VÀI NÉT VỀ ĐỒ GỐM VIỆT NAM TRÊN
THỊ TRƯỜNG GỐM QUỐC TẾ VÀO
THẾ KỶ 14
ĐẾN THẾ KỶ 17
Từ
sau khi độc lập thoát khỏi sự cai quản của Trung Hoa
vào thế kỷ thứ 10. Nghệ thuật đồ gốm Việt Nam bắt đầu phát
triển và có những sắc thái riêng biệt mặc dầu ảnh hưởng của
loại gốm thời Đường và Tống sau này vẫn thể hiện ít nhiều
trên các loại gốm sản xuất ở đồng bằng Bắc bộ. Đồ gốm Việt
Nam bắt đầu đi vào thương mại quốc tế vào khoảng cuối thế
kỷ 13 hoặc đầu thế kỷ 14 (1). Lư do chính yếu là các vua đầu
nhà Minh ngăn cấm thương mại đến các cảng phía Nam với các
nước vùng Trung Đông và Đông Nam Á. Để thỏa măn nhu
cầu thị trường, kỷ nghệ đồ gốm ở các vương quốc như Ayuthaya
(Thái Lan), Pegu (Miến Điện) và Việt Nam phát triển mạnh và
thay thế nguồn đồ gốm từ Trung Hoa. Chính trong khoăng thời
gian này cho đến giữa thế kỷ thứ 17, một loạt đủ các loại đồ
gốm và men được sản xuất ở Việt Nam mang một ít sắc thái đồ
gốm Trung Hoa cuối thời Nguyên và Minh.
Kỷ
nghệ đồ gốm Đông Nam Á tàn dần vào đầu thế kỷ 17 dưới sự
bành trướng và cạnh tranh của các nước thương mại Âu châu ở
thị trườg Đông Nam Á. Sự bành trướng này, tiêu biểu là sự
thành lập công ty Đông Ấn Ḥa Lan (Dutch East-India Company,
V.O.C) vào năm 1602, đánh dấu một trang mới của nền thương
mại hàng hải vùng Đông Nam Á.
Trong bài này, các loại và sắc thái của đồ gốm Việt Nam xuất
khẩu trong giai đoạn nói trên sẽ được tóm tắt, cũng như các
di tích khai quật hoặc hiện có ở các nước chung quanh.
(a)
Thương mại
vùng Đông Nam Á và các nơi sản xuất đồ gốm
Đông Nam Á là nơi chuyển tiếp quan trọng trong nền thương
mại hàng hải giữa Trung Hoa và vùng Trung Đông. Người Trung
Hoa ưa chuộng những vật lạ và hiếm như ngọc, ngà voi, sừng
tê giác, gia vị. sản xuất ở các vùng Trung đông, Ấn Độ và
các nước ở phia Nam Trung Hoa. Ngược lại Trung Đông và Ấn độ
là thị trường tiêu thụ những sản phẩm của nền văn minh Trung
Hoa như tơ, lụa, đồ mỹ nghệ, vàng.. Từ thế kỷ thứ 3 và 4,
con đường thương mại hàng hải quốc tế nối liền Trung Hoa và
thế giới Ấn độ, Trung Đông chạy từ các hải cảng ở vịnh Ba
Tư và Hồng Hải đến bờ biển Ấn Độ, tới Tich Lan (Sri Lanka),
vịnh Bengal và bán đảo Mă Lai. Hàng hóa sau đó được trao đổi
ở một số địa điểm dọc theo eo đất Kra và chuyên chở qua bờ
biển phía đông của bán đảo Mă Lai. Hàng hóa Trung Đông từ đó
tiếp tục cuộc hành tŕnh đến Trung Hoa qua vịnh Thái Lan và
bờ biển Phù Nam trên những thuyền Mă Lai. Phù Nam là một
trạm nghĩ quan trọng trên đường đến Nam Trung Hoa và là một
nơi buôn bán sầm uất phát đạt, qui tụ nhiều thương gia quốc
tế (3). Di tích các thành phố Phù Nam dọc bờ biển Nam Việt
Nam đă được t́m thấy ở g̣ Óc Eo gần Rạch Giá, và trong năm
1982 ở các địa điểm trong tỉnh Kiên Giang do viện Bảo Tàng
Thành Phố Hồ Chí Minh khám phá.
Vào
khoảng thế kỷ thứ 15, một sự đổi biến quan trọng là sự
chuyển hàng qua bán đảo Mă Lai lần lần được băi bỏ, thay vào
đó là con đường qua eo biển Malacca tới biển Java rồi thẳng
lên Trung Quốc. Chặng nghỉ cho các thuyền buôn là vùng Đông
Nam đảo Sumatra và từ đó phát triển ra đế quốc Srivijaya
hung mạnh (3) phát đạt nhờ sự buôn bán với Trung Hoa đời
Đường. Đến đầu thế kỷ 11, Srivijaya yếu dần v́ sự cạnh tranh
của các vương quốc mới ở đất liền như Angkor và Pagan, hai
nền văn minh rực rỡ trong giai đoạn này.
Quyền lực của Srivijaya ở Sumatra chuyển qua vương quốc hùng
hậu Majapahit ở Java. Buôn bán trong giai đoạn này đạt đến
điểm cao dưới triều.Tống ở Trung Hoa. Với nền kinh tế dựa
rất nhiều vào thương mại ở biển Nam, triều đ́nh nhà Tống
khuyến khích và tích cực tham gia vào sự buôn bán rất có 1ợi
này. Cũng trong giai đoạn này đồ gốm Trung Hoa bắt đầu là
một món hàng xuất khẩu quan trọng để thay thế sự thâm hụt
mất mát nặng nề tiền vàng và tiền đồng ra khỏi nước qua sự
buôn bán với Trung Đông và biển Nam. Việt Nam lúc bấy giờ
sau khi độc lập và dưới triều Lư bắt đầu tự phát triển nhưng
vẫn c̣n cô lập và chưa bước vào quỷ đạo thương mại hàng hải
trong vùng. Hàng gốm Trung Hoa, đặc biệt là hàng gốm xanh
cây (greenwares), bắt đầu xuất hiện rất nhiều ở các nướe
chung quanh biển Nam. Thuyền buôn Trung Hoa đi khắp vùng từ
bờ biển vương quốc Chămpa, vịnh Thái Lan, đảo Sumatra, Java
tới Ấn Độ Dương.
Từ cuối thế kỷ 13, dưới triều Nguyên Mông Cổ
con đường buôn bán hàng hải giữa Trung Hoa và biển Nam được
chia ra làm hai đường, đường Đông và đường Tây. Hai con
đường này được miêu tả trong quyển Nam Hải Chí viết vào năm
1304. Con đường hàng hải phía Tây ở biển Nam vẫn giữ liên
1ạc thương mại truyền thống với Ấn Độ, Trung Đông từ biển
nam Trung Hoa qua eo biển Malacca hoặc eo bien Sunda tới Sri
Lanka, Ấn độ và Trung Đông. Con đường hàng hải mới mở ở phía
Đông chạy từ biển nam Trung Hoa tới Phi Luật Tân, bờ biển
phía bắc đảo
Borneo, đảo Sulawesi, quần
đảo Molucca, đến tận đảo Timor và phía Tây của đảo Java. Sự
thiết lập con đường này mở ra một thị trường mới và lớn cho
hàng hóa và đồ gốm Trung Hoa. Kỷ nghệ đồ qốm Trung Hoa trong
giai đoạn này phát triển mạnh và đi vào sản xuất khối lượng
để thỏa măn đ̣i hỏi của thị trường Đông Nam Á.
Sự
phục hồi của triều đại bản sứ ở Trung Quốc dưới sự thành lập
triều Minh chứng kiến một sự thay đổi lớn lao và quan trọng
trong lịch sử buôn bán đồ gốm ở Đông Nam Á. Sự buôn bán tư
nhân giữa người Hoa và người ngoại quốc bị đ́nh chỉ và ngăn
cấm. Người Hoa không được phép tham gia vào thương mại quốc
tế. Sắc lệnh năm 1371 ngăn cấm người Hoa ra khỏi hải phận
Trung Hoa và hàng hóa ngoại quốc bị cấm dùng trong nước.
Luồn sóng chống thương mại chưa từng thấy này ở triều đ́nh
có một ảnh hưởng tŕ trệ nặng nề vào nền thương mại quốc tế.
Trong giai đoạn từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16,
đồ gốm Việt Nam và Thái Lan xuất hiện nhiều ở thị trường
Đông Nam Á thay thế nguồn đồ gốm Trung Quốc. Từ đời Lê đến
Trịnh Nguyễn phân tranh ở Việt Nam, sự buôn bán trao đổi
hàng hóa với các nước ngoài càng ngày càng được nới rộng và
phát đạt. Đặc biệt là Việt Nam trong giai đoạn này xuất khẩu
nhiều đến Trung Đông, Âu Châu qua con đường hàng hải phía
Tây và Phi Luật Tân, Borneo, Sulawesi, Java qua con đường
hàng hải phía Đông (các hiện vật và di tích t́m được
ở các vùng kể trên sẽ được
bàn ở phần sau).
Hàng hóa trao đổi với nước ngoài đi qua các cửa khẩu ở cả
đàng Trong và đàng Ngoài. Các cửa khẩu buôn bán ở Thanh Hóa,
Hội An, Qui Nhơn là những cửa khẩu chính. Hàng gốm xuất khẩu
Việt Nam được chuyên chở qua các kho chính như Ayuthaya. Sự
khai quật của các thuyền xưa đắm gần bờ biển Thái Lan cho
thấy các hàng gốm Việt Nam được chuyên chở rộng răi trong
vùng. Các nơi sản xuất đồ gốm quan trọng ở Việt Nam là Bát
Tràng, Chu Đậu (Hải Dương), Tam Tố (Thanh Hóa), và G̣ Sành,
Sa Huỳnh, Qui Nhơn sau này ở đàng Trong. Bát Tràng là nơi
sản xuất đồ gốm, gạch ngói, gạch lót từ nhiều thế kỷ trước.
Sự khai quật thực hiện bởi O. Janse từ năm 1934 đến 1939 ở
đồng bằng Bắc bộ cho thấy sự hiện diện của truyền thống đồ
gốm địa phương từ khoảng thế kỷ 1 đến thế kỷ 3 (2). Bát
Tràng cũng có được nhắc đến trong ca dao Việt Nam
...
Khi nào anh lấy được nàng
Th́ anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
(b)
Loại và sắc thái đồ gốm Việt Nam
Khi
nói đến đồ gốm, ta chia ra làm hai loại tổng quát:
- Đồ gốm đất (earthenware, stoneware)
- Đồ gốm men (porcelain,
enamel),
Đồ gốm
Việt Nam gồm đủ loại h́nh thái như các loại đồ gốm Trung Hoa
nhưng khác biệt và dễ dàng nhận diện v́ cách cấu tạo và sự
tŕnh bày có một phong thái phóng khoáng và một tinh thần
độc lập.
H́nh
dáng gốm Việt Nam gồm có dĩa, đĩa, tô, chén, lọ, chai và
b́nh. Ngay cả những kiểu đặc biệt tạo ra bởi nghệ nhân đời
Minh như hũ h́nh conic và chén có bệ của thời kỳ 1403-1424
cũng có tương đương trong các loại đồ gốm Việt Nam. Đồ gốm
đất Việt Nam được cấu tạo dày và chắc hơn đồ gốm đất
Trung Hoa. Thân h́nh cấu tạo bên ngoài màu nâu và ít có bị
lẫn chất bụi hoặc sạn. Dưới chân đồ gốm đất hoặc là để
nguyên hoặc được tráng.một lớp trơn không màu hoặc một lớp
tráng oxide sắt màu nâu.
Có đủ
loại các 1ớp trán trên đồ gốm Việt Nam. Loại đồ gốm tráng
một màu là những loại thông dụng được xuất khẩu trong thời
kỳ đầu. Trắng, xanh cây, đen và nâu là những loại thông dụng
và được biết nhiều. Sự tiến triển của kỷ thuật đồ gốm trqng
giai đoạn đầu là sự tŕnh bày bằng lớp oxide sắt đen và nâu
dưới lớp tráng. Sắc thái tŕnh bày rất thanh thoát và giản
dị so với lối tŕnh bày tnên đồ gốm Trung Hoa.
Sự chuyển tiếp từ lối tŕnh bày bằng oxide sắt đến cách dùng
cobalt xanh trời là một sự cải tiến quan trọng trong nghệ
thuật đồ gốm Việt Nam và chứng kiến một mức độ sản
xuất về xuất khẩu chưa từng có trong lịch sử đồ gốm Việt
Nam. Nghệ thuật dùng Cobalt xanh trời trên đồ gốm đạt đến
điểm cao vào giữa thế kỷ thứ 15. Điển h́nh là binh gốm tráng
men xanh trời và trắng đề năm 1450 ở viện bảo tàng Topkapu
Sarayi, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ).
Sự
hiểu biết của người Việt Nam về cách dùng cobalt xanh trời
trong nghệ thuật tŕnh bày đồ gốm được ước đoán vào khoăng
đầu thế kỷ 14 dựa trên các hiện vật gốm trắng xanh trời và
trắng, trinh.bày theo kiểu các loại gốm dùng oxid sắt
trong thời kỳ trước. Sự chuyển biến từ những loại đồ gốm
tương đối đơn giản đến các loại có nghệ thuật cao như chiếc
b́nh gốm ở Istanbul dường như nhờ những kinh nghiệm học hỏi
được từ Trung Hoa đă được phát triển từ thế kỷ trước và cách
dùng cobalt. Sự thu thập kỷ thuật dùng cobalt xanh trời có
thể xảy ra trong lúc triều Minh tạm chiếm và đô hộ Việt Nam
trong các năm 1407-1427 trước khi Lê Lợi dành lại quyền tự
chủ.
Các
kiểu tŕnh bày như viền hoa, cúc, sen, viền kiểu chữ Hán
trên các đồ gốm xanh trời dưới triều Nguyên và Minh đều có
được thể hiện trên các đồ gốm xanh trời Việt Nam ở thế kỷ
15. Sự khác biệt rơ ràng giữa đồ gốm Việt Nam và Trung Hoa
được thể hiện trong lối tŕnh bày phong cảnh và chim nước.
Những kiểu tŕnh bày Việt Nam có đặc tính thanh thoát, sáng
tạo độc lập khác hẳn với sự xếp đặt phong cảnh, sinh thú của
lối tŕnh bày Trung Hoa. Chim, cá, ngựa và nai là những sinh
thú thường được tŕnh bày cũng như các con vật huyền thoại
như lân và phượng. Rồng tuy vậy lại rất hiếm trong các
lối tŕnh bày. Con cá trong đồ gốm Việt Nam, không giống
cá kiểng đỏ của đồ gốm Trung Hoa, mà là con cá bông của sông
ng̣i Việt Nam.
Đến
giữa thế kỷ 15, đồ gốm xanh trời và trắng chiếm vị trí hàng
đầu trong những hàng xuất khẩu. Cũng trong khoăng thời gian
nay, một loại đồ gốm mới xuất hiện với cách dùng men trắng,
chủ yếu màu đỏ và xanh trời, và thường phối hợp với lớp
tŕnh bày xanh trời ở lớp dưới. Lớp men trắng này được cấu
tạo trên lớp thứ nhất ở một nhiệt độ ḷ đốt thấp hơn lớp đầu
và có khuynh hướng dễ bị tan hỏng khi bị chôn vùi dưới đất
hoặc lúc tiếp xúc với vài chất hóa học.
(c) Thời gian của đồ gốm và các
di tích
Việc
xác định thời gian sản xuất đồ gốm Việt Nam là một vấn đề
khó khăn, ngay cả trong việc xếp thứ tự thời gian của các
loại gốm. Một số ít dữ kiện cho phép chúng ta đoán
được thời gian dưới h́nh thức so sánh với một mẫu gốm có đề
năm hoặc phỏng định dựa trên những hiện vật khác cùng khám
phá được trong một di tích.
Một mẫu gốm đánh dấu quan trọng trong những
ngày đầu thương mại đồ gốm Việt Nam là lọ gốm ở viện bảo
tàng Topkapu Sarayi, với lớp tráng xanh trời và trắng, có
khắc đề “Thái Hoà bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi
Thị Hư bút” (năm thứ 8 Thái Ḥa, 1450, làm ở huyện Nam Sách,
do nghệ nhân Bùi Thị Hư cẩn bút). Lọ này là điểm chuẩn để
xác định thời gian trong quá tŕnh phát triển của những mẫu
gốm
khác
dựa vào cách tŕnh bày và kỷ thuật để xét đoán là trước hay
sau lọ gốm năm 1450 này. Một số lọ khác có khắc năm cũng
được nhắc tới gần đây như một lọ dùng trong nghi lễ; cao
khoăng 1 mét, đề năm
"Năm
thứ 3 Diên Thánh" (1575)
và một lọ với dấu khắc thuộc vào khoăng năm l578-86 xuất
hiện ở pḥng đấu giá Christies năm 1979 (1). Nhờ dấu khắc in
trên b́nh gốm ở Istanbul, năm 1980, ông Makoto Anabuki, sau
khi công tác ngoại giao ở Thổ Nhỉ Kỳ, được bổ nhiệm Bí thư
văn hóa Đại sứ quán Nhật, đă viết thư nhờ tỉnh Hải Hưng cho
biết nơi sản xuất lọ gốm trên. Lá thư bị bỏ quên cho đến khi
t́nh cờ các nhà nghiên cứu nghề dệt chiếu ở Chu Đậu khám phá
nhiều hiện vật gốm và dấu vết làm gốm vào năm 1983. Lá thư
này và sự phát hiện trên đă làm các nhà khảo cổ khai quật
t́m được và mới biết là vùng Chu Đậu, huyện Nam Sách xưa kia
là vùng sản xuất gốm lam xanh trời và trắng nổi tiếng, mà
năm 1999 đă khám phá rất nhiều gốm Chu Đậu trên con thuyền
chở gốm bị đắm vào thế kỷ 15, được vớt lên ở gần Cù Lao
Chàm, ngoài khơi thành phố cổ thương mại Hội An.

B́nh gốm Chu Đậu trong bố sưu tập ở bảo tàng Topkapu Sarayi,
Istanbul

B́nh h́nh chim phượng, thế kỷ 15-16, Viện bảo tàng
Metropolitan Museum of Art, New York
Những mấu chốt quan trọng khác cũng có thể xác định được
thời gian của đồ gốm Việt Nam như chiếc dĩa gốm Việt Nam
trong bộ sưu tập Ardebil Shrine ở Teheran (Ba Tư), bộ sưu
tập này được thiết lập từ năm 1350 đến 1610. Các cuộc khai
quật ở Phi Luật Tân của O. Janse và sau này R. Fox cũng đă
t́m thấy đồ gốm Việt Nam cùng với đồ gốm Trung Hoa xanh trời
và trắng ở đầu thế kỷ 16. Các đồ gốm Việt Nam này
cũng rất tương tự một số đồ gốm khám phá được ở Sa Huỳnh
(Qui Nhơn). Gốm sản xuất ở G̣ Sành, Sa Huỳnh là gốm thuộc
truyền thống Champa, đă sản xuất trước khi vương quốc Champa
mất và tiếp tục sau này cho đến khi biến mất hoàn toàn vào
thế kỷ 16.
Rất
nhiều di tích đồ gốm xanh trời và trắng của Việt Nam đă được
t́m thấy ở Trowulan, tỉnh Mojokerto, đông Java (Indonesia).
Địa điểm này xưa kia là kinh đô của vương quốc Majapahit,
phát triển từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16. Những khám phá này
không những t́m thấy được các đồ gốm thông dụng dùng trong
sinh hoạt gia đ́nh mà c̣n có đủ loại những gạch lót, gạch
lát.
Những địa điểm khác ở Java có di tích đồ gốm
Việt Nam là Malang (Đông Java), Cirebon
(Tây
Java), Mt Muria (giữa
Java). Các nơi khác như Jambi, Lampung (Nam Sumatra), đảo
Sulawesi. Các viện bảo tàng chứa những hiện vật t́m thấy
được ở khắp vùng như các vùng kể trên là: Viện bảo tàng
Pusat ở Jakarta, viện bảo tàng Princesshof ở Leeuwarden (Ḥa
Lan), và các viện bảo tàng quốc gia Singapore và Phi Luật
Tân. Viện mỹ thuật South Australia, New South Wales và
Victoria (Australia) cũng chứa nhiều hiện vật gốm Việt Nam.
Ngoài ra c̣n có nhiều bộ sưu tập của tư nhân ở Australia,
Hong Kong (Oriental Ceramics of Hong Kong) và các nơi khác.
Ở
đông Java, có đền thờ Hồi Giáo với trang trí bên trong là
những gạch lót tường nhập cảng từ Việt Nam từ bao thế kỷ
trước đă làm ngạc nhiên nhiều du khách đến thăm. Những hũ
gốm Việt Nam cũng được vớt lên từ thuyền Koh Khram đắm trong
vịnh Thái Lan, thuyền này là thuyền buôn bán từ cảng
Ayuthaya vào đầu thế kỷ 15. Ayathuya lúc đó là một thành phố
thịnh vượng và là trung tâm thương mại ở Đông Nam Á. Cuối
thập niên 1980, một số ngư dân ở Long Hải và Vũng Tàu đă t́m
ra các tàu đắm gần Ḥn Bà chứa nhiều gốm Việt Nam và Trung
quốc có niên đại thế kỷ 19. Một số đă được bán trên thị
trường buôn bán đồ cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh trước khi được
quản lư số gốm t́m được và năm 1993 chính phủ Việt Nam đă
vớt lên số c̣n lại. Ở bờ biển Kiên Giang, những ngư dân dánh
cá t́m được một tàu đắm có chứa nhiều gốm Thái Sawankhalok
nhưng v́ không hiểu giá trị của gốm nên phải đến năm 1993
mới được trục vớt lên. Năm 2002, ngoài khơi B́nh Thuận đă
vớt lên rất nhiều gốm trên một thuyền Trung quốc chở gốm men
xanh lam và trắng từ Dương Châu cho công ty Đông Ấn Ḥa Lan
(VOC) bị đắm năm 1608. Điều này cho thấy rất nhiều tàu
thương mại hàng hải đồ gốm đi dọc theo bờ biển Việt Nam.
Sự phát triển của nền thương mại đồ gốm Việt
Nam từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17 (cuối đời Trần đến Trịnh
Nguyễn phân tranh) được thuận lợi khi triều Minh ở Trung Hoa
quyết định, ngăn cấm thương mại với các nước khác và đóng
cửa cảng vào đầu thế kỷ 15. Đến thế kỷ 16 và 17, thương mại
với các nước khác đi đến chổ cực thịnh ở cả đàng Trong lẫn
đàng Ngoài. Các cửa khẩu ở đàng Trong
như
Hội An, Đà Nẵng, Qui Nhơn là nơi qui tụ của nhiều thương gia
xuất nhập khẩu đủ mọi quốc tịch kể cả Nhật, Thái Lan (Siam),
Bồ Đào Nha. Cũng trong thời gian này, quân đội của chúa
Trịnh và
chúa Nguyễn học hỏi và
nhập khẩu kỷ thuật quân sự của Tây phương qua người Bồ Đào
Nha và Ḥa Lan. Hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là đồ
gốm và gia vị được chuyên chở đi khắp vùng.
Đến cuối thế kỷ 17, cả đàng Trong lẫn đàng
Ngoài lần lần đóng cửa cảng v́ sợ ảnh hưởng của ngoại quốc
vào xă hội ta về văn hóa, tôn giáo và trật tự xă hội (giới
Công, Thương lần lần có địa vị v́ làm được của cải và giàu
cho đất nước). Sự phản ứng của đầu óc bảo thủ, cộng
với sự cạnh tranh khi Trung Hoa mở cửa lại và sự xuất hiện
của công ty Đông Ấn Ḥa Lan đi t́m thuộc địa chứa gia vị và
thị trường mới làm nền thương mại của Việt Nam với thế giới
bên ngoài sụp đổ. Kỷ nghệ đồ gốm Việt Nam ở Bát Tràng, Chu
Đậu, Thanh Hóa, G̣ Sành, Sa Huỳnh, Qui Nhơn tan dần và biến
mất. Kinh nghiệm lịch sử ở nhiều nuớc như Trung Hoa, Nhật và
mới đây ở các nước trong khu vực Đông Nam Á cho thấy rằng,
sự thịnh vượng của một quốc gia chủ yếu là do sự giao lưu,
trao đổi, buôn bán và hợp tác với các nước
bên ngoài.
Nguyễn
Đức Hiệp
Tài liệu tham khảo:
(1)
Guy, J., Oriental trade ceramics in South East Asia 10th to
16th Century. (selected from Australian collections),
National Gallery of Victoria, 1980.
(2)
Janse, O.R, An archaeological expedition to Indo-China and
the Philippines. Harvard Journal of Asiatic Studies, Vol. VI
(1941), pp. 247-267
(3)
Coedes, G., The indianized States of Southeast Asia,
East-West Center Press, 1968 |