sự say mê quyên lực, tham vọng đất đai đă làm nổ ra bao nhiêu cuộc chiến
tranh. Con đă giết cha, anh em đă giết lẫn nhau để giành lấy vương quyền. Cuối
cùng, những vương quốc này rồi cũng bị xóa tên, những kinh thành lâu, đài tráng
lệ cũng chỉ c̣n lại những đống gạch vụn hoang phế, những mảnh đầt mà con người
đă từng đổ máu ra để giành giật nhau cũng chỉ c̣n lại những cánh rừng hoang. Tất
cả đều bị xóa mờ đi trong lớp bụi thời gian. Đứng trước lẽ vô thường này, chỉ có
một nơi an trú duy nhất cho con người, đó là an trú trong Phật pháp.
Tâm Hà Lê
Công Đa
Tài Liệu Tham Khảo:
-
The Search for the Bud dha. The
men who discovered India’s lost religion. Charles Allen. First Caroll & Graft
Edition, 2003.
-
XuanZang, A Bud dhist Pilgrim on
the Silk Road. Sally Hovey Wriggins. West view Press, 1996.
|