Lập trường hai mặt của Trung Quốc về Luật biển quốc tế

(TuanVietNam) - Trung Quốc đă gửi công văn phản đối cả hai bản đăng kư thềm lục địa mà Việt Nam và Nhật Bản đệ tŕnh lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc UNCLOS. Hai công hàm phản đối này thể hiện lập trường hai mặt của Trung Quốc với việc áp dụng Công ước Luật biển quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS).

 

Lập luận của Trung Quốc với Nhật Bản về băi đá Okinotori

Okinotori (tên viết bằng chữ Kanji: 沖ノ鳥島. Âm Hán Việt: Xung Điểu đảo) là một băi đá san hô nổi của Nhật Bản, nằm ở vị trí 20,25 độ vĩ bắc, 136, 05 độ độ kinh đông, cách Tokyo 1740 km về phía đông nam. Nhật Bản đă đệ tŕnh bản đăng kư thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) cho Okinotori vào ngày 12/11/2008. [1] Trung Quốc đă gửi công hàm phản đối vào ngày 6/2/2009. [2].

Và mới đây, ngày 25/8/2009, sau khi Nhật Bản báo cáo về thềm lục địa tại CLCS, Trung Quốc phản đối một lần nữa [3]. Trung Quốc lập luận rằng Okinotori chỉ là một băi đá, tự nó không thể duy tŕ sự cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng nên chiếu theo điều 123(3) của UNCLOS, băi đá này không được hưởng EEZ và thềm lục địa.

Trong công hàm nói trên, Trung Quốc đă căn cứ vào các điều khoản của UNCLOS để phản đối yêu sách của Nhật Bản. Họ sử dụng các khái niệm của UNCLOS như “vùng đặc quyền kinh tế”, “thềm lục địa”…, phân biệt rơ hai khái niệm “đảo” và “đá”, hơn nữa c̣n lưu ư CLCS rằng, Okinotori chỉ là “đá”, và Ủy Ban chỉ có quyền hạn và trách nhiệm xem xét về “đảo” nên Okinotori nằm ngoài quyền hạn của Ủy ban.

Thế nhưng, đúng 3 tháng sau, ngày 7/5/2009, khi Việt Nam đệ tŕnh bản đăng kư (chung với Malaysia) lên Ủy ban, Trung Quốc lại phản đối bản đăng kư đó bằng một quan điểm vi phạm nghiêm trọng UNCLOS.

 

 

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Vùng màu hồng giữa bản đồ là vùng
báo cáo Nam mà Việt Nam và Malaysia báo cáo chung.

Lập luận của Trung Quốc đối với Việt Nam và Malaysia về biển Đông

Trong bản đăng kư chung với Malaysia nộp ngày 7/5/2009, “Việt Nam cho rằng ḿnh được quyền thiết lập một thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lư tính từ đường cơ sở”, theo đúng qui định của UNCLOS [4].

Trung Quốc gửi công hàm lên CLCS phản đối đăng kư của Việt Nam ngay trong ngày. [5] Trong công hàm ấy, lần đầu tiên Trung Quốc công bố tại Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ vẽ đường “lưỡi ḅ” liếm gần 80% biển Đông.

UNCLOS quy định rằng mỗi quốc gia giáp biển đều có lănh hải 12 hải lư, có EEZ rộng 200 hải lư tính từ đường cơ sở, và nếu thềm lục địa của nước ven biển có thể kéo dài quá 200 hải lư th́ nước ấy có thể có “thềm lục địa mở rộng”. Nếu như những vùng trên của các nước chồng lấn với nhau th́ sẽ được phân chia theo nguyên tắc công bằng. Vậy, chiếu theo UNCLOS, Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines và Trung Quốc đều là những quốc gia tiếp giáp biển Đông nên mỗi nước đều có phần của ḿnh trên vùng biển này.

Thế nhưng, Trung Quốc đ̣i hỏi khoảng 80% biển Đông, để lại các nước c̣n lại bao quanh biển Đông là Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines một phần rất ít ven bờ biển. [6]

Rơ ràng, khi nêu quan điểm về EEZ và thềm lục địa của Nhật Bản, Trung Quốc căn cứ vào UNCLOS một cách nghiêm ngặt, nhưng khi đưa ra quan điểm về chủ quyền của các nước tiếp giáp Biển Đông, Trung Quốc lại vi phạm nghiêm trọng Công ước này.

Mặt khác, trong công hàm phản đối Nhật Bản, Trung Quốc cho rằng Okinotori không có đời sống kinh tế độc lập nên không thể có EEZ và thềm lục địa. Nhưng trong công hàm phản đối Việt Nam, họ lập luận: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh căi đối với những đảo trên Biển Đông và những vùng nước xung quanh, và được hưởng những quyền chủ quyền và tài phán bao trùm lên những vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan của chúng (hăy xem bản đồ đính kèm)”. [7]

Như vậy, họ đă gần như trực tiếp cho rằng các “đảo” trên Biển Đông có những “những vùng nước”, “tầng đất” và “đáy biển” (tức thềm lục địa) của riêng chúng. Và về quy mô th́ tất cả những thứ này hợp lại thành đường lưỡi ḅ mà họ yêu cầu hăy xem trong bản đồ đính kèm.

Nhưng, tất cả các “đảo” trên Biển Đông đều tương tự Okinotori: không nơi nào có đời sống kinh tế riêng, do đó, không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lư, lại càng không thể mở rộng đến 80% Biển Đông. Bất kể các đảo trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước nào, nước ấy cũng không được căn cứ vào đó để yêu sách đến 80% Biển Đông.

Tóm lại, cùng là những thực thể địa lư không có đời sống kinh tế độc lập, nhưng ở công hàm phản đối Nhật th́ họ cho là không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lư, nhưng ở công hàm phản đối Việt Nam th́ lại cho là có, thậm chí là có với một quy mô chưa từng thấy trong lịch sử. [8]

Phản ứng của Việt Nam và Nhật Bản

Ngày 8/5/2009, Việt Nam đă gửi công hàm tới CLCS, một mặt khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt căn cứ vào UNCLOS để bác bỏ phản đối của Trung Quốc. Trong phiên họp chính thức của CLCS ngày 27-28/8/2009 mới đây, Việt Nam đă tái khẳng định lập trường của ḿnh. Lập trường của Việt Nam là đúng, bởi lẽ cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS, và do vậy cả hai nước đều phải tuân thủ Công ước này. [9]

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: H́nh tam giác bên trong đường đỏ,
đường cam và đường chấm là vùng báo cáo Bắc của Việt Nam.

Tuy nhiên, có lẽ Việt Nam nên lưu ư đến lập luận mà Trung Quốc dùng để phản đối Nhật Bản, đối chiếu lập luận đó với lập luận mà họ đă dùng với Việt Nam, để cho thế giới thấy rơ sự mâu thuẫn trong lập trường của họ. Ngay tại Liên Hợp quốc, họ đ̣i hỏi phải áp dụng UNCLOS ở chỗ này, nhưng vứt bỏ UNCLOS ở chỗ khác.

Về phía Nhật Bản, chưa có thông tin chính thức họ trả lời phản đối của Trung Quốc như thế nào. Nhân đây, những hành động của họ đối với Okinotori có thể gợi ư cho Việt Nam những bài học tốt. Người dân Nhật gần như không quan tâm ǵ đến Okinotori cho đến năm 2004, khi tàu Trung Quốc tăng cường xuất hiện ở đây, và họ bất ngờ tuyên bố với Nhật rằng Okinotori không đủ điều kiện để yêu sách thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế. [10] Đá Okinotori nằm bên sườn phía đông Nhật Bản, án ngữ đường biển nối liền căn cứ hải quân Guam của Hoa Kỳ và Đài Loan.

Nếu khống chế được điểm yết hầu này, Trung Quốc có thể cắt đứt mối liên hệ trên biển giữa Guam và Đài Loan. Ngay khi cảm nhận được mối nguy, cả chính phủ lẫn người dân Nhật đều hành động một cách quyết liệt và đồng thuận. Về phía nhân dân, hoạt động của các tổ chức dân sự là hết sức ấn tượng, đặc biệt có thể kể đến tổ chức Nippon Zaidan. [11] Được tài trợ bởi các doanh nhân, Nippon Zaidan chi hàng triệu USD tổ chức nghiên cứu một cách quy mô và bài bản về Okinotori trên tất cả các lĩnh vực, và dĩ nhiên, không thể thiếu lĩnh vực công pháp quốc tế. [12]

* Người viết xin cảm ơn anh Lê Minh Phiếu đă biên tập bài viết này.

  • Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

[1] Đăng kư của Nhật

[2] Công hàm TQ phản đối Nhật

[3] “Trung Quốc phản đối đăng kư thềm lục địa của Nhật: Okinotori chỉ là đá”
(
沖ノ鳥島は岩」中国、日本の大陸棚申請に反対)

[4] Đăng kư của VN

[5] Công hàm TQ phản đối Việt Nam

[6] Để biện hộ cho quyền sở hữu này, trong công hàm phản đổi, Trung Quốc chỉ đơn giản là khẳng định rằng họ có “chủ quyền không thể tranh căi” , đă “quản lư” nó liên tục, và chủ quyền của họ được “quốc tế” “thừa nhận rộng răi”.

[7] Ở đây họ cố ư né trách UNCLOS đến từng từ ngữ một. Họ không nhắc đến thuật ngữ EEZ, và thay v́ dùng thuật ngữ “thềm lục địa” (continental shelf) của UNCLOS, họ dùng những từ đồng nghĩa “tầng đất”(subsoil) và “đáy biển” (seabed).

[8] Có một vấn đề đặt ra cho Việt Nam. Cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đều không có đời sống kinh tế độc lập. Vậy, nếu chiếu theo UNCLOS, cần nói về chúng như là “đảo” hay “đá”? Việc gọi chúng là “đảo” hay “đá” không ảnh hưởng đến chủ quyền của VN với chúng, nhưng có thể ảnh hưởng một phần đến việc tranh chấp lănh hải, EEZ và thềm lục địa bao quanh những đảo/đá đó.

[9] Việt Nam trả lời Trung Quốc

[10] Yukie Yoshikawa, Okinotorishima: Just the Tip of the Iceberg

[11] Các nghiên cứu của Nippon Zaidan về Okinotori

[12] Ví dụ, báo cáo của Kuribayashi Tadao, giáo sư Luật ở Đại học Toyoeiwa, trong khuôn khổ một nghiên cứu của Nippon Zaidan, cũng dựa vào UNCLOS để biện luận rằng Okinotori có thể có thềm lục địa và EEZ. Lư do là, không có một định nghĩa rơ ràng về “đá” trong UNCLOS. Cái ư niệm cho rằng “đá” là nơi con người không thể cư trú và không có đời sống kinh tế độc lập là những căn cứ mơ hồ, v́ trong thời đại ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta hoàn toàn có thể làm cho một nơi không thể cư trú thành có thể cư trú, một nơi không có đời sống kinh tế độc lập trở nên có một đời sống kinh tế riêng.

Tham khảo: 栗林忠男,「沖ノ鳥島」の国際法上の地 (Kuribayashi Tadao, Vị trí của Okinotori trong Luật pháp quốc tế)

Ngược lại, nhiều chuyên gia quốc tế đă so sánh Okinotori của Nhật với Rockall của Anh. Năm 1988, Jon Van Dyke, giáo sư Luật ở ĐH Hawaii, lần đầu tiên cho rằng Okinotori không đủ điều kiện để đ̣i hỏi 200 hải lư thềm lục địa. Xem: Martin Fackler, A Reef or a Rock? Question Puts Japan In a Hard Place; To Claim Disputed Waters, Charity Tries to Find Use For Okinotori Shima, Wall Street Journal, Feb 16, 2005. pg. A.1.

http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/8053/index.aspx

* * *

Biển Đông, sự quan tâm của Mỹ và lựa chọn của VN

 

(TuanVietNam) - Giải pháp cho các tuyên bố về lănh thổ, lănh hải và vùng thềm lục địa mở rộng chỉ có thể đạt được bởi một quyết định chính trị ở cấp cao nhất giữa Bắc Kinh và Hà Nội - Gs. Carl Thayer viết cho Tuần Việt Nam.

 

Tuần Việt Nam ghi lại ư kiến của một nhà Việt Nam học quen thuộc, GS Carl Thayer, Học viện Quốc pḥng Australia như một góc nh́n riêng cần tham chiếu.

 

Người giám hộ ghen tuông

Ngay từ khi Công ước luật Biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS) được thông qua năm 1982 và trở thành luật quốc tế th́ nó đă trở thành chủ đề của hợp tác và tranh căi. Quan niệm về vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lư đă trở thành nguyên nhân tạo ra những vùng chồng lấn trong các tuyên bố của các nước tại biển Đông.

Khi UNCLOS đi vào thực hiện, các quốc gia ven biển bắt đầu tăng cường khả năng thực hiện quyền kiểm soát với các vùng đặc quyền kinh tế bằng việc phát triển các tàu tuần tra trên biển và các máy bay do thám. Một số quốc gia ven biển cũng chiếm đóng các đảo đá và một số khu vực khác ở biển Đông.

"Mỹ có lợi ích to lớn trong việc duy tŕ ổn định, quyền tự do hàng hải và quyền hoạt động thương mại theo luật quốc tế ở các tuyến hàng hải ở Đông Á... Chúng tôi chống lại bất cứ hành động nào đe dọa các công ty của Mỹ". - Phó Trợ lư Ngoại trưởng Mỹ, ông Scot Marciel.

Chưa từng xảy ra trường hợp nào hai quốc gia có tuyên bố chủ quyền chồng lấn đưa tranh chấp ra ṭa án quốc tế để t́m giải pháp bởi điều này đồng nghĩa với việc sẽ phải chấp nhận một giải pháp có tất cả hoặc không có ǵ. Do đó, mỗi quốc gia trở thành một người giám hộ đầy ghen tuông với chủ quyền của quốc gia ḿnh.

Nó cũng dẫn tới các vụ va chạm và t́nh trạng căng thẳng về ngoại giao liên tục diễn ra khi một quốc gia phản ứng với cái được cho là sự xâm phạm chủ quyền quốc gia của một quốc gia khác.

Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc UNCLCS đă quyết định ngày 13/5/2009 là thời hạn cho các quốc gia ven biển gửi đăng kí tuyên bố về thềm lục địa mở rộng dựa trên các tiêu chuẩn kĩ thuật cụ thể. Việc đệ tŕnh lên UNCLCS không tác động tới tuyên bố về chủ quyền.

Hành động phản đối báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia cũng như báo cáo riêng rẽ của Việt Nam của Trung Quốc chỉ có thể ngăn giải pháp của UNCLCS cho vấn đề này. Nói cách khác, t́nh h́nh biển Đông vẫn tiếp tục giữ nguyên trạng.

Sẽ là không thực tế nếu Việt Nam trông đợi vào một bên thứ ba, ngay cả khi đó là một bên thứ ba độc lập như UNCLCS có thể xử lư vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông một cách rơ ràng. Giải pháp cho các tuyên bố về lănh thổ, lănh hải và vùng thềm lục địa mở rộng chỉ có thể đạt được bởi một quyết định chính trị ở cấp cao nhất giữa Bắc Kinh và Hà Nội (và các bên liên quan khác) để giải quyết vấn đề thông qua đối thoại.

Hành động đơn phương của Trung Quốc

Căng thẳng ở biển Đông có vẻ tăng lên kể từ năm 2007. T́nh trạng căng thẳng này chủ yếu thuộc trách nhiệm của Trung Quốc với các hành động đơn phương của nước này.

Cuối năm 2007, Trung Quốc đă điều động lực lượng hải quân mang tính khiêu khích ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: xây dựng cơ quan hành chính Tam Sa. Tiếp đó, Trung Quốc sử dụng áp lực chính trị đối với hăng dầu khí BP của Anh và Exxon Mobile của Mỹ nhằm buộc các công ty này chấm dứt hoạt động thăm ḍ khai thác với Việt Nam.

Năm 2009, các tàu hải quân Trung Quốc đă đối đầu với tàu hải quân Mỹ, UNSS Impeccable trong vùng biển ngoài khơi đảo Hải Nam. Chỉ thời gian ngắn sau đó, một tàu ngầm Trung Quốc đang quan sát hoạt động diễn tập hải quân đa phương ở vùng biển ngoài khơi Philippines đă va chạm với hệ thống thiết bị thăm ḍ hoạt động của tàu ngầm được gắn với tàu khu trục của Mỹ, tàu John S.McCain.

Ba góc nh́n về xung đột Mỹ - Trung

Đụng độ Mỹ - Trung và ư nghĩa với tranh chấp biển ĐNA

Ứng xử biển Đông: Nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc lợi ích

Đụng độ Mỹ - Trung và lựa chọn ứng xử cho ASEAN

Trung - Mỹ đụng độ trên biển Đông: Chỉ là khởi đầu

Trung Quốc tuyên bố USNS Impeccable của Mỹ đă hoạt động bất hợp pháp trên vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Trong khi đó, Mỹ xem vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển quốc tế.

Mối quan tâm của nước Mỹ

Hành động của Trung Quốc đă dẫn tới việc chính quyền Obama đưa ra những lời lẽ cảnh báo cẩn trọng tới Trung Quốc rằng Mỹ sẽ không để bị đe dọa.

Tháng 5/2009, Phó Trợ lư Ngoại trưởng Mỹ, ông Scot Marciel đă tuyên bố thẳng thừng rằng Mỹ “có lợi ích to lớn trong việc duy tŕ ổn định, quyền tự do hàng hải và quyền hoạt động thương mại theo luật quốc tế ở các tuyến hàng hải ở Đông Á”.

Mỹ đă ngay lập tức phủ nhận các tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến vùng lănh hải và vùng biển nào không dựa trên cơ sở vùng đất có chủ quyền trên đất liền. “Những tuyên bố liên quan đến vùng biển như vậy không phù hợp với luật quốc tế”, ông Marciel nói.

Và quan trọng hơn, ông Marciel tuyên bố “chúng tôi - Mỹ chống lại bất cứ hành động nào đe dọa các công ty của Mỹ".

Một thông điệp mạnh hơn được Trợ lư Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ, ông Robert Scher gửi tới Trung Quốc.

Trong tháng 5, ông này đưa ra chiến lược 4 điểm. Một là, Mỹ sẽ thể hiện “bằng ngôn ngữ và hành động” rằng Mỹ có ư định duy tŕ “lực lượng quân sự vượt trội ở khu vực”.

Hai là,
hải quân Mỹ sẽ lưu ư khẳng định quyền tự do hàng hải bằng các hành động “cố ư và được cân nhắc kĩ” bằng việc tiếp tục hoạt động của Mỹ ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Ba là, Mỹ sẽ xây dựng “mối quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với các đối tác ở khu vực, đặc biệt ở lĩnh vực an ninh hàng hải”.

Bốn là, Mỹ sẽ tăng cường cơ chế ngoại giao quân sự mà nước này đă tạo dựng với Trung Quốc để tăng cường liên lạc và giảm nhẹ những rủi ro của việc tính toán sai.

Chính quyền Obama đă nâng quan hệ Mỹ - Trung lên một mức độ mới bằng việc làm chủ nhà của cuộc đối thoại kinh tế và chiến lược ở Washington vào tháng 7/2009 ở cấp bộ trưởng đa phương. Tổng thống Obama cũng sẽ thăm Bắc Kinh vào cuối năm nay để dự Hội nghị thượng đỉnh APEC. Cuối cùng, Tổng tư lệnh Hạm đội Thái B́nh Dương của Mỹ và Tổng tư lệnh lực lượng quốc pḥng Australia đă đồng ư mời Trung Quốc tham gia vào diễn tập quân sự ba bên. Các cuộc diễn tập này có thể có sự tham gia của một lực lượng nhỏ đơn vị trên bộ và trên biển.

Những cuộc gặp cấp cao này sẽ tạo nền tảng cho chủ nghĩa lạc quan cẩn trọng rằng Mỹ và Trung Quốc có thể xử lư được một cách hoà b́nh sự khác biệt trong vấn đề biển ở biển Đông.

Việc Mỹ phản đối cơ sở luật pháp của các tuyên bố về biển của Trung Quốc là một tin vui cho Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với tham vọng của Trugn Quốc trong việc đe doạ các công ty Mỹ hợp tác với Việt Nam sẽ gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ từ Washington.

 

Lựa chọn nào cho Việt Nam?

Việt Nam phải tiếp tục hành xử ở cả ba cấp độ: song phương, khu vực và trong nước. Việt Nam và Trung Quốc đă có một cơ chế ngoại giao được xây dựng từ lâu, như Uỷ ban hỗn hợp ở cấp Bộ trưởng, và các cuộc trao đổi lănh đạo cấp cao. Các quan chức Việt Nam phải thống nhất được một tầm nh́n dài hạn và kiên nhẫn hành động để giữ cho t́nh trạng căng thẳng và va chạm hiện nay không xấu hơn.

Nhưng quan trọng hơn, Việt Nam cần xác định rơ mục tiêu dài hạn của ḿnh là ǵ.

Ở cấp độ khu vực, Việt Nam cần tiếp tục gia cường hợp tác và cộng tác với các quốc gia ven biển khác như Malaysia, Philippines, Brunei và Indonesia. Và Việt Nam cần phải đảm bảo sự đoàn kết trong ASEAN. Ngoại giao khu vực cần phải nhằm vào tạo áp lực bổ sung với Trung Quốc để thực hiện kiềm chế nước này. Hơn nữa, ngoại giao khu vực cũng cần nhằm đưa ra tuyên bố của các bên ở biển Đông về quy tắc ứng xử. Đó là mục tiêu dài hạn.

Chính sách mới của chính quyền Obama mang lại cơ hội cho Việt Nam để từng bước mở rộng quan hệ an ninh và quốc pḥng với Mỹ. Hướng gió đă được h́nh thành. Các quan chức quân sự Việt Nam vừa qua đă thăm tàu khu trục của Mỹ và không quân hai nước đă có ṿng đối thoại đầu tiên. Việt Nam cần xem xét đứng ra tổ chức các hoạt động diễn tập quân sự ở cấp thấp với Mỹ và các cường quốc khác.

Ở trong nước, Việt Nam cần đảm bảo sự đoàn kết trong nước bằng việc tiếp tục thông tin cho công chúng chính sách của Chính phủ trong vấn đề biển Đông và quan hệ với Trung Quốc.

Đó không phải là việc thúc đẩy thái độ chống Trung Quốc mà là xây dựng cơ sở luật pháp và lịch sử cho hành động của Việt Nam.

Năm ngoái, đă có dấu hiệu cho thấy truyền thông trong nước tích cực hơn trong việc nêu vấn đề. Nh́n chung, công chúng vẫn có xu hướng nh́n các vấn đề thuộc chính sách đối ngoại một cách đơn giản và đ̣i hỏi chính quyền phải hành động. Chính phủ cần giải thích tại sao những hành động như vậy có thể phản tác dụng và đạt được sự ủng hộ của dư luận thông qua sự cởi mở và minh bạch hơn.

  • Gs. Carl Thayer (Học viện Quốc pḥng Australia)

* * *

Cuộc tranh biện về Biển Đông

 

(TuanVietNam) - Liên quan đến tranh căi Biển Đông, Trung Quốc đă không cùng với nước nào đệ nạp chung hồ sơ. Thay v́ vậy, họ đă phản đối cả hồ sơ của Việt Nam lẫn hồ sơ do Malaysia và Việt Nam phối hợp đệ tŕnh Ủy Ban về giới hạn của thêm lục địa trực thuộc Liên Hiệp Quốc (CLCS).

Bản tiếng Anh bài viết này của các tác giả đă đăng trên Opinion Asia

Cuộc tranh biện về Biển Đông hiện đang liên quan đến sáu nước: Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc.

Vào ngày 07 tháng 05 năm 2009, Malaysia và Việt Nam đă cùng đệ tŕnh một hồ sơ liên quan đến một phần diện tích biển tại phía Nam của Biển Đông. Ngày 08 tháng 05 năm 2009, Việt Nam đă nộp một bản đệ tŕnh của chính ḿnh về một khu vực gần trung tâm của Biển Đông.

Các tuyến hàng hải quan trọng đều đi qua biển Đông. Ảnh: uscc.gov

Trước đây Việt Nam đă mời Brunei cùng đệ tŕnh chung với Malaysia và Việt Nam một hồ sơ liên quan đến 1 vùng biển tại phía nam của Biển Đông, và Brunei đă chấp thuận. Tuy nhiên sau đó, Brunei đă không nộp hồ sơ. Nhưng Brunei cũng không phản đối hồ sơ do Malaysia và Việt Nam cùng nộp.

Mặc cho những khác biệt có thể có về Trường Sa, Malaysia, Việt Nam, Brunei và Philippines đă cùng bàn thảo, cùng làm việc và tạo cơ hội cho nhau tham gia, cũng như kiềm chế không đưa ra những tuyên bố cực đoan nào có khả năng động phạm đến quyền lợi của các quốc gia khác. Đây là một dấu hiệu đáng khích lệ cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông.

Ngược lại với cách hành xử này, Trung Quốc đă không cùng với nước nào đệ nạp chung hồ sơ. Thay v́ vậy, họ đă phản đối cả hồ sơ của Việt Nam lẫn hồ sơ do Malaysia và Việt Nam phối hợp gởi.

Theo như Luật Biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), tất cả mọi quốc gia ven biển đều có quyền có một khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng ra biển đến 200 hải lư tính từ đường cơ sở. Điều 76 của UNCLOS minh định các tiêu chuẩn trong đó một quốc gia ven biển cũng có quyền đối với vùng thềm lục địa kéo dài ra bên ngoài hai trăm hải lư. Các yêu cầu vượt ra ngoài các vùng này phải được đệ tŕnh cho Ủy Ban về giới hạn của thêm lục địa trực thuộc Liên Hiệp Quốc (CLCS) để được phê duyệt. Đối với hầu hết mọi quốc gia, thời hạn này là ngày 13 tháng 05 năm 2009.

CLCS sẽ khảo sát các bản đệ tŕnh của các quốc gia ven biển và sẽ đưa ra các khuyến nghị về các khoảng cách có hiệu lực của thềm lục địa bên ngoài 200 hải lư của vùng đặc quyền kinh tế. CLCS không có quyền hay quyền bảo trợ để giải quyết các tranh căi về tranh chấp lănh thổ, và CLCS cũng không thể đưa ra các đề xuất nào có thể làm thiên lệch việc giải quyết các tranh căi ấy trong tương lai. Tuy nhiên, nếu một quốc gia ven biển xác lập các giới hạn vùng thềm lục địa ngoại vi trên cơ sở những khuyến nghị của CLCS, th́ các giới hạn ấy sẽ là cuối cùng và có giá trị ràng buộc về mặt pháp lư.

Tuyên bố chủ quyền của các bên liên quan

trong tranh chấp biển Đông.

Dù CLCS đóng vai tṛ trung lập đối với các tranh chấp về lănh thổ, việc đ̣i hỏi rằng những yêu sách về khu vực thềm lục địa kéo dài ngoại vi của các nước phải do CLCS phê chuẩn đă tạo nên một số các tác động liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp lănh thổ.

Một là, các điều khoản của CLCS có tác dụng khuyến khích các quốc gia có tranh căi với nhau rằng họ phải nêu ra cụ thể các giới hạn mà họ yêu cầu. Việc hiểu biết một cách cụ thể các yêu sách của các nước khác như thế nào là điều kiện tiên quyết để giải quyết các dị biệt đó.

Hai là, các điều khoản này có tác dụng khuyến khích các nước có tranh căi với nhau nên cùng làm việc để có thể xác định khu vực thềm lục địa kéo dài ngoại vi kết hợp của (các) đất nước họ với nhau. Việc phối hợp này sẽ gieo những hạt mầm cho sự hợp tác giải quyết tranh chấp trong tương lai.

Ba là, tiêu chuẩn của UNCLOS cho vùng thềm lục địa ngoại vi vốn dĩ trung lập và có tính khoa học, sẽ đặt các quốc gia có đ̣i hỏi quá đáng vào trong một vị thế bất lợi. Trừ phi những quốc gia ấy sửa đổi những đ̣i hỏi vô lư của họ để thỏa các tiêu chuẩn của UNCLOS, sẽ không có nhiều khả năng CLCS chấp thuận các yêu sách của họ.

Bốn là, tŕnh tự đệ nạp hồ sơ cho CLCS sẽ không tạo điều kiện cho các quốc gia mạnh hơn lấn lướt các quốc gia nhỏ. Do vậy những tŕnh tự này xiển dương nguyên tắc công bằng và công lư cho mọi quốc gia.

Không có một văn bản nào trong hai văn bản phản đối của Trung Quốc-một phản đối đệ nạp của Việt Nam, hai phản đối đệ nạp phối hợp của Malaysia và Việt Nam- có sử dụng đến những tiêu chí khoa học của UNCLOS về các giới hạn ngoại vi của thềm lục địa. Thay v́ vậy, các phản đối của Trung Quốc bao gồm và đề cập đến một bản đồ h́nh chữ U của Trung Quốc, bao trùm vào khoảng 80% Biển Đông.

Cũng nên lưu ư rằng Trung Quốc không đệ tŕnh bất kỳ hồ sơ nào cho CLCS liên quan đến Biển Đông. Lư do là quá rơ ràng: đường chữ U của Trung Quốc hoàn toàn không thể dùng các chuẩn của UNCLOS để biện minh cho vùng thềm lục địa ngoại vi của nó.

Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa đường chữ U ra một cơ quan của Liên Hiệp Quốc trong bối cảnh xác lập giới hạn về biển. Việc này làm thay đổi một cách định tính trạng thái của đường chữ U, từ một yêu sách mơ hồ và mập mờ sang một h́nh thái yêu sách về vùng biển, ḷng biển và thềm lục địa trong ṿng đường vẽ đó. Đông Nam Á và các quốc gia hàng hải chủ yếu trên thế giới cần phải quan tâm đến sự khai triển này.

Tựu trung, các hoạt động của các nước khác nhau liên quan đến những bản đệ tŕnh cho CLCS đă thể hiện hai cách tiếp cận đối ngược trong tranh chấp ở Biển Đông. Cách hành xử của năm nước Đông Nam Á là gác lại các khác biệt về các đảo đang tranh chấp, sử dụng UNCLOS và cùng nhau làm việc hướng đến một sự phân chia lănh thổ biển. Cách tiếp cận của Trung Quốc bao gồm việc bác bỏ UNCLOS và tiến hành ngày càng gia tăng để chiếm lấy 80%Biển Đông. Bởi hai cách tiếp cận này có những khác biệt cơ bản, rơ ràng khả năng giải quyết các bất đồng ở Biển Đông một cách ḥa b́nh, hợp pháp và công bằng là rất mong manh trong tương lai gần.

  • Dương Danh Huy – Trần Vinh Dự - Lê Vĩnh Trương

* * *

Dấu hiệu hy vọng của Biển Đông yên b́nh?

 

(TuanVietNam) - Dấu hiệu Hoa Kỳ tăng cường quan hệ ngoại giao với Ấn Độ và giúp đỡ đất nước này xây dựng năng lượng hạt nhân. Và việc Ngoại trưởng Clinton đă kư Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với ASEAN mà ông Bush từng từ chối trước đây phải chăng đó là dấu hiệu của hy vọng cho một Biển Đông yên b́nh? - Ailien T. Tran. 

 

Xung quanh những tranh chấp về chủ quyền biển đảo ở khu vực Biển Đông, đă có rất nhiều những bài viết bày tỏ quan điểm, ư kiến của giới học giả  trong và ngoài nước. Để đảm bảo tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của độc giả  Ailien T. Tran hiện đang là nghiên cứu sinh của chương tŕnh Fulbright Fellow 2009 và trước đó là Đại Học UC Berkeley.

Để giải quyết tranh chấp biển, đảo phải có đồng minh chiến lược

Trong những bài hát “Không tên” đă đi vào ḷng người của Vũ Thành An, giới hâm mộ từng thấm thía câu: “Triệu người quen có mấy người thân, khi ĺa trần có mấy người đưa.” Câu hát này làm chúng ta suy ngẫm về quan hệ quốc tế của Việt Nam.

Từ khi mở cửa, Việt Nam khá thành công trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với bạn bè năm châu. Từ việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Nhật, rồi việc Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết đi Mỹ đă chứng tỏ một sự quyết tâm theo đuổi chủ trương mở cửa và làm việc với thế giới. Nhưng liệu Việt Nam có thể khẳng định một mối quan hệ “đồng minh chiến lược” với một cường quốc nào chăng?

Những hành động trong quá khứ gần và xa của Trung Quốc đều để lại những câu hỏi đầy thách đố trong quan hệ Việt – Trung. Từ trận hải chiến Hoàng Sa 1974, tới sự lấn chiếm biên giới 1979, và cuộc tấn công Trường Sa 1988, Trung Quốc đều tỏ ra không e ngại công luận thế giới, v́ nói đúng hơn là công luận thế giới không có sự bênh vực mạnh mẽ nào dành cho Việt Nam vào lúc đó.

Thành viên một tàu đánh cá Trung Quốc đang sử dụng lưỡi câu sắt nhằm làm thủng một lưới định vị âm thanh của tàu USNS Impeccable hôm 8/3/2009.
Ảnh: AFP


Gần đây, Trung Quốc phản đối hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam và Malaysia, rồi ngang nhiên đưa bảng đồ “lưỡi ḅ” mà không hề hổ thẹn về tính thiếu cơ sở lịch sử và pháp lư của bản đồ này. Như TS. Dương Danh Huy, “đây là sự leo thang về ngoại giao”. Nhưng rơ ràng đây cũng không phải là bước đi mới của Trung Quốc. Việc Trung Quốc phản đối hồ sơ của Việt Nam và Malaysia là chuyện không ai mà không đoán ra được, nhưng phản đối ra sao mới là vấn đề cần được thảo luận.

Tôi cho rằng việc Trung Quốc đưa ra bản đồ “lưỡi ḅ” đính kèm với thư phản đối đến Liên Hiệp Quốc chứng tỏ sự yếu kém về ngoại giao và khả năng phản ứng với thay đổi t́nh thế trong quan hệ quốc tế. Bản đồ này đă được Trung Quốc đưa ra một cách thiếu khẳng định trước đây, nay Trung Quốclại dùng bản đồ này dù rằng nó không có cơ sở và không có tính thuyết phục. Rơ ràng Trung Quốc không phản ứng “kịp” với sự thay đổi t́nh thế nên đă không có một phản ứng tế nhị hay quyền biến.

Ngược lại, việc Việt Nam nộp hồ sơ chung với Malaysia là một hành động khôn khéo và nó làm thay đổi “phương hướng của cuộc tranh chấp”, v́ Trung Quốc đă nhiều lần chỉ muốn đàm phán song phương và luôn luôn tránh các đề nghị đàm phán đa phương trong khu vực. Việc nộp chung hồ sơ là một cố gắng quốc tế hóa và đa phương hóa vấn đề, và điều này có thể đă làm Trung Quốc bị bất ngờ.

Điểm yếu của Trung Quốc

Như tác giả Lạc An nói trong bài “Khoảng cách giữa Trung Quốc và thế giới”, mặc dù Trung Quốc đang vươn lên với thế mạnh về kinh tế và quân sự, “quyền lực mềm” về ngoại giao vẫn c̣n là điểm yếu của Trung Quốc.

V́ vậy, dù tôi hoàn toàn đồng ư với Dương Danh Huy là Trung Quốc đang “leo thang về ngoại giao”, nhưng tôi cho rằng Trung Quốc chưa chứng tỏ được một sức mạnh ngoại giao hiệu quả và khôn khéo. Kế hoạch ngoại giao của Trung Quốc thiếu sức thuyết phục, không những mâu thuẩn giữa hành động và lời nói mà c̣n thiếu căn bản pháp lư và bằng chứng lịch sử.

Vậy nếu quyền lực mềm là điểm yếu của Trung Quốc, th́ liệu Việt Nam có đủ mạnh để lợi dụng điều này chăng? E là khó khẳng định v́ “vấn đề là ai sẽ ủng hộ Việt Nam?” theo như Giáo sư Vladimir Kolotov, một chuyên gia người Nga chuyên nghiên cứu về Việt Nam.

Ngư dân Việt Nam vẫn c̣n lo ngại khi cho tàu ra khơi, nhất là

đi vào những vùng biển chồng lấn. Ảnh: VNN


Gần đây, những hành động có tính phối hợp về mặt ngoại giao và truyền thông cho thấy Việt Nam có nỗ lực trong lănh vực “quyền lực mềm”. Ngoài việc thành lập huyện đảo Hoàng Sa và bổ nhiệm viên chức hành chánh, trung ương c̣n “bật đèn xanh” cho truyền thông trong nước được đăng tải tin tức hay tổ chức hội thảo về vấn đề Biển Đông.

Cùng lúc, cũng có tin cho hay Việt Nam đă tăng cường khả năng quốc pḥng trên biển, cũng như tăng cường quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, Ấn Độ, và Thái Lan về chính trị và quân sự, dù chưa phải ở cấp tối cao. Điều đáng ngại là những cố gắng ngoại giao của Việt Nam có nhanh đủ để bắt kịp với tiến độ leo thang về cả quân sự và ngoại giao của Trung Quốc hay không?

Phải luôn tỉnh táo


Trung Quốc thường hay lợi dụng t́nh thế và bất ngờ tấn công và đó là điều đáng ngại cho Việt Nam trước cuộc khủng hoảng Bắc Hàn và suy thoái kinh tế toàn cầu. Ngày 19/1/1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Ngày 14/3/1988, Trung Quốc bất ngờ dùng vũ lực tấn công đảo Gạc Ma thuộc huyện Trường Sa của Việt Nam.


Trong sự kiện 1974, Trung Quốc lợi dụng t́nh thế Hoa Kỳ rút quân khỏi sự sa lầy ở Việt Nam và không c̣n tâm trí để ủng hộ cho chính quyền Sài G̣n. Tương tự, Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc khi Việt Nam vướng bận chiến trường Campuchia. Và sự kiện 1988 cũng là một sự bất ngờ khi cả thế giới đang theo dơi sự xụp đổ của khối Đông Âu.


Xét lại những sự kiện này, chúng ta không khỏi lo ngại cho tương lai của Việt Nam trong bối cảnh cả thế giới đang bận rộn tập trung vào cuộc khủng hoảng hạt nhân Bắc Hàn. Trung Quốc có thể lợi dụng t́nh thế này để tăng cường áp lực ở Biển Đông và nhất là đối với Việt Nam.


Hành động Trung Quốc cấm đánh bắt cá trong ba tháng hè, lúc mà ngư dân Việt Nam kiếm được nhiều cá nhất trong năm. Tàu lạ tông bể thuyền của ngư dân Việt Nam cùng lúc trên một số website và blog Trung Quốc tuyên bố một cách rất tự hào là đă đuổi được thuyền đánh cá nước ngoài cũng như bắt giữ ngư dân Việt Nam. Tất cả những động thái này tạo ra nghi vấn là Trung Quốc đang lợi dụng “lỗ hổng” địa chính trị trong khu vực. Trước những thử thách này, nếu Việt Nam không lên tiếng mạnh mẽ và tranh thủ dư luận thế giới bằng nhiều cách và phương hướng, thật khó mà lường trước được số phận của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốctrong những bước kế tiếp.


Để làm điều này, Việt Nam cần nắm lấy cơ hội ngoại giao trong tay khi làm Chủ Tịch Luân Phiên của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào tháng 10 năm nay 2009, cũng như cơ hội làm Chủ Tịch Luân Phiên của Liên Hiệp Các Nước Đông Nam Á (ASEAN) vào năm tới 2010.


Với tư cách là Chủ tịch luân phiên, Việt Nam có thể đưa vấn đề Biển Đông vào các cuộc hội đàm v́ đây là vấn đề ảnh hưởng đến toàn thế giới và khu vực, chứ không phải chỉ ảnh hưởng các nước tranh chấp như vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là cơ hội hiếm có cho Việt Nam v́ nó xảy ra ngay sau khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Hillary Clinton, vừa tuyên bố tại Thái Lan về “sự trở lại Châu Á” của Hoa Kỳ trong chuyến công du vừa qua. Châu Á luôn luôn là khu vực có tính chiến lược trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ.


Theo chuyên gia nghiên cứu về An Ninh Quốc Pḥng của Hoa Kỳ, Giáo Sư Michael Nacht tại Đại Học UC Berkeley, Hoa Kỳ đă bắt đầu quan ngại về sự gia tăng ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc đối với sự ổn định của Á Châu từ cuối thập niên 1990, nhưng sự kiện khủng bố ngày 9 tháng 11 năm 2001 đă làm thay đổi chiều hướng tập trung sang Trung Đông. Song, thay đổi này chỉ có ư nghĩa phản ứng tạm thời và những chuyên gia hàng đầu về an ninh quốc pḥng vẫn khuyến cáo về sự bất ổn tiềm ẩn ở Á Châu mà Hoa Kỳ cần quan tâm.


Từ ngày có sự thay đổi nhân sự trong Nhà Trắng, giới quan sát cũng thấy được sự thay đổi về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ, đó là sự trở lại của mối quan tâm về an ninh Châu Á với sự giảm bớt quân đội ở Iraq và tăng cường lực lượng ở Afghanistan. Những sự lên tiếng về cuộc đụng độ của hải quân Trung Quốc với tàu thăm ḍ của Hoa Kỳ trong năm nay không phải ngẫu nhiên v́ trước đây nó đă từng xảy ra, nhưng tại sao đến bây giờ Hoa Kỳ mới lên tiếng.


Thêm vào đó là dấu hiệu Hoa Kỳ tăng cường quan hệ ngoại giao với Ấn Độ và giúp đỡ đất nước này xây dựng năng lượng hạt nhân. Ngày 23 tháng 7 năm 2009, Ngoại trưởng Clinton đă kư Hiệp Ước Hữu Nghị và hợp tác với ASEAN mà ông Bush đă từng từ chối trước đây. Phải chăng đây là dấu hiệu của hy vọng cho một Biển Đông yên b́nh?

  • Ailien T. Tran (Fulbright Fellow 2009, Đại Học UC Berkeley)

* * *

 

Biển Đông trên bàn nghị sự

 

(TuanVietNam) - Không ngẫu nhiên vấn đề biển Đông luôn hun nóng các diễn đàn khu vực và quốc tế suốt thời gian qua. Và cũng không ngẫu nhiên báo chí các nước liên quan tới khu vực biển Đông cũng như báo chí Hoa Kỳ đă dành nhiều trang để viết về vùng biển địa chiến lược này...

 

Rốt ráo

Năm 2009 ghi nhận những động thái liên tiếp, khẩn trương của các nước trong khu vực, nhất là ở những vùng biển có tranh chấp trong khu vực biển Đông.

Biển Nha Trang. Ảnh: dongtrieu.edu.vn

Chỉ riêng tháng 3/2009, đă có hàng loạt những động thái của các nước liên quan. Mở đầu là tuyên bố về chủ quyền của Malaysia ở khu vực thuộc quần đảo Trường Sa, và được nối tiếp bởi cuộc đụng độ trên biển giữa tàu USNS Impeccable của Mỹ với các tàu của Trung Quốc. Ngay trong tuần đó, Tổng thống Philippine Gloria Macapagal-Arroyo kí thông qua luật mới trong đó tuyên bố một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa thuộc nước này.

Bước sang tháng 4, biển Đông vẫn tiếp tục là điểm nóng với màn tŕnh diễn sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển nhân dịp 60 năm ngày Hải quân Trung Quốc, mà lần đầu tiên, nước này đă mời các lănh đạo hải quân cấp cao của các cường quốc hải quân khác cùng có mặt.

Đến tháng 5, không những không dịu bớt, vấn đề biển Đông lại thu hút sự quan tâm với việc các nước trong khu vực cùng đăng kí ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng tại Liên Hiệp Quốc, cả đơn phương và song phương. Nhất là khi Trung Quốc đưa ra tuyên bố rằng phần đăng kư của Việt Nam cũng như Việt Nam và Malaysia là “bất hợp pháp và không có hiệu lực”, và đính kèm bản đồ h́nh lưỡi ḅ đầy tham vọng, bành trướng 80% diện tích biển Đông.

Trước đó, ngày 6/5, Trung Quốc thành lập Cục Chuyên trách Lănh hải trực thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Không dừng lại ở đó, Trung Quốc thông báo lệnh cấm đánh bắt cá tại một số vùng biển trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông có hiệu lực từ ngày 16/5 đến ngày 1/8/2009.

Đồng thời, trong những tháng qua, Trung Quốc liên tiếp điều thêm tàu tuần tra trên biển Đông. Trong tháng 3, Trung Quốc đă phái chiếc tàu Ngư Chính 311 - tàu tuần tra ngư trường hiện đại nhất - tới Biển Đông sau vụ đối đầu trên biển với tàu Mỹ và sau khi Philippines ra một tuyên bố mới về khu vực tranh chấp.

Đến tháng 5, ba lần liên tiếp, Trung Quốc điều thêm các tàu tuần tra trên khu vực biển mà cả Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực đều tuyên bố có chủ quyền. (Ngày 16/5/2009, Trung Quốc điều thêm tàu Ngư Chính 44183. Ngày 19/5/2009, Trung Quốc điều thêm tàu Ngư Chính 44061. Cuối tháng 5/2009, Trung Quốc điều thêm 8 tàu nữa).

Lợi ích

Có thể nói, chưa bao giờ các nước lại ứng biến mau lẹ như vậy trên biển Đông, nhất là Trung Quốc.

Trên báo ChinaDaily của Trung Quốc, những câu hỏi về chiến lược hải quân, về sự thay đổi của biển và vai tṛ hải quân Trung Quốc, về chủ quyền trên biển của nước này xuất hiện dày đặc.

Lí giải cho mối quan tâm này, các chuyên gia về biển của Trung Quốc nhấn mạnh, biển Đông đóng vai tṛ thiết yếu trong an ninh của nước này, cả trên phương diện kinh tế và chiến lược.

Theo chuyên gia về các vấn đề hàng hải và luật quốc tế của Viện KHXH Trung Quốc, ông Wang Hanling, biển Đông chính là “cửa ngơ phía Nam” của Trung Quốc.

Biển Đông là khu vực có ư nghĩa về mặt tài nguyên, kinh tế, và là khu vực địa chiến lược quan trọng, với đường giao lưu hàng hải quốc tế, nơi 80% dầu thô xuất khẩu từ Trung Đông và châu Phi đi qua. Bản thân vùng biển này cũng giàu trữ lượng dầu khí và quan trọng trong nỗ lực của các quốc gia để đa dạng hóa đường thương mại để thúc đẩy kinh tế xuất khẩu.

Việc tăng cường hoạt động của Trung Quốc trên biển gắn liền với sự lớn mạnh của hải quân nước này và sự trỗi dậy của Trung Quốc về kinh tế cũng như đối ngoại. Việc Trung Quốc c̣n có những vùng chồng lấn về lănh thổ với các nước láng giềng là biểu hiện sức mạnh hạn chế của nước này, một học giả Trung Quốc c̣n viết.

Tuy nhiên, từ lâu biển Đông cũng gắn với lợi ích chiến lược của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ. Sự có mặt của các nước lớn ở khu vực biển này đă từ lâu, cả dân sự và quân sự, nhất là hoạt động của hạm đội Thái B́nh Dương của Mỹ.

Khi thế giới đang đặt dấu hỏi về Trung Hoa thời ḱ trỗi dậy, th́ những động thái trên biển của nước này càng được quan tâm, nhất là với Mỹ.

“Mỹ không thể đứng vị trí trung lập trong một cuộc tranh chấp mà một bên là đồng minh của Mỹ - Philippine và bên kia là đối thủ tranh giành ảnh hưởng khu vực - Trung Quốc”, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á của Quỹ Heritage, ông Walter Lohman nhận định.

Nói cách khác, biển Đông là nơi tập trung của sự đối chọi và quan tâm lẫn nhau về ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực.

Một khả năng khác, khi Mỹ và phương Tây đang phải bận rộn với Đông Bắc Á, với vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, th́ chính là cơ hội để Trung Quốc tranh thủ mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và biển Đông.

Trên bàn hội nghị

Không phải ngẫu nhiên vấn đề biển Đông lại làm nóng các diễn đàn khu vực và quốc tế thời gian qua, mà gần đây nhất là Hội nghị Bộ trưởng Quốc pḥng châu Á - TBD tại Shangrila, nơi người ta đă dành trọn 1 ngày để thảo luận vấn đề biển Đông.

Tại cuộc đối thoại Shangrila, 3 đại diện giới nghiên cứu đến từ Philippines, Đài Loan và Singapore đă nêu câu hỏi cho Bộ trưởng Quốc pḥng Việt Nam, Phùng Quang Thanh, phản ánh mối quan ngại về sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc và ư nghĩa với biển Đông. Điều tất cả các đại biểu quan tâm là duy tŕ ổn định và an ninh ở khu vực biển nhạy cảm này.


GS Carl Thayer, Học viện Quốc pḥng Australia nhận định, việc này phản ánh mối quan tâm khu vực đối với xu hướng căng thẳng chính trị tăng lên ở khu vực biển này trước sự đối đầu trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc và sự phản đối của Trung Quốc với tuyên bố về ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam và Malaysia.

“Khi an ninh của hoạt động dân sự ở khu vực bị đụng chạm, đó là vấn đề gây quan ngại. Nếu các nước không t́m cách giảm thiểu, hạn chế sự căng thẳng đó, th́ sẽ ảnh hưởng đến an ninh khu vực, từ đó ảnh hưởng tới an ninh toàn cầu”, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, ông Trần Công Trục nói.

Việc đặt vấn đề biển Đông lên bàn đàm phán của những lănh đạo cấp cao về an ninh của các nước trong khu vực là biểu hiện cụ thể của nỗ lực giải quyết xung đột và ngăn chặn các mầm mống xung đột tương lai.

Theo Giáo sư Carl Thayer, "vấn đề tập trung ở con đường giải quyết ḥa b́nh tranh chấp ở biển Đông. Đại diện Việt Nam, Bộ trưởng Quốc pḥng Phùng Quang Thanh đă xử lư vấn đề này một cách khôn khéo và chuyên nghiệp, nhấn mạnh mong muốn ḥa b́nh, hợp tác và phát triển ở khu vực... Nhờ đó, Bộ trưởng đă thúc đẩy ngoại giao quốc pḥng của Việt Nam".

Hội nghị là cơ hội để các bên liên quan đưa ra quan điểm, cơ sở lập luận để bảo vệ hoạt động của mỗi nước. Diễn đàn cũng là cách để một số nước can dự, tạo ảnh hưởng ở khu vực.

Những kênh đối thoại quốc tế như Hội nghị An ninh Châu Á - TBD không phải là điều mới. Với vấn đề biển Đông, hiện nay, đă tồn tại khá nhiều kênh đối thoại đa phương, cả kênh chính thức và kênh học giả: ASEAN, ASEAN+, ARF, APEC… hay Hội thảo Biển Đông hằng năm do Indonesia và Canada tổ chức, Chương tŕnh về bảo vệ môi trường ở Biển Đông của Liên Hợp Quốc.

Tuy nhiên, nhiều kênh không thường xuyên và hiệu quả thực tế chưa cao. Tận dụng những kênh đối thoại này như thế nào một cách hiệu quả và chủ động là vấn đề Việt Nam cần có sự tính toán và chuẩn bị cẩn trọng, cả bên trong và bên ngoài.

T́m tiếng nói chung trên diễn đàn là cần thiết, nhưng ngăn chặn những lực lượng lợi dụng t́nh h́nh để thực hiện ư đồ riêng của ḿnh cũng là khả năng Việt Nam cần tính tới. Một mặt, đó có thể là ư đồ quốc tế hóa vấn đề biển Đông, gây phức tạp t́nh h́nh, hoặc có thể là vận động, có tiếng nói lớn hơn trong giải quyết vấn đề, và cũng không ít trường hợp các nước lợi dụng ḥng đạt được sự công nhận thực tế de facto.

Nỗ lực

Trên b́nh diện quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục các nỗ lực ngoại giao đa dạng của ḿnh, cả song phương và đa phương. Ngoại giao song phương hướng tới các quốc gia chia sẻ lợi ích trước mắt ở biển Đông để t́m kiếm đối tác, và ngoại giao đa phương để có được sự ủng hộ quốc tế với Việt Nam trong vấn đề biển đảo.

GS Carl Thayer nêu cụ thể,  Việt Nam cần tiếp tục cùng Trung Quốc đảm bảo không có việc phá vỡ thế cân bằng hiện nay. Đặc biệt, Việt Nam cần thuyết phục Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động hợp tác và xây dựng ḷng tin ở biển Đông.

Việt Nam cần kết nối với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Nga và các cường quốc khác như Australia, Hàn Quốc để nhận được sự ủng hộ.

Việt Nam cũng phải đảm bảo một ASEAN thống nhất, và sẵn sàng ủng hộ Việt Nam, trong đàm phán với Trung Quốc và diễn đàn khu vực ASEAN. Đồng thời, Việt Nam cần tận dụng các cơ chế đa phương để nhận được sự ủng hộ tại Diễn đàn Đông Á cũng như các thành viên Đại hội đồng LHQ.

Trong nước, Việt Nam cũng cần đầu tư hiện đại hóa, nâng cấp lực lượng quân sự để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Hơn nữa, cần đảm bảo chính sách an ninh quốc gia được hiểu thống nhất ở tất cả các cấp cũng như trong dân chúng, đảm bảo sự đoàn kết trong cả nước.

Lịch sử hàng ngh́n năm dựng và giữ nước của Việt Nam đă chỉ rơ, khi nào chúng ta biết tập hợp sức dân, dựa vào dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, th́ khi ấy, chủ quyền của Việt Nam được giữ vững, thế của Việt Nam đi lên. Bài học xưa cũ ấy vẫn c̣n nguyên giá trị trong việc giữ ǵn và bảo vệ vùng biển đảo của Tổ quốc hôm nay.

  • Hoàng Phương

* * *

 

"Không thể bành trướng 80% diện tích Biển Đông"

 

Trung Quốc đă thực hiện tham vọng của ḿnh trong Biển Đông theo đường biên giới biển h́nh lưỡi ḅ là hoàn toàn thiếu căn cứ pháp lư, v́ vậy họ không thể sử dụng căn cứ vơ đoán, chủ quan này để bắt buộc mọi người phải tuân thủ, để tự do hành động bất chấp luật pháp quốc tế về biển mà họ đă tự nguyện tham gia kư kết, phê chuẩn.

 

Philippines bác lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc

Bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và lănh hải Tổ quốc

Khi hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương

Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc vừa tuyên bố rằng lệnh cấm đánh bắt hải sản trong Biển Đông là công việc hành chính diễn ra b́nh thường nhằm bảo vệ tài nguyên hải sản trong phạm vi biển của ḿnh. Dưới góc độ luật pháp về biển quốc tế và t́nh h́nh thực tế tại khu vực biển có liên quan, chúng ta hăy phân tích một cách khách quan xem liệu tuyên bố đó đúng hay sai? 

Ảnh: Lê Anh Dũng

Trước hết chúng ta hăy phân tích căn cứ mà Trung Quốc dùng để biện minh cho hành động của ḿnh. Trung Quốc khẳng định rằng họ có chủ quyền "không tranh căi" đối với Tây Sa, Nam Sa nên họ có quyền mở rộng lănh hải ra hầu hết Biển Đông.

Về luận điểm này, chúng tôi thấy có hai nội dung pháp lư khác nhau. Đó là vấn đề quyền thủ đắc lănh thổ đối với Hoàng Sa, Trường Sa ở giữa Biển Đông và phạm vi các vùng biển và thềm lục địa trong Biển Đông.

Về chủ quyền lănh thổ đối với Hoàng Sa Trường Sa: mọi người ai cũng biết đây là lănh thổ đang có tranh chấp về chủ quyền giữa Trung Quốc, Việt Nam (đối với Hoàng Sa); giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, (đối với Trường Sa); các bên tranh chấp đều đă đưa ra các quan điểm pháp lư để khẳng định quốc gia ḿnh hoàn toàn có chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Chủ quyền lănh thổ

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đi sâu phân tích các quan điểm pháp lư về quyền thủ đắc lănh thổ của các bên tranh chấp mà chủ yếu phân tích liệu hiệu lực của 2 quần đảo này trong việc xác định phạm vi các vùng biển của chúng như thế nào theo đúng quy định của Công ước luật biển 1982.

Theo quy định của Công ước luật biển 1982 th́ chỉ có "Quốc gia quần đảo” mới được phép áp dụng các quy định tại điều 4, 48, 50, phần IV, Công ước LB82 để vạch đường cơ sở đúng để tính chiều rộng các vùng biển và TLD của cả quần đảo cấu thành "quốc gia quần đảo". Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là quốc gia quần đảo mà là các quần đảo thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, v́ thế không được áp dụng các quy định đối với quốc gia quần đảo nói trên.

Tảng lờ luật pháp quốc tế

Hơn nữa các đảo trong hai quần đảo này có diện tích rất nhỏ, điều kiện môi sinh môi trường cực kỳ khắc nghiệt, không thích hợp cho đời sống con người, không có đời sống kinh tế riêng; v́ vậy chúng cũng chỉ có thể được phép có vùng lănh hải 12 hải lư bao quanh mỗi đảo nổi tính từ đường cơ sở của chúng. Rơ ràng không thể dựa vào sự tồn tại của 2 quần đảo này, mặc dù đây không phải là lănh thổ hợp pháp của ḿnh để mở rộng phạm vi lănh hải của quốc gia ven biển đến 80% diện tích Biển Đông.

Trung Quốc đă thực hiện tham vọng của ḿnh trong Biển Đông theo đường biên giới biển h́nh lưỡi ḅ là hoàn toàn thiếu căn cứ pháp lư, v́ vậy họ không thể sử dụng căn cứ vơ đoán, chủ quan này để bắt buộc mọi người phải tuân thủ, để tự do hành động bất chấp luật pháp quốc tế về biển mà họ đă tự nguyện tham gia kư kết, phê chuẩn.

Hơn nữa, c̣n có điều đáng nói ở đây nữa là theo chúng tôi được biết qua nguồn tin chính thức của Trung Quốc và Việt Nam th́ 2 bên đang đàm phán giải quyết các vấn đề trên biển, trong đó có vấn đề phân định ranh giới biển khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và đă thoả thuận là trong khi đang đàm phán các bên không đơn phương có hoạt động ǵ làm ảnh hưởng đến nhau.

Vậy liệu đơn phương tuyên bố ngăn cấm nói trên Trung Quốc có tỏ rơ thiện chí không? Chúng ta cần cảnh giác với chiến thuật "giành sự công nhận trên thực tế" tham vọng biến Biển Đông thành "ao nhà" của ḿnh! Đồng thời chúng ta mong rằng Trung Quốc sẽ có được những ứng xử thích hợp với tầm vóc của ḿnh trong thế giới văn minh này!

  • Trần Công Trục (nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ)

* * *

Dân tộc hoá cuộc đấu tranh giữ chủ quyền biển đảo

 

(TuanVietNam) - Cuộc đấu tranh về Hoàng Sa - Trường Sa chỉ có thể giải quyết trên cơ sở dân tộc hoá cuộc đấu tranh và quốc tế hoá vấn đề tranh chấp, nguyên trưởng ban biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng, ông Lưu Văn Lợi nói.

Hơn 30 năm trước, năm 1975, trong cuộc gặp với nhà lănh đạo Đặng Tiểu B́nh, Tổng bí thư Lê Duẩn nêu đề nghị đưa vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa ra bàn. Ông Đ;ặng Tiểu B́nh nói rồi đây hai bên sẽ bàn. Nhưng hơn 30 năm, vấn đề chủ quyền với hai quần đảo này vẫn chưa bao giờ được chính thức đưa ra bàn thảo. Việt Nam không nêu, Trung Quốc cũng lờ đi, ông Lợi cho hay.

Trước những động thái thực tế của một số nước động chạm đến quyền lợi quốc gia th́ nhất quyết phải có tiếng nói đúng thủ tục pháp lư. Nếu chúng ta không lên tiếng, tức là đă mặc nhiên thừa nhận quyền của nước khác. - Trần Công Trục.

Trong khi đó, mới đây, tháng 5/2009, trong công hàm gửi Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tuyên bố "Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh căi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) và các vùng nước kế cận, và cả quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và ḷng đất đáy biển ở đó". Và bản đồ h́nh lưỡi ḅ kèm theo của Trung Quốc nuốt tới 80% diện tích biển Đông.

Tuyên bố này nhắc người ta tới câu nói xưa của người Trung Quốc dưới chế độ phong kiến: “Dưới gầm trời này không có đất nào không là đất của vua”. Với tuyên bố mập mờ như vậy, phải chăng không vùng biển lân cận, liên quan nào không là của Trung Quốc?

Bản đồ tuyên bố đường lưỡi ḅ của Trung Quốc. Ảnh: BBC


Về mặt chiến lược, Trung Quốc luôn muốn kiểm soát biển Đông, độc chiếm các quần đảo ở biển này. Quốc hội Trung Quốc đă nêu, về mặt biển, lănh thổ của Trung Quốc bao gồm 4 quần đảo: Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa và đảo Điếu Ngư (đang tranh chấp với Nhật Bản).

Trong tuyên bố mới về đường lưỡi ḅ, "Trung Quốc đă mặc nhiên coi 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của ḿnh và xem biển Đông là ao nhà của ḿnh", TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ nói. Điều này đặt ra câu hỏi, Việt Nam phải ứng xử như thế nào để bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa?

Bảo vệ chủ quyền biển đảo không phải là chuyện riêng của lực lượng hải quân.


Tập hợp sức mạnh dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền

Theo ông Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng, “cuộc đấu tranh về Hoàng Sa - Trường Sa chỉ có thể giải quyết trên cơ sở dân tộc hoá cuộc đấu tranh và quốc tế hoá vấn đề tranh chấp”.

Dân tộc hoá cuộc đấu tranh nghĩa là cả dân tộc phải cùng tham gia đấu tranh thu hồi quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa đă bị Trung Quốc chiếm đóng.

Theo ông Lợi, hiện nay cuộc đấu tranh “vẫn c̣n hẹp quá, chưa có sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân”. Chúng ta cần ủng hộ và tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh này nhân rộng ra.

Quốc tế hoá là đưa vấn đề ra quốc tế, nhằm đạt được sự công nhận biển Đông là một biển tự do cho mọi nước. Nếu cần thiết, có thể đưa vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa ra toà án quốc tế.

Ông Lợi chỉ rơ, Việt Nam cần “dựa vào pháp luật quốc tế và lợi dụng sự quan tâm hợp lư của các nước lớn với biển Đông để lôi kéo họ ủng hộ Việt Nam”.

Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn đúng pháp luật quốc tế với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các chính quyền của Việt Nam từ trước tới nay luôn có những hoạt động thực hiện chủ quyền của ḿnh trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tư cách Nhà nước một cách liên tục và ḥa b́nh.

Trong khi đó, Trung Quốc đă nhiều lần sử dụng vũ lực để chiếm các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, đă được Việt Nam thực hiện chủ quyền thực tế trong nhiều năm, như chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, chiếm một số điểm trên Trường Sa năm 1988. 

Tận dụng dư luận quốc tế

Phải dám nói và dám giữ

"Tôi rất tâm đắc ư kiến của một học giả Việt Nam trong hội thảo về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vừa rồi: “muốn có quan hệ phải có b́nh đẳng, tôn trọng lẫn nhau”.
Để giữ chủ quyền, tự chúng ta phải dám nói và dám giữ. Hội thảo vừa rồi của Học viện Ngoại giao tổ chức về quan hệ Việt - Trung đă đi đến nghị quyết là phải có cơ chế họp, trao đổi ư kiến hằng năm, nhưng từ cơ chế đến hiệu quả thực tế là chặng đường dài.

Chừng nào Việt Nam đến dự với tâm thế phải dám nói ư kiến của ḿnh, thay v́ không nói ư kiến khác, th́ lúc đó, cơ chế mới phát huy tác dụng"

Lưu Văn Lợi

“V́ hoà b́nh và công lư, các nước sẽ ủng hộ Việt Nam để thực hiện chủ quyền và thu hổi hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa”, ông Lợi tin tưởng.

Trong quá khứ, Việt Nam đă tận dụng rất tốt dư luận quốc tế để đạt được sự ủng hộ với Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Ngày nay, Việt Nam cũng cần dựa vào sự ủng hộ quốc tế để thu hồi quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng.

Đơn cử, với các nước lớn ở khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đều quan tâm tới biển Đông, tới việc tự do đi lại trên biển, Việt Nam có thể tranh thủ sự ủng hộ để “cản tay” Trung Quốc.

Ở khu vực, Việt Nam hy vọng sự hợp tác của các nước ASEAN để bảo đảm quyền tự do đi lại trên biển Đông, nhất là hai nước Malaysia và Philippines có liên quan trực tiếp.

Vừa rồi, Bộ Ngoại giao Việt Nam đă cùng Malaysia kí vào báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lư gửi lên Liên Hiệp Quốc, cũng như hợp tác phản đối đường lưỡi ḅ của Trung Quốc. “Đây là bước đi tốt trong việc quốc tế hoá" vấn đề tranh chấp liên quan đến chủ quyền biển đảo ở khu vực biển Đông, ông Lợi nhận xét.

Theo GS. Carl Thayer, Học viện Quốc pḥng Australia, việc Trung Quốc phản đối đăng kư tuyên bố được hai nước Việt Nam và Malaysia cùng nhau đưa ra cũng như tuyên bố riêng rẽ của Việt Nam cũng nhằm ngăn một giải pháp quốc tế cho vấn đề này.

Tuy nhiên, “Việt Nam đưa vấn đề này ra quốc tế để giải quyết, chứ không phải để các nước nhảy vào Hoàng Sa và Trường Sa”, ông Lợi nhấn mạnh.

Nhấn mạnh việc tăng cường đấu tranh, thế nhưng, ông Lợi cũng lưu ư, đấu tranh ở đây theo nghĩa là đấu tranh về dư luận, đấu tranh hoà b́nh, không phải bằng con đường bạo động.

Đấu tranh nhưng vẫn phải giữ được t́nh hữu nghị và mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc… Hoàng Sa - Trường Sa là một điểm vướng trong quan hệ song phương. Việt Nam đấu tranh để thu hồi Hoàng Sa - Trường Sa chính là để giải quyết vấn đề đang ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, giúp cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc được trọn vẹn”, ông Lợi nói.

  • Hoàng Phương

* * *

 

VN chứng minh phạm vi thềm lục địa theo luật quốc tế

 

Việc Việt Nam nộp báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa nhằm chứng minh phạm vi thềm lục địa mà Việt Nam có thể mở rộng đến đâu, tất nhiên không quá 350 hải lư - ông Nguyễn Duy Chiến, Vụ trưởng Ban Nghiên cứu chính sách biển, Ủy ban Biên giới quốc gia (Bộ Ngoại giao) trao đổi với VietNamNet.

 

Xin ông cho biết thực chất của việc nộp 2 báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam lên Liên hợp quốc vừa qua?

Theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Việt Nam cũng như các quốc gia ven biển khác có thềm lục địa tối thiểu rộng 200 hải lư (tức khoảng 370km) tính từ đường cơ sở dùng để đo chiều rộng lănh hải của ḿnh.

Trong trường hợp thềm lục địa thực tế rộng hơn 200 hải lư th́ các quốc gia ven biển được quyền mở rộng thêm lục địa của ḿnh đến tối đa là 350 hải lư. Nhưng cụ thể phạm vi được mở rộng đến đâu, hay nói cách khác, ranh giới ngoài của thềm lục địa ngoài 200 hải lư là ở đâu, th́ phải căn cứ vào điều kiện địa chất, địa mạo của từng khu vực để xác định.

Việc xác định như vậy cũng không phải do quốc gia ven biển đơn phương ấn định mà phải nộp lên Ủy ban thềm lục địa của Liên hợp quốc Báo cáo quốc gia của ḿnh, kèm theo các bằng chứng khoa học về địa chất, địa mạo của khu vực cụ thể. Như vậy, việc Việt Nam nộp báo cáo quốc gia chính là để chứng minh phạm vi thềm lục địa mà Việt Nam có thể mở rộng là đến đâu, tất nhiên không quá 350 hải lư.

Tại sao cơ sở pháp lư của báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam là Công ước Luật Biển 1982 của Liên hợp quốc, thưa ông?

Cơ sở pháp lư để Việt Nam nộp báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa chính là các quy định của Công ước Luật Biển 1982 mà Việt Nam là một thành viên. Việc Việt Nam nộp các báo cáo chính là để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một quốc gia thành viên Công ước. Ngoài các quy định của Công ước Luật Biển 1982, các quy định của Ủy ban thềm lục địa cũng là cơ sở pháp lư hỗ trợ v́ các quy định này nêu rơ thời hạn mà Việt Nam phải nộp cũng như cách thức các báo cáo.

 Chẳng hạn, theo đúng các quy định liên quan, Việt Nam phải nộp các báo cáo quốc gia trước ngày 13/5/2009. Nếu quá thời hạn đó mà không nộp th́ Việt Nam mặc nhiên mất quyền mở rộng thềm lục địa của ḿnh ra quá phạm vi 200 hải lư, tính từ đường cơ sở để đo chiều rộng của lănh hải.

Ngày 6/5/2009, Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung của hai nước đối với khu vực phía Nam Biển Đông và sau đó, ngày 7/5, Việt Nam nộp tiếp một báo cáo riêng.

Việc Việt Nam nộp 2 báo cáo vừa rồi hoàn toàn căn cứ vào các điều kiện của Công ước và cũng hoàn toàn phù hợp với các quy định để khẳng định các quyền chính đáng mà một quốc gia ven biển thành viên của Công ước được hưởng.

Xin ông cho biết rơ hơn về bản báo cáo nộp chung với Malaysia? 

Theo quy định của Công ước Luật Biển 1982 cũng như của Ủy ban thềm lục địa của Liên hợp quốc, các quốc gia ven biển có thể nộp một báo cáo chung toàn diện cho toàn bộ thềm lục địa của ḿnh, nhưng cũng có thể nộp thành các báo cáo khác nhau (từng phần) cho từng khu vực v́ không phải quốc gia nào cũng đủ khả năng chuẩn bị và nộp báo cáo cho toàn bộ thềm lục địa của ḿnh đúng thời hạn. T́nh h́nh đến nay cho thấy có một số quốc gia nộp một báo cáo chung toàn diện, nhưng phần lớn các quốc gia nộp các báo cáo từng phần.

Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung cũng là căn cứ vào quy định của Công ước Luật Biển 1982. Theo đó, các quốc gia liên quan có thể thỏa thuận làm báo cáo chung nếu khu vực thềm lục địa nào đó thực sự liên quan đến họ. Cho đến nay, có 5- 6 báo cáo chung đă được nộp lên Ủy ban thềm lục địa như của Pháp và Nam Phi, của Fiji, quần đảo Solomon và Tonga...

Các công việc tiếp theo sau khi nộp báo cáo lên Ủy ban thềm lục địa của Liên hợp quốc sẽ là ǵ, thưa ông?

Theo thủ tục của Ủy ban thềm lục địa, sau khi nghe các quốc gia nộp báo cáo tŕnh bày, Ủy ban sẽ quyết định về việc lập tiểu ban gồm 7 ủy viên để xem xét báo cáo. Tiểu ban sẽ chuẩn bị khuyến nghị tŕnh Ủy ban xem xét quyết định.

Ủy ban có tất cả 21 ủy viên, do đó, trong cùng một thời điểm, chỉ có thể có 3 tiểu ban. Trước Việt Nam c̣n có 25 báo cáo khác chưa được xem xét. Do đó, hiện nay chưa rơ khi nào Ủy ban thềm lục địa sẽ quyết định lập tiểu ban để xem xét các báo cáo của Việt Nam.

 

Tŕnh bày Báo cáo quốc gia tại Liên hợp quốc, Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết mọi bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng ḥa b́nh trên cơ sở luật pháp quốc tế.

  •  Xuân Linh

* * *

 

Bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và lănh hải Tổ quốc

 

(TuanVietNam) - Việc Trung Quốc ngang nhiên làm điều họ cho là “thi hành quyền chủ quyền” trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cả chục năm qua là một sự xâm phạm nghiêm trọng đến nước ta...

 

LTS: Việc Trung Quốc ngang nhiên cấm ngư dân các nước đánh bắt cá ở Biển Đông đă gây phản ứng trong dư luận.

Theo yêu cầu của nhiều độc giả, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của hai tác giả Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu - Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Bài viết thể hiện quan điểm và kết quả nghiên cứu riêng của hai tác giả. (Tuần Việt Nam chưa thể kiểm chứng các sự kiện đưa ra trong bài).

Ngày 17/3, Trung Quốc gửi tàu Ngư chính 311 tới Biển Đông[1] để tuần tra nghề cá và sau đó c̣n tuyên bố rằng sẽ tăng cường lực lượng tuần tra bằng cách dùng chiến hạm cũ hay đóng tàu tuần dương mới. Việc tuần tra này được tiến hành cả trong một số vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngày 19/3, BP tuyên bố chính thức rút ra khỏi dự án với vốn đầu tư 2 tỷ USD có mục đích thăm ḍ dầu khí tại hai vùng Hải Thạch (trong lô 5.2) và Mộc Tinh (trong lô 5.3) trong bồn trũng Nam Côn Sơn[2]. Hai lô 5.2 và 5.3 nằm gần đảo Phú Quư, đảo gần bờ của Việt Nam, hơn là đảo Trường Sa (đảo gần đó nhất trong số các đảo trong quần đảo Trường Sa), và cách bờ biển đất liền Việt Nam dưới 200 hải lư. Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định rằng hai lô này nằm trong vùng thềm lục địa tối thiểu 200 hải lư, tức là vùng đặc quyền kinh tế, của Việt Nam[3].

BP đưa ra lư do thương mại cho việc rút ra khỏi dự án mặc dù đă đầu tư 200 triệu USD để thăm ḍ và đă đánh giá vùng Hải Thạch là có thể có nhiều khí đốt nhất trong bồn trũng Nam Côn Sơn. Trước đó, vào năm 2007, Trung Quốc đă đe dọa quyền lợi thương mại của BP tại nước này để áp lực BP rút ra khỏi dự án với Việt Nam.

Ngày 16/5/2009, Trung Quốc điều thêm tàu Ngư chính 44183 tới Biển Đông[4]. Ngày 19/5/2009, Trung Quốc điều thêm tàu Ngư chính 44061[5]. Cuối tháng 5/2009, Trung Quốc điều thêm 8 tàu nữa[6].

Như mọi năm khác kể từ năm 1999, Trung Quốc đơn phương tuyên bố cấm đánh cá tại Biển Đông từ vĩ độ 12 trở lên phía Bắc, với cớ bảo quản nguồn lợi thuỷ sản ở Biển Đông. Vùng cấm bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và vùng biển quốc tế giữa Biển Đông.

Nếu lư do cho hành động này thật sự là bảo quản nguồn lợi thuỷ sản ở Biển Đông th́ Trung Quốc đă phải phối hợp với Việt Nam, Philippines và các nước khác trong việc cấm đánh cá, v́ vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và của Philippines thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam và Philippines, và tất cả các nước trên thế giới có quyền đánh cá trong vùng biển quốc tế giữa Biển Đông.

Trung Quốc không có quyền như thế trong vùng biển quốc tế và càng không có quyền như thế trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác. Bằng việc hành động một cách đơn phương như thế, Trung Quốc đă cố ư vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam và Philippines đối với vùng đặc quyền kinh tế của hai nước này, và vi phạm quyền đánh cá mà UNCLOS ban cho tất cả các nước trên thế giới trong vùng biển quốc tế giữa Biển Đông.

Mục đích của Trung Quốc khi hành động đơn phương không phải là bảo quản nguồn lợi thuỷ sản mà là tỏ với thế giới rằng Trung Quốc làm cái mà nước này gọi là “thực thi chủ quyền một cách hoà b́nh” ở Biển Đông. Đây là những bước trong chiến lược “tằm ăn dâu” của Trung Quốc để biến 75% diện tích trên Biển Đông thành “cái ao nhà” của họ.

Trong tháng Năm, một số thuyền đánh cá Việt Nam bị tàu nước ngoài bắt, tịch thu cá, phá hoại, đuổi, và đâm ch́m.

Trong một trường hợp cụ thể, ngày 19/5, tàu cá của ông Nguyễn Thanh Thu (huyện B́nh Sơn, tỉnh Quảng Ngăi) số QNg 95048 TS bị một tàu nước ngoài tông ch́m trên biển Đông tại tọa độ 10°59’ vĩ độ Bắc, 111°34’ kinh độ Đông[8]. Tất cả 26 thuyền viên bị rơi xuống biển nhưng may mắn được một tàu cá Việt Nam khác cứu sống. 

Tàu cá QNg 95048TS bị tàu nước ngoài tông ch́m tại điểm có
kư hiệu "X", bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Trong một trường hợp cụ thể khác, ngày 19/5/2009 tàu cá QNg 94734 TS của ông Lệ (huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngăi) bị một tàu nước ngoài tấn công ngay trên ngư trường lấy đi hơn một nửa số cá vừa đánh bắt được[9]. Đă vậy, trước khi bỏ đi, các thuyền viên của tàu ngoài c̣n dùng lưỡi lê đâm thủng một chiếc thuyền thúng dùng làm thuyền cứu nạn trên tàu cá.

Ngày 24/5, China News Service của Trung Quốc xác nhận các tàu tuần tra của Trung Quốc đă khống chế thuyền viên tàu nước ngoài và đuổi tàu nước ngoài[11].

Trước t́nh h́nh này, hàng trăm tàu đánh cá miền Trung không dám ra biển ngay trong chính vụ cá của ngư dân[12].

Những sự kiện này đặt ra nhu cầu bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông.

Trong các vùng biển mà Việt Nam có chủ quyền hay quyền chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế, từ 12 hải lư ra tới tối đa là 200 hải lư, là vùng có diện tích rộng lớn nhất, có nhiều tiềm năng dầu khí nhất, và có nhiều quyền chủ quyền hơn vùng thềm lục địa mở rộng. V́ vậy, vùng đặc quyền kinh tế có tiềm năng đem lại nhiều quyền lợi kinh tế cho Việt Nam nhất.

Thế nhưng Việt Nam có một số hạn chế cần khắc phục trong việc bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh.

Khẳng định phạm vi vùng đặc quyền kinh tế

Cho tới khi nộp báo cáo về thềm lục địa cho Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa ngày 6/5/2009 và 7/5/2009, Việt Nam chưa công bố rộng răi ranh giới cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh ngoại trừ trong Vịnh Thái Lan và Vịnh Bắc Bộ.

Trên nguyên tắc, đó là một điều bất lợi cơ bản cho việc bảo vệ quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Đông. Với thực trạng Trung Quốc có chủ trương và hành động cụ thể để chiếm 75% Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sự chưa công bố này lại càng gây bất lợi nghiêm trọng. Việt Nam cần phải quảng bá càng rộng răi càng tốt phạm vi cụ thể của vùng đặc quyền kinh tế tính từ lănh thổ không bị tranh chấp của ḿnh, thay v́ chỉ tuyên bố nguyên tắc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lư.

Tất nhiên việc quảng bá rộng răi phạm vi cụ thể của vùng đặc quyền kinh tế tính từ lănh thổ không bị tranh chấp sẽ không làm cho Trung Quốc ngưng tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế đó. Tác dụng của việc này là làm cho thế giới thấy rơ vùng biển nào thuộc Việt Nam và như thế có hợp lư hay không. Như vậy, mỗi khi Bộ Ngoại giao Việt Nam cần phải phản đối việc Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thế giới sẽ dễ thấy quan điểm của nước nào hợp lư hơn.

Yêu sách của Trung Quốc đối với 75% diện tích Biển Đông là vô lư và Trung Quốc phải ngụy trang cho yêu sách đó bằng sự mù mờ. Việt Nam phải đối trọng điều đó bằng một ranh giới hợp lư và minh bạch.

Sau việc vạch ranh giới vùng đặc quyền kinh tế trong báo cáo về thềm lục địa, Việt Nam cần khuyến khích các nhà xuất bản trong nước vẽ ranh giới này trên bản đồ Việt Nam và quảng bá ranh giới này với thế giới và với các cơ quan của Liên Hiệp Quốc.

Ngoài ra, để tranh thủ sự đồng thuận của thế giới, Việt Nam cũng có thể vạch ranh giới vùng đặc quyền kinh tế dùng ngấn thủy triều thấp của bờ biển lục địa và các đảo không bị tranh chấp thay v́ dùng đường cơ sở 1982. Như vậy sẽ tăng khả năng đạt được sự đồng thuận trong khi không giảm đáng kể diện tích mà Việt Nam có thể đ̣i hỏi.

V́ các đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang trong t́nh trạng tranh chấp, v́ hiệu lực để tính vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này chưa được xác định và chưa được các nước trong khu vực công nhận, v́ vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sẽ nằm chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế từ lănh thổ không bị tranh chấp của các nước khác, Việt Nam có thể tuyên bố là sẽ công bố phạm vi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sau. Như vậy sẽ phù hợp với tinh thần của Tuyên bố 2002 của ASEAN và Trung Quốc về quy tắc ứng xử về Biển Đông.

Thực thi chủ quyền càng đầy đủ càng tốt trong vùng đặc quyền kinh tế

Việt Nam cần phải đầu tư thêm cho lực lượng tuần tra vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh.

Hiện naytrung b́nh một người trong lực lượng Thanh tra vảo vệ nguồn lợi thuỷ sản phải kiểm soát 1000 km² mặt biển và khoảng 25-30 km bờ biển. Cả nước mới chỉ có chưa đến 100 tàu thuyền làm nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra hoạt động nghề cá trên biển, trong đó chỉ có khoảng 25% là có khả năng hoạt động cách bờ từ 50-100 hải lư [trong khi vung đặc quyền kinh tế ra tới cách bờ 200 hải lư]...Kinh phí hoạt động kiểm tra, kiểm soát b́nh quân chỉ đủ cho Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tổ chức được từ ba tới năm chuyến biển/năm với thời lượng từ ba đến bảy ngày[13].

Trong t́nh trạng tính mạng, tài sản, kế mưu sinh của ngư dân Việt Nam bị đe doạ trong vùng đặc quyền kinh tế phù hợp với UNCLOS của Việt Nam, chúng ta không thể chấp nhận được việc thiếu một đội ngũ có khả năng tuần tra vùng đặc quyền kinh tế.

Tính mạng, tài sản và quyền hợp pháp của công dân Việt Nam cần được bảo vệ trong vùng đặc quyền kinh tế không khác ǵ trên đất liền.

Về lâu về dài, trong t́nh trạng Trung Quốc tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nếu Việt Nam thiếu sót trong việc thực thi chủ quyền của ḿnh, trong khi Trung Quốc làm những điều mà nước này gọi là thực thi chủ quyền, th́ điều đó ít nhất sẽ tổn hại cho việc tranh thủ dư luận, và không ngăn cản được chiến lược “tằm ăn dâu” của Trung Quốc trên Biển Đông.

Đội ngũ tuần tra vùng đặc quyền kinh tế sẽ đảm nhận nhiều vai tṛ :

  • Thể hiện sự hiện diện, thực thi chủ quyền và trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế;
  • Bảm đảm cho ngư dân Việt Nam không phải lẻ loi khi đối phó với những trường hợp có sự xâm phạm chủ quyền đất nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
  • Để cho Trung Quốc không tiến hành những điều mà họ cho là thực thi chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như ở chỗ không người, hay như đó là vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Việc ngư dân Việt Nam hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế không chỉ là quyền và cần thiết cho sự mưu sinh của họ, mà c̣n quan trọng trong việc khẳng định và thực thi chủ quyền của Việt Nam. V́ vậy ngư dân Việt Nam không chỉ cần được Nhà nước bảo vệ, mà c̣n phải được Nhà nước hỗ trợ, thí dụ như:

  • Nhà nước cần hỗ trợ hơn nữa đối với phương tiện để đánh cá xa bờ, để khuyến khích ngư dân đánh cá trong toàn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thay v́ đánh cá gần bờ hơn[14].
  • Nhà nước cần tài trợ bảo hiểm cho trường hợp ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt phạt hay phá hoại phương tiện đánh cá trong khi hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hay trong vùng biển quốc tế giữa Biển Đông.
  • Đi đôi với bảo hiểm trên, ngư dân cần phải chứng minh được là ḿnh hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hay trong vùng biển quốc tế giữa Biển Đông. Chứng minh này cũng có ích lợi khi các cơ quan có chức năng của Việt Nam cần phải đấu tranh với Trung Quốc.

Đấu tranh ngoại giao

Quan trọng nhất, song song với các biện pháp trên chính phủ cần có tiếng nói mạnh mẽ hơn nữa nhằm phản đối Trung Quốc. Ngoài việc phản đối mạnh mẽ với Trung Quốc, Chính phủ cần tiến hành các biện pháp để thế giới biết rơ sự bất hợp pháp này của Trung Quốc. Đây là việc đă diễn ra từ lâu, nhưng không phải v́ vậy mà chúng ta xem nhẹ. Nếu cứ xem nhẹ, hay tiếp tục thiếu các biện pháp đủ mạnh mẽ, th́ hậu quả của nó về sau sẽ khó mà khắc phục được.

***

Việc Trung Quốc ngang nhiên làm điều họ cho là “thi hành quyền chủ quyền” trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cả chục năm qua là một sự xâm phạm nghiêm trọng đến nước ta. Nó xâm phạm và ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản và cơ hội kiếm sống của hàng triệu người dân ven biển. Nó c̣n ảnh hưởng đến chủ quyền thiêng liêng của đất nước và nguy hiểm hơn, là những bước tiến nguy hiểm trong chiến lược “tằm ăn dâu” của Trung Quốc nhằm chiếm trọn Biển Đông. Chúng ta cần nhận thức về tầm nguy hiểm của việc này và cần chủ động, tích cực và kiên quyết hơn nữa trong việc bảo đảm quyền chủ quyền của nước ta đối với vùng đặc quyền kinh tế. Điều đó cũng là điều cần thiết để bảo đảm tính mạng, tài sản và đời sống cho hàng triệu người dân ven biển.

  • Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Ghi chú:

[1] http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/03/836601/

[2] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/03/090320_bp_withdrawal.shtml

[3] http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/08/800731/

[4] http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2009-05/15/content_7779091.htm

[5] http://www.chinadaily.com.cn/regional/2009-05/19/content_7792657.htm

[6] http://vitinfo.com.vn/Muctin/Quocte/LA61256/default.htm

[7] China Daily: http://www.chinadaily.com.cn/regional/2009-05/19/content_7792657.htm

[8] http://www.nld.com.vn/2009052003463412P0C1002/tau-ca-vn-bi-tau-nuoc-ngoai-tong-chim-tren-bien-dong.htm

[9] http://www.vietnamnet.vn/kinhte/2009/06/850893/

[10] Báo Tin chiều Chu Giang, http://news.ifeng.com/mil/2/200905/0521_340_1167780.shtml

[11] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/05/090526_china_patrol.shtml

[12] http://vietnamnet.vn/kinhte/2009/06/850893/

[13] Trích từ: “Công uớc biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam, TS Nguyễn Hồng Thao (Chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, trang 288

[14] Theo báo Tuổi Trẻ, http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=319421&ChannelID=3.

 

 

Khi hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương

 

(TuanVietNam)- Hải quân Trung Quốc vừa kỷ niệm 60 năm ngày thành lập vào ngày 23-4. Tại Thanh Đảo - thành phố cảng nổi tiếng về bia và căn cứ hải quân - lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, các công dân nước này đă có dịp chiêm ngưỡng một trong 10 chiếc tàu ngầm nguyên tử của Đại lục.

Cho dù không phải là loại tân kỳ nhất, nhưng 10 chiếc tàu ngầm này có chứa đầu đạn hạt nhân và đủ để vươn tới bờ biển Hoa Kỳ, bên kia bờ Thái B́nh Dương. Cũng như những năm gần đây, Bắc Kinh chú tâm phát triển năng động về quân sự: Trong năm 2009, khoản chi cho quân sự là 70,36 tỷ USD, tăng 14,9% so với năm ngoái.

Đáng chú ư là hiện tại, binh chủng hải quân - được coi là “cánh tay và thanh gươm” nối dài của đất nước – đang là tâm điểm trong sự phát triển quân sự Trung Quốc.

Tàu ngầm nguyên tử 093 của Trung Quốc. (Nguồn ảnh: china-defense-mashup.com)

Lư do khá dễ hiểu. Trong những giai đoạn rối ren nhất của lịch sử cận đại Trung Quốc (thập niên 50-60 thế kỷ trước), quốc gia này đă từng đụng độ trên đất liền với hầu như tất cả các nước láng giềng và do đó, sức mạnh quân sự trên bộ của Đại lục đă được gia tăng đến mức, với nhiều triệu binh lính, quân đội Trung Quốc đă gần như sụp đổ v́ trọng lượng của chính nó.

Chỉ thiếu chút nữa mà những loạn lạc thời “Văn cách” (Đại cách mạng văn hóa) đă có thể biến những đụng độ biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô trở thành một chiến tranh nguyên tử. Với Ấn Độ, tại khu vực Tây Tạng, Đại lục xác định cho ḿnh trạng thái đối đầu quân sự trong thời gian dài.

Khởi đầu từ những năm 80 thế kỷ trước, thời kỳ cải tổ, b́nh thường hóa, củng cố về xă hội và chính trị đă làm thay đổi cả học thuyết về quân sự của Trung Quốc. Cùng với sự gia tăng của nền kinh tế hùng hậu, Trung Quốc càng hướng ra thế giới ở mức độ cao hơn, đồng thời cũng phụ thuộc nhiều hơn vào thế giới.

Càng phát triển kinh tế, càng khao khát mở rộng quân sự

Không có một cường quốc toàn cầu nào lại phụ thuộc nhiều vào thế giới như Trung Quốc! Những thị trường nguyên liệu và năng lượng ở vùng Cận Đông, châu Phi và Mỹ Latin đều cách xa nước này nhiều ngàn cây số. C̣n các thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc, th́ lại giăng mắc khắp thế giới.

Những chuyến tàu chở hàng hóa Trung Quốc ra nước ngoài, cũng như chở năng lượng mua được trên thế giới về Đại lục, luôn bị đe dọa bởi những xung đột trong khu vực, những cường quốc nước ngoài và cả hiểm họa hải tặc, tại các kênh đào Suez và Panama, cũng như tại eo biển Malakka.

Trong vùng, Trung Quốc cũng cần sự hiện diện của hải quân v́ một nguyên nhân nhăn tiền: Trong khi đụng độ trên bộ đă giảm, nước này lại lao vào tranh giành chủ quyền những quần đảo trên biển Nam Trung Quốc (tức Biển Đông) - nơi tiềm ẩn các mỏ dầu - với 5 quốc gia khác trong khu vực (trong số đó, đáng kể là Việt Nam, Philippines và Malaysia).

Ấy là c̣n chưa nói đến việc Đại lục cần phô diễn sức mạnh quân sự đối với Đài Loan, mảnh đất mà Bắc Kinh vẫn coi là một tỉnh của ḿnh.

Trung Quốc chưa có những cứ điểm tại nước ngoài theo nghĩa truyền thống của từ này, do đó, dễ hiểu là Trung Nam Hải cần phát triển hải quân như một sự đảm bảo quan trọng cho những yếu tố phụ thuộc nước ngoài trong nền an ninh quốc gia.

Hải quân Trung Quốc – mạnh và yếu

Các cường quốc “kinh điển” về hải quân như Anh, Hoa Kỳ, Pháp… đều biết rằng, quá tŕnh phát triển hải quân phải kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí, nhiều thế kỷ. Trung Quốc vẫn mới chỉ chập chững những bước đầu: Cho dù là cường quốc kinh tế đứng thứ 2-3 trên thế giới, nhưng hải quân nước này cũng chưa lọt được vào Top 10.

Có điều, định chế nhà nước, sự lănh đạo tập trung trên nguyên tắc “bàn tay thép” của Đại lục khiến Trung Quốc có điều kiện tốt để phát triển quân đội. Bắc Kinh không phải đối mặt với những rào cản trong hoạt động của các nền dân chủ phương Tây, như công luận, các định chế dân chủ, sự can thiệp của các chính đảng và các tổ chức dân sự, những tranh luận thực sự trong Quốc hội về vấn đề ngân sách, hoặc sự trong sạch của các cuộc đấu thầu.

Tuy nhiên, những khoản chi cho quân sự, ở dạng công khai hay “âm thầm”, cũng chưa đạt 1/6 mức chi của Hoa Kỳ.

Phô trương quân sự trên biển và không trung nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hải quân Trung Quốc (Thanh Đảo, Sơn Đông). Ảnh: Lư Khang (MTI)

Dầu vậy, sẽ là sai lầm lớn nếu coi thường sức mạnh của hải quân Trung Quốc, v́ chính sách phát triển của Bắc Kinh cũng phản ánh một trong những giá trị lớn nhất của nền văn minh Hoa Hạ (đồng thời, cũng là triết lư lạc hậu của xứ sở này): khả năng du nhập những phát minh, sáng chế của thế giới.

Hơn nửa triệu học sinh Trung Quốc du học trên khắp thế giới, vài trăm ngàn nhà khoa học sống tại nước ngoài, thu thập tất cả những môn khoa học có thể học hỏi được. Trung Quốc nghiên cứu, sao chép và tiếp tục phát triển những công cụ tối tân nhất của khoa học quân sự Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nga…

Năm 2006, Tel Aviv sững sờ khi nhận ra: Ngay trước bờ biển Lebanon, một trong số những tàu chiến tối tân bậc nhất của Israel đă bị các chiến binh Hezbollah tấn công bởi 2 tên lửa hành tŕnh loại C-801 (được nhập từ Trung Quốc qua đường Iran, và là bản sao của loại tên lửa hành tŕnh Exocet của Pháp, từng khiến hải quân Anh bị bất ngờ trong cuộc chiến Falkland/Malvinas), và một tên lửa hành tŕnh loại C-701 (điều khiển bằng quang điện tử).

Trong cuộc đụng độ này, chiếc tàu chiến của Israel hầu như bị hủy diệt! Các chuyên gia cho rằng trong sự phát triển của kỹ thuật quân sự Trung Quốc, với việc kết hợp một cách khác thường những phương tiện quân sự của phương Tây và bổ sung thêm những yếu tố mới, Bắc Kinh sẽ tạo nên những khả năng vô cùng đáng sợ.

Với tất cả những điều này, hiện tại, hải quân Trung Quốc đa phần mới chỉ kiểm soát được dải gần bờ biển (cách bờ vài trăm cây số). Hoa Kỳ, cường quốc hải quân mạnh nhất toàn cầu, cùng một lúc có thể huy động đến bất cứ điểm nào trên thế giới một lực lượng hải quân khổng lồ (gồm các tàu thủy, tàu hệ thống có hệ thống chống tên lửa, tàu hậu cần…, tập trung quanh 6 hàng không mẫu hạm).

Trong khi 14 quốc gia đă có hàng không mẫu hạm, biểu tượng của quyền lực trên biển, th́ Trung Quốc vẫn chưa có tàu sân bay nào.

Tham vọng

Một câu hỏi được đặt ra: Đến bao giờ Trung Quốc mới gia nhập CLB các quốc gia tự thiết kế và xây dựng được hàng không mẫu hạm (hiện tại, gồm Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Ư và Tây Ban Nha), được coi là sự tổng hợp của những công nghệ đỉnh cao?

Có thể giả thiết rằng trong thời gian rất gần, Bắc Kinh đang chuẩn bị công bố kế hoạch xây dựng chiếc tàu sân bay đầu tiên, mà các quan sát viên cho rằng sẽ được dùng, trước hết, để đảm bảo an ninh những tuyến đường vận chuyển năng lượng ở vùng biển Nam Trung Hoa.

Điều này cũng có thể suy ra từ tuyên bố của người đứng đầu binh chủng Hải quân Trung Quốc, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, trong tuyên bố nhân 60 năm thành lập ngành. Vị tướng này cho biết Trung Quốc đang ráo riết hiện đại hóa và kiện toàn “tính chiến đấu” của hải quân v́ hầu hết các mối đe dọa đối với chủ quyền và an ninh quốc gia nước này là đến từ phía biển.

Cụ thể, Bắc Kinh đặt mục tiêu có thêm những tên lửa tầm xa chính xác và hiệu quả hơn, những tàu ngầm, thủy lôi tối tân và khó phát hiện hơn. Dù vị Tư lệnh Hải quân không nói ra, nhưng giới b́nh luận quốc tế đồng t́nh với nhau ở một điểm: Trung Quốc rất cần một hàng không mẫu hạm, bởi trong một cuộc chiến giả định với Đài Loan, chắc chắn nước này sẽ phải đương đầu với lực lượng hải quân hùng hậu của Hoa Kỳ.

Ban lănh đạo Trung Hoa nhấn mạnh rằng Bắc Kinh sử dụng sự bành trướng quyền lực trên biển như một công cụ để tạo dựng sự ổn định, chứ không phải để gây hấn. Để chứng tỏ điều này, trong khuôn khổ chiến dịch hải quân quốc tế có quay mô lớn đầu tiên vào tháng 12/2008, Trung Quốc đă gửi một đội tàu nhỏ tới vịnh Aden để tham gia chiến đấu với hải tặc ngoài khơi Somalia (đầu tháng 4 năm nay, đội tàu thứ hai cũng đă được cử đi).

Tuy nhiên, động thái nói trên đồng nghĩa với việc hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng, và đă có thể hoạt động ở những vùng biển xa Đại lục.

Thêm vào đó, cuộc biểu dương lực lượng mang tính phô diễn trong dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập hải quân Trung Quốc cũng cho thấy: Bắc Kinh đang chuẩn bị một cách không giấu giếm cho sự bá quyền trên biển, ít nhất và trước tiên là trong khu vực.

Đây cũng là điều phù hợp với quan niệm về an ninh của Trung Quốc: Cho dù chưa bao giờ có được vị thế vững vàng và ít bị đe dọa về an ninh như hiện tại, nhưng Bắc Kinh vẫn coi những quốc gia có liên quan - đặc biệt là các nước láng giềng trong vùng Đông Nam Á - là "những yếu tố chính đe dọa an ninh Trung Quốc".

Xét từ góc độ ấy, trên cương vị một cường quốc mới trên biển, Trung Quốc sẽ là một yếu tố đáng kể và không thể bỏ qua cho an ninh thế giới và khu vực!

* * *

 

Hải quân Trung Quốc và dự tính "chia đôi Thái B́nh Dương"

 

(TuanVietNam) - Trung Quốc đề nghị cùng Mỹ “chia đôi Thái B́nh Dương” và tính 3 nước cờ trước tuyên bố mới đây của Philippines.

Tờ Thái dương và tờ Đông phương (Hong Kong) gần đây cho rằng hải quân Trung Quốc đă và đang thực hiện một loạt hành động bố trí mang tầm chiến lược, khiến Mỹ đặc biệt quan tâm. V́ từ sau Chiến tranh Triều Tiên đến nay Mỹ là nước giữ vai tṛ chủ đạo về quân sự ở khu vực châu Á - Thái B́nh Dương. Dư luận cho rằng những hành động này của hải quân Trung Quốc là những bước đi đầu tiên hướng tới "chiến lược nước xanh", tức là xây dựng lực lượng hải quân thành hải quân viễn dương.

Bước đi đầu tiên hướng tới "chiến lược nước xanh”

Tháng 12/2008, hải quân Trung Quốc điều động ba chiến hạm tới vùng biển Somali, tham gia hoạt động hộ tống tàu thuyền qua lại vùng biển này; tiếp đó hai tàu thăm ḍ hải dương của Trung Quốc đă phá vỡ sự phong tỏa của Nhật Bản, tiến sâu vào vùng biển phụ cận đảo Điếu Ngư, thực hiện khảo sát, khiến Nhật Bản bị bất ngờ.

Cũng trong thời điểm này, người phát ngôn Bộ Quốc pḥng Trung Quốc công khai nói tới khả năng Trung Quốc nghiên cứu chế tạo tàu sân bay, ngoài ra, Tư lệnh lực lượng hải quân Trung Quốc, Ngô Thắng Lợi, đă thăm một số nước xung quanh Trung Quốc.

Các hành động này của hải quân Trung Quốc là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang từng bước thay đổi, thậm chí bỏ chiến lược "pḥng ngự biển gần", chuyển sang phát triển theo hướng "hải quân viễn dương".

Tướng Mỹ thăm một cơ sở hải quân Trung Quốc


Thực tế hiện nay, ngoài nguồn dầu mỏ tại khu vực Trung Á, tuyệt đại đa số dầu mỏ mà Trung Quốc nhập khẩu từ bên ngoài đều phải vận chuyển qua đường biển, trong đó có một phần rất lớn được vận chuyển qua Eo biển Malacca. Bảo vệ lợi ích dầu mỏ nhập khẩu là một nhiệm vụ quan trọng đối với lực lượng hải quân Trung Quốc.

Ngoài ra, trong vấn đề chủ quyền biển đảo, Trung Quốc vẫn đang tranh chấp chủ quyền với hầu hết các nước có biển giáp với Trung Quốc. Khu vực biển Đông vẫn tồn tại những điểm nóng mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực.

Tại khu vực biển Hoa Đông, tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản về đảo Điếu Ngư đă không ít lần khiến quan hệ hai nước căng cẳng. Để giải quyết những vấn đề này, chiến lược "hải dương nước xanh" cùng với lực lượng hải quân hùng mạnh, đủ sức tác chiến tại vùng biển xa là mục tiêu Trung Quốc ráo riết theo đuổi.

Mới đây, Tư lệnh Hạm đội Thái B́nh Dương của Mỹ, Tướng Timothy J. Keating công khai nhận định rằng một loạt hành động mang tầm chiến lược gần đây của hải quân Trung Quốc cho thấy tham vọng hải dương của Trung Quốc rất lớn.

Hải quân Mỹ cho rằng tàu chiến của hải quân Trung Quốc tiến vào vùng biển Somali thực sự là bước tập dượt đầu tiên hướng tới xây dựng một lực lượng "hải quân viễn dương" của Trung Quốc. Khi Trung Quốc có tàu sân bay, trong tương lai, rất có thể sẽ rơi vào t́nh trạng Trung Quốc quản lư Tây Thái B́nh Dương (tức là vùng biển Đông Á), c̣n Mỹ sẽ quản lư Đông Thái B́nh Dương!

Hiện thực đang đ̣i hỏi Trung Quốc phải vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quân sự, tập trung ưu tiên cho hải quân và không quân. Tuy nhiên, hướng tới một "chiến lược nước xanh" và xây dựng lực lượng "hải quân viễn dương" hiện vẫn là thách thức rất lớn đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, đà tăng trưởng kinh tế nhanh, cũng như vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế ngày càng nâng cao sẽ là nền tảng để Trung Quốc đạt được mục tiêu này.

Trung Quốc đề nghị chia đôi Thái B́nh Dương

Theo Tapei Times, ngày 22/2/2009, Đô đốc Timothy Keating đă bày tỏ một chút ngạc nhiên trước tuyên bố quá nhanh của bà Clinton tại Bắc Kinh về hợp tác quân sự Mỹ - Trung. Lầu Năm Góc và Bộ Tư lệnh Thái B́nh Dương đồng ư trên nguyên tắc nối lại trao đổi quân sự với Quân Giải phóng bị ngưng lại tháng 10/2008 sau khi Mỹ đồng ư bán hơn 6 tỷ USD vũ khí cho Đài Loan.

Tuy vậy, các nh́n nhận về hợp tác quân sự vẫn c̣n khác nhau. Phát biểu sau chuyến thăm Thái Lan, Hong Kong và Hàn Quốc tuần qua, Đô đốc Keating cho biết một tướng Trung Quốc đă đề nghị với ông rằng hai nước nên chia đôi Thái B́nh Dương, theo đó, Trung Quốc sẽ "lo ǵn giữ ḥa b́nh từ Hawaii về phía Tây, c̣n Mỹ lo từ Hawaii sang phía Đông". Nhưng Đô đốc Keating nói ông đă trả lời "No, thanks!" (Không, xin cảm ơn). Ông cũng nói tham vọng xuất xưởng hai tàu sân bay trong năm 2015 của Trung Quốc không dễ thực hiện và điều khiển hàng không mẫu hạm sẽ c̣n khó hơn.

Với điệu tango Trung-Mỹ, nơi sự gắn kết không đến từ trái tim mà từ nhu cầu kinh tế, năng lượng, chắc c̣n phải đợi có thêm thời gian nữa mới thấy kết quả. Gần đây, người ta hay nói đến liên minh Chimerica (do sử gia Niall Ferguson đưa ra - biểu tượng của sự chắp ghép Trung Quốc và Mỹ), nơi đồng tiền không phải là petrodollar mà là Sinodollar, ám chỉ sự lệ thuộc Trung - Mỹ về hàng hóa, đầu tư và hàng trăm tỷ đô la trái phiếu Kho bạc Mỹ mà Trung Quốc đang nắm.

Theo một bài thuyết tŕnh của một học giả Mỹ tại Đại học Texas gần đây, từ khoảng 20 năm trở lại đây, Trung Quốc đă sử dụng một công thức tổng hợp để thực hiện tham vọng của ḿnh: (i) tấn công quân sự qui mô nhỏ; (ii) thực hiện đơn phương thăm ḍ và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp; (iii) đe doạ bằng vũ lực đối với ngư dân hoặc sử dụng sức ép kinh tế đối với các tập đoàn dầu khí quốc tế nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên ở vùng tranh chấp; (iv) chia rẽ các nước trong khu vực bằng kinh tế và ngoại giao; (v) tuyên truyền chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề biển Đông trên toàn thế giới để các nước phải e ngại.

Công thức này của Trung Quốc có mục tiêu hướng vào việc thiết lập chủ quyền của họ đối với biển Đông trên thực tế (de facto), mặc dù về mặt pháp lư (de jure) điều này không biện hộ được.

Các nước Đông Nam Á ở thế yếu

Theo học giả trên, các nước ASEAN đă tỏ ra rất yếu trong việc đưa vấn đề tranh chấp này ra công luận quốc tế, trong khi Trung Quốc đă làm tốt việc tuyên truyền về chủ quyền của họ. Do vậy,  các nước ASEAN có tranh chấp không được công luận quốc tế ủng hộ như đối với Trung Quốc.

Ngoài ra, các nước Đông Nam Á thường phản ứng rất yếu trước các bước đi của Trung Quốc. Đứng một ḿnh, mỗi nước ASEAN đều yếu hơn Trung Quốc về mọi mặt. Nhiều nước ASEAN lại đang rơi vào khủng hoảng, nên không hợp tác được với nhau.

Soái hạm của hải quân Phillipines


V́ vậy, việc Phủ Tổng thống Philippines ngày 19/2 cho biết, sẽ đưa những tranh chấp về chủ quyền liên quan đến quần đảo Nam Sa ra Liên hợp quốc giải quyết đă làm dấy lên sự phản đối mạnh mẽ tại Trung Quốc.
Theo Tinh đảo hoàn cầu (Hong Kong), ngày 21/2, chuyên gia về vấn đề hải quân Bắc Kinh cho rằng, Trung Quốc có thể đi ba nước cờ: Một là đẩy nhanh việc xác định đường cơ sở lănh hải; hai là tăng cường hữu hiệu việc quản lư và khống chế hành chính; ba là tăng cường chuẩn bị tác chiến trên biển về vũ khí và huấn luyện, bảo vệ quyền của Trung Quốc.

Chuyên gia hải quân nêu trên cho rằng, công tác xác định đường cơ sở lănh hải của Trung Quốc vẫn đang được tiến hành trong những năm gần đây, tiến triển tại Hoàng Hải và Đông Hải tương đối nhanh, xác định tọa độ địa lư, kinh độ, vĩ độ căn cứ theo Công ước luật biển Liên hợp quốc cũng như sự phát triển, diễn biến và tập quán lịch sử.

Tiến triển tại những vùng biển đang có tranh chấp tương đối chậm. Cách làm thông qua lập pháp xác định đường cơ sở lănh hải lần này của Philippines cũng đă cảnh tỉnh Trung Quốc cần đẩy nhanh công tác xác định đường cơ sở lănh hải nhằm tăng cường tính bảo đảm về pháp lư đối với quyền lợi chủ trương, cũng như đảm bảo căn cứ trong giao thiệp ngoại giao.

Các nhà quan sát cho rằng bây giờ mà xung đột quân sự trên biển th́ lại tạo cớ cho Mỹ mở rộng ảnh hưởng ra Đông Nam Á và ảnh hưởng đến việc triển khai chủ thuyết “thế giới hài ḥa”, “các bên cùng thắng” của lănh đạo Bắc Kinh.

Trong cuộc tranh chấp, các nước nhỏ có công cụ hoặc đ̣n bẩy nào tất nhiên sẽ dùng cái đó. Điều đang làm Trung Quốc e ngại phần nào, đó là Mỹ. Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút ra khỏi khu vực này. Cứ mỗi cuộc xung đột mà Trung Quốc tiến hành trên biển mười mấy năm qua, Mỹ lại tăng cường sự hiện diện trở lại khu vực này của thế giới.

Mới đây, khi đề cập đến sức mạnh tăng lên của hải quân Trung Quốc tác động thế nào đối với vị trí Mỹ tại Tây Thái B́nh Dương, Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Gates tuyên bố trước Quốc hội, Mỹ sẵn sàng đương đầu với bất kỳ "mối đe dọa quân sự nào của Trung Quốc trong thời gian tới"./.

  • Bài và ảnh theo Linh Hương (toquoc.gov.vn)

 

Ấn Độ với mối lo dày ṿ từ Trung Quốc

Vài tuần trở lại đây, dư  luận ở Ấn Độ đang dâng trào giận dữ và cả lo lắng khi nhắc tới vùng biên giới phía bắc giáp với Trung Quốc.

Nỗi lo truyền kiếp: vùng biên

Ở đó, người Ấn Độ đang có những nỗi lo dai dẳng, những nỗi bất an mà giờ đây lại tăng tỷ lệ thuận với những hành động mà họ cho là “khiêu khích”, từ phía Trung Quốc láng giềng.

Những căng thẳng dọc theo biên giới hai nước ở dăy Himalaya đang tăng lên đáng kể gần đây. Báo chí Ấn Độ liên tiếp dẫn lời các quan chức quốc pḥng và t́nh báo cáo buộc rằng đêm đêm, vẫn có những cuộc thâm nhập bất hợp pháp của quân Trung Quốc vào vùng biên giới này.

Thực tế th́ không chỉ có báo giới mà ngay cả phía giới chức Ấn Độ gần đây đă không ít lần cáo buộc việc lính tuần tra Trung Quốc nhiều lần xâm nhập vào lănh thổ Ấn Độ và thực tế là Ấn Độ đă tăng cường quân đến biên giới với Trung Quốc. 

Trung Quốc cho rằng những báo cáo của Ấn Độ về việc gần đây đă xảy ra một số vụ va chạm quân sự giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở khu vực biên giới là không có cơ sở.

Tranh chấp lănh thổ giữa Trung Quốc và Ấn Độ liên quan đến đường biên giới dài 3.500km trong vùng núi Himalaya đă dẫn đến một cuộc chiến năm 1962. Cho tới nay, hai nước vẫn chưa phân định được đường biên giới rơ ràng. 

Ấn Độ cho rằng Trung Quốc đă kiểm soát bất hợp pháp 38.000km2 lănh thổ Kashmir trong khi Bắc Kinh lại tuyên bố chủ quyền đối với 90.000km2 diện tích bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ, đặc biệt là khu vực Tawang. 

Trong thời gian gần đây, giới chức và người dân Ấn Độ vẫn thường bàn về mối đe dọa gia tăng từ phía đối trọng Trung Quốc.

Mới đây, t́nh báo Ấn Độ thậm chí đă đưa ra khuyến nghị đáng lưu ư về việc cấm nhập khẩu các loại thiết bị từ Trung Quốc. Các quan chức Cục T́nh báo Ấn Độ đă đưa ra những lời cảnh báo về mối đe dọa từ những cuộc tấn công khủng bố và kết luận là chính phủ Ấn Độ nên có biện pháp hạn chế nhập khẩu các thiết bị viễn thông của Trung Quốc.

Theo Cục T́nh báo Ấn Độ, trong các thiết bị viễn thông của Trung Quốc có thể gắn thêm những cửa sổ, trong trường hợp cần thiết, các công ty của Trung Quốc sẽ sử dụng chúng để tấn công, hoặc có thể làm hỏng những thiết bị này.

Thực tế, hiện một số công ty viễn thông hàng đầu của Ấn Độ như BSNL đă bị các cơ quan chức năng yêu cầu tạm dừng những hợp đồng về việc mua các trang thiết bị của Trung Quốc.

Báo chí Ấn Độ hiện nay không giấu giếm nỗi tức giận của ḿnh qua những câu chữ hết sức hằn học với phía Trung Quốc.

Nỗi lo lớn hơn: trên biển

Nhưng dường như người Ấn không chỉ lo ngại tranh chấp biên giới và nguy cơ về một cuộc chiến tranh biên giới trên bộ, như đă từng xảy ra. Họ lo ngại về một nỗi lo tưởng chừng như xa xăm nhưng lại nguy hại hơn: sự va chạm lợi ích trên đại dương trước cửa nhà Ấn Độ.

Thế giới hẳn không lạ ǵ khi nghe về những mối hữu hảo trong làm ăn gần đây giữa Trung Quốc với lục địa đen. Một Trung Quốc đang phát triển ồ ạt và “uống” dầu vô hạn độ đang thân thiết với một châu Phi giàu tài nguyên, trong đó có vàng đen.

Người Ấn hiểu rằng để đảm bảo cho những thùng dầu mang từ châu Phi về đại lục được an toàn, người Trung Quốc sẽ ngày càng củng cố và mở rộng con đường vận chuyển trên biển của ḿnh. Đáng ngại thay, con đường từ châu Phi về đại lục có đi qua vùng Ấn Độ Dương trước mặt Ấn Độ.

Trên thực tế th́ quả là như vậy. Trung Quốc đang gây ảnh hưởng trên biển ở khắp các nơi có thể. Họ dường như đang tranh thủ, lúc công khai, khi bí mật, xây dựng các cứ điểm trên biển, các cảng, các cầu tàu và những công tŕnh dường như không đơn thuần chỉ là dân sự.

Nhiều trong số đó bắt đầu lân la vùng nước đâu đó ở Ấn Độ Dương.

Không đâu xa, một cảng biển đă được Trung Quốc liên doanh xây dựng ngay tại cảng Hambantota ở mũi cực nam của Sri Lanka - nước láng giềng và từng là một phần đất của Ấn Độ xưa kia. Trung Quốc đă đổ tiền và cả nhân lực tới xây cảng nước sâu này. Lưu ư, cảng nước sâu là nơi mà các con tàu quân sự, những hạm độ lớn, rất ưa thích.

Đáp lại, Ấn Độ đang kiên tŕ xây dựng thực lực, trọng yếu nhằm vào hải quân.

Hạm đội của Ấn Độ gần đây liên tiếp được hiện đại hoá. Tháng 7 vừa qua nước này cũng đă hạ thuỷ con tàu ngầm hạt nhân đầu tiên. Họ cũng đă mua các tàu khu trục đời mới từ cả Nga lẫn Mỹ.

Trong lúc đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục quá tŕnh xây dựng các “cứ điểm” như nêu trên, đi đôi với việc phát triển hải quân của ḿnh theo hướng hiện đại hoá. Đơn cử, nước này đă có kế hoạch dài hạn phát triển hệ thống hạm đội viễn dương của ḿnh. Họ cũng liên tục tăng nhanh số lượng tàu ngầm mà dường như mục tiêu là luôn vượt xa số lượng mà New Delhi có thể có.

Trên b́nh diện ngoại giao quốc pḥng, Ấn Độ đă tăng cường liên minh và thắt chặt quan hệ sâu sắc với các quốc gia lân cận như Mauritius, Seychelles, Madagascar và Maldives. Thậm chí nước này cũng vươn xa tới các nước Đông Á và Đông Nam Á.

Nhưng đó cũng là các nước mà Trung Quốc vẫn có mối quan hệ lâu nay. Và dường như trong các mối quan hệ đó, nếu cần thắt chặt hơn, Trung Quốc dường như có nhiều cơ hội hơn là Ấn Độ.

Chưa kể, Trung Quốc giờ c̣n có vẻ giàu mạnh và tăng trưởng nhanh hơn Ấn Độ. Đó là nền tảng vững chắc cho các chiến lược quốc pḥng dài hơi và nhiều tham vọng.

Vậy nên đêm đêm, giới chức và người dân Ấn Độ vẫn đang lo với một cơn ác mộng thi thoảng lại về, tựa như những cuộc thâm nhập bất ngờ của Trung Quốc vào vùng biên, như giới chức t́nh báo vẫn đang cáo buộc.

  • Nhật Vy (Theo Times, Newsweeks)

 

http://www.vietnamnet.vn/thegioi/binhluan/2009/09/869624/

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 10/09/09