|
Hàn Lâm Nguyễn-Phú-Thứ
(Trich dẫn trong tác phẩm T́m Hiểu Viêc Đời Đă Qua 1
của Nguyễn-Phú-Thứ)
Như đă biết, nếu không có cha mẹ sanh thành dưỡng dục,
th́ không có chúng ta ở trên quả đất nầy. Quả thật vậy :
Công Cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một ḷng thờ Mẹ kính Cha,
Cho tṛn chữ Hiếu mới là đạo con...
Ngoài ra, trong kinh Tâm Địa Quán, đức Phật cũng đă dạy
về công ơn cha mẹ như sau :
Ân cha lành cao như núi Thái,
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi,
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sanh ta.
Xuyên qua những lời dạy ở trên, tuy đơn sơ ngắn gọn,
nhưng nó vô cùng trân quư, bởi bổn phận làm con phải
biết hiếu kính với cha mẹ đă được thấm nhuần từ xa xưa
của tổ tiên ông bà để lại cho ngày hôm nay. Hơn nữa, nếu
xét về Dương Âm tức Trời Đất, th́ người Cha tức Dương và
người Mẹ tức Âm, chẳng khác nào ban ngày và ban đêm hay
nói khác đi, nếu không có Thiên Địa tức Trời Đất, th́
không thể tạo nên chúng sanh tức con người được, cho nên
nếu không có "Cha sanh, Mẹ dưỡng" th́ không thể có
chúng ta. Bởi v́ :
Có Cha, có Mẹ th́ hơn,
Không Cha, không Mẹ như đờn đứt dây. (*)
(*) Ở đây ngụ ư nói là khi chúng ta sanh
ra rồi, mà mất cha lẫn mẹ th́ khốn khổ vô cùng. Người
cha tuy không mang nặng đẻ đau như người mẹ, kể từ cấn
thai cho đến nở nhụy khai hoa (sanh nở), mẹ phải mang
nặng cái bào thai suốt trên chín tháng nặng nhọc, rồi bị
hành thai, ăn uống vô cùng khó khăn, làm cho sức khoẻ
của mẹ càng ngày tiều tụy, để rồi đúng ngày sanh nở phải
đẻ đau. Nếu việc sanh đẻ suông sẻ, b́nh thường là tốt
đẹp, th́ xem như "Mẹ tṛn Con vuông" (thành ngữ). Nếu
như sanh đẻ khó khăn, đôi khi cũng nguy hiểm đến tánh
mạng của mẹ, th́ không khác ǵ người mẹ đi biển một
ḿnh, bởi đúng với câu :
Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một ḿnh (tục ngữ).
Sau khi sanh nở xong, mẹ cũng phải cận kề
để lo cho con liên tục trong ba năm nhũ bộ, rồi cùng cha
lo từ tấm tả, từ manh quần tấm áo, từ giấc ngủ cho đến
khi đau ốm. Trái lại, nếu không có cha tạo thành cũng
như lao tâm, lao lực, nhọc trí lo lắng cho con từ tinh
thần đến vật chất để có sự sống và c̣n tiếp tay với mẹ
dạy dỗ con từ tấm bé cho đến khi khôn lớn, th́ không có
con ngày hôm nay. Công ơn của cha mẹ đối với các con
thật to lớn như trời cao, biển rộng, nào là mớm cơm cho
ăn từng bửa, nào là săn sóc cho con từng giấc ngủ canh
khuya, nhất là sự lo lắng lúc mọc răng, ấm đầu phải chạy
lo từng liều thuốc hay giọt sữa...Để rồi, khi con khôn
lớn, việc lo toan đó lại càng chồng chất nhiều hơn nữa
và mong sao con sau này sẽ nên danh nên phận, hữu dụng
với họ hàng, làng nước. Ngoài ra, trong thời kỳ mẹ mang
thai dạ chửa, cha lúc nào cũng cận kề mẹ, để săn sóc,
giúp đỡ mẹ từ miếng ăn, bởi v́ mẹ hết thèm món này đến
món nọ, nhất là những trái cây có vị chua hoặc vị ngọt
hay một nồi chè thật ngon ngọt cũng nên, thay v́ ăn cơm
b́nh thường như mọi ngày. Khi con lọt ḷng mẹ, cha cũng
phải đỡ đần mẹ để pha từng b́nh sữa, giặt giũ khi mẹ c̣n
non yếu sau khi sanh nở. Khi con được đầy tháng, cha
cũng đứng ra lo liệu lễ vật nhang đèn để cúng đầy tháng
cho con, cha khấn vái cầu xin mụ bà và các vị thần linh
phù hộ cho con mau ăn chóng lớn, có lẽ đó là lần đầu
tiên trọng đại trong đời khi cha mẹ có đứa con đầu ḷng.
Khi con được hai ba tháng, nằm ngữa hươ tay hươ chân, mở
mắt nh́n ngơ ngác, xoay đầu sang phải, sang trái, rồi nở
nụ cười vô tư hồn nhiên, nhưng làm cho cả nhà vui
mừng, quả thật nụ cười của con làm cho những nụ cười
rạng rỡ của các khuôn mặt người thân thương trong gia
đ́nh và xóa mờ những nếp nhăn trên trán của ông bà, bởi
v́ con đă biết nở nụ cười đầu đời, để rồi thời gian cứ
trôi qua, con lần lượt biết lật, biết ḅ, biết ngồi,
biết vịn tay cha mẹ đứng lên được, rồi bước những bước
rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích người thân
trong gia đ́nh vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn
tiếng của cha mẹ. Hơn nữa, cha cũng thường được phân
công đút cho con những miếng ăn đầu tiên... Ôi! làm sao
kể cho hết những công lao của cha dành cho con. Mỗi gia
đ́nh, mỗi cặp vợ chồng trẻ mới vừa được làm cha mẹ, sanh
được đứa con đầu ḷng, th́ lúc nào cha mẹ cũng dành hết
t́nh thương cho con, nhứt là cha sẵn sàng làm tṛ hề để
cho con vui hoặc làm thân trâu ngựa để cho con cỡi, miễn
sao con vui là được... Đó chính là t́nh thương của cha
dành cho con thật vô bờ bến vậy. Khi con đến tuổi đi học
vỡ ḷng, cha mẹ lo lắng đưa đón cho con đến trường, thật
đúng với câu : "Cha đưa, Mẹ đón" (thành ngữ). và hằng
đêm cha lại dạy dỗ từng chữ để con học để nên người sau
này. Do vậy, công cha đối với con cũng vô cùng to lớn
như mẹ vậy, nào là lo ăn mặc, cho con ăn học, dạy dỗ cho
con... bởi v́, chỉ có cha con mới sợ đ̣n, mà chịu nghe
lời dạy bảo hơn mẹ, bởi tục ngữ :
Mẹ đánh một trăm (*)
Không bằng cha hăm một tiếng
(*) một trăm là để chỉ 100 roi.
Công Cha như thế đó, c̣n công Mẹ như thế
nào?
Như chúng ta đều biết, sau khi con đă
chào đời, mẹ lúc nào cũng ở cận kề con hơn cha, để cho
con bú với bầu sữa mẹ mỗi khi con khát sữa, (Con không
khóc, mẹ không cho con bú), trong suốt ba năm nhũ bộ,
mỗi lần con mọc răng, ngứa nướu con thường cắn vú
mẹ, nhưng người mẹ vẫn cam chịu đau và lại mừng thầm
nữa, bởi v́, biết con đă mọc răng sữa, cho nên người mẹ
mới mắng yêu rằng : "Con đă mọc răng, nói năng ǵ nữa"
(tục ngữ). Khi con được vài tháng, mẹ bắt đầu nấu cháo
hay nhai cơm cho nhuyễn với cá hay thịt, với nước miếng
của mẹ làm cho dễ tiêu, rồi mớm cơm vào miệng cho con
ăn. Đó là phương pháp ngày xưa, phương pháp này rất tiện
và có cả t́nh thương của mẹ dành cho đứa con nữa, mặc dù
thấy không hạp vệ sanh như ngày nay... Do những công lao
của mẹ như trên, đă được trong dân gian truyền khẩu qua
ca dao, tục ngữ như sau :
Con mẹ có thương mẹ thay,
Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.
Cha mẹ sanh thành tạo hóa,
Nhai cơm, lựa cá, nhai cá lựa xương.
Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển (ca
dao)
Hay là :
Đố ai đếm được lá rừng,
Đố ai đếm được mấy từng trời cao,
Đố ai đếm được những v́ sao,
Đố ai đếm được, công lao mẫu từ.
hoặc là :
Nhớ ơn chín chữ (**) cù lao,
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu t́nh (***).
(**) Trong Kinh Thi của Khổng Tử đă nói
đến 9 điểm, gọi là 9 chữ cù lao dành cho người mẹ. Đó lả
: Sinh (sinh nở), Cúc (nâng đỡ), Phủ (vỗ về), Dục (dạy
dỗ), Súc (cho bú), Trưởng (nuôi
lớn), Cố (trong nôm), Phục (nuông chiều), Phúc (che chở)
.
(***) T́nh ở đây là t́nh mẹ dành cho con
thật bao la, bát ngát vô tận, mỗi lần mẹ cất tiếng ru
con ngủ, th́ mẹ cũng nói lên nỗi niềm ấy như sau :
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi,
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.
hay là :
Cha mẹ ngoảnh đi, th́ con dại,
Cha mẹ ngoảnh lại, th́ con khôn. (tục
ngữ)
Và mẹ cũng hy sanh, dành nơi khô ráo cho
con nằm ngủ, mỗi khi con đái dầm hoặc những đêm vào mùa
thu con không ngủ được, v́ trái nắng trở trời, mẹ phải
thức thâu đêm để đưa vơng ru cho con ngủ, bởi có câu :
Gió mùa thu mẹ mẹ ru con ngủ,
Năm canh chày thức đủ năm canh.
cho đến khi con lên ba tuổi, th́ cha mẹ
mới đỡ khổ. Quả đúng vậy, bởi v́ :
Ai rằng công mẹ như non,
Thực ra công mẹ lại c̣n lớn hơn.
Khi con khôn lớn, cha mẹ c̣n lo dựng vợ gả chồng (khi
nhắc đến Đám Cưới, thông thường trong dân gian
biểu tượng Rồng (Long) và Phượng (Phụng)
để chỉ Chồng và Vợ hoặc là trong các nhà
hàng ngày nay thường đặt tên Long Phụng.
Bởi do tứ linh Long, Lân, Quy, Phụng mà ra. Nếu
phân tích tứ linh së thấy : Long (dương), Lân
(âm), Quy (dương), Phụng (âm), cho nên
dùng tên Long Phụng cho ngắn gọn, để chỉ sự hạnh
phúc bởi có trời (dương) và đất (âm) tức có chồng có vợ
và trong dân gian thường chúc Đám Cưới : <Long
Phụng hoà minh, sắc cầm hăo hợp>).
, nhiều khi c̣n phải cực khổ với đàn cháu nhỏ cho đến
ngày theo ông bà, cho nên bổn phận làm con phải biết
kính hiếu cha mẹ, đúng như câu ca dao dưới đây :
Công cha ba năm t́nh thâm lai láng,
Nghĩa mẹ đậm đà chín tháng cưu mang,
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,
Biết lấy chi đền đáp khó khăn,
Hai đứa ḿnh lên non lấy đá xây lăng
phụng thờ.
Công ơn cha mẹ sâu dày như thế đó, nói
làm sao hết được, chỉ khi nào :
Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ (ca
dao).
Nhưng xét cho kỹ, công lao của cha mẹ đều
ngang nhau, cho nên nhân mùa Vu Lan, thiết nghĩ bổn phận
làm con, không những kính hiếu dành cho người mẹ bằng
hoa hồng hay hoa trắng, mà phải lẫn người cha nữa. Bởi
v́ :
Con có mẹ như măng ấp bẹ (thành ngữ)
hay là :
Con có cha như nhà có nóc (tục ngữ)
hoặc là :
C̣n cha gót đỏ như son,
Đến khi cha chết, gót con đen ś.
hay là :
C̣n cha nhiều kẻ yêu v́,
Một mai cha chết, ai th́ yêu con (ca
dao).
Hơn nữa,
Con có cha em đẻ,
Không ai ở lỗ nẻ mà lên (tục ngữ) ...v.v
Ngày nay, có nhiều chùa tổ chức lễ Vu Lan
không những chỉ dành cho mẹ mà lẫn cha như : cài bông
hồng cho những người nào c̣n mẹ hay cài bông trắng cho
những người đă mất mẹ, c̣n đối với cha th́ cài nơ màu
xanh cho những người nào c̣n cha hay cài nơ trắng cho
những người đă mất cha. Đây là một hành động vô cùng
công bằng, bởi v́ hằng năm đến mùa Vua Lan, cha lẫn mẹ
đều được các con kính hiếu. Việc kính trọng và báo hiếu
dành cho song thân, thiết nghĩ không chỉ về vật chất là
đủ, mà c̣n tinh thần nữa. Bởi v́, nếu những người con
lâm vào t́nh trạng nghèo khó, không đủ sinh sống hằng
ngày, th́ lấy đâu mua quà cáp để kính dâng cho cha mẹ
những món ăn ngon vật lạ, mà chỉ có những bửa cơm đạm
bạc và lo lắng sức khỏe cha mẹ khi tuổi về chiều hoặc
làm cho cha mẹ vui, bởi những lời hỏi thăm hay những
hành động không làm cho cha mẹ buồn ḷng, cũng là việc
kính hiếu vậy.
Trái lại, những người con giàu có th́
việc phụng dưỡng cha mẹ già về vật chất th́ không khó
khăn cho mấy, nhưng lại cho rằng : nay con đă lớn khôn,
giàu có, khỏe mạnh hơn cha mẹ, xem cha mẹ không ra ǵ,
có những hành động, lời nói vô lễ làm cho cha mẹ buồn
phiền, th́ việc kính hiếu của những người con đó sẽ
không được trọn vẹn, đôi khi đưa đến bất kính hiếu là
khác, bởi v́, chúng ta dù có giàu có, có lớn xác th́
chúng ta cũng là con của cha mẹ, th́ bổn phận làm con
vẫn là kính hiếu cha mẹ suốt đời không bao giờ thay đổi,
có như vậy việc phụng dưỡng cha mẹ mới được kính hiếu
trọn vẹn.
Hơn nữa, chúng ta đă thấy việc làm của
Đức Phật đáng cho chúng ta suy nghï, v́ Ngài đă có ngai
vàng, điện các, ngọc ngà, chu báu, vợ đẹp, con
ngoan...thế mà Ngài đă hoan hỉ xuất gia từ bỏ tất cả, để
ngày nay, Ngài đă đuơc cả trên thế giới kính trọng. Bởi
vi, chúng ta nên nhớ rằng : <Dù chúng ta có giàu sang
hay nghèo hèn đến đâu, khi chết không thể mang hết
được>, cho nên chúng ta phải biết thương người như thể
thương thân, huống chi kính hiếu cha mẹ.
Việc kính hiếu đối với cha mẹ, không
những thờ cha kính mẹ ngang nhau, bởi v́ cha mẹ là người
sanh thành dưỡng dục, mỗi người đều có công và trách
nhiệm để lo lắng, quả đúng với câu :
Mẹ dạy th́ con khéo,
Cha dạy th́ con khôn (tục ngữ).
Đối với mẹ, chúng ta phải có bổn phận xem
người mẹ như :
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp mật, như đường mía lau.
Hoặc là : Mẹ
già như chuối chín cây,
Gió đưa trái rụng con rày mồ côi.
(
Quả đúng vậy, bởi v́ khi Mẹ già có khác ǵ <Chuối
chín cây>, khi bị một ngọn gió Mẹ sẽ bị đau bịnh rồi
chết, hơn nữa nếu nhà nào có trồng chuối nhiều, sẽ
thấy buồng chuối chín cây, v́ không đốn
kịp, mỗi khi có ngọn gió, các trái chuối lần lượt rơi
rớt, có khác ǵ thân Mẹ già bị ngọn gió độc vậy. Đây
là, hai câu tục-ngữ rất xác-thực trong dân gian VN, đă
tài t́nh ví tuổi già yếu đuối của Mẹ không khác
Chuối chín cây).
Mẹ già ở túp lều tranh.
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con (cao
dao).
hay là :
Muốn cho gần mẹ gần cha,
Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền
Hoặc, nếu chúng ta ở gần chỉ c̣n có mẹ,
th́ phải đem món ngon vật lạ cho mẹ, ví như sau :
Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
Giă gạo cho trắng mà nuôi mẹ già,
hay là :
Đói ḷng ăn đọt Chà Là,
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
Hoặc, nếu chúng ta ở xa cha mẹ, người con
hiếu kính phải gởi về quà cáp cho cha mẹ, ví như sau :
Ai Về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kinh thầy.
hay là :
Ai về tôi gởi đôi giày,
Pḥng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Nếu một khi chúng ta bị lỗi với người mẹ,
th́ chỉ than như sau :
Me ơi! Đừng đánh con hoài,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Mẹ ơi! đừng đánh con hoài,
Để con bắt cá, hái xoài mẹ ăn (ca dao).
Để rồi, khi những người con gái của mẹ
đến tuổi lập gia đ́nh, nhưng v́ thương cha mẹ già, các
em c̣n thơ dại nên rất muốn ở gần, nên thốt ra những lời
như sau :
Mẹ ơi! Đừng gả con xa,
chim kêu vượn hú biết nhà mẹ đâu.
Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần không lấy, lấy chồng xa.
Một mai cha yếu mẹ già,
Chén cơm ai xới, kỷ trà ai dâng (ca dao).
Thời xa xưa, cha mẹ thường có trọn quyền
định đoạt mọi việc lớn nhỏ cho con cái, kể cả việc dựng
vợ gả chồng. Hể cha mẹ chọn đâu th́ con cái phải nghe
theo, v́ có câu : Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó (tục ngữ).
Cho nên, có những anh chàng thất vọng v́ không được cha
mẹ của nàng chấp nhận, đă than thở như sau :
Cha mẹ biểu ưng, em đừng nói phải,
Em nỡ ḷng nào bạc đăi bỏ anh (ca dao).
Thế nhưng, nàng lại một mực từ chối việc
bỏ nhà theo trai, nên mới thốt ra câu :
Cha sanh mẹ đẻ, không lẽ theo anh,
Xấu cha, xấu mẹ đôi ḿnh tốt chi...
Cha mẹ tôi già như đèn cháy nhấp nhem,
Bổn phận tôi gái, mấy em c̣n khờ...(ca
dao) .
Những lời của người con gái thốt lên ở
trên đối với người yêu quả thật đáng khen v́ đă làm tṛn
bổn phận con cái cũng như giữ ǵ được danh giá cho gia
đ́nh đối với cha mẹ, đó cũng là cách báo đền kính hiếu
cha mẹ vậy.
Việc kính hiếu đối với cha mẹ từ xưa
đến nay rất nhiều, riêng đối với Đức Khổng Tử chú trọng
dạy con người, trước nhứt phải đạt được chữ Nhân nghĩa
là con người phải có ḷng thành thật, nhân hậu đối với
những người thân cận chung quanh ḿnh, ví như cha mẹ,
anh chị em, rồi kế đến họ hàng thân tộc, bạn bè, sau
cùng là trong thiên hạ. Nếu đối với cha mẹ mà chúng ta
không biết kính hiếu, đối với với anh chị em không thuận
ḥa th́ không thể nói đó là người có ḷng nhân và thành
thật được. Đối với cha mẹ, chúng ta phải thương và kính,
bởi v́ : thương mà không kính, th́ không thể gọi là
hiếu đạo được. Sách Luận Ngữ, Vi Chính II, kể lại câu
chuyện như sau : Một hôm người học tṛ Tử Du hỏi
Khổng Tử về chữ Hiếu. Khổng Tử đáp : Có người nói Hiếu
là nuôi dưỡng cha mẹ, nhưng nếu nuôi mà không Kính, th́
có khác ǵ nuôi súc vật, lấy ǵ để phân biệt. Như
vậy, nuôi dưỡng cha mẹ phải cung kính, dầu ăn cơm hẩm,
uống nước lă, nhưng cha mẹ vẫn vui ḷng. Lúc cha mẹ c̣n
sanh tiền, con nên sống gần gũi cha mẹ để săn sóc lo ăn
uống cũng như thuốc thang mỗi khi cha em đau ốm, cho nên
con không được đi xa, bởi câu : "Phụ mẫu tồn, tử bất khả
viễn du" (Cha mẹ c̣n, con không được đi xa). Ngoài ra,
trong thành ngữ cũng có câu : "Con đâu, cha mẹ đó".
Trường hợp con bắt buộc phải đi xa, th́ nên cho cha mẹ
biết thời gian, nơi chốn rơ ràng để cha mẹ an tâm, khỏi
trông lo, bởi câu : "Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất
hữu phương" (Luận Ngữ, Lư Nhân IV). Việc hiếu đạo tức
phải có Lễ Nghĩa. Lễ là theo cái Lư phải. Nghĩa la theo
cái Đức phải. Nói rơ hơn, việc kính hiếu cha mẹ không có
nghĩa là lúc nào cha mẹ làm điều sai trái, người con
cũng phải nghe theo. Nhưng bổn phận con phải biết ngăn
cản cha mẹ làm việc sai trái, xấu xa, nếu cha mẹ cứ khư
khư tiếp tục làm sai trái không nghe theo, th́ bổn phận
con phải lựa lời nhă nhặn, từ tốn ôn ḥa, rồi từ từ
phân tách lẽ phải trái, bẩm thưa nhiều lần, để ngỏ hầu
cha mẹ biết kịp mà tránh. Do vậy, nếu cha mẹ biểu làm
điều sai trái, xấu xa mà con cứ nhắm mắt làm theo ư cha
mẹ, th́ con cũng phạm tội bất hiếu như thường : "Phụ hữu
trách tử tức thân bất hảm ư bất nghĩa, đương bất nghĩa
tắc trách chi. Tùng phụ lệnh an đắc vi hiếu". V́ thế,
con luôn luôn phải biết giữ ǵn danh giá, tiết nghĩa cho
cha mẹ, bằng cách nghe lời dạy bảo những điều hay lẽ
phải của cha mẹ và cản ngăn cha mẹ làm những điều
sai trái, xấu xa, như vậy con mới được xem là giữ tṛn
hiếu đạo. Ngoài ra, con có hiếu c̣n phải tiếp nối chí
khí, hành động, việc làm tốt của cha mẹ đă làm, chứ đừng
nhắm mắt làm càn, không chịu suy nghĩ tận tường : "Phù
hiếu giả thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự
giả gia" (Trung Dung). Khi cha mẹ măn phần, Đức Không
Tử cũng dặn ḍ người con nên chú trọng đến việc thờ
cúng cha mẹ, tổ tiên. Hơn nữa, con có hiếu là người c̣n
phải kết kính trọng những người mà cha mẹ tôn trọng và
yêu thương những người mà cha mẹ mến thương nữa. Do vậy,
người con trước sau phải một ḷng tôn kính, thương tưởng
cha mẹ khi c̣n sanh tiền hay đă mất : "Kính kỳ sở tồn,
ái kỳ sở thân, sự tử như sanh, sự vong như sự tồn (Trung
Dung).. Một người con có hiếu, c̣n phải biết đến tuổi
thọ của cha mẹ để hân hoan vui mừng khi thấy hằng năm
cha mẹ tăng thêm một tuổi thọ, được sống lâu với con
cháu và lo âu khi thấy sức khỏe cha mẹ càng ngày càng
già yếu. Đến khi cha mẹ quá văng, người con kính hiếu
cha mẹ cũng nên nhớ ngày giổ kỵ để cúng kiến cho cha mẹ
thật cho đáo. Trên đây, là những đơn cử, trích dẫn về
quan niệm chữ hiếu đối với cha mẹ do Đức Khổng Phu Tử đề
ra.
Được biết, Đức Khổng Phu Tử sanh vào mùa
Đông tháng 10 năm Canh Tuất, năm thứ 21 đời vua Linh
Vương nhà Chu tức năm 551 trước Tây Lịch, con của ông
Thúc Lương Ngột và bà Nhan Thị, Ông mất vào năm 497, thọ
được 72 tuổi, mộ chôn tại Khổng Lâm, cách huyện Khúc
Phụ, thuộc tỉnh Sơn Đông 2 dậm . Đức Khổng Phu Tử quả
là một nhà nhân bản, một bậc thầy vĩ đại của lịch sử
Trung Hoa. Trong các tác phẩm của ông và các môn đệ như
: Nhan Hồi, Tăng Tử, Tử Lộ, Mạnh Tử... gồm có : Ngũ Kinh
là Kinh Thi, Kinh Thơ, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu
và Tứ Thư là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử...
Đức Khổng Phu Tử cũng là nhà tư tưởng Trung Hoa đầu tiên
đề cập đến các quan hệ căn bản không những của nền Khổng
Học mà cả nền Triết Học Trung Hoa về Tu Thân (Se
Perfectionner) - Tề Gia (Diriger la famille) - Trị Quốc
(Gouverner un pays) - B́nh Thiên Hạ (Pacifier le monde)
trong đó có Tam Cang là Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ và
Ngũ Thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đối với nam
nhi, c̣n nữ nhi th́ phải làm tṛn bổn phận Tam Ṭng là
"Tại gia tùng phu, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử"
tức khi người con gái ở nhà cha mẹ phải nghe lời cha,
khi lấy chồng th́ phải theo chồng, khi chồng chết th́
phài theo con. Ngoài ra, c̣n phải ǵn giữ tứ đức là
Công, Dung, Ngôn, Hạnh.
Gương kính hiếu cha mẹ rất nhiều trong
sách vở như : Nhị Thập Tứ Hiếu, Kim Vân Kiều, Lục Vân
Tiên...Đặc biệt, trong Tứ Thư (Luận ngữ, Mạnh Tử) cũng
có nói về vua Thuấn là người con chí hiếu, đáng cho
chúng ta suy ngẫm. Vạn Chương, đệ tử của Mạnh Tử, có hỏi
Mạnh Tử: Không hiểu tại sao khi ông Thuấn c̣n cày ruộng
tại núi Lịch , thường ngó lên trời mà kêu gào khóc lóc
như vậy? Mạnh Tử đáp : Ông Thuấn có ḷng thán oán và
luyến mộ. Phàm làm con, được cha mẹ có thương th́ con
vui mừng và chẳng hề quên ơn cha mẹ. Nhưng cha mẹ có
ghét th́ người con làm lụng cực nhọc cha mẹ và chẳng hề
than oán. Vậy, tại sao ông Thuấn thán oán cha mẹ? Ông
Công Minh Cao (môn đệ của Tăng Tử) cho rằng : tấm ḷng
của người con hiếu thảo chưa dứt sầu khổ nếu chẳng được
t́nh thương của cha mẹ, cho nên ông Thuấn mới than! Ta
đem hết sức ḿnh ra cày ruộng, đó chẳng qua là làm tṛn
bổn phận làm con mà thôi, c̣n cha mẹ chẳng thương ta, ta
có lỗi ở chỗ nào? Trong khi ông Thuấn làm lụng vất vả ở
giữa đồng ruộng, nơi núi Lịch, th́ vua Nghiêu sai con
ḿnh 9 trai 2 gái và bá quan phụng sự ông Thuấn, rồi
lại cấp cho đủ thứ như ḅ trừu, kho lẫm. Kế đến, các nhà
trí thức trong thiên hạ lại kéo nhau theo ông Thuấn rất
đông, thế rồi ban đầu vua Nghiêu lập ông Thuấn lên cai
trị với vua Nghiêu, để về sau nhường ngôi lại cho ông.
Ông Thuấn dầu được cầm quyền nhiếp chánh và làm vua,
nhưng v́ chẳng được ḥa thuận với cha mẹ, ông Thuấn tự
coi ḿnh như kẻ khốn khổ chẳng biết nương tựa vào ai.
Ông Thuấn được các nhà trí thức trong thiên hạ hoan
nghinh và quí phục, đó là ư muốn của mọi người, thế mà
ông Thuấn chẳng đủ giải mối ưu sầu của ông. Hơn nữa, ông
Thuấn lại c̣n được người đẹp hầu hạ bên ông, đó là sở
dục của mọi người, sự giàu có bậc nhứt là làm thiên tử
gồm cả thiên hạ mà chẳng đủ giải mối ưu sầu của ông. Duy
chỉ có sự hoà thuận với cha mẹ mớí có thể giải được mối
ưu sầu này. Bực đại hiếu trọn đời lúc nào cũng luyến mộ
cha mẹ như lúc c̣n ấu thơ, chỉ thấy gương ở vua đại
Thuấn mà thôi.
Một hôm về thăm nhà, cha mẹ sai sửa lẫm
lúa, khi ông ở trên nóc nhà bị rút cây thang, rồi cha là
ông Cổ Tẩu liền đốt lẫm lúa, ông Thuấn nhờ cặp nách hai
cái sàng tre mà bay xuống được b́nh an. Một lần khác,
cha mẹ lại sai ông đào giếng, khi ông đào tới đáy giếng,
th́ ông cũng bị ông Cổ Tẩu cùng với ông Tượng là em cùng
cha khác mẹ liền lấp đất lại. Nhưng ông Thuấn đă đào sẵn
một đường ngách để pḥng thủ, cho nên ông theo đường
ngách để lên khỏi giếng. Tưởng rằng, ông Thuấn đă chết,
ông Tượng bèn hô lên : "Mưu lấp giếng để chôn sống vị đô
quân (ông Thuấn được thay quyền vua tại đô thành) hoàn
toàn do nơi công của ta. Từ đấy ḅ và trừu của anh
Thuấn, ta sẽ giao cho cha mẹ ta, kho lẫm của anh sẽ
thuộc về ta, đồ binh khí như can và qua về phần ta, đờn
cầm, cây cung có chạm cũng về ta, hai bà chị dâu sẽ dọn
giường cho ta... Rồi ông Tượng bèn đi vào cung vua, th́
thấy ông Thuấn đang ngồi trên giường mà khải đờn cầm,
khi đó vua Thuấn nói : này bá quan và thứ dân của anh,
anh sẽ giao cho em cai trị giúp anh, khi đó ông Tượng
mới xấu hổ thẹn đỏ cả mặt.
Ngoài ra, chỗ chí hiếu của người con như
ông Thuấn không chỉ lớn bằng làm cho cha mẹ được tôn
trọng, mà c̣n cha mẹ được hưởng nhiều hoa lợi, bởi v́
ông Thuấn được làm vua, đương nhiên ông Cổ Tẩu là cha
của thiên tử tức là ông Thuấn đă làm cho cha mẹ được tôn
trọng, cao quư vậy và đem hoa lợi trong thiên hạ để
phụng dưỡng cha mẹ. Đó chính là ông Thuấn đă dày công
báo đáp ơn sanh dưỡng của cha mẹ.
Trong Kinh Thi, Thiên Đại Nhă có chép :
"Làm con lúc nào cũng nên nghĩ đến hiếu đạo đối với
cha mẹ", nhờ vậy làm giềng mối cho hậu thế, tức con cháu
noi gương theo. Ngoài ra, trong Kinh Thơ c̣n ghi :
"Vua Thuấn thờ cha là ông Cổ Tẩu rất kính, mỗi khi đến
viếng thăm cha th́ rụt rè, nễ sợ. V́ thế, ông Cổ Tẩu mới
lần hồi được cảm hóa để trở nên ḥa thuận với ông Thuấn
là con ruột của ḿnh". Đối với vua Thuấn, quan niệm ở
trên đời là cha mẹ trước nhứt, bất cứ việc ǵ cũng phải
làm cho cha mẹ vui ḷng, để cha mẹ thuận hoà, thương yêu
với con. Nếu người con làm cho cha mẹ buồn phiền, th́
dẫu người con đó làm vua và được mọi người trong thiên
hạ kính nể, ngưỡng mộ và hết ḷng sủng ái, vua Thuấn
không xem quan trọng bằng cha mẹ. Hành động thờ kính cha
mẹ của vua Thuấn, chỉ có vua Thuấn làm được mà thôi. Bởi
thế cho nên người đời khen vua Thuấn là bậc đại hiếu
trong thiên hạ vậy... (Mạnh Tử).
Riêng về báo hiếu theo Phật Giáo, Đức
Phật thường đề cặp đến chữ hiếu nhiều nhứt trong các
kinh như : Vu Lan, Lễ Lục Phụng, Phân Biệt, Tăng Chi,
Bảo Tạng... Đức Phật dạy cho chúng sanh rất rơ ràng về
công ơn sanh thành dưỡng dục sâu dầy, to lớn của cha mẹ,
người con phải có bổn phận phụng dưỡng về vật chất lẫn
tinh thần, bằng chứng là trong kinh Lễ Lục Phụng, đă chỉ
dạy người con phải có bổn phận vơí cha mẹ được tóm lược
như sau : Vâng lời và giúp đỡ cha mẹ, chăm học, siêng
làm, giữ ǵn gia phong và danh dự gia đ́nh, bảo vệ tài
sản, khích lệ cha mẹ làm việc thiện, tu theo đạo giải
thoát để khỏi khổ về sau, lúc cha mẹ già phải phụng
dưỡng, đến khi cha mẹ mất, đám tang nên theo phong tục
và hoàn cảnh... Ngoài ra, trong kinh Nhẫn Nhục, Đức Phật
dạy rằng : "Tất cả các điều thiện, không có ǵ cao hơn
là có hiếu, tất cả các điều ác tệ nhứt là bất hiếu".Bởi
v́, công ơn cha mẹ quá cao dày, to lớn đến nỗi như
thế, nếu có người con vai mặt công cha, vai trái cơng
mẹ để đi khắp cả đại địa sơn hà, rồi đấm bớp hầu hạ suốt
đời, đôi lúc cha mẹ c̣n đại tiểu trên vai mà không chút
than phiền cũng chưa đủ để đền đáp công ơn cha mẹ (Kinh
Tăng Chi). Kinh này viết tiếp, người con đền đáp công ơn
cha mẹ chỉ bằng cách cung phụng đủ thứ vật chất hay tiền
bạc cũng chưa đủ để báo đền ơn sanh thành dưỡng
dục.Ngoài ra, người con cũng nên khuyên cha mẹ tu hạnh
bố thí, nếu được cha mẹ đồng ư chấp thuận, th́ người con
xem như trọn vẹn việc hiếu đạo đối với cha mẹ.
Trong kinh Vu Lan mô tả quả nghiệp của mẹ
ngài Mục Kiền Liên bi đoạ dày vào ngạ quỷ, v́ lúc sanh
tiền bà quá bỏn xẻn, tham lam. Mặc dù ngài Mục Kiền Liên
đă chứng được thần thông, thấy suốt ba cơi, nhưng ngài
cũng không thể tự ḿnh cứu mẹ ra khỏi chốn âm cung, mà
phải nhờ sức chú nguyện của chư tăng thập phương, nhân
ngày lễ Vu Lan tự tứ. Noi gương ngài Mục Kiền Liên,
người phật tử dầu bận rộn trăm bề, nhưng đến ngày lễ
Vu Lan báo hiếu cũng về chùa để tụng kinh, bái sám để
cầu cho những người thân, nhứt là những người đă có cha
mẹ quá văng được sớm siêu thoát tịnh độ. Trường hợp, nếu
chúng ta có cơ hội kính hiếu mà không thực hiện được
hoặc không xem việc kính hiếu là quan trọng hàng đầu hay
đôi khi c̣n đối xử với cha mẹ một cách tệ bạc, v́ nghĩ
rằng bổn phận của cha mẹ là phải lo cho chúng ta suốt
đời. Nếu cha mẹ v́ nghèo khó mà khinh khi hoặc đôi khi
buông lời trách phiền cha mẹ không cho tiền của để chúng
ta có được sống sung sướng suốt đời... Chúng ta đừng
quên rằng : "Không có cha mẹ sanh thành thành dưỡng
dục th́ không có chúng ta trên cơi đời này" để rồi không
lo kính hiếu cha mẹ, đôi khi chúng ta giàu có lại hành
động bất kính hiếu đối với cha mẹ lúc tuổi già, v́ tập
tánh : "Con đóng khố, bố cỡi truồng" (thành ngữ) th́ tội
nghiệp cho cha mẹ vô cùng. Bởi vậy, một khi chúng ta đă
trở thành bậc làm cha mẹ, mới hiểu được công ơn cha mẹ,
đúng với câu : Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân (Đức Khổng
Tử) tức nuôi con mới biết được công ơn của cha mẹ.
Và một khi chúng ta mất dịp kính hiếu với
cha mẹ, th́ sẽ phải hối hận như thầy Tử Lộ, bởi v́ khi
thầy Tử Lộ đă thành công trong sự nghiệp, muốn nuôi
dưỡng th́ cha mẹ không c̣n nữa, cho nên khi cha mẹ c̣n
sống, chúng ta phải tận lực phụng dưỡng cha mẹ, th́ mới
có ư nghĩa đáng quư và khi cha mẹ theo ông bà, phải có
bổn phận lo mồ mả, cúng kiến để vong linh cha mẹ được
sớm văng sanh về cảnh giới an lành.
Đó là bổn phận của người con đối với cha
mẹ phải biết kính hiếu thật đúng nghĩa vậy.
Mùa Vu Lan Báo Hiếu
2007 Đinh Hợi
Hàn Lâm Nguyễn-Phú-Thứ
|