|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG V
LƯỢC SỬ
(1)
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
GS Nguyễn Văn Hầu.
B. Thuyết Pháp
Sau ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo, Đức Thầy nói nhiều hơn xưa, gặp ai là Ngài nói nấy. Ngài nói về sắc diện, tánh t́nh và tương lai. Sau rốt Ngài khuyên người làm lành lánh dữ, trau sứa tâm
lành, kỉnh tin Trời Phật.
Ngài nói thật trúng, thật hay. Rất khiêm tốn, rất b́nh dân, Ngài không bao giờ chịu phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn. Đăi ngộ họ như nhau, Ngài không hề khuất phục kẻ
cường quyền nào và bỉ bạc một người khốn khó nào... V́ vậy nên thuở ấy người ta kêu Ngài là "Ông tướng b́nh dân."
Nhiều người có xu hướng cộng sản lại chất vấn Ngài. Họ lấy làm khâm phục v́ Đức Thày nói thấu "ruột gan" họ, và nói đến những việc ở bên cái xứ xa xôi kia,
ở tại cái xứ đă phát huy những tư tưởng khuynh tả ấy...
Thế là trong số bá tánh thập phương tới viếng Đức Thầy, ngoài những người xin thuốc, xin bùa, xin trị bịnh lại c̣n có nhiều người đến để nghe Ngài giảng giải
giáo lư của Đức Thích Ca mà Ngài có sứ mạng truyền bá:
"Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn,
Xuống hạ giới truyền khai Đạo pháp".
Nhiều khi Ngài phải thuyết pháp cả ngày lẫn đêm. Thính giả tựu họp để nghe đông vô số kể. Như thế cho đến ngày 12 tháng tư năm Canh Th́n (1940) là ngày mà nhà đương cuộc Pháp
ở Châu Đốc dời Ngài đi Sa Đéc. Ngôi nhà Đức Ông bỗng nhiên biến thành một ngôi chùa. V́ thế nên có lần Đức Thầy nói với Đức Ông đi lên quận xin phép đổi nó ra làm cái chùa, lấy danh hiệu là
"Kim Sơn Tự"..
Với một giọng nói thanh tao êm dịu, khi bỗng lúc trầm, lưu loát mà rơ ràng, khi cao siêu khi giản dị, Ngài giảng giải cho quần chúng nghe giáo lư nhà Phật và phương pháp tu hành. Ngài thuyết pháp không vấp,
không ngưng. Thật là "Miệng nhích môi đầy văn tao nhă; Hạ bút thần thơ đă đề khai."
Một nhà viết báo ở Sài Thành (ông Hiền Sĩ) nói về Đức Huỳnh Giáo Chủ trong hơn 30 bài báo, có phê b́nh tài hùng biện và khoa ngôn ngữ của Ngài bằng câu "thao thao bất tuyệt" và cho rằng
Ngài "chiếm giài quán quân về phương diện diễn thuyết". Nhà lănh tụ "Nhóm Tranh Đấu" là Tạ Thu Thâu chưa chắc có thể so sánh với Đức Thầy về môn diễn thuyết và nói chuyện trước công chúng được!
Lại nữa, lời văn của Đức Thầy c̣n có mănh lực hấp dẫn quần chúng một cách phi thường nên thính giả nhiều khi mủi ḷng rơi lụy, liền phát bồ đề tâm, quy y đầu Phật.
Nhiều nho sĩ, văn gia, nhiều trí thức tân học đỗ cao (cử nhơn, tấn sĩ) đều bái phục Đức Thầy v́ tài ba, v́ đức hạnh. Thật Ngài là một bậc thượng trí anh tài, một
bực "sanh nhi tri" vậy!
Trong số những tay cự phách của làng nho hoặc những nhà quyền qúy thời Pháp thuộc đă đến đọ sức thử tài hoặc t́m hiểu sở năng sở kiến của Đức Thầy, chúng tôi thường
nghe kể những vị dưới đây:
1. Thầy Ba Thận
Ông này ở làng Phú Lâm (Tân Châu) và là học tṛ của ông Tú tài Thường (cựu học) ở làng Phú Thuận (Tân Châu). Ông có làm hai bài thơ mà ông tự cho là khéo léo vừa ư lẫn văn, tính đến thử Đức
Thầy. Khi ông vừa đến th́ Đức Thầy đă biết ư định của ông và trả lời ngay những điều mà ông muốn hỏi mặc dù ông chưa kịp xuất tŕnh hai bài thơ ấy cho Đức Thầy.
2. Ô
ng Lương Văn Tốt tức Thầy Bảy Tốt
Ông này ở làng Mỹ Hội Đông (Long Xuyên). Lúc ấy ông thường đến làm thi bằng Hán văn với Đức Thầy. Bữa nọ, làm không kịp Đức Thầy và nột quá ông phải rút trọn một
câu trong sách thuốc Thọ Thế. Điểm mặt ông, Đức Thầy vừa cười vừa nói rằng: "Ông hết rồi nên mới rút tới câu đó".
Một hôm nọ, nhơn đọc bài "Diệu pháp quang minh" (của Đức Thầy) thấy câu "Trần Di ngủ say câu thành tựu", ông bèn nói với Đức Thầy: "Bạch Ngài, tôi e cho chữ
thành tựu chưa có ai dùng. Phải chăng Ngài đă lầm lộn?" Đức Thầy bảo ông về xem lại bộ "Tứ Thơ" sẽ thấy chữ thành tựu. Ông về t́m kiếm tở mở nhưng cũng không thấy. Sau Đức Thầy có cho ông
biết chữ thành tựu rút ở trong hàng chữ nhứt nhứt thành tựu (thuộc đoạn nào, bài nào Ngài có chỉ rơ).
3. Ông Huỳnh Hiệp Ḥa
Ông Hoà ở làng B́nh Thủy (Long Xuyên) và cũng là một bực đại gia văn chương. Ông có làm bài thơ dưới đây mà nếu chiết tự sáu câu đầu chúng ta sẽ thấy ông có ẩn ư hỏi coi
Đức Thầy có phải là Trạng Tŕnh, Cử Đa, Đề Thám chăng?
Đây là bài thi của ông Huỳnh Hiệp Hoà:
Phiến ngôn đại chấn điểm Nam cương
Khẩu tụng Văn vương vị bốc tường
Dữ thiện ngôn ngôn tùng nhứt nhị,
Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương.
Mă lai thủ thị danh thương pháp,
Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường.
Thị vấn hồi âm tri bửu hiệu,
Tứ minh tam vị hiển văn chương
Liền đó, Đức Thầy đáp họa như dưới đây:
Hồi đầu điểm đạo chuyển phong cương,
Háo thắng bi ly đạo khổ tường.
Tể tướng cam phong an diện nhị,
Hàn nhơn thọ khóa tác tâm lương.
Thiên tôn mật sát nhơn gian pháp,
Phật lư vi khai đại hội trường.
Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,
Hàn lâm nhất đấu vịnh thiên chương.
Bài thơ của Đức Thầy đáp họa có hàm súc một cách khéo léo danh hiệu của Ngài.
4. Ông Nguyễn Kỳ Trân tức Chín Diệm
Ông này ở làng Định Yên (Long Xuyên) và là một bực túc nho đầy ḷng ưu ái giang sơn. Thấy nước nhà đang bị nạn xâm lăng mà Đức Thấy lại đem mùi tôn giáo khuyến dụ nhơn sanh
nên ông lấy làm hoang mang khó hiểu. Ông mới làm bài thơ dưới đây, đại ư nói với Đức Thầy như vầy: Giặc mạnh xâm lăng nước nhà đă mấy mươi năm rồi. Vậy chẳng biết Ngài là vị tiên chi xuống trần? Chứ
ngày nay những bậc như ông Trần Hi Di (Trần Đoàn), ông Khương Thượng Tử Nha v.v... đều ẩn khuất tất cả nơi đất Bắc trời Nam, chỉ thấy hiện giờ con cá đỏ đuôi (ám chỉ cờ tam sắc) ở cùng khắp đất
nước. Nếu Ngài thực là bậc anh triết th́ xin Ngài hăy đả nó một cây roi thần
(2).
Cường khấu xâm lăng kỷ thập niên,
Vị tri đại đức giáng hà Tiên?
Hi Di ngũ quí kim an tại,
Thái Thượng tam vương cổ bất truyền.
Độc Nhăn sa đà tàng Bắc địa,
Liên Mi chơn mạng ẩn Nam thiên.
Pḥng ngư sính vĩ đương kim nhựt,
Dẫn lănh minh lương trứ tổ tiên?
(3)
Đức Thầy mới lập tức đáp họa như dưới đây:
Thiên kư Lạc Hồng đắc ngũ niên,
Sơn Trung hồi dả bí danh Tiên.
Trần nhơn đăi thế Nam tồn tại,
Lăo đạo tiền phong Bắc ư truyền.
Tŕnh mỗ ngộ kim khuê Cổ địa,
Xích mi hải hội luật trừng thiên.
Dị phi minh đế đồ tôn nhựt,
Thạnh khí đào thinh giác kỷ tiên.
Đại ư bài thơ này Đức Thầy trả lời từ câu bài thơ trên và có nói rơ danh hiệu của Ngài. Trong hai câu chuyển kết, Ngài c̣n nói rằng: Thời kỳ của minh đế chưa tới, chờ khi ngày
giờ đă đến th́ chẳng những có một cây roi, mà sẽ có biết bao nhiêu cây...
5. Ông Nguyễn Văn Lễ ở Tân Châu
Ông này là chủ quận Tân Châu thời ấy.
Khi ông vừa đến để nghe Đức Thầy thuyết pháp th́ Ngài chào và nói một câu thẳng thắn rằng: "Tôi chào đây là tôi kỉnh cái đức của song thân ông (Đức Thầy kêu ông quận
bằng ông chớ không kêu bằng quan lớn như người khác) v́ song thân ông có tu nhân tích đức nên nay ông mới được chức trọng quyền cao. Vậy ông nên lập công bồi đức nếu ông muốn hưởng phước được lâu dài, cũng
như ông chỉ có 100 đồng bạc mà muốn đi ghe đến Saigon th́ dọc đường phải lo sanh phương kiếm lợi mới có thể đi đến nơi đến chốn, chớ nếu không làm ǵ hết sợ e ghe vừa tới Chợ Mới là
tiền đă hết rồi!"
Xin nói thêm rằng trước khi đến Hoà Hảo nghe Đức Thầy thuyết pháp, ông Chủ quận có cho người đem xe hơi đến rước Đức Thầy lên Tân Châu thuyết đạo cho ông nghe. Gặp
một ông thầy khác có lẽ người ta sẽ hănh diện tự đắc v́ có mấy khi được quan Chủ quận mời rước bằng xe hơi. Nhưng Đức Thầy lại khác. Ngài từ nan (mặc dầu bà Chủ quận đă là tín đồ từ
lâu rồi), nói rằng: "Nếu ông quận đem xe hơi lại rước mà tôi đi th́ tôi phải làm thế nào đối với những người đem ghe xuồng lại mời tôi? Tôi đâu có thể thiên vị kẻ giàu mà phụ bạc kẻ nghèo?"
6. Ông chủ quận Chợ Mới (Lê Tấn Nẩm)
Ông nầy cũng có phận sự đến Hoà Hảo t́m hiểu về Đức Thầy.
Sau khi chào sơ ông Chủ quận, Đức Thầy ngồi dựa ngữa trên ghế cố ư làm cho ông khách bực tức.
Ông quận Chợ Mới làm vẻ b́nh tĩnh hỏi Đức Thầy: "Ông đă dạy bổn đạo tu vô vi mà tại sao c̣n bảo họ uống giấy vàng?"
Đức Thầy đáp bằng một câu vừa để trả lời câu hỏi vừa để nói ngay tâm lư người đối thoại: "Tại họ thiếu đức tin!"
Mà thực đấy, v́ họ thiếu đức tin nên phải dĩ huyễn độ chơn.
Sau khi ra về, ông quận Chợ Mới gởi lên thượng cấp của ông một bản phúc tŕnh do đó Đức Thầy phải bị dời khỏi làng Hoà Hảo, điều mà Đức Thầy mong ước, v́:
Càng đi càng biết nhiều nơi,
Càng đem chơn lư tuyệt vời phổ thông.
GS Nguyễn Văn Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) XIN LƯU Ư: Đây chỉ là LƯỢC SỬ của Đức Thầy. T́m đọc quyển "Tiểu sử của ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ" đầy đủ hơn.
(2) Phải chăng là cây roi của ông Tổ Địch?
(3) Ông Nguyễn Kỳ Trân c̣n làm một bài nữa và Đức Thầy cũng có đáp họa đủ, nhưng ở đây chúng tôi chỉ chép bài thứ nhứt thôi. |