PHẦN THỨ NHÌ

CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN

 

 

CHƯƠNG III

Các Vị Đại Đệ Tử của

Đức Phật Thầy Tây An

GS Nguyễn Văn Hầu.

 

I. ÔNG TĂNG CHỦ (Giữa thế kỷ thứ 19)

 

A. Thân Thế

 

Ông họ Bùi, tên thật là chi không ai biết được cho đến tấm bia trước mộ ông cũng chỉ biên là Tăng Chủ Bùi Thiền Sư mà thôi.

Có lẽ vì ông là người có công nghiệp rất lớn lao trong việc thừa mạng của Đức Phật Thầy Tây An để lập ra làng Xuân Sơn và đạo đức quá cao siêu cho nên người đời quen lệ kiêng cử mà tên ông bị quên mất!

Thấy ông có đủ tư cách một người thay mặt cho mình để truyền đạo, cùng coi sóc quanh vùng Hưng Thới và Xuân Sơn, Đức Phật Thầy đặt cho ông cái đạo hiệu là Bùi Thiền Tăng Chủ. Nhân thế người ta gọi ông là ông Tăng Chủ.

 

Ông không vợ không con nên chi ông xin ông Đình Tây là con người em về làm con nuôi từ khi ông Đình vừa khôn lớn.

 

ông Tăng hình vóc cao lớn, miệng rộng, tai dài, bàn tay buông xuống chí đầu gối, tay chân mọc lông rất nhiều, tiếng nói sang sảng mà tâm tính bao giờ cũng ôn lương thuần hậu. Có người đã ví dung mao lẫn tâm hồn ông không khác một nhân vật đời thượng cổ.

 

B. Ở Trại Ruộng Hưng Thới

 

Trong khi Đức Phật Thầy mới vào mở trại ruộng ở Hưng Thới, ông Tăng là người có công rất lớn trong việc chiêu nạp dân cư và phát phù trị bịnh. Cùng với ông Đình Tây và ông Phạm Văn Lăng là những người coi sóc công việc ruộng rẫy hồi ấy, ông Tăng còn có cái biệt tài ở chỗ thu phục được các mãnh thú, làm cho dân chúng được an ổn làm ăn, khỏi bị nạn khuấy phá.

 

Ông thường lui tới Phước Điền Tự (2) để trông nom mấy thửa ruộng của Đức Phật Thầy giao cho tín đồ ở làm. Ông rất siêng năng công việc, mặc dầu đã có nhiều thân chủ tình nguyện làm công quả và kính trọng ông là một bậc sư huynh, Ông vẫn không lấy đó làm cao, phàm việc gì từ nặng nhọc cho đến nhẹ nhàng, đều có tay ông nhún vào tất cả. Do đó mà có sự phật lòng giữa Ông và ông Phạm Văn Lăng (tục gọi là ông Cả Lăng.)

 

Theo lời của ông Trần Văn Khánh (gọi là ông Chủ Khánh) hiện giờ đag làm cố vấn cho Đạo ở làng Thới Sơn kể lại thì một hôm, ông Lăng thấy ông Tăng  vác tre bèn kêu lên nửa đùa nửa thật mà bảo:

 

- Ông sức lực mạnh mẽ quá mà sao vác ít như thế? Thôi hãy vào đây nghỉ với tôi, để tôi cho sáp nỏ nó vác cũng xong!

 

Ông Tăng tuy ngoài miệng không nói năng chi chứ trong bụng có ý hơi buồn. Ông buồn dây vì lẽ thấy ông bạn ngồi không lại hayganh tị với những công tác đắc lực của mình, chứ không phải buồn vì tiếng nói. Cho nên từ ấy trở đi, ông xử sự rất dè dặt với ông Lăng.

 

C. Lập Đình Xuân Sơn

 

Năm 1859, nghĩa là sau ngày Đức Phật Thầy diệt độ ba năm, ông thấy dân chúng trong vùng Xuân Sơn đã được trù mật, lại nhân có sự bất đồng ý kiến với ông Lăng, ông bèn đến lập một ngôi Tam Bảo tại làng Xuân Sơn, rồi cùng với ông Bùi Văn Tây về ở (chùa này lúc đầu cất trước miểu sau chùa, rồi í lâu đổi hẵn là đình.)

 

Tuy về đây, ông Tăng vẫn tiếp tục phát phù trị bịnh, và thỉnh thoảng có tới lui nơi chùa Phước Điền và chùa Hưng Thơí để thăm lom công việc và nhắc nhở giáo lý của Đức Phật Thầy cho anh em trong đạo nghe.

 

Cũng tại đình này, một hôm ông Tăng đi thăm ruộng về, trời đã tối, khi đến gần cửa ông trông thấy một con hổ nằm lù lù bên vệ đường. Thấy ông, hổ đứng dậy hẳ miệng rồi cúi đầu tỏ vẻ đau đớn lắm. Ông Tăng hiểu ý bèn hỏi:

 

-Chắc ngươi mắc xương đó phải không? Sao không tới đây cho sớm đặng ta cứu cho mà để đến nổi ốm o quá đổi nhu thế này vậy!

 

Hổ cúi đầu và phụ xuống, tỏ ý là lời nói phải.

Ông Tăng bảo:

- Nếu thật mắc xương thì hãy ngay cổ ra, ta trị cho.

 

Hổ vâng theo lời dạy. Ông Tăng co tay đấm vào cổ con hổ một cái. Lập tức hổ khạc lên mấy tiếng rồi trong miệg văng ra một cục xương rất lớn.

 

Ông Tăng cười mà bảo:

- Thôi hết rồi, hãy đi đi, từ nay ăn uống nên cẩn thận hơn, đừng hồ đồ quá ta cứ không kịp thì nguy đa!

 

Hổ cúi đầu vâng lời rồi lui ra. Hôm sau, hổ bắt một con heo rừng đem đến dâng cho ông Tăng mà đền ơn cứu bịnh. (3)

 

Từ đó, đối với các mãnh thú trong vùng Thất Sơn, ông Tăng không phải là một người thường  mà là một vị Thần linh, hay một ông chúa tể. Ông Tăng có thể truyền một lời ra, hầu hết hùm beo đều phải cứi đầu theo lịnh.

 

Ông độ đời và nhắc đạo được một thời gian khá lâu thì tịch tại đình Xuân Sơn vào ngày 27 tháng 10 năm Mùi, thọ được trên 80 tuổi. Hiện nay mộ ông vẫn còn ở cách đình khoảng 100 thước, có dựng bia và chép:

Đại Nam quốc, An Giang tỉnh, Tịng biên phủ, Qui Đức tổng, Thới sơn thôn.

Nguyên Tăng chủ Bùi Thiền Sư, hưởng thượng thọ.

Mùi niên, thập ngoạt, nhị thập thất nhật chi chung.

 

 

GS Nguyễn Văn Hầu.

(Còn tiếp)

 

CHÚ THÍCH:

(1) Ở dưới chân núi Két xưa kia có hai làng Xuân Sơn và Hưng Thới, sau sáp nhập lại gọi là Thới Sơn.

 

(2) Nơi này là chỗ trại ruộng mà xưa Đức Phật Thầy để ông Sấm, ông Sét (hai con trâu), về sau  gài giao cho bà Hai Mun, nghĩa tử của Ngài đến ở.

 

(3) Theo lời của ông Năm Hạnh (rễ của ông Đình Tây) thì việx trị bịnh cho hổ lúc Đức Phật Thầy còn, song bằng vào lời ông Chủ Khánh và nhiều bậc phụ lão khác thì lúc đó Đức Phật Thầy đã tịch rồi và việc này xảy ra tại đình Xuân Sơn. Vậy xin chép theo thuyết của đa số.

 

 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TRÌNH HỘI ÐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/15/07