|
Trần
Nhân Tông Và Dấu Ấn Tâm Linh Việt Phật.
Tâm Hà Lê
Công Đa
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939
là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của
Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đă cuốn trôi đi nỗi
đau nhục của người dân nô lệ, nhận ch́m tham vọng của
ṇi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm.
Từ đây Việt Nam không c̣n là một huyện lỵ của người Hán,
từ đây một quốc gia đúng nghĩa đă xuất hiện dưới ṿm
trời Đông Á. Ba triều đại ngắn ngủi, Ngô, Đinh, Tiền Lê
qua đi như những viên đá lót đường cho dân tộc Việt bước
vào một vận hội mới, cả dân tộc cùng đứng dậy bắt tay
nhau xây đắp lên một thởi đại thịnh trị kéo dài gần suốt
bốn trăm năm, mở đầu bằng bản Tuyên Ngôn Độc Lập, kiên
định ư chí tự chủ tự cường và tinh thần lạc quan dân tộc
của Tướng quân Lư Thường Kiệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản tuyên ngôn Lư Thường Kiệt đă được khẳng định mạnh mẽ
một lần nữa chỉ trong một khoảng thời gian ngắn không
lâu sau đó: Trong khi cả thế giời đang rung chuyển trước
bước tiến vũ bảo của đoàn quân thiện chiến Mông Cổ th́
vó ngựa của đoàn quân xâm lăng hung hản này đă ba lần
phải khựng lại trước bức tường ư chí sắt thép của quân
dân Đại Việt. Cả ba lần xâm lược cả ba lần đều bị đánh
tan. Việt Nam trở thành một mối ám ảnh kinh hoàng của cả
triều đ́nh, binh tướng Nguyên Mông, đến độ mấy năm sau,
Trần Phu, một viên quan cầm đầu sứ bộ nhà Nguyên khi đặt
chân vào đất nước Việt Nam c̣n cảm thấy rùng ḿnh:
Kim khoa ảnh lư đan tâm khổ
Đồng cổ thanh trung bạch
phát sinh
(Giáo sắt sáng ngời ḷng
thắm khổ
Trống đồng vang dội bạc
đầu phơ)
Sự kiện này đă làm cho rất nhiều người, kể những nhà
nghiên cứu sử học trên khắp thế giới, không khỏi ngạc
nhiên nêu lên câu hỏi: Cái ǵ đă tạo nên sức mạnh vô
song này? Cái ǵ đă là chất keo gắn bó mọi tầng lớp,
đẳng cấp xă hội dân chúng đời Trần tạo nên sức mạnh Diên
Hồng, đập tan cả một lực lượng quân sự hùng mạnh vào bậc
nhất thế giới đương thời? Thiết tưởng chúng ta có câu
trả lời không mấy khó khăn: Đó là truyền thống tâm linh
Việt Phật. Tiếng trống đồng đă làm cho sứ giả Trần Phu
phải lo sợ đến bạc đầu không phải chỉ mới vang lên dưới
thời đại nhà Trần mà đă từng vang dội cả trên một ngàn
năm trước đây trong những ngôi chùa tại những thôn làng
hẻo lánh của Việt Nam, đó cũng là tiếng trống Mê Linh
của Hai Bà Trưng mở màn cho cuộc khởi nghĩa dành độc lập
đầu tiên của dân tộc.
Một thời đại thịnh trị không phải chỉ được đánh dấu bằng
những vơ công oanh liệt mà phải là sự phát triển đồng bộ
và toàn diện của cả dân tộc trên khắp các mặt, từ vật
chất đến tinh thần. Thời đại thịnh trị không phải chỉ có
những vị vua giỏi tôi hiền mà đỉnh cao của nó là sự
phát triển về mặt trí tuệ, tâm linh. Bắt nguồn từ truyền
thống tâm linh Việt Phật này mà cả dân tộc đă biến thành
một dàn hợp xướng dưới sự chỉ đạo của một người nhạc
trưởng tài ba. Và trong khung cảnh thời đại lịch sử này
đă sản xuất cho dân tộc ta một nhà quân sự thiên tài,
một nhà chính trị thông minh và trên cao hết, một nhà
đạo sư, người thầy hướng dẫn tâm linh cho toàn thể dân
tộc, đó là vị quân vương Phật tử Trần Nhân Tông.
Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông
Và Dấu Ấn Tâm Linh Việt Phật.
Nói rằng truyền thống tâm linh Việt Phật là sợi chỉ vàng
xuyên suốt thời đại thịnh trị Lư Trần không phải là một
lời nói khoa trương chỉ để nhằm thoả măn tinh thần tự ái
dân tộc hay tôn giáo. Cứ nh́n vào lịch sử của các chế độ
quân chủ phong kiến trên toàn thế giới ta mới thấy được
cái bản sắc độc đáo của chế độ quân chủ Việt Nam dưới
thời đại nhà Trần. Các vị vua nhà Trần khi nắm vương
quyền đều tuân theo một định chế bất thành văn, họ ở
ngôi trong một khoảng thời gian nào đó rồi thoái vị,
nhường ngôi lại cho con, làm Thái Thượng Hoàng lui về
nơi dân giả. Việc làm này không những đă tạo nên một sự
ổn cố chính trị cần thiết cho quốc gia, tránh được nạn
tranh giành quyền lực thường xảy ra trong nội bộ của các
vương triều, nhưng đồng thời cũng là một hành động phản
ảnh sâu xa tinh thần Phật giáo vốn coi vạn pháp là vô
thường. Thế nên các vị vua nhà Trần đă không có ai tham
đắm quyền lực, bám chặt vào ngôi vị mà ngược lại, đă coi
ngai vàng như chiếc dép rách, sẵn sàng quăng bỏ bất cứ
lúc nào nếu cần, không chút thương tiếc.
Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông cũng đă liệng bỏ
“chiếc giép rách” này sau mười bốn năm cầm quyền bính,
quyết định lên đường vào núi Yên Tử sáng lập ra một ḍng
Thiền độc đáo Việt Nam: Thiền phái Trúc Lâm. Một người
đă ở tuyệt đỉnh của quyền lực và danh vọng như thế, một
bước là lên xe xuống ngựa, cung phi mỹ nữ, kẻ hầu người
hạ bao quanh, thế mà nay đă ĺa bỏ ngôi báu vào năm ba
mươi bốn tuổi, cái tuổi được coi như đẹp đẽ nhất của đời
người để bước theo bước chân của Tổ Ca Diếp trước đây,
thực hành hạnh đầu đà, đầu trần chân đất, trong cái khí
hậu khắc nghiệt của vùng nhiệt đới Việt Nam, lặn lội
khắp nơi đem mưa pháp rải ra khắp chốn, cứu độ nhân
gian. Mang trái tim Bồ Tát, nung nấu bởi ư nguyện Bồ
Tát, tấm gương xả thân v́ đạo của Ngài là một sự thể
hiện tinh thần Bồ Tát đạo, khiến Ngài trở thành môt nhân
vật hiếm có trong lịch sử truyền bá đạo Phật tại Việt
Nam.
Với một tinh thần nhập thế tích cực, dấn thân triệt để,
đem đạo vào đời v́ hạnh phúc của nhân quần xă hội như
thế, ḍng Thiền Trúc Lâm chắc chắn không thể nào lại
không mang dấu ấn của người đă sáng lập ra nó. Một người
vừa thông hiểu tất cả những ǵ là uyên áo nhất của giáo
lư đạo Phật, nhưng đồng thời cũng biết cả nghệ thuật
điều binh khiển tướng, một nửa đời người xông pha trên
ḿnh ngựa giữ yên bờ cơi, mang lại anh vui cho trăm họ,
vua Trần Nhân Tông không những đă kế thừa được những
tinh hoa của quá khứ, mà đồng thời c̣n có khả năng tổng
hợp được những giá trị của thời đại, từ đó với những
kinh ngiệm sống của đời ḿnh, vua đă phát huy truyền
thống tâm linh Việt Phật đến một mức độ rực rỡ nhất, đem
Phật pháp gắn liền với thế gian pháp, biến những giáo lư
cao siêu trở thành một triết lư hành động thực tiễn, có
thể tóm gọn vào bốn chữ giản dị: CƯ TRẦN và LẠC ĐẠO.
Nội dung chính của tinh thần CƯ TRẦN LẠC ĐẠO Trần Nhân
Tông là ǵ?
Qua hành trạng và những thi văn của Ngài c̣n để lại, đặc
biệt là “Cư Trần Lạc Đạo Phú”, ta thấy tư tưởng của Trần
Nhân Tông có những điểm chính yếu nổi bật sau đây:
1.Tinh thần Cư Trần Mang Màu Sắc Giáo Lư Tứ Ân:
Đạo Phật không phải là một đạo xuất thế. Đạo Phật gắn
liền với con người và thời đại, thế nên trước tiên nó
phải giải quyết được vấn đề cơ bản và trọng yếu nhất của
con người, đó là CƯ TRẦN. Không giải quyết được chuyện
“Cư Trần” th́ đừng nói đến chuyện cao xa huyền diệu.
Không đứng vững được đôi chân trên mặt đất, th́ tất cả
mọi lư thuyết dù thâm ảo đến mức nào cũng đều là những
chuyện viễn vông, xa rời thực tế. Thế nên mẫu người Phật
Tử Việt Nam theo Trần Nhân Tông quan niệm phải là mẫu
người:
Sạch giới ḷng, dồi giới tướng,
nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
Thi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
(Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ sáu)
Mô h́nh của một mẫu người Phật tử lư tưởng đời Trần v́
thế không phải chỉ là “sạch giới ḷng, dồi giới tướng”
để trở thành “Bồ Tát trang nghiêm” mà c̣n phải là một
mẫu người trượng phu trung hiếu vẹn toàn. Thiết tưởng
cũng cũng xin được mở một dấu ngoặc ở đây để lưu ư rằng,
tinh thần trượng phu trung hiếu mà vua Trần Nhân Tông đề
cập đến không phải chỉ là một sản phẩm đặc quyền của Nho
giáo như người ta thường biết. Tinh thần trung hiếu này
thực ra là một bộ phận của
tư tưởng Tứ Ân đă xuất
hiện từ lâu đời trong Phật giáo Ấn Độ thời cổ xưa và sau
này trở thành một lư thuyết xương sống của Tịnh Độ Tông
Phật giáo.
Sử gia Lê Mạnh Thát đă đúc kết mẫu người h́nh tượng đó
như sau: “Đây có thể nói là một đúc kết về h́nh tượng
người Việt Nam lư tưởng, chứ không phải chỉ của Phật
giáo. Thực tế những người làm nên sự nghiệp oanh liệt
của dân tộc ta vào thời Trần Nhân Tông có thể nói hầu
hết đều là Phật tử, từ những vị lănh đạo tối cao ở trung
ương như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải cho đến những
người dân ở xă ấp như Lê Công Mạnh và anh em con cháu.
V́ họ là những Bố Tát trang nghiêm nên đối với bản thân
họ giữ ǵn kỷ luật và sống cuộc sống có lư tưởng. Nhưng
đồng thời họ cũng là những trượng phu trung hiếu, nên họ
trung thành với tổ quốc, sống hiếu thảo với cha mẹ ông
bà.”
Nói đến khuôn mẫu con người thế gian không thể không nói
đến khuôn mẫu của con người tăng sĩ. H́nh tượng đẹp đẽ
này thiết tưởng chúng ta không cần phải đi t́m ở đâu xa
mà chính ngay ở h́nh ảnh của tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông.
Con người tăng sĩ đó không những là một pháp khí của
thời đại mà c̣n là một biểu trưng cho một kẻ sĩ Việt
Nam, biết lo trước cái lo của trăm họ và vui sau cái vui
của trăm họ. Khung cảnh của thời đại lịch sử Lư Trần đă
xoá đi cái biên giới ngăn cách giữa tăng sĩ và kẻ sĩ.
Suốt cả một ngàn năm Bắc thuộc, với chính sách ngu dân,
người Hán không cho mở trường học tại địa phương, chùa
chiền Việt Nam là nơi duy nhất tiếp cận với văn minh học
thuật Trung Hoa đồng thời cũng là ḷ rèn đúc, đào tạo
trí thức cho nước nhà, thế nên chúng ta sẽ không ngạc
nhiên khi thấy những bậc đại tăng trong thời đại Lư Trần
đồng thời cũng là những sĩ phu “trụ tích trấn vương kỳ”
-chống cây thiền trượng xuống có thể làm yên xă tắc.
Những vị Thiền sư Việt Nam đời Trần v́ thế, tuy có về ở
ẩn trong chốn am mây nhưng tấm ḷng vẫn canh cánh với
chuyện nước non. Ta như vẫn c̣n nghe văng vẳng đâu đây
lời khuyên bảo của quốc sư Phù Vân với vua Trần Thái
Tông khi vua ĺa cung điện bỏ trốn vào Yên Tử với ư định
xuất gia: “ Phàm làm đấng
minh quân, th́ phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn
của ḿnh,và tâm thiên hạ làm tâm của ḿnh. Nay thiên hạ
muốn đón bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên
cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên.”
2. Tinh Thần Lạc Đạo: Khơi Mạch Nguồn Cho Một Ḍng Thiền
Độc Đáo Việt Nam:
Nhà thơ Nguyễn Trăi trong một bài thơ đề tựa ở chùa Hoa
Yên, Trúc Lâm Yên Tử đă nói về vua Trần Nhân Tông như
sau:
Vua Trần Nhân Tông thời trước c̣n để dấu tích lại,
Trong hào quang trắng thấy rơ đôi con ngươi của mắt
Phật Thích Ca.
Lời tuyên xưng này không có ǵ là quá đáng. Một điều
không ai có thể phủ nhận được rằng tư tưởng Kinh Kim
Cương là hệ tư tưởng chủ đạo của Thiền học đời Trần và
người đă phát triển tinh thần Kim Cương đế mức độ toàn
hảo nhất, lại chính Lục Tổ Huệ Năng. Thế nhưng lịch sử
đă chứng minh cho chúng ta thấy Lục Tổ là một người Việt
Nam. Thực ra cũng không cần phải đem sử liệu ra để dẫn
chứng. Đọc qua bộ Pháp Bảo Đàn Kinh, mà thực chất là một
cuốn tự truyện của Ngài Huệ Năng c̣n để lại, ta thấy rơ
một điều rằng nếu như ngài Huệ Năng không phải là người
“ngoại quốc” th́ chắc chắn là Ngũ Tỗ đă không phải trao
truyền y bát cho Ngài một cách lén lút vào đêm hôm khuya
khoắt như thế và cũng sẽ không có chuyện cả một sơn môn
-đặc biệt là một tông phái Thiền vốn đặt tinh thần phá
chấp lên hàng đầu- đă phải sôi sục lên v́ ḷng tự ái dân
tộc, để môn nhân đệ tử của Ngũ Tổ đă phải bỏ cả chuyện
tu tập, chạy theo truy đuổi Huệ Năng cho đến cùng để thu
lại quốc bảo.
Nếu Tổ Bồ Đề Đạt Ma trước đây đă mang Thiền học Phật
giáo vào Trung quốc và trở thành vị Tổ thứ nhất của phái
thiền Đông độ th́ chúng ta cũng có thể xem người thanh
niên Việt Nam mù chữ Huệ Năng –v́ chính sách ngu dân của
người Hán như đă nói ở trên- là vị Tổ thứ nhất của Thiền
học Việt Nam. Và, người kế thừa xứng đáng nhất của ḍng
Thiền Huệ Năng, người phát triển tinh thần “Kiến Tánh
Thành Phật” của Tổ Huệ Năng đến mức toàn vẹn nhất không
ai khác hơn là Trúc Lâm Tổ Trần Nhân Tông. Trong “Cư
Trần Lạc Đạo Phú” Ngài đă diễn tả lại ư niệm ấy một
cách dễ hiểu hơn:
Ở đời vui đạo hăy tùy duyên
Hễ đói th́ ăn, mệt ngủ liền
Của báu trong nhà thôi khỏi kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.
Con đường “lạc đạo” đối với Trần Nhân Tông không phải là
con đường hướng ngoại mà là một hành tŕnh quay trở về
với chính ḿnh. Quay về với chính ḿnh tức là quay về
với bản thể uyên nguyên. Hăy cứ để cho mạch đời tuôn
chảy th́ suối nguồn tâm linh sẽ khai mở và con người sẽ
t́m lại tự tánh của chính ḿnh. Danh từ nhà Thiền gọi đó
là “bản lai diện mục”, là đạt đạo. Và khi đă đạt đạo th́
mỗi một hành động trong đời sống b́nh thường của con
người, từ ăn, ngủ, đi đứng cho đến hái rau, gánh nước,
che củi, nấu cơm,… đều tỏa ra sáng ánh sáng giác ngộ.
Thế nên đối với Tổ Trúc Lâm, con người không phải đi t́m
chân lư ở đâu xa, chân lư nằm chính ngay trong ḷng cuộc
sống. Phiền năo cũng chính là Bồ Đề và cơi Ta Bà đồng
thời cũng là cảnh giới Tịnh Độ. Kho báu đă có sẵn ở
trong ḿnh mà con người cứ măi rong ruổi chạy đi t́m của
báu ở khắp nơi, chẳng khác ǵ h́nh ảnh của người cùng tử
trong kinh Phật thường nói đến. Con người không biết
rằng họ không cần phải đi t́m cầu Phật ở đâu xa, Phật ở
ngay bên trong mỗi một chúng ta, như quốc sư Phù Vân đă
khẳng định, “trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay
trong ḷng, ḷng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật”.
Cứ sống một cuộc sống có đạo đức nhân nghĩa, đem t́nh
thương trải rộng ra muôn loài th́ mỗi một con người đều
là một vị Phật, Bồ Tát.
Tổ Trúc Lâm đă trao truyền cho đời cái ch́a khoá mở vào
cuộc sống hạnh phúc, an lạc rất mực giản dị, chỉ vơn vẹn
nằm trong hai chữ “Tùy Duyên”. Giản dị nhưng lại gói
trọn cái tinh yếu của đạo Phật. Ngài chỉ cho ta thấy
rằng cuộc sống là một gịng luân lưu chuyển động bất
tận. Tất cả vạn pháp hiện hữu đều do duyên sinh, duyên
khởi, tương tục và tương tác. Nắm vững chân lư này th́
người ta có thể sống tuỳ duyên, nhưng “Tùy duyên” ở đây
không phải là một cuộc sống thả nổi như lục b́nh trôi mà
là sự tĩnh thức để tắm mát trong ḍng hiện sinh, đó là
con đường “lạc đạo”. Ḍng Thiền Trúc Lâm Việt Nam đă
chuyên chở tư tưởng của Huệ Năng vào đời sống thực tiễn.
Thiền học đời Trần v́ thế đă gắn bó với đời sống và con
người, kết hợp hài hoà giữa triết lư và hành động, tạo
nên sức sống và một phong vị mới mang màu sắc Việt Nam.
Thế nên nếu chúng ta xem ngài Huệ Năng là vị Tổ thứ nhất
của Thiền Tông Việt Nam th́ người kế thừa xứng đáng nhất
không ai khác hơn là Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông.
3. Sứ Mệnh Chấn Hưng Phật giáo.
Một trong những công nghiệp lớn của vua Trần Nhân Tông
c̣n để lại mà đời sau không thể không nhắc đến, đó là nỗ
lực hoằng truyền chánh pháp, chấn hưng đạo Phật. Từ cuối
đời Lư, đạo Phật Việt Nam đă có những dấu hiệu suy
thoái. Khi tinh thần đạo lư từ bi suy sụp th́ tín ngưỡng
quyền năng ma thuật lộng hành đưa con người vào ṿng mê
tín. Bên cạnh đó là những tệ trạng xă hội khác gây ra
bởi sự tôn sùng đạo Phật quá mức nhưng lại thiếu sự điều
hướng, tổ chức. Chuyện đúc tượng xây chùa tráng lệ nguy
nga hơn cả cung vua là hiện tượng khá phổ biến. T́nh
trạng “thiên hạ bán vi tăng” dưới thời Lư không phải là
điều đáng mừng cho Phật giáo mà là điều lo nghĩ cho tất
cả những ai có ư thức trách nhiệm. Bởi v́ không thiếu ǵ
những kẻ xấu đă lợi dụng chốn thiền môn, cấu kết với
giới tăng sĩ biến chất để làm những điều xằng bậy. T́nh
h́nh này đă được phản ảnh trong bản điều trần của Đàm
Dĩ Mống được ghi chép lại trong Đại Việt sử lược: “Nay
Tăng đồ cùng với dịch phu quá nửa, bọn chúng tự kết bè
đảng, dựng bậy thầy tṛ, tụ nhóm, ở bầy, làm nhiều việc
dơ, hoặc ở giới trường tinh xá, ngang nhiên rượu thịt,
hoặc tại thiền pḥng tịnh viện, riêng tự gian dâm, ngày
ẩn tối ra, như đàn cáo chuột. Chúng làm nát tục hư đạo,
dần dần thành thói. Việc đó nếu không cấm, để lâu càng
tệ thêm”.
Đến đời Trần, tệ trạng này vẫn không có ǵ thay đổi, đến
độ vị quân vương Phật tử thuần thành Trần Thái Tông cũng
đă phải lắc đầu ngao ngán: “Khi tới chùa chiền, gần Phật
gần kinh, mắt không thèm ngó, pḥng tăng điện Phật, gặp
gỡ gái trai, cuối mắt đầu mày, ham mê sắc dục, không
kiêng Hộ Pháp, chẳng sợ Long Thần, trố mắt ham vui, đầu
chưa từng cúi”, và “chẳng riêng người tục, cả đến thầy
Tăng, kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích, chê
các sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha, cỏ nhẫn lụi vàng, lửa
độc rực cháy, buông lời đau vật, cất tiếng hại người,
không nghĩ từ bi, không theo luật cấm, bàn thiền tựa
thánh, trước cảnh như ngu, dẫu ở cửa không, chưa thành
vô ngă”. Sử gia Lê Văn Hưu, người được vua Trần Thánh
Tông chỉ định biên soạn bộ Đại Việt Sử Kư cũng đă nhận
xét rằng hiện tượng xây dựng chùa miễu nguy nga, độ tăng
ồ ạt là một việc làm hoang phí sức người sức của một
cách vô ư thức và đưa ra lời b́nh luận như sau: “Của
không phải do trời mưa xuống, sức chẳng phải của thần
làm cho, há chẳng phải là khơi vét máu mỡ của dân ư ?
Khơi vét máu mỡ của dân mà có thể gọi là làm phước được
ư? “
Đứng trước t́nh trạng này, một con người hành động và là
một Phật tử có ư thức trách nhiệm với đạo pháp, vua Trần
Nhân Tông phải làm ǵ đây? Vua biết chắc một điều rằng,
Ngài không thể dùng quyền uy của vương triều để chấn
hưng đạo Phật. Triều đ́nh có thể ban hành những đạo dụ
để răn dân, trừng phạt những điều sái quấy, thế nhưng
quyền lực vẫn không đủ sức mạnh để lay chuyển một tệ
trạng đă bám sâu gốc rễ trong ḷng xă hội. Vua Trần Nhân
Tông đă phải đi trên một con đường gay go hơn, đó là con
đường cảm hoá nhân tâm, lấy bản thân của ḿnh ra làm
gương sáng cho người đời noi theo. Thế nên khi khoác lên
ḿnh chiếc tăng bào, vua đă lặn lội “đi khắp nơi sức dân
gian phá hủy các dâm từ và thuyết pháp khuyên dân làm
mười điều thiện”. Hào quang của một vị vua anh hùng hai
lần đại thắng quân Nguyên nay là một tăng sĩ đầu trần
chân đất đi khuyến tu vẫn có sức mạnh thuyết phục hơn
cả một ngàn đạo luật của triều đ́nh. Sức mạnh thuyết
phục đó chính là t́nh thương. Thế nên khi vua ra đi, cả
dân tộc đă ngậm ngùi đưa tiễn, v́ kể từ đây đất nước đă
vắng bóng một đấng từ phụ. Tang lễ của Ngài, người dân
tham dự đông như nêm cối, tràn ngập từ kinh đô cho đến
bến sông Hồng đến độ linh vị của vua không thể nào di
chuyển được, thế mới biết dân chúng đă thương yêu Ngài
đến mức nào. Vua mất đi, nhưng thông điệp khuyến tu của
Ngài c̣n vang vọng măi đến muôn đời sau:
Thân như hơi thở mỏng manh,
Đời như mây nổi trên vành núi xa.
Tuổi xuân chớ để luống qua,
Để rồi khóc hận như là Đỗ Quyên.
Tâm Hà Lê Công Đa |