SỰ DUNG H̉A GIỮA GIÁO LƯ
TỪ BI
VÀ TINH THẦN ÁI QUỐC
TRONG PHẬT GIÁO H̉A
HẢO
Đỗ Tiến Nhă
Đức Huỳnh
Giáo Chủ của Phật Giáo Ḥa Hảo đă gắn liền vận mệnh dân tộc và các
nền móng văn hóa đạo đức với sự tồn vong của đất nước như sau:
Hễ
nước mất th́ cơ sở của Đạo bị lấp vùi,
Nước
c̣n th́ nền Đạo được phát khai rực rỡ.
Một vài người lưu tâm đến đến công việc xă hội, khi nh́n qua mặt
ngoài của P.G.H.H., đă tỏ ư thắc mắc v́ sao Giáo lư của Đạo là
Giáo lư của Phật, nay người tín đồ P.G.H.H. vùa tri hành Giáo lư
ấy, lại vừa đề cao tinh thần ái quốc bằng cách có lúc đă vơ trang
để bảo vệ quốc gia, như thế có xem như là mâu thuẫn với nhau chăng?
Để giải tỏa nghi vấn đó, chúng ta trước hăy nghiên cứu kỹ pháp môn
tu Nhân học Phật của Đạo, đồng thời phải t́m hiểu thế nào là từ bi
và thế nào là ái quốc theo ư nghĩa chân xác của nó.
Trước khi làm điều đó thiết tưởng nếu quư vị đă hiểu sơ về những
điều căn bản của giáo lư nầy thi quư vị hiểu rơ hơn mục đích của
PGHH là ǵ. Nói khác đi quư vị có thể hiểu PGHH là sự tổng hợp của
Phật, Khổng và Lăo giáo, là ba
trụ cột của văn hoá Việt Nam
nói riêng và của vùng Đông Á
nói chung nhiều ngh́n năm.
Hơn
nữa, nếu đă hiểu bối cảnh
lịch sử chính trị trong đó nền
đạo nầy ra đời th́ chúng ta có
thể dễ thông cảm hơn đối với
chủ trương về sự gắn bó giữa
t
ừ bi và tinh thần ái quốc trong
quan niệm của PGHH..
Từ bi không có nghĩa
cầu an tiêu cực
Phần đông thường hiểu Từ bi
là thể hiện của đức tính ḥa
nhă, nhu ḿ, và nếu cần, tư thế
cứ ù ĺ bất động.
Người ngoại cuộc, có tinh thần
đối kháng, c̣n cho từ bi là ngồi
thừ ra đó, cứ
“từ bi vi Phật”,
ai
chết mặc ai, ai gây gổ trối kệ,
ai làm ǵ cũng phải, thấy sao
hay vậy, chẳng nói không rằng.
Nhận xét đó c̣n sai xa giáo
nghĩa uyên áo của thiền môn.
Chư Phật từng dạy rằng:
“Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết
chúng sanh chi khổ”.
Đă phải ra sức để cứu khổ cho chúng sanh, phải làm
cho chúng sanh được an vui,
không bị ai đè lưng, bóp cổ,
tránh được đói rét hoành hành,
khỏi mắc phiền năo bủa vây,
th́ từ bi là hiện thân của xả kỷ,
lợi tha, nào có phải đâu là cầu
an, tiêu cực!
Chẳng những không tiêu cực
mà ta phải thẳng thắn nói rằng
từ bi c̣n có nghĩa tích cực là đằng khác!
- Tích cực d́u dắt, dạy dỗ người kém hơn ḿnh với tất cả
ḷng từ,
không để cho mọi người lầm lạc vào đường tội lỗi, khiến họ tránh
được mọi khổ đau, cùng khốn, xây dựng
một con người đúng với chân
thân chân tính con người của
nó;
- Tích cực chống trả mọi hờn
ghen, ghét bỏ của nội tâm, mọi đàn áp bất công có thể
rắc gieo tai họa cho dân lành vô tội, rồi đem tánh bi mà
bao dung, thương xót, tha thứ. Vậy kẻ nào muốn thực hiện trọn vẹn
giáo nghĩa từ bi, nhứt định không phải là kẻ cầu an, tiêu cực, chỉ
biết buông xuôi ḍng đời ngày tháng muốn trôi giạt bồng bềnh bất
cứ về đâu ...
Ái quốc không có nghĩa
bài ngoại, hiếu sát
Trong bốn ân mà Phật dạy, có ân quốc vương thủy thổ. Bởi v́ có đất
nước ta mới có chỗ cư trú, sống c̣n; và quốc vương, theo quan niệm
thời xưa, ta mới có an ninh trật tự. Do đó mà người tu Phật, không
thể không bảo vệ biên cương, không thể không mang ơn người sáng
quốc. Cho nên các sơn môn thiền chủ thời Đinh, Lê, Lư, Trần tuy đă
ăn nằm trong cửa Phật, từng thấm nhuần ư nghĩa từ bi, nhưng cũng
không hề lăng quên bổn phận cần vương, cứu chúng.Tuy nhiên, ái
quốc không có nghĩa bài ngoại, hiếu sát, và nhất là nhà tu hành
càng không nên quên chủ nghĩa từ bi bác ái của ḿnh. Vậy ái quốc
nhất định không phải chống ghét kẻ ngoài, và không v́ chóa mắt
quyền mà hăng say sát phạt.
Ái quốc là một cạnh
khía của Từ bi
Như trên đă thấy, Từ
là phải t́m cho chúng sanh niềm vui và
Bi là phải
xót thương và phải làm cứu khổ cho mọi người. Nếu nước mất th́
người dân mất hết niềm vui, phải bị xích cùm ràng buộc, chết hại
thảm thương, người có ḷng từ
bi đâu nỡ thấy đồng chủng
ḿnh bị kẻ xâm lăng giày xéo!
Phương chi
“hễ nước mất th́ cơ sở của Đạo bị lấp vùi, nước c̣n
nền Đạo được phát khai rực rỡ”.
Cho nên cứu quốc cũng là một h́nh thức bảo vệ
tín ngưỡng nữa. Trong tứ đại
trọng ấn, riêng về ân đất nước,
Đức Giáo Chủ đă dạy các tín
đồ của Ngài rằng:
“Hăy tùy tài tùy sức, nổ lực hy sinh cho xứ sở.
Thoảng như không đủ tài lực đảm đương việc lớn chưa gặp thời cơ
giúp
đỡ quê hương, ta phải ráng
tránh đừng làm việc ǵ sơ xuất
đến đỗi làm cho nước nhà đau
khổ, và đừng giúp cho kẻ ngoại
địch gây sự tổn hại đến đất
nước. Đó là ta đền ơn cho đất
nước vậy”.
Giáo lư
từ bi và tinh thần ái quốc cùng dung hóa môt cách thích đương.
Bởi
quan niệm đất nước là hệ
trọng cho kiếp sống của con
người và sự tồn vong của Đạo
pháp, nên khi nó bị xâm lăng,
Đức Giáo Chủ đă chủ trương
cứu nguy tổ quốc. Ngài đă quả quyết trong mấy vần thơ:
Thấy
dân thấy nước nghĩ mà đau
Quyết
rứt cà sa khoác chiến bào
Đuổi
bọn xâm lăng ǵn đất nước
Ngọn cờ
độc lập phất phơ cao
Và
để động viên tinh thần sĩ
dân góp phần chống đỡ giang
sơn, Ngài đă hô hào sự tích
cực góp tay của các giới.
Đối
với thanh niên, Ngài nhắc
nhở:
Trải
qua cũng lắm hồi vận bỉ
Rồi anh
em tráng sĩ đứng lên
Liều
ḿnh đục pháo xông tên
C̣n
đối với phụ nữ, Ngài cũng
không quên khuyến khích họ
tham gia phong trào cứu nước:
Chị em
ơi! Bắc Nam là một
Chị em
là rường cột giống ṇi
Dở sử
xanh Nam Việt mà coi
Gương
Trưng Triệu c̣n soi muôn thuở.
Tuy
nhiên, bên cạnh tinh thần
ái quốc đó, ta c̣n phải thiết tha
nghĩ tới t́nh nhân loại đậm đà
mà giáo lư từ bi đă ư thức cho
ta. Hăy nghe lời giảng dạy của
Đức Giáo Chủ:
“Ngoài đồng bào, ta c̣n có thế
giới người đang cặm cụi cần
lao cung cấp những điều nhu
cầu cần thiết; họ là nhân loại là
những người đang sinh sống
với chúng ta trên quả địa cầu.
Nếu không có nhân loại, thử
hỏi dân tộc ta ra như thế nào? Ta có đủ vật liệu để
dùng chăng? …
Vả lại cái t́nh từ bi bác ái của
Đức Phật mà ta đă nhận thức,
rất thâm huyền quảng hượt. Cái t́nh ấy nó không bến
không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc, nó
cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết từng lớp đẳng cấp xă hội,
mà chỉ đặt vào một: Nhân loại chúng sanh.
Thế ta không có lư do ǵ chánh đáng để v́ ḿnh hay v́ đồng bào
ḿnh, gây ra tai hại cho các dân tộc khác. Trái lại, hăy
đặt vào họ một tư tưởng nhân
ḥa, một tinh thần hỉ xả và hăy
tự xem ḿnh có bổn phận giúp
đỡ họ trong cơn hoạn nạn”.
Nhưng người tu không được vịn vào cớ ái quốc mà để cho lợi danh
cám dỗ. Tuy lăn xả vào đời để cứu dân giúp nước, những bậc chân tu
tiêu biểu đứng đắn cho đạo Phật không bao giờ để lợi danh cám dỗ.
Nếu họ v́ sự cần thiết lắm mà phải đứng ra hoạt động cứu quốc th́
đó là thực hiện bổn phận công dân, chỉ là trường hợp tự vệ, không
phải
v́ danh vọng hăo huyền, không
phải v́ mang nặng tư tưởng vơ
trang, mà mục đích tối thượng
cũng chỉ là muốn đem lại phúc
lợi cho toàn dân. Dưới ngọn
đuốc từ bi, Đức Thầy lên tiếng:
“Vậy hăy coi toàn dân như anh em một nhà, mong họ
liên kết với chúng ta để kiến thiết lại quê hương cùng nền Đạo
nghĩa. Những kẻ bạo tàn từ trước đến giờ, nay đă ăn năn
giác ngộ th́ hăy dĩ đức nhiêu dung tội trạng của họ,
để sau
này cho quốc gia định đoạt,
c̣n ḿnh chỉ khuyên họ trở lại
đường lành, chớ chẳng nên
làm điều ǵ thái quá mà động
đến từ tâm của chư Phật. Mong các người hăy tuân theo”
...
Chung quy, việc cứu nước chỉ là một phương tiện trong một giai
đọan để bảo vệ quốc gia đồng bào và tự do tín ngưỡng mà thôi. Khi
thái b́nh trở lại, người Phật tử, tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo, liền
trở về vị trí
nhà tu để được thẳng tiến vào
cơi siêu h́nh giải thoát như lời
Đức Tôn Sư phán dạy:
Đền
xong nợ nước thù nhà
Thiền
môn trở gót Phật Đà nam mô
Chừng
ấy mới tịnh vô nhứt vật
Bụi
hồng trần rứt sạch cửa không
Chuông
linh ngân tiếng đại đồng
Ta bà
thế giới sắc không một màu. ♦
Đỗ
Tiến Nhă


[BANTIN]