Hóa chất có thể gây nhiễm vào bất
cứ giai đoạn nào trong tiến tŕnh phát triển và tăng
trưởng của các loài động vật và thực vật. Người ta
gọi đây là hiện tượng tích lũy sinh học (bioaccumulation).
Ngoài ra, trong lúc sản xuất, biến chế, bảo quản và
tồn trữ, hóa chất cũng đôi khi dễ dàng lây nhiễm vào
thực phẩm. Nguồn gây nhiễm có thể là do:
-
Ô nhiễm kỹ nghệ (BPC, Dioxine)
-
Canh nông (thí dụ, các loại nông dược)
-
Biến chế thực phẩm (các chất phụ- gia)
-
Các chất độc thiên nhiên (độc tố
Aflatoxine từ nấm mốc)
Ảnh
hưởng trên sức khoẻ cũng rất thay đổi tùy theo loại hóa chất,
nồng độ và số lượng ăn vào, có ăn thường xuyên hay không và
đôi khi cũng tùy theo cá nhân mỗi người nữa.
Các nông dược nhóm organochlorés
Điển
h́nh là các chất DDT, MIREX, ALDRIN vv….MIREX thường thấy tích
tụ trong cá và lươn. Phần lớn các chất nhóm organochlorés
đă bị cấm sử dụng tại các quốc gia Tây Phương và lần lần được
thay thế bởi những hoá chất nhóm organophosphorés.
Ngược lai, các quốc gia đang phát triển vẫn c̣n tiếp tục xài
các hoá chất nhóm organochlorés. Chất tồn dư nhóm
organochlorés thường tích tụ trong mỡ của các loài động
vật và cả trong sữa ḅ nữa. Triệu chứng ngộ độc thường thấy là
nôn mửa, cơ thể bải hoải, thần kinh rối loạn và co giật, nhưng
điều mà mọi người lo sợ nhất là... ung thư.
NÔNG DƯỢC NHÓM ORGANOPHOSPHORÉS
Thí
dụ như DIAZINON, MALATHION, PARATHION vv.... Hoá chất nhóm nầy
thường tích tụ nhiều trên các loài thực vật có lá.
Nhiễm độc nhẹ sẽ gây rối loạn tiêu hóa, nôn
mửa, tiêu chảy và chóng mặt. Nói chung, hóa chất nhóm
organophosphorés rất độc cho hệ thần kinh và có thể làm
suy hô hấp.

CÁC CHẤT PHỤ GIA
Canada có vào khoảng 400 chất phụ gia đang được cho phép sử
dụng. Chất phụ gia được thêm trong thức ăn và thức uống để cải
thiện chất lượng, để thay đổi màu sắc, cũng như để kéo dài
thời gian bảo quản và tồn trữ. Không phải chất phụ gia nào
cũng đều có hại cho sức khỏe hết. Chỉ có một số ít chất như
vài loại màu hóa học nhân tạo là có thể gây hại đến sức khỏe
thôi...Phản ứng thông thường thuộc loại phản ứng dị ứng, như
ngứa ngáy, da nổi đỏ, nổi mề đay, khó thở, nhức đầu, đau bụng
và bị tiêu chảy vv....Một số chất phụ gia cũng bị nghi ngờ là
nguyên nhân của vài loại cancer.
Bột
ngọt (MSG) là thủ phạm của hội chứng nhà hàng Tàu (syndrome
du restaurant chinois). Có người khi ăn bột ngọt sẽ
bị nôn mửa, ngứa ngáy, mặt đỏ, ngộp thở, chóng mặt, nóng ran
sau ót, ở hai cánh tay, và ở vùng ngực… Chất Sulfite
được dùng để bảo quản thực phẩm và giúp giữ màu sắc được
tươi thắm hơn, Sulfite có nhiều trong nước nho, trong
rượu chát, sauce tomate, trong một số rau quả đóng hộp và
trong các loại bánh mứt…Chất Nitrite và Nitrate
(sodium et potassium) dùng để ướp muối thịt, khi nướng
sẽ cho ra chất Nitrosamine, là một chất gây cancer. Tại
một số quốc gia vùng Á Đông, trong đó có VN, rất nhiều hóa
chất độc hại cho sức khỏe có thể được nhà sản xuất tự tiện
thêm vào sản phẩm một cách bất hợp pháp nhằm mục đích bảo quản
và kinh doanh…Hàn the (borax) ướp thịt cho tươi
thắm…Formaldehyde giúp cho hủ tiếu khô được dai…
Hóa chất lạ (giúp trái cây được tươi, lâu hư)…Phân
urê và thuốc kháng sinh
Streptomycin dùng ướp cá là những thí dụ được nhiều
người thường nói đến.
CÁC CHẤT KIM LOẠI
CH̀ (Pb):
Có thể thấy nhiều trong kỹ nghệ chế biến b́nh điện, trong các
loại thực phẩm đóng hộp, và trong các hệ thống ống dẫn nước
bằng ch́. Ngộ độc ch́ sẽ làm đau bụng, mất máu, đi đứng khó
khăn và các triệu chứng thần kinh khác.
CADMIUM (Cd): T́m thấy trong kỹ nghệ khai thác các quặn
đồng, ch́ và kẽm, trong kỹ nghệ mạ kền, kỹ nghệ làm plastique,
sản xuất nước sơn vv... Nhiễm cadmium lâu ngày, hệ miễn dịch
sẽ bị tổn hại, ngoài ra cadmium cũng có thể gây cancer.
Cadmium tích tụ trong tôm, cua, ṣ, ốc và trong gan thận thú
rừng, hưu, nai và caribou.
THỦY-NGÂN (Hg): Dưới dạng methyl mercury (MeHg),
là chất phế thải từ các nhà máy làm bột giấy và từ kỹ nghệ
khai thác hầm mỏ. Thủy ngân thường tích tụ trong thịt và trong
gan cá. Trong thiên nhiên, do hiện tượng cá lớn nuốt cá bé cho
nên những loại cá nào ở tận cùng dây chuyền thực phẩm là loại
cá chứa nhiều thủy ngân nhất. Cá mập hay cá nhám (shark),
cá tuna, cá lưỡi kiếm swordfish, brochet,
cá doré, cá king mackerel, cá tile fish
là những cá có độ nhiễm thủy ngân nhiều hơn cá hareng.
Thủy ngân tích lũy theo thời gian và quyện một cách chặt chẽ
vào protéine của cá…Khác với cá biển, cá sông hồ nội điạ lại
thường chứa một tỉ lệ chất ô nhiễm khá cao. Ở người, triệu
chứng nhiễm thủy ngân thay đổi khác nhau tùy theo nồng độ và
tùy theo thời gian nhiễm. Thủy ngân có thể gây độc cho bào
thai, cho trẻ em và người lớn. Triệu chứng chính thuộc hệ thần
kinh trung ương như cảm giác tê quanh môi, ở các ngón chân và
ngón tay rồi lần lần ăn nói khó khăn, mắt và tai kém, mỏi mệt,
nhức đầu, bồn chồn, không tập trung tư tưởng được, cơ thể càng
ngày càng yếu đi, đi đứng rất ư là khó khăn, và cuối cùng th́
hôn mê và chết…Santé Canada cho phép mức độ nhiễm thủy ngân ở
cảc loài thủy sản là 0.5 ppm. Tại Hoa kỳ cơ quan FDA ấn định
mức cho phép là 1ppm.
DIOXINE
Nguồn
ô nhiễm chính là các nhà máy đốt rác và các chất phế thải. Kỹ
nghệ sản xuất các thuốc diệt cỏ nhóm organochlorés cũng
làm phát sinh ra dioxine. Trong thiên nhiên,
cháy rừng và hoạt động của núi lửa cũng là nguyên nhân của sự
ô nhiễm dioxine. Thuốc khai quang màu da cam 2,4-D
được sử dụng tại Việt Nam ngày trước là một trong nhiều nguyên
nhân ô nhiễm dioxine tại miền Nam. Dioxine ít
hoà tan trong nước, nhưng lại dễ hoà tan trong mỡ và chất
béo…Ở người, phần lớn ô nhiễm dioxine có nguồn gốc từ
việc ăn uống. Dioxine đuợc t́m thấy trong cá, tôm, cua, ṣ,
ốc, trong sữa ḅ và cả trong trứng gà nữa. Nhiễm dioxine
lâu ngày có thể làm xuất hiện một loại bịnh ngoài da rất độc
hại, gọi là chloracné. Các hệ miễn dịch, nội
tiết, sinh dục và thần kinh đều bị tổn hại. Sinh ra quái thai
và ung thư là hiểm họa đáng sợ nhất của dioxine.
BPC
(Biphényles
Polychlorés)
Mặc
dù đă bị cấm sử dụng tại Canada từ những năm 80, nhưng
BPC vẫn c̣n là hóa chất thường hay được báo chí nói
đến luôn. BPC đă được dùng trong các vật liệu chống lửa, trong
nước sơn, trong mực in và trong những máy biến thế điện (transformateur)…BPC
làm tổn hại hệ miễn dịch và cũng có thể gây ra cancer. BPC
được tiết qua sữa mẹ. Trong dây chuyền thực phẩm, cá là loại
nhiễm BPC nhiều nhất và từ đó lây nhiễm cho loài người…Tập chí
Protégez vous ở Quebec, số tháng 2/2002 có báo động là
cá Saumon de l'Atlantique đă bị nhiễm độc BPC ở mức độ
rất cao. Cá được nuôi dưỡng theo lối công nghiệp trong những
bè vĩ đại ven bờ biển Canada vùng Vancouver và Halifax, và
được cho ăn toàn thức ăn hỗn hợp làm từ bột cá tạp, bột lông
gà, bột bắp, dầu thực vật, và trụ sinh vv... Nhưng không biết
v́ lẽ ǵ loại dầu sử dụng đă bị nhiễm BPC nên đă lây nhiễm cho
cá nói trên.

KẾT LUẬN
Nói
chung, cũng may là đa số hóa chất gây nhiễm trong thực phẩm
thường nằm dưới giới hạn quy định của Santé
Canada. Sống trong một đất nước quá ư tiên tiến và kỹ nghệ
th́ vấn đề ô nhiễm môi sinh ắt khó tránh khỏi được. Đây là vấn
đề làm nhiều người trong chúng ta thường hay lo nghĩ đến. Tuy
nhiên, để hạn chế bớt tác dụng độc hại của một số hóa chất
trên sức khỏe, chúng ta cần nên lưu ư đến các điểm sau đây:
-
Độ nhiễm cũng thay đổi tùy theo từng
vùng, có gần các khu kỹ nghệ hay không? Sông, rạch, ao hồ
nội điạ nhiễm nhiều hơn vùng đại dương .
-
Đồ ḷng, gan, thận thú rừng,
hưu, nai chứa nhiều chất kim loại như Cadmium .
-
Mỡ và da cá
là nơi tích tụ nhiều BPC và Dioxine .
-
Để tránh hiện tượng tích lũy độc chất,
nên thường xuyên thay đổi loại cá ăn .
-
Tại Bắc Mỹ, phụ nữ đang mang thai
hoặc đang cho con bú cần nên hết sức thận trọng, tốt hơn hết
là tránh dùng các loại cá như cá nhám (cá mập), cá lưỡi kiếm
(swordfish), cá tuna, king mackerel,
và cá tile fish.
-
Tất cả thực phẩm sản xuất theo lối công
nghiệp đều có chứa hóa chất.
-
Ăn, rau, cải, trái cây phải rửa kỹ, và
phải gọt bỏ vỏ.
-
Cách nấu nướng, như nướng chiên ở nhiệt
độ cao, hoặc trực tiếp trên lửa ngọn, thường làm
phát sinh ra chất HAAs (heterocyclic aromatic amines),
là chất có thể gây ra ung thư.
Montreal, Nov 25 , 2006