Của
Đức Thế Tôn
Do cô cư sĩ giáo thọ Mira Tweti viết
được trích dịch từ số báo mùa đông 2006 trong tạp chí Tam Thừa
Vào năm 1976, ni sư Karuna Dharma là
phụ nữ đầu tiên trở thành vị nữ tu trong tăng đoàn Phật giáo ở Hoa Kỳ. Ni Sư tiếp tục
tạo nên những thay đổi mới mẻ trong nền Phật giáo qua việc đứng ra tổ chức ba
kỳ Đại Giới Đàn kể từ năm 1994, cho nữ giới với các truyền thống thực tập khác nhau.
Gần 50 vị đă trở thành nữ tu sĩ thọ giới đầy đủ, hoặc là tỳ kheo ni, trong những buổi lễ
này.
Ni sư Karuna sinh vào năm 1940, có tên
là Joyce Adele Pettingill, trong một gia đ́nh Tin Lành Báp Tít
ngoan đạo, cư ngụ tại Beloit, Wisconsin. Vào năm 1969, cô ghi danh
tham dự một lớp học về đạo Phật, nơi đây cô đă gặp được vị thầy
người Việt của ḿnh, đó là ḥa thượng tiến sĩ Thích Thiên Ân. Cô đă
phụ giúp Ḥa Thượng sáng lập Thiền Viện Phật Giáo Quốc Tế
(International Buddhist Meditation Center – IBMC) ở Los Angeles vào năm
1970, và trở thành nữ viện trưởng sau khi Ḥa Thượng viên tịch vào
năm 1980. Ni sư Karuna là một học giả Phật giáo có uy tín, là cựu
hội trưởng của Giáo Hội Phật Giáo Hoa Kỳ (American Buddhist
Congress), và hiện là phó hội trưởng của Tổng Hội Tăng Già Phật Giáo
Miền Nam California và Viện Đại Học Nghiên Cứu Phật Giáo
(Buddhist Sangha Council of Southern California and the College of
Buddhist Studies).
Vào năm 1994, Ni Sư bị đứt mạch máu năo
nghiêm trọng, nhưng rồi cùng năm đó Ni Sư nói chuyện và đi đứng lại được, cũng như
thu xếp để khai mở Đại Giới Đàn lần thứ nhất bao gồm ba trường phái Phật giáo chánh yếu: Nguyên
Thủy, Phát Triển, và Kim Cang. Trong mỗi kỳ giới đàn, Ni Sư liên lạc với các nữ tu sĩ
nào chưa thọ giới lớn (novice nuns) có ư muốn trở thành tỳ kheo ni. Các nữ tu sĩ đă đến từ khắp
nơi trên thế giới để được Ni Sư truyền giới cho. Đây là một bước ngoặc lớn lao đối với nữ tu sĩ
Phật giáo, nhất là ở các quốc gia theo truyền thống Nguyên
Thủy, như là Thái Lan, nơi mà một vị ni có thể bị giam giữ v́
đắp y áo tỳ kheo ni.
Việc truyền giới của ni sư Karuna có
tầm quan trọng bậc nhất đối với giới nữ tu theo truyền thống
Tây Tạng v́ họ không được phép thọ đại giới tại bổn tự thường
trú. Vào thời xa xưa, đức Phật đă ban giới cho cận sự nam, cận
sự nữ, và sau khi Ngài thị tịch th́ ḍng truyền thừa tỳ kheo
ni vẫn c̣n được tiếp nối và truyền sang các quốc gia theo
truyền thống Phát Triển, như là Việt Nam, Trung Hoa, và Đại
Hàn. Nhưng ḍng truyền thừa này biến mất dần tại các quốc gia
theo truyền thống Nguyên Thủy, như là Thái Lan, Tích Lan, và
chưa bao giờ du nhập vào Tây Tạng.
Theo truyền thống quy định là phải có
đủ mặt 10 vị tỳ kheo ni th́ mới được ban giới lớn cho các
nữ tu sĩ. Được biết cho đến ngày nay -
không có đủ số 10 vị tỳ kheo ni trong bất cứ một ngôi chùa nào ở Tây Tạng cả – các bậc thầy
chỉ có thể truyền trao y áo màu tím của nữ tu sĩ chưa thọ giới lớn mà thôi, và các vị nữ tu đó
đành phải là như vậy suốt đời.
Đại Hội Quốc Tế Đầu Tiên Về Vai Tṛ Nữ
Giới Trong Giáo Đoàn Phật Giáo (The First International Congress on Buddhist
Women’s Role in the Sangha) sẽ được tổ chức ở nước Đức, tại Đại Học Đường Hamburg (University
of Hamburg), vào ba ngày 18-20 tháng bảy, 2007, và sẽ dành phần đặc biệt cho ni sư Karuna
như là một diễn giả. Hội nghị chuyên đề này có hy vọng là dàn xếp được cuộc tranh luận c̣n đang
tiếp diễn lâu dài về sự tái lập giáo đoàn tỳ kheo ni
khắp thế giới. Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ tham dự hội
nghị này cũng như từng công bố ủng hộ việc thừa nhận
ni đoàn Phật giáo.
Ni sư Karuna là bậc thầy của tôi từ năm
1991, và tôi đă có những phát nguyện của một vị giáo thọ
(dharma teacher) trong giáo đoàn của Ni Sư vào
năm 2004. Mùa hè vừa qua – sau buổi cơm trưa ở căn hộ chung cư của tôi, tại Playa del Rey,
California – chúng tôi đă bàn thảo về di sản của ni đoàn tỳ kheo ni, vai tṛ đổi mới của nữ giới
trong nền Phật giáo, và ảnh hưởng của sự thay
đổi này đối với các ḍng tu tập tổ sư có từ lâu đời.
Ni sư Kurana luôn sử dụng phương thức trực tiếp, tức th́, thẳng thắn (no-nonsense approach). Theo
đúng phong cách Thiền Tông, Ni Sư luôn nói ra những ǵ ḿnh nghĩ, và ngày trao đổi
hôm đó cũng không ngoại lệ.
Ni Sư là người nữ đầu tiên được xuất
gia thọ giới ở Hoa Kỳ, như vậy th́ không có các tỳ
kheo ni nào ở xứ này vào thời đó sao?
Có rất ít các tỳ kheo ni vào thời đó.
Mà thật ra th́ không có tỳ kheo ni nào cả vào thời xuất gia
thọ giới của tôi. Tôi không chỉ là phụ
nữ Hoa Kỳ đầu tiên được xuất gia thọ giới lớn trên đất
nước Hoa Kỳ, mà c̣n là người nữ đầu
tiên trở thành tỳ kheo ni ở xứ này. Trước thời điểm đó,
bạn phải đi sang Đài Loan, Hương Cảng,
hay là một nơi nào khác để được thọ giới lớn.
Ni Sư có thấy được đây là một sự
kiện vô cùng quan trọng đối với nữ giới trong làng Phật
giáo không?
H́nh như sự kiện này không quan trọng
lắm đối với tôi vào thời đó. Tôi cũng không nghĩ rằng đây là một cái ǵ đổi mới to lớn. Dường
như tôi chỉ biết ḿnh phải là tỳ kheo ni. Tôi không thể nào giải thích được điều này. Có ǵ đó
trong tôi cứ thôi thúc ḿnh phải là vậy mà thôi.
Từ dạo đó Ni Sư dấn thân sắp đặt các
chương tŕnh Đại Giới Đàn cho nữ giới. Làm sao mà
các kỳ lễ này đă được h́nh thành?
Vào năm 1994, tôi biết được một số nam
thiền sinh sẵn sàng trở thành tỳ kheo. Lúc đó, ḥa thượng tiến sĩ Havanpola Ratanasara có
mặt trong văn pḥng phân khoa đại học nghiên cứu Phật giáo. Tôi đi xuống gặp Sư và nói, “Thưa
sư, con có một vài thiền sinh và nhận thấy cũng tới lúc các thiền sinh này nên trở thành tỳ
kheo. Sư có hoan hỷ là Upajjhaya của chúng con không?”
Upajjhaya có nghĩa là vị sư truyền giới
chánh (chứng minh sư). Và Sư đáp lại, “Ni sư Karuna, tôi lấy làm vinh hạnh được làm chứng
minh sư!”
Với một chút lo lắng trong ḷng, tôi
tŕnh bày với Sư, “Thưa sư, có một trở ngại nhỏ. Các thiền sinh nghĩ rằng bởi v́ con là thầy của
họ, con nên truyền giới cho họ, nhưng mà con biết là con không thể nào ban giới cho nam giới
được.” Sư đáp lại, “Để tôi suy nghĩ thêm điều này.” Vài phút sau đó, Sư đi đến quyết định,
“Công việc của tôi như là một vị chứng minh sư th́ phải chắc chắn là vị nào dẫn đầu buổi lễ truyền
giới th́ phải hội đủ giới đức. Và tôi muốn ni sư chủ tŕ
buổi lễ.” Đêm đó tôi về suy ngẫm lại và
sáng hôm sau trở xuống thỉnh ư thêm, “Thưa Suto, con cảm thấy thật vinh hạnh được sư chỉ
định con làm vị thầy truyền giới, chỉ là con không nên làm một ḿnh, mà nhận thấy là sư và con nên
san sẻ công việc đó.” Và Sư nhận lời, “Thật là một ư
tưởng kỳ diệu.”
V́ thế cho nên chúng tôi đă ngồi lại
với nhau cùng sắp đặt chương tŕnh cho buổi lễ truyền giới,
và chúng tôi đă phân buổi lễ ra làm hai.
Thay v́ có ba vị thầy truyền giới chánh, chúng tôi có tới sáu: ba tăng và ba ni. Chúng tôi có
thêm 20 vị thầy ngồi trên giới đà́—10 tăng và 10 ni—và
chúng tôi cũng có trên dưới 20 tăng ni
đến tham dự để chứng minh cho buổi lễ.
Ni Sư đă kể cho con biết tiến sĩ ḥa
thượng Thiên Ân khởi xướng truyền thống, đó là mời
tất cả các truyền thống thực tập
khác nhau đến tham dự các buổi lễ truyền giới, và lư do tại sao Ḥa Thượng quyết định đặt tên
cho thiền viện mà Ḥa Thượng sáng lập là Thiền Viện
Phật Giáo Quốc Tế.
Tiến sĩ Thiên Ân nói, “Cô là người Hoa
Kỳ, và đây là nền Phật giáo tại Hoa Kỳ. Chúng ta không
nên chỉ dành riêng buổi lễ truyền giới
cho một trường phái nào đó mà thôi.” Trên thực tế, dù sao chăng nữa cũng không có nhiều người
Việt lắm ở gần đó vào thời ấy. Tiến sĩ nói, “Tôi sẽ mời
quư thầy cô với các truyền thống Phật
giáo khác nhau.” Tiến sĩ đă làm như thế, và tất cả quư
thầy cô đă về tham dự buổi lễ truyền
giới. Và tôi tiếp tục ǵn giữ truyền thống này do bởi tôi
nghĩ nó là một phương hướng thật tốt
đẹp. Như Suto khẳng định, “Chúng ta không truyền giới
cho các giới tử để tuân thủ theo một
Vinaya nào đó (bộ Luật tạng gồm các giới luật và thanh quy dành cho đời sống tăng ni chúng). Chúng
ta cũng không truyền giới cho các giới tử để thuộc về một trường phái Phật giáo nào đó. Mà
chúng ta chỉ truyền giới cho các giới tử để trở thành nam tu sĩ và nữ tu sĩ thế thôi, chấm hết.”
Có phải bởi v́ đây là nền Phật giáo
tại Hoa Kỳ, nơi mà mọi truyền thống đều có mặt,
không giống như các quốc gia Á châu,
trong đó mỗi nơi theo một truyền thống riêng biệt
nào đó?
Không hẳn chỉ vậy thôi, mà c̣n tại v́
đó là phương thức đă có mặt ngay từ thời đức Phật Thích
Ca Mâu Ni. Thực ra đă không có sự phân
chia như thế, chẳng hạn như các tông phái, vào thời
đức Phật c̣n tại thế.
Vậy th́ phương thức này tiến triển
chi tiết ra làm sao? Bởi v́ dù là có nhiều truyền thống
hiện diện trên giới đài, Ni Sư là
thầy của con, và Ni Sư xuất thân từ ḍng truyền thừa Việt
Nam, và khi có ai hỏi con, con nói đó là ḍng truyền thừa
của con.
Khi tôi truyền giới th́ các giới tử đắp
y áo của tông phái ḿnh. Thế nên, nếu bạn là người Tây
Tạng th́ đắp y áo Tây Tạng, nếu bạn là
người Việt th́ đắp y áo đó, và nếu bạn thuộc Nguyên
Thủy th́ đắp y áo Nguyên Thủy. Đó là v́
sao lễ thọ giới của chúng ta trông thật khác với các nơi khác.
Trước kỳ lễ thọ giới trong năm 2004,
tôi gửi cho mỗi vị xin thọ giới một chương tŕnh, bao gồm
thông báo và tờ thỏa thuận. Để được
tham dự buổi lễ thọ giới th́ một vị ni phải viết thư và xin
thầy ḿnh kư tên vào tờ thỏa thuận rằng
ḿnh sẵn sàng thọ giới cũng như vị thầy sẽ chỉ dạy cho ḿnh ít nhất là 5 năm sau đó. Do bởi
trong 5 năm đầu, bạn không được tự ư đi đâu hay làm ǵ. Theo như bộ Luật tạng, bạn phải chịu
dưới sự giám sát của thầy ḿnh. Tất cả các vị thầy phải kư tờ thỏa thuận đó. Chúng ta tuân giữ
theo tờ thỏa thuận một cách nghiêm chỉnh, dễ làm, dễ hiểu.
Sau khi có được tờ thỏa thuận với chữ
kư và đi sang Los Angeles, tất cả nữ tu sĩ phải lưu lại ở
IBMC ít nhất là hai tuần trước thời hạn
thọ giới để tham dự khóa đào luyện thọ giới theo truyền
thống. Chúng ta đă tiếp đón các nữ tu
sĩ đến từ Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Tây Ban Nha, Úc, và cả hai miền duyên hải Gia Nă Đại. Nhiều vị ni
đă đến và đa số, không phải tất cả, là người Tây Tạng. Có một vài vị ni theo truyền thống
Nguyên Thủy đă thọ giới. Chúng ta đă truyền giới cho tổng cộng là hai mươi vị ni (trong
lần Đại Giới Đàn 2004).
Tại sao nó th́ quan trọng để có những vị tỳ kheo ni?
Cũng cùng một lư do nó th́ quan trọng
để có những vị tỳ kheo [nam tu sĩ thọ cụ túc giới]. Giáo
đoàn [đoàn thể tỳ kheo và tỳ kheo ni]
ǵn giữ Phật pháp và tiếp nối các truyền thống thực tập.
Nếu không có vị nào thọ đại giới th́ ai
sẽ giảng dạy và thực hành các truyền thống? Bạn không
bao giờ thọ giới để có thêm sự giác ngộ—mà
bạn phải thực tập để được giác ngộ. Một vị cư sĩ
có thể giác ngộ chẳng khác ǵ một vị
thầy tu.
Bên cạnh thọ giới tỳ kheo ni theo
truyền thống, mà nó đ̣i hỏi một sự thực tập về 348 lời thệnguyện, Ni Sư c̣n truyền giới giáo
thọ (dharma teacher ordination), cần phải thực tập chỉ 25 lời phát nguyện, cho cả tăng sinh
và ni sinh. Con được biết là tiến sĩ Thiên Ân đă khởi xướng sự thực tập cải cách này. Kính
xin Ni Sư nói một chút về điều ấy.
Đúng là một sự thay đổi triệt để. Tiến
sĩ Thiên Ân sống ở Nhật Bổn trong bảy năm, và Tiến Sĩ
yêu thích nền văn hóa Nhật. Hầu hết
tăng sĩ ở Nhật lập gia thất. Họ không thọ cụ túc giới của
một vị tỳ kheo, mà chỉ thọ nhận 25 giới
đặc biệt của các vị giáo thọ hướng dẫn thiền tông (zen
priests). Đó là những ǵ mà cô và các
sư anh của cô đă thọ nhận thay v́ 250 giới cho các vị tỳ
kheo và 348 giới cho các vị tỳ kheo ni.
Vị giáo thọ (dharma teacher) đối với tôi th́ tương đương
với “tỳ kheo” hay “tỳ kheo ni.” Những
vị giáo thọ không chỉ là cư sĩ bởi v́ các vị này đă được
đào luyện giống như là các vị tỳ kheo
và tỳ kheo ni.
Có sao không? Có một sự thiệt tḥi
nào cho chúng con trong việc không thọ 348 giới?
Nó c̣n tùy thuộc vào chủ đích của bạn
là ǵ trong việc trở thành một vị tu sĩ. Nếu bạn muốn làm một vị tu sĩ chân chánh, th́ có lẽ bạn
nên thọ nhận đầy đủ 348 giới. Nhưng nếu bạn muốn theo kiểu một nhà truyền giáo nhiều hơn, ra
ngoài tiếp xúc với quần chúng, th́ tốt nhất là bạn thọ nhận 25 giới.
Những vị giáo thọ có được công nhận trong các cộng đồng
Phật tử khắp thế giới?
Tôi không h́nh dung được là những vị
giáo thọ có được công nhận ở khắp nơi chăng. Một vài người bạn Tích Lan của tôi nói là chúng
ta đă thêm vào một cấp bậc thọ giới. Nhưng họ nh́n nhận khi tôi nói cho họ biết là tôi xem
những vị giáo thọ ngang hàng với các vị tỳ kheo và tỳ kheo ni. Đó là cách nh́n của tôi mà
cũng là cách nh́n của tiến sĩ Thiên Ân. Tôi thật không biết những người khác có lối nh́n thế nào.
Nói chung là Ni Sư có nghĩ giới tăng
lữ ở các quốc gia Phật giáo xem trọng đạo Phật Hoa
Kỳ không?
Tôi nghĩ là có. Nhiều người Á châu, khi
mới lần đầu gặp gỡ những người Hoa Kỳ, không mường tượng được đạo Phật ở Hoa Kỳ. Họ
cũng không có ư niệm nào về tác phẩm Phật pháp kỳ diệu được viết bằng Anh ngữ. Trong một
chừng mực nào đó, họ nghĩ là chúng ta không hiểu biết đạo Phật theo cách thức mà họ hiểu
biết, nhưng khi họ bắt đầu biết được là chúng ta thực sự hiểu biết như họ, th́ họ thay đổi thái
độ. Tại Hoa Kỳ, các vị tỳ kheo và tỳ kheo ni b́nh đẳng như
nhau.
Xin kể cho con biết về hội nghị Phật
giáo mà Ni Sư mới vừa tham dự. Mục tiêu của hội
nghị là ǵ?
Tôi đă tham dự Hội Nghị Quốc Tế
Sakyadhita về Nữ Giới Theo Phật Giáo (Sakyadhita International Conference on Buddhist
Women) ở thành phố Kuala Lumpur, Mă Lai Á. Khoảng một ngàn người tham dự, gồm chừng ba
trăm tỳ kheo ni từ ṿng quanh địa cầu, và phần c̣n lại
là các nữ Phật tử. Hội nghị được tổ
chức hai năm một lần. Nó bao gồm bất cứ điều ǵ cần làm cho và ủng hộ giới nữ tu, nhưng tất
nhiên một trong những điều chánh yếu được nêu lên mỗi kỳ hội nghị là ni đoàn tỳ kheo ni bởi v́
nó không hiện có trong mỗi quốc gia.
Ni Sư có liên quan trong việc thành lập hội nghị này phải
không?
Đúng vậy. Tôi đă tham dự lần đầu vào
năm 1987, được tổ chức tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ.
Khi tôi nhận được thông báo về hội nghị,
tôi nghĩ tham dự hội nghị quan trọng hơn là tham dự
Hội Ái Hữu Phật Tử Thế Giới (World
Fellowship of Buddhists) bởi v́ chưa từng có một hội nghị
nào cho nữ giới theo Phật giáo trước đó.
Vào ngay ngày cuối của hội nghị, chúng tôi nghĩ cách
làm sao cho hội nghị được tổ chức
thường xuyên và có mặt lâu dài. Chúng tôi đă biểu quyết lấy
tên Sakyadhita v́ nó có nghĩa là “những
người con gái lành của đức Thế Tôn” (daughters of the
Buddha). Nữ tu sĩ Tây Tạng, Karma
Lekshe Tsomo, và tôi được chọn cùng làm hội trưởng (copresidents) vào thời gian đó.
C̣n việc tạo cơ hội cho nữ giới theo
Phật giáo ngồi lại với nhau có tầm mức quan trọng ra
sao?
Trước hết, hội nghị đă mở rộng tầm mắt
của phụ nữ Tây Tạng v́ trước đó họ không h́nh dung
nổi là phụ nữ Tây phương được truyền
thụ cựu túc giới cũng như có quá nhiều người Tây
phương chúng tôi tại hội nghị đó. Họ
cũng trở nên hân hoan mừng rỡ khi nh́n thấy các tỳ kheo
ni người Hoa Kỳ làm chủ được đời ḿnh
v́ họ chưa từng thấy sự việc như thế bao giờ. Vẫn c̣n
chưa có các tỳ kheo ni trong tăng đoàn
Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma có đến tham dự và diễn
thuyết. Ngài rất ủng hộ nữ giới, và có
nhiều nữ tu sĩ cùng đi tham dự hội nghị với Ngài. Năm đó
hội nghị được tổ chức bằng hai thứ
tiếng, Anh ngữ và Tạng ngữ.
Những đề tài nào nằm trong chương tŕnh hội thảo tại kỳ
hội nghị lần đầu?
Lần đầu đó, chúng tôi không mấy chú ư
đến ni đoàn tỳ kheo ni cho lắm, mà đúng hơn là làm thế
nào để nữ giới có thể tự nâng cao ḿnh
lên tại v́ ở nhiều quốc gia họ chỉ có vai tṛ thứ yếu.
Kỳ hội nghị thứ nhất đó cũng chính là
lần đầu tiên các tỳ kheo ni hiện diện có thể tụng đọc
Pratimoksha [tỳ kheo ni giới]. Mỗi vị
tỳ kheo và tỳ kheo ni phải thực thi nghi lễ tụng giới hai lần
trong tháng vào những ngày trăng tṛn (ngày
rằm) và bán nguyệt (mùng một). Theo như Luật
tạng, th́ phải có mặt ít nhất là bốn vị
th́ mới được tụng giới, thế nên đây đúng là lần đầu mà tôi
được tụng đọc đại giới.
Vị chủ lễ phải là người trọng tuổi nhất,
v́ vậy mà tôi được cử ra để hướng dẫn nghi lễ tụng giới.
Buổi lễ tụng giới bắt đầu bằng tám giới
đầu. Nếu vị nào phạm một trong những giới này th́ sẽ tự
động bị trục xuất ra khỏi giáo đoàn.
Tôi đọc xong giới thứ nhất và hỏi, “Có vị nào phạm giới
này?”, và nếu các vị tỳ kheo ni không
có phạm giới th́ họ giữ im lặng. Từng giới một trong số
348 giới đều được tuyên đọc rơ ràng và
được lặp lại ba lần. Chúng tôi mất ba giờ mới đọc xong
tất cả các giới, và tôi đă tụng đọc
nhanh như tôi có thể!
Thật là một kinh nghiệm kỳ thú, mà toàn
thể tỳ kheo ni từ khắp nơi ở Âu châu, Á châu, và Hoa
Kỳ đă cùng nhau tụng niệm. Nhưng lại
không có sư cô Tây Tạng nào trong đó cả v́ không có vị
nào là tỳ kheo ni.
Vai tṛ của nữ giới trong nền Phật
giáo thay đổi ra sao kể từ kỳ hội nghị thứ nhất hay là
ngay tại thời điểm Ni Sư thọ giới?
Hiện thời Ni Sư đă ở trong giáo đoàn được 35 năm,
không có ǵ thay đổi hả?
Ở Hoa Kỳ, tỳ kheo và tỳ kheo ni hoàn
toàn đồng đẳng như nhau. Tại Tu Viện Thiền Tào Động
(Soto Zen Monastery) tọa lạc trên trái
núi Shasta, hai phần ba là ni, và một phần là tăng. Họ gọi
vị nào cũng là tăng (monk), bất kể họ
thuộc giới tính nào. Họ cũng đắp y áo như nhau, và làm
công việc như nhau nếu có đủ khả năng.
Thích Nữ Ân Từ là pháp tự (transmission
name) của tôi, và tiến sĩ Thiên Ân luôn muốn tôi xưng
hô Thích Nữ bởi v́ chữ “Nữ” theo sau
chữ “Thích” ngụ ư cho biết đây là pháp tự của một vị ni.
Tôi thưa, “Tiến sĩ Thiên Ân, tại sao
thầy làm như vậy?” Tiến Sĩ giải đáp, “Tại v́ nếu như tôi
không gọi như vậy, rồi th́ đâu ai biết
cô là người nữ!” Lúc đó tôi vẫn chưa hiểu thấu ư của Tiến
Sĩ muốn nói ǵ. Nhưng bây giờ tôi mới
nhận ra rằng Tiến Sĩ thật lấy làm hănh diện về các nữ đệ
tử, và Tiến Sĩ muốn cho người ta biết
đây là các tỳ kheo ni, chứ không phải tỳ kheo. Đây là
các
tỳ kheo ni!
Tôi muốn nh́n thấy Bát Kỉnh Pháp
được ném mất ra ngoài cửa sổ!
Ni Sư có cho rằng sự b́nh đẳng nam
nữ tồn tại trong ṿng cộng đồng Phật giáo Hoa Kỳ là
một sự phản ánh về t́nh trạng giới
tính trong một phạm vi xă hội lớn hơn?
Tôi nghĩ hai sự kiện này có liên quan
nhiều với nhau. Người nam lại thích ở bên cạnh người nữ
có tinh thần phóng khoáng, cởi mở, mạnh
dạn. Sau khi tiến sĩ Thiên Ân viên tịch, tôi trở thành
nữ viện trưởng, tôi những tưởng là phần
lớn phái nam sẽ rời bỏ tu viện. Nhưng họ đă không, mà
nay tôi lại c̣n có nhiều nam thiền sinh
hơn là nữ thiền sinh. Tôi nghĩ là hiện nay phái nam hơi
chán ngán chế độ giáo trưởng
(patriarchy – người nam đứng đầu) và muốn nh́n thấy những
người nữ có năng lực kiên quyết trong
các vai tṛ lănh đạo.
Nhiều nữ giáo thọ người Mỹ rất được sự
kính trọng, chủ yếu là v́ chúng ta bằng cách nào đó
tránh không đề cho bị liên lụy vào các
cuộc tranh căi lớn mà chúng đă gây trở ngại cho phái nam.
Nó th́ không hẳn là chúng ta thanh tịnh
hơn nam giới, mà đúng ra là nữ giới ư thức hơn về
những ǵ có thể xảy đến nếu họ dính dấp
vào các vụ này.
Có phải Ni Sư đang nói đến những vụ tai tiếng t́nh dục?
Phải rồi đó. Nếu bạn là trụ tŕ một
ngôi chùa, và người nào đó muốn trêu ghẹo, công kích, hay làm hại bạn, th́ người đó sẽ tố cáo bạn
lạm dụng hai điều: dục tính và tiền bạc. Thành thật mà nói, những lời kết tội này th́ không
phải lúc nào cũng đúng cả v́ họ có thể bịa chuyện. Nữ giới thận trọng nhiều hơn nam giới đối với
những vấn đề này—không phải là v́ nữ giới không có nhiều cơ hội. Thực tế là tôi đă bị tấn
công bởi nam thiền sinh lẫn nữ thiền sinh.
Thật vậy à?
Thật là vậy. Khi một nữ thiền sinh mon
men gạ gẫm tôi, tôi chỉ cười trừ với cô ấy. Cô ấy cả quyết thêm, “Tôi thật ḷng đó mà, và
tôi đáp, “Cô tưởng cô là vậy, nhưng thực ra cô không phải như thế đâu.” Sau đó vài tháng, cô ấy
đến và nói với tôi, “Thưa ni sư Karuna, tôi rất vui mừng là Ni Sư đă nói điều đó với tôi.” Bởi v́
thời gian đó cô ấy t́m được một người, và họ rất yêu thương nhau.
Chuyện này nghe có vẻ như là một
thực trạng rất là tân thời, ngay cả rất ư là Mỹ đó. Ni Sư nhận thấy ra sao về các vấn đề giới
tính mà Ni Sư gặp phải nơi đây có liên hệ tới các vấn đề giới tính khi Ni Sư du hành đến các
nước Á châu Phật giáo?
Tại Hoa Kỳ có sự b́nh đẳng. Ở các quốc
gia c̣n lại trên thế giới th́ vẫn c̣n khá nhiều sự bất b́nh đẳng giữa nam và nữ. Khi tôi nói
chuyện với quư thầy người Việt, tôi sẽ nói, “Xin chắc chắn là quư cô giữ đúng vai tṛ của
ḿnh! Hăy khuyến tấn quư cô nhận lănh một trách vụ chủ động hơn nữa trong chùa thay v́ chỉ
biết lo nấu nướng và quét tướt. Hăy cổ vơ quư cô trở thành các vị giáo thọ.”
Thực ra hiện nay, trong một số quốc gia
Á châu theo truyền thống đại thừa, như là Đài Loan, Hương Cảng, Việt Nam, và Triều Tiên,
phần lớn số người xuất gia thọ giới là người nữ. Giới nữ tu Triều Tiên rất là cương quyết. Mối
quan tâm cơ bản của họ là các tự viện lớn đều do quư thầy điều hành, chứ không phải quư cô. Chao
ôi, tại hầu hết các quốc gia ở ṿng quanh trái đất, các vị tỳ kheo ni sẽ lấy làm hân hoan nếu
như sự quan tâm bên trên là vấn đề lớn nhất của họ!
Quư sư Tích Lan bảo thủ th́ tin rằng
các tỳ kheo ni phải được truyền giới bởi các tỳ kheo ni khác theo truyền thống Nguyên Thủy. V́ lẽ
rằng không có tỳ kheo ni nào cả ở xứ đó trong một ngàn năm, cho nên không có vị ni nào được
thọ giới lớn, nhưng có các sư khắp xứ Tích Lan âm thầm khuyến khích các sư cô trở thành tỳ
kheo ni trong một lúc nào đó. Theo như tôi được biết th́ tôi đă ban giới cho một vị tỳ kheo ni Tích
Lan trước tiên hơn hết vào năm 1997. Pháp hiệu của sư cô ấy là
Sumentha, c̣n tên gọi thân mật là Loku Mani, có nghĩa là bà mẹ
lớn, và Sư Cô điều
hành một cô nhi viện ở Tích Lan. Sư Cô là một vị ni chưa thọ
giới lớn trong thời gian ít nhất là 20
năm khi mà Sư Cô đến tu viện của chúng ta để thăm tiến sĩ
Ratanasara và một vài sư Tích Lan
khác cư trú ở đây. Tôi tỏ ư muốn truyền giới cho Sư Cô. Ban
đầu Sư Cô c̣n do dự, nhưng ḥa
thượng Ratanasara thuyết phục được Sư Cô thọ giới. Ngày nay có
gần một ngàn tỳ kheo ni
ở
Tích Lan, nơi mà cách nay 10 năm đă không có tỳ kheo ni nào cả.
Sự kiện đó thật là lư thú.
Vâng, nó th́ hoàn toàn lư thú. Thực tế là tôi nhận thấy có sự
thay đổi trong chính dân chúng
Thái. Khi tôi ở Thái Lan cách nay hai năm, đúng là lần đầu
tiên mà những người đàn ông Thái đến
gần và lạy chào tôi. Khi họ thấy y áo màu vàng, họ biết chắc
tôi là ai, mà thời gian trước đó th́
họ không đảnh lễ bao giờ. V́ vậy, người dân Thái thay đổi
nhanh hơn nhiều so với quư sư,
nhất là quư sư trọng tuổi.
Ni Sư có nghĩ rằng đây là vấn đề thời gian đợi cho đến khi
giới tăng lữ già cỗi ra đi hết th́
lúc đó các tỳ kheo ni sẽ được chấp nhận trong các quốc gia
theo Phật giáo Nguyên Thủy?
Tôi
nghĩ đó là một phần. Một khi giới tăng lữ già nua không c̣n
nữa th́ lớp tăng sĩ trẻ hơn sẽ có
thể
bày tỏ được quan điểm tự do, cởi mở hơn của ḿnh. Thực tế th́
điều đó đang bắt đầu xảy ra ở
Thái Lan, nhưng phải đợi thêm ít lâu nữa th́ nó mới được bén
rễ vững chắc.
Vấn
đề ở Thái Lan là giới nữ tu chỉ có thể trở thành tỳ kheo ni
theo truyền thống Đại Thừa. Bất kỳ
vị ni nào đắp y áo trông giống như là tỳ kheo ni theo truyền
thống Nguyên Thủy sẽ bị câu lưu vào
nhà lao. Nhưng các vị ni Nguyên Thủy không muốn trở thành tỳ
kheo ni Đại Thừa—họ
muốn là tỳ kheo ni Nguyên Thủy.
Một chướng ngại khác nữa cho các nữ tu sĩ là phải họ thọ nhận
thêm Bát Kỉnh Pháp th́
mới được xem là đầy đủ giới đức phải không? Ư kiến của Ni Sư
đối với Bát Kỉnh Pháp
như thế nào?
Tôi
muốn nh́n thấy Bát Kinh Pháp được ném mất ra ngoài cửa sổ! Đức
Phật đă không đề ra Bát
Kỉnh Pháp theo như nhiều người nghĩ tưởng. Các học giả Nguyên
Thủy—cả người Thái và Tích
Lan—sẽ
chỉ cho ta thấy Bát Kỉnh Pháp không phải do đức Phật tuyên dạy,
mà là được bổ xung
thêm sau này.
Bát Kỉnh Pháp là ǵ vậy?
Điều thứ nhất—có lẽ là điều xúc phạm nhiều nhứt đối với các vị
ni—đó là bất kể tỳ kheo ni có
tuổi hạ ra sao cũng phải đảnh lễ một vị tăng chỉ mới vừa thọ
cụ túc giới một ngày thôi. Có lẽ đây là
điều chướng tai gai mắt nhất trong Bát Kỉnh Pháp. Chúng là
những quy tắc, giới luật mà tôi
giảng dạy cho các thiền sinh, nhưng tôi giải thích thêm Bát
Kỉnh Pháp th́ không phải do chính đức
Phật chế định.
Con không nhớ là có thấy Ni Sư thực hành giới luật đó. Ni Sư
có đảnh lễ quư thầy nhỏ tuổi
hạ hơn Ni Sư không?
Cô
nói giỡn đấy à?
Trở Ngại Trong Phật Giáo (Buddhism’s Glass Ceiling): Bát Kỉnh
Pháp
Tám điều giới luật thường được tranh luận (Bát
Kỉnh Pháp - Garudhamma)
mà các vị ni theo truyền thống phải tuân
thủ để được là một tỳ kheo ni có đầy đủ giới đức trong giáo
đoàn Phật giáo.
1.
Một vị tỳ kheo ni dù có 100 tuổi đạo vẫn phải cung kính chắp
tay lễ bái một vị tỳ kheo dù chỉ
mới
thọ cụ túc giới được một ngày. Giới luật này phải được phụng
tŕ trọn đời.
2.
Một vị tỳ kheo ni không được an cư ở nơi xa cách với trú xứ
của các vị tỳ kheo. Giới luật
này
cũng phải được phụng tŕ trọn đời.
3.
Nửa tháng một lần, một vị tỳ kheo ni phải thực hiện hai điều:
Thưa hỏi tăng đoàn tỳ kheo
xác
định ngày Bố Tát (Uposatha) cũng như thỉnh cầu sự thuyết giới
cùng lời khuyên bảo của
tăng đoàn tỳ kheo. Giới luật này cũng phải được phụng tŕ trọn
đời.
4.
Khi mùa an cư kết thúc, một vị tỳ kheo ni phải tham dự lễ Tự
Tứ (Pavarana ceremony) trước
cả
tỳ kheo ni chúng và tỳ kheo chúng để thỉnh mời chư tăng ni nêu
ra lỗi ḿnh theo như họ
thấy, nghe, hay nghi về ḿnh. Giới luật này cũng phải được
phụng tŕ trọn đời.
5.
Một vị tỳ kheo ni phạm trọng tội (Sanghadisesa offense – tội
tăng tàn) th́ phải thực hiện sám
hối
trong nửa tháng, gọi là h́nh phạt ư hỷ (pakkha manatta –
nhờ thực hành sám hối mà ḿnh
được thanh tịnh hơn, khiến cho ḿnh vui và đại chúng vui lây),
trước hai bộ chúng tăng ni.
Giới luật này cũng phải được phụng tŕ trọn đời.
6.
Thức xoa ma na (sikkhamana) phải thực tập sáu giới trong hai
năm th́ mới được xin thọ giới
tỳ
kheo ni dưới sự đồng thuận của hai bộ chúng. Giới luật này
cũng phải được phụng tŕ trọn
đời.
7.
Một vị tỳ kheo ni không nên chỉ trích hay sỉ vả một vị tỳ kheo
v́ bất kỳ duyên cớ ǵ. Giới
luật này cũng phải được phụng tŕ trọn đời.
8.
Các tỳ kheo ni không được phép đốc thúc hay khuyên bảo các tỳ
kheo. Các tỳ kheo nên
khuyên bảo các tỳ kheo ni khi nào và nơi đâu nếu như thấy cần
thiết. Giới luật này cũng phải
được phụng tŕ trọn đời.
Có thể liên lạc về bài dịch với Tâm Diệu Phú (tamdieuphu@gmail.com)
Daughters of the Buddha
Winter 2006