NON SÔNG GẤM VÓC
TỈNH LẠNG SƠN
Nguyễn Thanh Liêm
Lạng Sơn là một trong các tỉnh địa đầu ở phía Bắc của
Việt Nam. Trong số 6 tỉnh địa đầu giáp giới với Trung
Hoa, Lạng Sơn là tỉnh quan trọng nhất. Đây là nơi qua
lại dễ dàng hơn hết trên đường bộ giữa Trung Hoa và Việt
Nam từ xưa đến giờ. Aûi địa đầu là Aûi Nam Quan, nằm
trong tỉnh Lạng Sơn này. Các sứ giả Việt Nam sang Trung
Hoa hay sứ giả Trung Hoa sang Việt Nam đều phải qua cửa
ải này. Kể cả những đoàn quân xăm lược từ phương Bắc
cũng thường theo ngỏ này tràn vào Thăng Long. Nhưng
trước khi đi vào những chi tiết đặc biệt của vùng ải địa
đầu quan trọng này, xin hăy nh́n lại một chút phần lănh
thổ của Việt Nam từ trước tới giờ.
Lănh thổ Việt Nam gồm có hai phần : một phần lớn nằm
trên đất liền và một phần nhỏ nằm trên biển cả. Phần nằm
trên đất liền có diện tích là 329,707 cây số vuông có
h́nh dạng giống chư h́nh chữ S với hai đầu mở rộng ra mà
người ta thường ví như hai thúng lúa mán trên cây đ̣n
gánh. Hai thúng lúa đó là châu thổ sông Hồng Hà và đồng
bằng sông Cửu Long, hai vựa thóc lớn của cả nước. Nước
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới từ vĩ độ 8o33 đến vĩ
độ 23o22 Bắc bán cầu. Nh́n vào bản đồ ta thấy vĩ tuyến
8o 33 đi ngang Mũi Cà Mau ở phía cực Nam và vĩ tuyến
23o22 đi ngang điểm cực Bắc của tĩnh Hà Giang Bắc Việt.
Về kinh độ, nước ta nằm trong khoảng 102o và 109o Đông.
Lănh thổ trên đất liền của nước ta có hai vùng ranh giới
khác nhau : một bên là biển cả chạy dài từ Móng Cái ở
phía Bắc đến tận Cà Mau ở phía Nam và ṿng qua phía Tây
đến tận Hà Tiên. Đây là vùng ranh giới thiên nhiên rất
dễ nhận biết. Vùng ranh giới thứ hai nằm trên đất liền
giữa Việt Nam và các quốc gia Cam Bốt và Lào ở phía Tây
và giữa Việt Nam và Trung Hoa ở phía Bắc. Đây là vùng
ranh giới rất khó phân định và là nơi thường xảy ra các
vụ tranh chấp, nhất là giữa ta và Cam Bốt cũng như giữa
ta và Trung Hoa. Xưa nay vẫn có sự lấn đất qua lại giữa
dân ta và dân Cam Bốt ở vùng Châu Đốc nhưng nó không
quan trọng và nguy hiểm bằng sự lấn đất trên ranh giới
phía Bắc giữa nước ta và nước Tàu. Trên bản đồ hiện hành
ta có sáu tỉnh ở Bắc Việt có phần đất giáp giới với
Trung Quốc. Từ Tây sang Đông, đó là các tỉnh Lai Châu,
Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Bây
giờ đổi thành 5 tỉnh là Lai Châu, Hoàng Liên Sơn (Lào
Kay và Yên Bái), Hà Tuyên (Hà Giang và Tuyên Quang), Cao
Lạng (Cao Bằng và Lạng Sơn) và Hải Ninh. Đường dài ranh
giới nầy có hơn 1,350 cây số.
[Ngoài phần lănh thổ
chính trên đất liền ta c̣n có một phần nhỏ lănh thổ trên
biển cả. Đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quần
đảo Hoàng Sa ở vào giữa hai kinh tuyền 111o và 113o Đông,
giữa hai vĩ tuyến 15o 45’ và 17o 15’ Bắc bán cầu. Quần
đảo Hoàng Sa gồm có hai nhóm đảo: nhóm Tuyên Đức (gồm 8
đảo) ở phía Đông và nhóm Nguyệt Thiềm (gồm 7 đảo) ở phía
Tây. Khoảng cách củađiểm gần nhất của lănh thổ đất liền
của Việt Nam, là Đà Nẳng, đến Hoàng Sa là 200 hải lư.
Điểm gần nhất của Hải Nam đến Hoàng Sa là 150 hải lư.
Điểm gần nhất của Phi Luật Tân đến Hoàng Sa là 450 hải
lư, và điểm gần nhất của Đài Loan đến Hoàng Sa là 620
hải lư.
Quần đảo Trường Sa gồm
có nhiều đảo nhỏ trải dài cả 100 hải lư, giữa các vĩ
tuyến 8o và 11o 40’ Bắc bán cầu. Trong số các đảo nhỏ
nầy có 9 đảo khá quan trọng. Đảo chính là đảo Spratley,
tức là Trường Sa. Khoảng cách từ Phan Thiết (điểm gần
nhất) đến Trường Sa là 280 hải lư. Hải Nam đến Trường Sa
là 580 hải lư. Palawan (Phi Luật Tân) đến Trường Sa là
310 hải lư, và Đài Loan đến Trường Sa là 900 hải lư.
Quyển Bạch Thư của bộ ngoại giao VNCH hồi năm 1975
đătrưng dẫn đầy đủ bằng chứng cho thấy ông cha ta đă
từng làm chủ ở đây. Người Việt Nam đă đặt chân lên Hoàng
Sa và Trường Sa để khai thác làm ăn từ thế kỷ thứ XV,
trước khi người Aâu Châu biết và đặt tên Paracels và
Spratley cho hai quần đảo nầy. Mở đầu quyển bạch thư
chánh phủ VNCH xác nhận rằng Hoàng Sa và Trường Sa dù
chỉ chiếm diện tích nhỏ nhưng nó không kém quan trọng
đối với người dân Việt. Nó là phần đất đai bất khả phân
trong toàn thể lănh thổ VN. Vùng lănh thổ xa xôi nầy
cũng đầy thân thương trong quả tim người dân Việt như
vùng lănh thổ thân thương khác của cha ông. Do đó chánh
phủ VNCH và toàn dân VN, trong quyết tâm bảo vệ chủ
quyền và sự toàn vẹn lănh thổ của quốc gia, long trọng
tố giác sự chiếm cứ của ngoại bang trên vùng lănh thổ
nầy. Bạch thư viết: “Bổn phận cao quư và bó buộc nhất
của một chánh phủ là phải bảo vệ chủ quyền, sự độc lập
và sự vẹn toàn lănh thổ của quốc gia, Chánh phủ VNCH
quyết tâm làm tṛn bổn phận đó dù với bất cứ khó khăn
nào.”]
Trên đây là phần lănh thổ trên giấy mực mà chúng ta có
từ cuối thế kỷthứ XIX qua Hiệp Ước Thiên Tân hồi năm
1885 giữa Pháp và nhà Thanh bên Tàu . Cụ thể hơn nếu
chúng ta có thể đi bằng đường bộ trên con đường chạy dài
từ Bắc xuống Nam th́ điểm khởi hành là Aûi Nam Quan và
điểm cuối cùng ta đến là Mũi Cà Mau. Câu nói quen thuộc
“từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau” được dùng để diễn tả
chiều dài của nước ta từ vĩ tuyến 8o33 đến vĩ tuyến 23o
27’ vậy. Về sau câu nói nầy trở thành câu tượng trưng
cho toàn thể lănh thổ Việt Nam thành ra khi muốn đề cập
đến sự vẹn toàn lănh thổ, sự thống nhất đất nước hay sự
đoàn kết quốc gia người ta đều có thể nghĩ ngay đến cụm
từ nầy (từ Aûi Nam Quan đến Mũi Cà Mau). Mũi Cà Mau và
Aûi Nam Quan do đó đă trở thành hai địa danh thiêng
liêng trong tâm hồn người dân Việt từ bao đời.
Đất nước của chúng ta càng nh́n về thuở xa
xưa chừng nào càng rộng ra và càng lùi sâu về phía Bắc
chừng nấy. Chúng ta không có những bản đồ ghi rơ những
đổi thay đó qua thời gian dài mấy ngàn năm trước Tây
Lịch. Nhưng trong tâm hồn người dân Việt vẫn c̣n những
mốc cấm phân chia ranh giới giữa ta và Tàu. Mốc cấm thứ
nhất là cột đồng Đông Hán do tướng Mă Viện cấm hồi
khoảng năm 42 Tây Lịch. Mă Viện cho cấm trụ đồng nầy để
phân chia ranh giới giữa hai nước. Trên cột đồng có khắc
câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” mà đa số người Việt
Nam đều nhớ nằm ḷng. Câu đó có nghĩa là khi nào trụ
đồng găy đổ th́ dân Giao Chỉ sẽ bị tiêu diệt. Sợ trụ
đồng găy đổ nên ông cha ta, mỗi người một viên đá cứ đem
tới màđắp vào dưới gốc trụ đồng cho đến một ngày kia đá
chất lên thành núi lấp mất cả trụ đồng. Cột đồng Mă Viện
ở đâu, nay ta không c̣n dấu vết ǵ cả. Trước đây trong
số các thức giả có người ức đoán vị trí của cột đồng nằm
trong vùng đất Cổ Lâu hay ở trong chân núi Phân Mao
thuộc Châu Khâm của tĩnh Quảng Tây bên Tàu.
Mốc cấm thứ hai rơ ràng chính xác hơn. Đó là
Aûi Nam Quan mà h́nh ảnh vẫn chưa và sẽ không bao giờ
phai mờ trong sách sử. Đây là một ải quan do Trung Hoa
dựng lên trên con đường qua lại giữa hai nước để ngăn
chia ranh giới của đôi bên: bên phía Bắc là châu Bằng
Tường tĩnh Quảng Tây Trung Hoa, và phía bên Nam là xă
Đồng Đăng châu Văn Uyên tĩnh Lạng Sơn của Việt Nam. Bên
phía Bắc cửa ải có “Chiêu Đức Đài” do nhà Thanh xây cất
để cho sứ bộ Trung Hoa nghỉ ngơi trước khi lên đường
sang Việt Nam. Trên cửa ải có tấm biển đề “Trấn Nam Quan”.
Bên phía Nam cửa ải có Ngưỡng Đức Đài là phần xây cất
của nhà Nguyễn để làm chỗ tiếp đón sứ bộ Trung Hoa sang
công cán ở Việt Nam và cũng là nơi nghỉ chân của sứ bộ
Việt Nam trên đường sang Trung Quốc. Theo các sử quan
nhà Nguyễn th́ Aûi Nam Quan ra đời lúc nào không thấy
ghi lại trong sách sử. Chỉ biết khoảng đời Lê Cảnh Hưng
(niên hiệu của Lê Hiển Tông, 1740-1786), đốc trấn Lạng
Sơn là Nguyễn Trọng Đang khi sửa lại “Ngưỡng Đức Đài” có
cho lập bia trên đó có ghi đại lược như sau: “Nước Việt
ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rơ, là v́ diên
cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới châu Văn
Uyên trấn Lạng Sơn làm cửa quan. Cửa quan có Ngưỡng Đức
Đài không rơ dựng tự năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia
Tĩnh nhà Minh”.
Cửa Nam Quan mang nhiều tên khác nhau tùy
triều đại. Cửa Nam Quan c̣n có tên là cửa Pha Lủy, từ
đời Lê trung hưng người Tàu gọi là Trấn Nam Quan. Có lúc
được gọi là Đại Nam Quan, Trấn Di Quan…Mao Trạch Đông
đổi tên là Mục Nam Quan c̣n Hồ Chí Minh th́ gọi là Hữu
Nghị Quan. Tuy nhiên cái tên đẹp nhất, quen thuộc nhất
và cũng thiêng liêng nhất đối với đa số người Việt Nam
vẫn là Aûi Nam Quan.
Aûi Nam Quan nằm ở địa đầu tĩnh Lạng Sơn,
cách Hà Nội 167 km về phía Đông Bắc. Lạng Sơn là một
tỉnh lớn có 6,200 cây số vuông diện tích. Ở phía Bắc,
Lạng Sơn giáp giới với tỉnh Cao Bằng và Trung Hoa. Ở
phía Tây là tỉnh Bắc Kạn, phía Tây Nam là Thái Nguyên.
Phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang và phía Đông là tỉnh Hải
Ninh. Lạng Sơn ở trên cao độ thay đổi từ 100m đến 1,000
m. V́ xa biển nên hơi lạnh so với Hải Ninh; nhiệt độ
trung b́nh ở đây là 21.7 độ C. Con sông quan trọng chảy
qua Lạng Sơn là sông Kỳ Cùng, dài 170 km. Khoảng cách từ
Hà Nội lên tỉnh lỵ Lạng Sơn là 154 km về hướng Đông Bắc.
Từ dây đi thêm 2 km nữa là đến Phố Kỳ Lừa. Phố hay chợ
Kỳ Lừa lập ra hồi tiền bán thế kỷ XV, là một nơi buôn
bán sầm uất. Ở đây có món nem chua cũng rất nổi tiếng.
Từ Kỳ Lừa đi thêm 10 km nữa th́ đến Đồng Đăng, nơi đây
có nhiều phong cảnh đặc biệt.. Từ Đồng Đăng đi thêm 5 km
nữa là đến Aûi Nam Quan. Phía Tây Phố Kỳ Lừa có động Tam
Thanh. Động Tam Thanh cũng gọi là chùa Tam Thanh v́ dây
là ba hang động có thờ Phật trong đó. Động nhỏ nhất
trong ba động là Động Nhất Thanh trong đó ngoài tượng
Phật c̣n có thờ Ngô Th́ Sĩ, cha của Ngô Th́ Nhậm. Ngô
Th́ Sĩ đỗ tiến sĩ năm 41 tuổi, làm quan đến Đốc Trấn
Lạng Sơn. Oâng là người rất liêm khiết , rất thương dân,
lo lắng giúp đỡ dân nên khi chết được dân chúng tạc
tượng thờ ở đây. Trước động Tam Thanh có núi Vọng Phu và
tượng nàng Tô Thị mà câu chuyện thương tâm đă được nhạc
sĩ Lê Thương diễn tả trong những bảng nhạc Ḥn Vọng Phu
bất tử của ông. Các địa danh nổi tiếng nầy cũng đă được
người dân Việt ghi lại trong những câu ca dao :
“Đồng Đăng có Phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam
Thanh”.
Từ xưa tỉnh Lạng Sơn với cửa Nam Quan đă từng là nơi
diễn ra bao nhiêu biến cố lịch sư ûđau thương cũng có
nhưng phần lớn là oai hùng của dân tộc Việt. Đây là nơi
xảy ra câu chuyện “hận Nam Quan” với lời dặn ḍ của
Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trăi “con phải trở về thay
cha báo thù nhà đáp đền nợ nước”, đánh dấu việc Nguyễn
Trăi gạt nước mắt nghe theo lời cha đau đớn quay về thao
luyện binh tướng pḥ tá B́nh Định Vương dành lại độc lập
cho xứ sở. Bao nhiêu binh tướng kiêu hùng của Trung
Quốc đă xông vào cửa ải nầy qua dày xéo lănh thổ Việt,
rồi cũng bao nhiêu binh tướng đó mua lấy thất bại chua
cay hoặc bỏ thây trên quê người hoặc nhục nhă xác xơ
chạy trối chết qua cửa nầy về Trung Quốc như Thoát Hoan
(nhà Nguyên), như Liễu Thăng (nhà Minh), như Tôn Sĩ Nghị
(nhà Thanh).
Tiếc thay! Lạng Sơn ngày nay phải chứng kiến một cảnh
tượng đau ḷng: cửa Nam Quan không c̣n nằm ngay trên
biên giới của tỉnh này và tỉnh Quảng Tây nữa, nó đă lùi
xa vào phần đất của Trung Hoa. Xin kết thúc ở đây bằng
mấy câu thơ trong bài “Vịnh Bức Dư Đồ Rách” của Tản Đà
để kính tặng cho những ai c̣n biết nghĩ tới công lao
xương máu của cha ông trong việc bảo vệ biên cương, giữ
ǵn lănh thổ, xây dựng đất nước cho giống ṇi Hồng Lạc.
“Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông, núi núi khéo bia cười.
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tă tơi.”
Nguyễn
Thanh Liêm