|
Góp phần làm sáng tỏ khái niệm "vô ngă"
04.12.2006 10:39
Có lẽ cách đây một thế kỷ không
khái niệm nào trong hệ thống triết học Phật giáo lại gây
ra nhiều hiểu lầm và tranh luận như học thuyết “vô ngă”.
Nhà nghiên cứu Hà Thúc Minh trong một bài viết gần đây đă
đặt lại vấn đề học thuyết “vô ngă” và trên cơ sở phân tích
khái niệm cốt yếu này ông tiến hành phê phán toàn diện
giải thoát luận Phật giáo.
Có lẽ cách đây một thế kỷ không khái niệm nào trong hệ
thống triết học Phật giáo lại gây ra nhiều hiểu lầm và
tranh luận như học thuyết “vô ngă”. Sự hiểu lầm và tranh
luận này bắt nguồn từ các học giả phương Tây lần đầu tiếp
xúc với triết học Phật giáo trong thế kỷ 19, nhưng với
tŕnh độ phát triển về Phật học hiện nay trên thế giới,
hầu như không c̣n học giả nào có thể hiểu lầm khái niệm
“vô ngă” hay đem nó ra làm đề tài tranh luận. Nhà nghiên
cứu Hà Thúc Minh trong một bài viết gần đây đă đặt lại vấn
đề học thuyết “vô ngă” và trên cơ sở phân tích khái niệm
cốt yếu này ông tiến hành phê phán toàn diện giải thoát
luận Phật giáo.
Học giả Hà Thúc Minh có những khẳng định hết sức mạnh mẽ
như: “Phật giáo không chủ trương “cải tạo”, bởi v́ “cải
tạo” là “hướng tới”, là làm cho nó khác trước. Phật giáo
chủ trương “trả lại”, chứ không phải “cải tạo” (tr. 17)
“Hạn chế của Phật giáo chính là ở chỗ không thấy được bản
chất xă hội nơi con người,” (tr. 17) “Thực ra, nói đi nói
lại, cái Tâm (được xem là phần chủ yếu của con người) vẫn
là cái không làm sao bỏ được. Như vậy nói chung phương
Đông đề cao con người ở lănh vực tinh thần chứ không phải
ở thể xác. Cho nên đời sống vật chất trở thành cái không
quan trọng so với đời sống tinh thần,” (tr. 19) “Phật giáo
xem xét bản chất con người trên b́nh diện tâm lư - xă hội
chứ không phải trên b́nh diện kinh tế - xă hội” (tr. 20).
Tóm lại, trên b́nh diện giải thoát luận. Phật giáo, nh́n
theo quan điểm của tác giả Hà Thúc Minh, có một hạn chế
quan trọng chính là không thấy được “con người xă hội”, do
đó không chủ trương “cải tạo” bản thân hay xă hội, v́
trọng tâm giáo lư giải thoát của Phật giáo, theo tác giả
Hà Thúc Minh, chỉ là “trả lại” nghĩa là t́m lại cái Tâm
thanh tịnh, và do quá chú trọng đến Tâm (mà tác giả Hà
Thúc Minh đồng hoá với đời sống tinh thần nói chung) nên
dân tộc phương Đông đă lăng quên, không tập trung năng lực
vào việc “cải tạo” thế giới vật chất và xă hội.
Đây là một kết luận quan trọng có thể rút ra từ bài viết
của tác giả Hà Thúc Minh: Phật giáo phải chịu trách nhiệm
về sự chậm tiến, kém phát triển của phương Đông nói chung
v́ lăng quên, không nhấn mạnh “con người xă hội”. Lư do
triết học của sự lăng quên đó, theo tác giả Hà Thúc Minh,
chính là giáo lư vô ngă: khi phủ nhận bản ngă, Phật giáo
đă trực tiếp phủ nhận luôn “con người xă hội”. Tác giả Hà
Thúc Minh vạch ra các sơ hở triết học trong giáo lư vô ngă
như sau:
“Thuyết vô ngă quan niệm giải thoát tức là phủ định “cái
hữu ngă”. Cái “hữu ngă” chỉ là “giả tướng”, tức là không
có thật. Vậy cái “giả tướng” này làm sao có thể trở thành
chủ thể để tự phủ định ḿnh được?” (tr. 16)
“Tuy nhiên, Phật giáo lại chủ trương thuyết luân hồi. Vậy
nếu không có chủ thể nào cả th́ lấy ǵ mà luân hồi, lấy ai
diệt khổ, lấy ai hướng đến Niết bàn?” (tr. 15)
“Hơn nữa “vô ngă” nếu hiểu theo khuynh hướng phủ định của
phủ định th́ nó lại trở thành “hữu ngă”. (tr. 20)
Tác giả Hà Thúc Minh cũng vạch ra các quan điểm bộ phái
Phật giáo mâu thuẫn nhau về giáo lư vô ngă:
“Trung quan phái (Madhyamika) không cho là có, mà cũng
không cho là không. Du già hành phái (Yogacara) hay c̣n
gọi là “hữu tông”, “hữu ở đây chính là chỉ cái Tâm, chỉ có
cái Tâm mới thực sự hiện hữu, c̣n mọi thứ trên đời đều do
Tâm mà có, chứ thực sự chẳng có (Tam giới duy tâm). Thừa
nhận cái Tâm cũng tức là thừa nhận “cái tôi” (bởi v́ cái
tôi chủ yếu thuộc về tinh thần)”. (tr. 16)
Tác giả Hà Thúc Minh cho rằng thái độ sùng bái tâm của
Phật giáo là một sai lầm: “Đương nhiên tuyệt đối hoá “Bồ
Đề chỉ có thể t́m thấy ở tâm” là sai lầm, nhưng thực ra
chính ra đây cũng là thiếu sót mà ngay cả chủ nghĩa duy
vật cũ cũng đă mắc phải.” (tr. 20). Hàm ư của câu viết khá
rơ ràng: về phương diện triết học, Phật giáo thậm chí c̣n
phải xếp hàng đứng sau lưng cả chủ nghĩa duy vật thô sơ
trước Marx.
Lư luận phê b́nh giáo lư Phật giáo của tác giả Hà Thúc
Minh phần lớn dựa trên lư luận của Hoàng Tâm Xuyên, một
học giả Trung Quốc, tác giả quyển Lịch sử triết học Ấn Độ
(Bắc Kinh: 1889). Lư luận này được xây dựng trên những
hiểu lầm nghiêm trọng về giáo lư vô ngă nói riêng và giáo
lư Phật giáo nói chung.
Điểm thứ nhất: giáo lư vô ngă không phủ nhận một bản ngă
công ước thường nghiệm (a conventional empirical self).
Giáo lư này cho rằng thực thể tâm lư nhất quán mà chúng ta
gọi là “ngă” khi phân tích triệt để bao gồm năm thành tố (ngũ
uẩn). Năm thành tố này là: 1- sắc (rùpa), tức là thế giới
khách thể vật chất, đối tượng của tri giác; 2- thọ (vedanà),
cảm giác gây ra khi ngũ quan tiếp xúc với ngoại giới; 3-
tưởng (samjnà~), hành vi tri giác, tức hành vi sắp xếp các
ấn tượng cảm giác thành ra sự tri nhận và hiểu biết; 4-
hành (samskàra), những khuynh hướng hay dục vọng mạnh mẽ
được kích động lên khi ngũ quan tiếp nhận kích thích từ
ngoại giới; 5- thức (vijnàna), ư thức nói chung của chủ
thể về chính ḿnh như một chủ thể nhận thức.
Chính thành tố sau cùng này cho thấy giáo lư Phật giáo
không hề phủ nhận “bản ngă” nếu bản ngă được hiểu như ư
thức của chủ thể về chính ḿnh với tư cách là chủ thể các
cảm xúc, tri giác, dục vọng, khuynh hướng, nhưng Phật giáo
nhấn mạnh: ngoài các thành tố cấu tạo trên, không hề tồn
tại một bản ngă siêu nghiệm (transcendental self), đứng
trên ngũ uẩn và làm nền tảng cho ngũ uẩn. Nói tóm lại, cái
chúng ta gọi là “ngă” (ư thức về bản thân như một chủ thể
nhận thức thường nghiệm) chỉ là sự tổng hợp của ngũ uẩn.
Hơn nữa, Phật giáo không hề phủ nhận thế giới quan khách
quan, cho tất cả chỉ là sản phẩm của Tâm. Trong năm thành
tố cấu tạo nên ư thức về bản ngă, yếu tố đầu tiên được
liệt kê chính là sắc, tức thế giới vật chất khách quan làm
nền tảng cho cảm xúc, tri giác, và hiểu biết. Không có thế
giới khách quan, không thể có bản ngă. Bản ngă được cấu
thành thông qua sự tương tác về thế giới khách quan. Quan
điểm này của Thượng Toạ Bộ (Theravàđa) được hầu hết các
tông phái Phật giáo khác chấp nhận là quan điểm chính
thống.
Ngay quan điểm “tam giới duy tâm” của phái Duy Thức (Yogàcàra)
cũng thường bị hiểu sai thành một biến tướng của học
thuyết duy tâm tuyệt đối (absolute idealism). Duy Thức (mà
Trung Quốc thường dịch là Du Già Hành Tông) cho rằng sự
nhận thức của chúng sinh về thực tại là sai lầm khi cho
rằng thực tại bao gồm những phần tử đơn lập, không liên
quan vớI nhau, và có một bản chất thực hữu. Như Hạnh,
trong một bài viết về triết học Duy Thức, khẳng định: “Tóm
lại, sự dị biệt chính yếu giữa thực tại luận duyên khởi
của Phật giáo và duy thực luật phác tố có thể được phát
biểu như sau: đối với duy thực luận phác tố th́ thực tại
mà chúng ta đối diện gồm những thực thể hiện hữu sẵn. Đó
là một thực tại mà thực tính của nó có thể được hiển lộ
bằng một hệ thống ngôn ngữ tự túc (autonomous) phản ánh nó
trong một mối liên hệ trực tiếp, giản đơn, trong sáng giữa
ngôn ngữ và sự vật. Đó là một thực tại mà nguyên nhân tối
hậu của nó có thể được thiết lập, qua một tiến tŕnh thối
lui và quy giảm, trên một nguyên lư được thực hoá
(reified).
Duyên khởi luận giải thích rằng cái thực tại mà chúng ta
đối diện không ngớt được thiết lập, qua một tiến tŕnh
thối lui và quy giảm, trên một nguyên lư nhân quả. Asanga
định nghĩa tàng thức như là nền tảng của tiến tŕnh này.
Tuy nhiên, ông thiết lập tàng thức như là nền tảng nhân
quả của thực tại để giải minh tiến tŕnh hiện thành của nó
và để chứng tỏ rằng tàng thức không thể được thực hoá,
nghĩa là xem như một thực thể tối hậu.”(1)
Về ư nghĩa chữ “tâm” (citta) trong Phật giáo (đặc biệt từ
quan điểm của Duy Thức) Như Hạnh viết: “Citta (tâm) do đó
là một tiến tŕnh năng động chứ không phải một thực thể.
Tâm bao gồm cả tâm tạp nhiễm kiến lập nhị nguyên tính và
tâm thanh tịnh chính là nhận thức đúng về cơ cấu của tâm
tạp nhiễm. Do đó, tâm (trong phương diện tạp nhiễm của nó)
chỉ nhận thức sai lầm – v́ những huân tập của ngôn ngữ và
những khái niệm công ước - về các tự tính được áp đặt lên
“thực tại thuần tuư”. Do đó, phát biểu của Duy Thức rằng
tất cả các hiện tượng chỉ là tâm (cittamatra) không thể
được giải thích một cách giản dị là một phát biểu của
thuyết duy tâm chủ quan với ư nghĩa là chỉ có tâm chủ thể
hiện hữu thôi.” (2)
Khi nhấn mạnh vai tṛ của tâm các triết gia Phật giáo gắn
liền thực tại luận với giáo lư giải thoát. “Tâm” không hề
có nghĩa “chỉ có cái Tâm là thực sự hiện hữu, và mọi sự
trên đời chỉ do Tâm mà có” như học giả Hà Thúc Minh và
nhiều học giả khác đă hiểu lầm. “Tâm” không phải là một
thực thể, có bản chất tự hữu, như học giả Như Hạnh đă vạch
ra rất chính xác, và “tâm” chỉ một thái độ, một thể cách
nhận thức thực tại. Nếu chúng ta nhận thức sai lầm, th́ đó
là tâm tạp nhiễm, tâm của chúng sinh, tâm của phàm phu
ngoại đạo.
Nếu chúng ta nhận thức chính xác về thực tại - thực tại
mang tính duyên khởi, do duyên mà có, các “đơn vị thực tại”
thật ra chỉ tồn tại một cách cộng sinh, trong thế liên lập
- th́ đó là tâm thanh tịnh, tâm của Phật, tâm của hành giả
đă giác ngộ, v́ giác ngộ không ǵ khác hơn là nhận thức
một cách triệt để duyên khởi tính trong toàn bộ cơ cấu
thực tại vốn phần lớn được cấu thành bằng ngôn ngữ, khái
niệm công ước, và tập khí lâu đời ấp ủ trong tàng thức qua
bao nhiêu đời kiếp.
Chính v́ thế tu tập Phật giáo là một tiến tŕnh tự cải tạo
liên tục không ngừng, v́ không phải dễ dàng ǵ có thể phục
hồi một nhận thức đúng đắn về cơ cấu và bản chất của thực
tại. Bằng công phu thiền quán (Duy Thức, Thiền Tông), bằng
công phu niệm Phật (Tịnh Độ Tông), bằng lư luận triết học
(Trung Quán, Nhân Minh), người tu Phật đều có một định
hướng duy nhất: giải thoát thân tâm ra khỏi mạng lưới
“thực tại” giả lập, nh́n thẳng vào thế giới trùng trùng
duyên khởi, thấu hiểu bản chất không tính của vạn hữu, và
phát khởi Bồ Đề Tâm đối với tất cả chúng sinh c̣n đang
vướng mắc trong ṿng vây của ảo giác.
Ảo giác lớn nhất của con người là cho rằng có tồn tại một
thế giới thực hữu hoàn toàn biệt lập với nhận thức của chủ
thể và thế giớI đó hằng hữu, tồn tại như một đối tượng của
ham muốn chinh phục hoặc khao khát sở hữu. Triết học Phật
giáo không phải là một chủ thuyết duy tâm chủ quan giống
như toàn bộ hệ thống triết học duy niệm Đức thế kỷ 19,
cũng không phải là một chủ nghĩa duy thực ngây thơ (nave
realism).
Trọng điểm chính trong thực tại luận Phật giáo xoay quanh
lời khẳng định rằng thế giới khách quan (cảnh/ sắc) có mối
quan hệ cộng sinh với thể cách nhận thức của chủ thể (tâm/
thức). Chính v́ vậy về phương diện triết học Phật giáo cưu
mang tinh thần xă hội ở mức độ cao nhất: sự cải tạo thế
giới khách quan là một tiến tŕnh gắn bó chặt chẽ với sự
cải tạo bản thân, sự chuyển hoá nhận thức của chủ thể. Hai
tiến tŕnh này liên lập và bổ sung cho nhau không ngừng.
Trở lại với giáo lư “vô ngă”, giờ đây chúng ta có thể kết
luận bằng nhận xét của Thượng toạ Thích Chơn Thiện: “Thế
Tôn định nghĩa cái gọi là con người chỉ là tập hợp của ngũ
uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), năm uẩn ấy cũng chính
là thế giới (chúng tôi nhấn mạnh – D. N. D), theo lời dạy
của Thế Tôn (Tương Ưng Bộ Kinh IV, phẩm Migajala và nhiều
kinh khác).”(3)
Học giả Hà Thúc Minh do đồng hoá “ngă” và “chủ thể” nên
khi thấy Phật giáo phủ nhận “ngă” th́ kết luận Phật giáo
phủ nhận chủ thể và đặt câu hỏi: “Nếu không có chủ thể th́
cái ǵ luân hồi?” Như đă tŕnh bày, Phật Giáo không hề phủ
nhận vi tṛ của chủ thể, trái lại là khác.
Chủ thể nhận thức chính là Tâm trong thế liên lập, cộng
sinh mật thiết với thế giới khách quan, chứ không phải là
Ngă, nếu chúng ta hiểu Ngă là một thực thể tự túc, tự lập,
giống như khái niệm “linh hồn” (soul) trong giáo lư Thiên
Chúa Giáo.
Như vậy thực thể trải qua tiến tŕnh luân hồi chính là chủ
thể nhận thức, gọi tóm là “thức”, mà Phật giáo c̣n gọi là
“thân trung ấm”. Hoà thượng Thánh Nghiêm viết: “Cái gọi là
tinh thần th́ Phật Giáo gọi là thức. Phật giáo Tiểu thừa
chỉ nói sáu thức, và lấy thức thứ sáu làm chủ thể của sinh
mạng. Phật giáo Đại thừa nói thêm hai thức nữa, tổng cộng
có tám thức, và lấy thức thứ tám làm chủ thể của sinh mạng
[…].
Trên thực tế, chủ thể của tám thức chỉ có một, nhưng do
phân tích công năng mà chia thành tám. Làm ác, làm thiện
là bảy thức đầu, và đem các nhân thiện, ác đó kư gửi ở
thức thứ tám. Thức thứ tám là kho tàng chấp chứa tất cả
hạt giống của nghiệp, tất cả nghiệp nhân […]. Như vậy công
năng của thức thứ tám là tàng trữ, nhưng không giống như
ông thần tài giữ của, chỉ nhập mà không xuất kho, ở kho
tàng thức thứ tám, t́nh h́nh xuất và nhập kho nối tiếp
không ngừng, nhập kho là các hành vi ảnh hưởng đến tâm lư,
và để lại dấu ấn trong thức thứ tám gọi là nghiệp nhân hay
chủng tử.
C̣n xuất kho là tâm lư dẫn tới hành vi tạo nghiệp hay cảm
thụ, gọi là nghiệp quả hay hiện hành. Chủng tử thành hiện
hành, đó là xuất. Hiện hành thành chủng tử, đó là nhập.
Trong một đời, t́nh h́nh là như vậy. Trong hai, ba đời hay
vô số đời liên tiếp, t́nh h́nh cũng là như vậy.” (4)
Quan điểm của Phật giáo về tính duyên sinh (causal
connectedness) và duyên khởi (dependent co – arising) của
ngă trong kinh điển Thượng Toạ Bộ thường được tŕnh bày
như một nỗ lực hướng về Trung Đạo (majjhima), né tránh hai
cực đoan phủ nhận ngă hoàn toàn (đoạn diệt luận =
ucchedavàda) hay xem ngă vĩnh viễn trường tồn (thường hữu
luận = sassatavàda). Trong viễn cảnh Phật giáo, quan niệm
cho rằng có một bản ngữ tự túc, trường tồn, tách rời và
đứng cao hơn ngũ uẩn, là một quan niệm sai lầm, phát xuất
từ vô minh (avijjà), tham ái (tanhà), chấp trước (upàdana),
h́nh thái cao nhất của ngă mạn (asimàna).
Trong kinh bộ Nikayas, khi Vacchagotta hỏi Phật ngă có tồn
tại hay không, Đức Phật yên lặng. “Vậy th́”, Vacchagotta
hỏi tiếp, “ngă không tồn tại?” Đức Phật vẫn yên lặng. Thái
độ phủ nhận cả hai quan điểm “ngă không tồn tại” (quan
điểm hư vô, đoạn diệt) và “ngă tồn tại vĩnh viễn” (thường
hữu luận) của Đức Phật c̣n hàm ngụ sự nhấn mạnh vào mục
tiêu quan trọng hàng đầu của giáo lư Phật giáo: giải thoát
và chứng ngộ.
Một trong những điều kiện cần thiết để đạt đến giải thoát
tối hậu chính là tháo gỡ tâm thức ra khỏi mê cung của các
lư thuyết, quan điểm, lập trường, về ngă. Vấn đề trọng tâm
trong giải thoát luận Phật giáo không phải là chọn lựa một
quan điểm về ngă và bám chặt vào đó: vấn đề chính là
chuyển hoá một thể cách tri nhận thực tại cắm sâu trong
mạng lưới dày đặc của ngôn ngữ công ước thành một kinh
nghiệm giải thoát tự tại, giải thoát khỏi vô minh, tham ái,
chấp thủ, và toàn bộ sự quyến rũ ma quái của thế giới thực
tại được kiến lập bằng ngôn từ và hí luận.
CHÚ THÍCH:
1.Như Hạnh, Tàng thức
(alayavijnama) từ thực tại luận đến giải thoát luận trong
triết học Duy Thức. Tạp chí Triết số 3 (1996), xuất bản
tại Hoa Kỳ, tr.45.
2.Như Hạnh, bài đă
dẫn, chú thích 21, tr. 57.
3.Thích Chơn Thiện,
Phật Học Khái Luận, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ban Tăng
Ni ấn hành, 1993, tr. 75.
4.Thích Thánh Nghiêm,
Phật Giáo Chính Tín, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học, Hà Nội,
1991, tr. 64 – 65.
Dương Ngoc
Dũng
|