|
Trận
Hải Chiến tại
QUẦN
ĐẢO HOÀNG SA
Ngày 19
tháng 1 năm 1974
Trần Đỗ Cẩm
ĐÔI LỜI CẢM TẠ
Muốn ghi lại chính xác một sự kiện lịch sử đă xảy
ra khá lâu trong quá khứ, cần tham khảo nhiều phúc tŕnh
chính thức, sách vở liên quan v.v... được phổ biến rồi
kiểm chứng bằng lời tường thuật của những nhân chứng mắt
thấy tai nghe. Tài liệu trên giấy trắng mực đen cho chúng
ta biết chính xác những chi tiết về không gian và thời
gian, nhưng thường khô khan v́ thiếu phần nhân sự. Mặt
khác, lời mô tả của nhân chứng tuy sống động nhưng lại
thiếu trung thực v́ yếu tố chủ quan và dựa vào kư ức dễ
phôi pha theo thời gian. Tuy nhiên, nếu phân tích cặn kẽ
rồi tổng hợp cả hai nguồn tài liệu, chúng ta có thể có một
bức tranh vừa trung thực vừa sống động.
Từ năm 1990, chúng tôi đă bắt đầu sưu tầm bài vở,
giấy tờ ghi chép về trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa
xảy ra cách đây trên một phần tư thế kỷ. Rất tiếc, những
tài liệu này hiện không có nhiều. Các h́nh ảnh, lệnh hành
quân, phúc tŕnh chính thức v.v... của HQ/VNCH liên quan
tới trận hải chiến, nếu tồn tại, đều nằm trong tay Việt
Cộng. Về phía Hoa Kỳ, chúng tôi không t́m được một tài
liệu chính thức nào, ngoại trừ vài ba bản tin nhỏ không
mấy quan trọng đăng trong các tờ tuần báo hay nhật báo như
Times, Newsweek, New York Times v.v... Khi viết thư hỏi
pḥng quân sử của Hải Quân Hoa Kỳ, họ đều từ chối với lư
do "không t́m ra manh mối". Phần Trung Cộng cũng chỉ có
một số sách báo tuyên truyền lố bịch theo kiểu Cộng Sản,
đại khái như bài thơ tả cảnh ngư dân Tàu Đỏ trèo lên chiến
hạm Việt Nam liệng lựu đạn vào "lỗ châu mai". V́ vậy, bài
viết như một tài liệu tham khảo này phần lớn dựa vào những
cuộc phỏng vấn và hồi kư rải rác chưa hẳn chính xác của
một số nhân chứng trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới
trận hải chiến.
Trong suốt khoảng thời gian sưu tầm tài liệu, chúng
tôi đă nhận được sự trợ giúp quí báu của một số người liên
hệ. Tác giả chân thành cảm tạ những nhân chứng sau đây đă
sốt sắng trả lời các cuộc phỏng vấn và cung cấp tài liệu
để chúng tôi có thể hoàn thành bài viết này:
1. HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, Hải Đội Trưởng Hải Đội
HQ/VNCH tham chiến tại Hoàng Sa. Trên cương vị một cấp chỉ
huy ngoài chiến trường, ông đă cung cấp những chi tiết
chính xác về trận hải chiến cũng như những lư do đưa đến
nhiều quyết định chiến thuật quan trọng. Đại Tá Ngạc cũng
đă có những bài viết về Hoàng Sa nhân dịp kỷ niệm 25 năm
rất giá trị.
2. HQ Trung Tá Vũ Hữu San, cựu Hạm Trưởng Khu Trục
Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 [1].
Trung Tá San là Sĩ Quan thâm niên hiện diện trên biển tại
Hoàng Sa trước khi Đại Tá Ngạc nhận quyền Hải Đội Trưởng.
Là người luôn ưu ái hải quân, "mến đồng đội, thương con
tàu", những lời tường thuật, hồi kư v. v... của ông là
nguồn tài liệu vô giá.
3. HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, cựu Hạm Trưởng Tuần
Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-5. Là Hạm Trưởng của Soái
Hạm, nơi đặt Bộ Chỉ Huy của Hải Đội, Trung Tá Quỳnh đă cho
biết nhiều diễn biến quan trọng hiếm có liên quan tới trận
hải chiến cũng như những hoạt động của HQ-5 tại Hoàng Sa.
4. Hải Quân Trung Úy Nguyễn Đông Mai, Sĩ Quan Hải
Pháo của Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10. Trung Úy Mai là người
sống sót lúc HQ-10 bị ch́m trong trận hải chiến. Sau khi
được vớt từ bè đào thoát đưa về bệnh viện, Trung Úy Mai đă
ghi vào nhật kư nhiều chi tiết chưa từng được tiết lộ liên
quan tới HQ-10. Có thể nói đây là những lời tường thuật
trung thực và sống động duy nhất về những giây phút cuối
cùng của Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo.
5. Hạm-Trưởng Nguyễn Văn Tánh, Hộ Tống Hạm Chí Linh
HQ-11. Là thành phần tăng viện cùng với Tuần Dương Hạm
Trần Quốc Toản HQ-6, HQ-11 không tới Hoàng Sa kịp thời để
tham dự trận hải chiến. Tuy nhiên Hạm Trưởng Tánh đă cung
cấp nhiều chi tiết chính xác về trường hợp tham dự của
HQ-11 cũng như một số chi tiết sau khi trận hải chiến đă
xảy ra.
Ngoài những nhân chứng kể trên, chúng tôi cũng tham
khảo một số tài liệu và hồi kư về trận hải chiến tại Hoàng
Sa. Tập sách "Hạm Đội HQ/VNCH" của tác giả Bảo Biển ghi
chép tổng quát về trận hải chiến và một số chiến hạm,
chiến đĩnh thuộc HQVNCH. Bài viết của tác giả Đào Dân là
sĩ quan trên Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt HQ-16 kể lại
nhiều chi tiết giá trị về hoạt động của chiến hạm này. Đây
là những tài liệu nghiên cứu hữu ích. Ngoài ra, cuốn sách
biên khảo giá trị "Địa Lư Biển Đông Với Hoàng Sa Và Trường
Sa" của tác giả Vũ Hữu San cũng là nguồn tài liệu tham
khảo quí báu.
Lời cám ơn đặc biệt được chân thành gửi tới một số
bạn trẻ chúng tôi chưa từng gặp mặt nhưng đă sốt sắng trợ
giúp để loạt bài về trận hải chiến Hoàng Sa được trang
trọng ra mắt độc giả. Những bạn trẻ này, ngoài tài năng và
thiện chí, c̣n có nhiều điều đáng khâm phục hơn. Tuy
trưởng thành và hấp thụ nền học vấn tại ngoại quốc, nhưng
họ đă biểu lộ một tinh thần quốc gia vững chắc và nặng
ḷng với các chiến sĩ QLVNCH cũng như đất mẹ Việt Nam.
Trước hết là JW Nguyen, người chủ trương website
"Việt Nam Chiến Tranh và Lịch Sử" (http://vietnam.glypto.com/)
hiện được độc giả khắp nơi trên thế giới đón nhận và hoan
nghênh nồng nhiệt trên Internet. Với tài năng sáng tạo
tuyệt vời và trực giác thẩm mỹ bén nhậy, "webmaster" JW
Nguyen đă tích cực cố vấn và trợ giúp phần kỹ thuật tŕnh
bày các "webpages" khiến những gịng chữ khô khan, h́nh
ảnh rời rạc phối hợp chặt chẽ thành những bức tranh vô
cùng linh hoạt.
Ngoài mặt tŕnh bày, chúng tôi c̣n được sự trợ giúp
quí báu về phần h́nh ảnh của một bạn trẻ có nhiều năng
khiếu thiên bẩm khác. Đó là anh Trương Văn Quang hiện cư
ngụ tại Australia đă cung cấp một số h́nh ảnh hiếm có dùng
trong bài viết. Anh Quang có đặc tài sưu tầm h́nh ảnh, tài
liệu, và xây dựng những mô h́nh bằng plastic liên quan tới
các Quân Binh Chủng VNCH. Đặc biệt về Hải Quân, anh có một
bộ sưu tập gồm đầy đủ các h́nh ảnh về chiến hạm, chiến
đĩnh cũng như huy hiệu của các đơn vị Hải Quân VNCH. Anh
đă thực hiện nhiều cuộc triển lăm mô h́nh và h́nh ảnh
QLVNCH được giới thưởng ngoạn nhiệt liệt hoan nghênh.
Ngạn ngữ có câu: "Một tấm h́nh bằng ngàn chữ viết".
Nếu độc giả nhận thấy những tấm h́nh do hai người bạn trẻ
nói trên sưu tầm, tô điểm và sắp đặt c̣n giá trị hơn chính
bài viết, điều này cũng không lấy ǵ làm lạ!
Sau cùng, chúng tôi cũng cám ơn nhiều thân hữu, bạn
bè khác đă trợ giúp và khuyến khích để bài viết được thành
h́nh. Tác giả cũng cám ơn quí độc giả đă bỏ th́ giờ quí
báu theo dơi trận hải chiến tại Hoàng Sa. Những ư kiến phê
b́nh và chi tiết đóng góp sẽ được trang trọng đón nhận để
bài viết thêm đầy đủ và chính xác.
Trân trọng.
(Viết năm 1998, tu chỉnh tháng 1 năm 2004)
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Vào đầu năm 1974, trong lúc t́nh h́nh chiến sự tại
Việt Nam trở nên vô cùng sôi động với các trận đánh lớn
diễn ra trên khắp bốn vùng chiến thuật, ngoài khơi Biển
Đông đă xảy ra một trận hải chiến có tầm vóc lịch sử giữa
Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng. Trận hải chiến này
có hậu quả vô cùng quan trọng, không những liên quan tới
cục diện an ninh Việt Nam, vùng Đông Nam Á mà cả toàn cầu.
Về phương diện lịch sử, đây là lần đầu tiên kể từ
thế kỷ thứ 13 khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dưới thời
nhà Trần đánh thắng quân Mông Cổ, Nam quân lại đụng độ với
Bắc quân trên mặt biển. Về mặt hậu quả, sau khi lấn chiếm
Hoàng Sa, Trung Cộng đă công khai gây hấn với các quốc gia
láng giềng tại Đông Nam Á, thực hiện kế hoạch bành trướng
tại Biển Đông nhằm khống chế và uy hiếp toàn vùng. Riêng
đối với Việt Nam, việc Trung Cộng ngang nhiên xua quân xâm
lấn quần đảo Hoàng Sa lại càng quan trọng, v́ đây mới chỉ
là bước đầu đưa tới hành động tiến xa hơn về phía Nam,
thôn tính luôn quần đảo Trường Sa và làm bá chủ Biển Đông.
Mất Hoàng Sa và Trường Sa, hai tiền đồn chiến lược che chở
trước mặt, không những Việt Nam bị mất hết quyền lợi kinh
tế tại Biển Đông mà c̣n bị hoàn toàn khống chế về mặt
pḥng thủ chiến lược.
Cũng như những lần đụng độ trước đây với kẻ thù
truyền kiếp, tuy lực lượng xâm lăng phương Bắc mạnh hơn
gấp nhiều lần, các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă
noi gương Thánh Tổ Trần Hưng Đạo anh dũng chiến đấu, gây
cho địch những tổn thất nặng nề. Qua ḍng lịch sử của hàng
ngàn năm Bắc thuộc, khi kẻ thù mạnh th́ chúng ta kiên nhẫn
lùi bước, lănh thổ quốc gia tạm thời bị ngoại nhân xâm
chiếm. Nhưng Việt Nam ta "hào kiệt thời nào cũng có", sớm
muộn ǵ gia sản của tổ tiên cũng sẽ được khôi phục, và các
quần đảo thân yêu Hoàng Sa cùng Trường Sa sẽ măi măi là
phần lănh thổ bất khả phân của tổ quốc Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thời đại giao thông tiến bộ vượt
bực như ngày nay, mọi tranh chấp giữa các quốc gia không
chỉ đơn thuần liên quan tới những phe liên hệ, mà không ít
th́ nhiều cũng ảnh hưởng tới nền an ninh của toàn vùng hay
toàn cầu. Việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng về
quần đảo Hoàng Sa cũng không ngoại lệ. Do đó, để hiểu rơ
tầm quan trọng của trận hải chiến Hoàng Sa, chúng ta cần
biết rơ bối cảnh quân sự cũng như chính trị tại vùng Đông
Nam Á cũng như trên thế giới lúc bấy giờ.
II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Vào thời điểm năm 1972, qua sự trung gian của Ngoại
Trưởng Kissinger, Hoa Kỳ đă dùng chính sách ngoại giao
"bóng bàn" để ve văn Trung Cộng. Thế giới lúc đó gồm các
cường quốc Hoa Kỳ, Nga Sô và Trung Cộng được chia ba theo
thế "chân vạc" như thời Tam Quốc. Phe nào chiếm được đa số
sẽ nắm phần lợi thế.
Đối với Hoa Kỳ, tuy cả Nga Sô lẫn Trung Cộng đều là
các quốc gia Cộng Sản, nhưng Nga Sô vẫn luôn luôn là kẻ
thù chính cần phải loại bỏ trước. V́ vậy, nếu thuyết phục
được Trung Cộng trở thành đồng minh, phe Hoa Kỳ sẽ có hai
trong ba chân vạc, Nga Sô bị cô lập ở thế "lưỡng đầu thọ
địch" không sớm th́ muộn cũng sẽ bị sụp đổ. Lúc đó, Hoa Kỳ
sẽ tay đôi "một chọi một" với Trung Cộng và có lẽ sẽ không
cần dùng sức tới mạnh quân sự mà chỉ cần mở mặt trận kinh
tế cũng đă đủ chi phối được một nước Trung Hoa tuy rộng
lớn, đông dân nhưng nghèo đói. Khi Trung Hoa đă nằm trong
quĩ đạo kinh tế thị trường do Hoa Kỳ chủ động, ngoài việc
Hoa Kỳ sẽ mặc t́nh thao túng mà c̣n mở cửa được một thị
trường tiêu thụ khổng lồ trên một tỷ dân khiến nền kinh tế
thêm thịnh vượng. Đề cập tới tầm quan trọng của sự bành
trướng thị trường này, một chuyên gia trong giới kinh tế,
tài chánh Hoa Kỳ thường ao ước: "Chỉ cần mỗi người dân
Trung Cộng uống một lon Coca Cola và ăn một cái Hamburger
mỗi năm, nền kinh tế của Hoa Kỳ sẽ phát triển vô cùng mạnh
mẽ".
Về phía Trung Cộng, tuy biết rơ âm mưu thôn tính
bằng kinh tế của Hoa Kỳ, nhưng cũng không thể làm ǵ hơn.
Sau hơn một nửa thế kỷ cùng người anh em Nga Sô theo chế
độ Xă Nghĩa Mác Lê, Trung Cộng đă không t́m được thiên
đường Cộng Sản mà chỉ thấy địa ngục đói khổ, dân chúng
ngày càng ta thán nên cuối cùng cũng phảitheo tiếng gọi
của bao tử. Thà theo kẻ thù "Tư Bản" mà được ăn no c̣n hơn
đọc thánh kinh của họ Mao với chiếc bụng rỗng.
V́ vậy, cuộc viếng thăm thủ đô Bắc Kinh của Tổng
Thống Nixon đă đánh dấu sự thành công của chính sách
"ngoại giao bóng bàn". Ngoài những quyền lợi về kinh tế và
chính trị, kể từ nay Hoa Kỳ cũng không c̣n phải bận tâm về
"ḷ thuốc súng Đông Nam Á" v́ đă có đồng minh mới Trung
Cộng ghé vai gánh vác. Được Hoa Kỳ chính thức bàn giao,
Trung Cộng cũng thấy đây là cơ hội bằng vàng để thực hiện
giấc mộng bá chủ vùng Đông Nam Á của ḿnh. Hành động đầu
tiên trong tham vọng này là xua quân xâm chiếm quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam. Về phía Hoa Kỳ cũng đẩy mạnh chính
sách bỏ rơi vùng Đông Dương bằng cách bán đứng miền Nam
Việt Nam chỉ vài năm sau đó.
Do đó, khi trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra vào năm
1974, đồng minh Hoa Kỳ chẳng những đă không trợ giúp Việt
Nam Cộng Ḥa (VNCH) về phương diện quân sự cũng như ngoại
giao, mà trước đó, c̣n dọa dẫm và khuyến cáo Hải Quân VNCH
đừng tham chiến. Chính các sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng
không giám nghĩ rằng Hải Quân Việt Nam sẽ ra khơi v́ lực
lượng đôi bên quá chênh lệch. Những "cố vấn" kiêm chuyên
gia về Hải Quân này dự đoán rằng các chiến hạm Việt Nam sẽ
lặng lẽ rút lui bỏ mặc quần đảo Hoàng Sa thân yêu êm thấm
rơi vào tay giặc. Những ước đoán trên được căn cứ vào thái
độ của Hải Quân Hoa Kỳ lúc đó đang làm bá chủ Biển Đông
nhưng cho biết họ đứng ngoài ṿng tranh chấp. Ngoài ra, họ
cũng không đồng ư việc xử dụng các khinh tốc đĩnh (PT
boat) tại Đà Nẵng, tuy với thủy thủ đoàn Việt Nam điều
khiển nhưng lại do Hoa Kỳ kiểm soát. Ngay tới khi trận hải
chiến đă kết thúc, lực lượng HQ Hoa Kỳ vẫn c̣n từ chối
tiếp cứu những thủy thủ Việt Nam lâm nạn, một điều trái
ngược hẳn với qui luật của người đi biển. Cho tới nay,
chúng tôi đă nhiều lần viết thư yêu cầu pḥng Quân Sử của
Hải Quân Hoa Kỳ cung cấp những dữ kiện đă được giải mật về
trận Hải Chiến Hoàng Sa, nhưng lúc nào họ cũng trả lời
"không có bất cứ một tài liệu nào liên quan trong hồ sơ
lưu trữ". Đây là một điều rất khó tin v́ lúc đó, Hải Đoàn
77 (Task Force 77) của HQ Hoa Kỳ gồm nhiều mẫu hạm và các
chiến chạm yểm trợ tổng cộng gần 20 tàu chiến đang hoạt
động tại vị trí "Yankee" (Yankee Station) trong Vịnh Bắc
Việt, cách Hoàng Sa về phía Đông Bắc không xa. Thật sự Hoa
Kỳ có hoàn toàn "không biết" hay đứng ngoài vụ tranh chấp
hay không? Hoa Kỳ đă "mũ ni che tai" v́ lư do ǵ? Mời độc
giả tuần tự theo dơi các diễn biến của trận hải chiến tại
Hoàng Sa, hy vọng sẽ t́m được câu trả lời.
Nhưng ngoài sự dự đoán của Hoa Kỳ cũng như của Trung
Cộng, Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa dù đơn độc và cô thế
"lưỡng đầu thọ địch" cũng đă dùng hết sức tham chiến. Các
chiến sĩ áo trắng đă can đảm nổ súng vào quân xâm lăng và
chiến đấu đến tận cùng khả năng của ḿnh. Sau trận hải
chiến, dư luận báo chí quốc tế đă bày tỏ nhiều thiện cảm
qua những bài b́nh luận rất thuận lợi cho Việt Nam trong
khi lên án quân xâm lược Trung Cộng.
Trước khi đi sâu vào chi tiết trận hải chiến, tưởng
cũng cần nêu lên một vài điểm liên quan đến việc sưu tầm
tài liệu. Nói chung, đây là việc rất khó khăn v́ đa số đă
bị thất lạc hoặc vùi chôn trong quá khứ.
Thứ nhất, trận hải chiến xảy ra cách đây đă lâu nên
những chi tiết ngay cả đối với những người đă trực tiếp
tham dự không ít th́ nhiều cũng bị mai một với thời gian.
Vả lại, mỗi nhân chứng tùy theo vị trí và hoàn cảnh sẽ có
tầm nh́n và nhận xét khác nhau, do đó việc tường thuật
trung thực mọi chi tiết như một máy quay phim thiết tưởng
không thể nào thực hiện được. Thứ hai, tuy đă có một số
bài viết về Hoàng Sa nhưng những tài liệu này phần lớn dựa
vào kư ức nên thiếu chính xác và chưa đủ để nói lên tầm
vóc quan trọng của biến cố lịch sử này. Thứ ba, v́ miền
Nam đă bị Cộng Sản xâm chiến nên những tài liệu chính thức
như các phúc tŕnh hậu hành quân của các chiến hạm tham
chiến cũng như của BTL/HQ rất khó sao lục lại. Theo HQ
Trung Tá Vũ Hữu San, báo Le Courier du Vietnam cho biết
ngày nay c̣n có một bản Tổng Kết Hải Chiến Hoàng Sa của
BTL/HQ tŕnh BTTM/QLVNCH lưu giữ tại Hà Nội.
V́ những lư do trên, tuy khả năng và hoàn cảnh hạn
hẹp, chúng tôi cũng cố gắng thuật lại trận hải chiến tại
Hoàng Sa, càng gần với sự thật càng tốt, căn cứ vào những
tài liệu thâu thập được phối kiểm với lời kể lại của các
nhân chứng. Tác giả may mắn và hănh diện được là bạn cùng
khóa 11 SQHQ Nha Trang với hai trong số bốn vị Hạm Trưởng
tham chiến, đó là HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu
Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 và HQ Trung Tá Phạm Trọng
Quỳnh, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-5. Hai
Hạm Trưởng c̣n lại là HQ Trung Tá Lê Văn Thự (Tuần Dương
Hạm Lư Thường Kiệt HQ-16) thuộc khóa 10 SQHQ Nha Trang và
cố HQ Trung Tá Ngụy Văn Thà thuộc khoá 12 SQHQ Nha Trang
là các khóa sinh sát trên và dưới trong lúc cùng học tại
Nha Trang nên cũng có dịp quen biết ít nhiều.
Ngoài ra, chúng tôi cũng có dịp tiếp chuyện nhiều
lần với HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc là Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến
Thuật trong trận hải chiến tại Hoàng Sa. Chúng tôi cũng
cám ơn anh bạn trẻ Trương Văn Quang hiện cư ngụ tại Úc
Châu đă trợ giúp sưu tầm nhiều h́nh ảnh và chi tiết hiếm
có. Nhưng dù sao, bài viết này chắc chắn sẽ c̣n rất nhiều
thiếu sót và kém chính xác, tác giả mong mỏi sẽ được những
người biết chuyện thẳng thắn phê b́nh xây dựng và bổ túc
để phần tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa được thêm đầy
đủ. Chúng tôi hoàn toàn ư thức được rằng dù bao nhiêu báo
chí sách vở cũng không sao tường thuật đầy đủ và nói hết
được tầm quan trọng của biến cố lịch sử Hoàng Sa. V́ vậy
bài viết này chỉ mang mục đích đóng góp nhỏ nhoi vào kho
tài liệu hải sử, với kỳ vọng những người khác hoặc thế hệ
mai sau sẽ thực hiện một pho Hải Sử đầy đủ xứng đáng với
tinh thần hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ Hoàng Sa.
Để dễ dàng theo dơi, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược
về vị trí và đặc điểm của quần đảo Hoàng Sa, sau đó tŕnh
bày chi tiết về trận hải chiến và cuối cùng sẽ nêu lên một
số nhận xét và b́nh luận.
Bản đồ Biển Đông. Quần-đảo Hoàng-Sa ở phía Bắc,
quần-đảo Trường-Sa ở phía Nam.
III. KHÁI LƯỢC VỀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
(xem bản đồ Biển Đông)
1. BIỂN ĐÔNG, XÁC ĐỊNH MỘT DANH TỪ
Trên các bản đồ cũng như hải đồ quốc tế, vùng biển
cực Tây của Thái B́nh Dương nằm về phía Nam lục địa Trung
Hoa thường được gọi là South China Sea. Theo thông lệ, các
nhà hàng hải thời xưa thường lấy tên khu vực đất liền lân
cận để đặt tên vùng biển tiếp giáp. V́ vậy, trên bản đồ,
chúng ta thấy những tên biển quen thuộc như: Biển Ấn Độ
hay Ấn Độ Dương (Indian Ocean), Biển Nhật Bản (Sea of
Japan), Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin), Vịnh Thái Lan
(Gulf of Thailand) hay Vịnh Mễ Tây Cơ (Gulf of Mexico)
v.v...
Do đó, South China Sea chỉ đơn thuần được dùng để
chỉ vùng biển nằm về phía Nam lục địa Trung Hoa. Tuy có
chữ "China" trong đó nhưng danh từ này không bao hàm ư
nghĩa "của" hay "thuộc về" Trung Hoa, cũng như Vịnh Mễ Tây
Cơ không phải là tài sản riêng của Mexico. Sở dĩ cần xác
định như trên để tránh những hiểu lầm, v́ rất có thể khi
thấy chữ "China", một số người có thể vội vàng ngộ nhận là
"của Trung Hoa".
Riêng đối với người Việt Nam, tuy South China sea ở
phía Nam Trung Hoa, nhưng lại nằm về hướng Đông của Việt
Nam, nên thiết tưởng "Biển Đông" là tên chính xác để mệnh
danh vùng biển thân yêu này. Hơn nữa, từ ngàn xưa, tổ tiên
ta đă có danh từ Biển Đông. Bằng chứng là những câu ca
dao, tục ngữ quen thuộc như:
"Dă tràng xe xát Biển Đông,
Nhọc ḿnh mà chẳng nên công cán ǵ"
Hoặc "Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng
cạn". Trong bài "Văn Tế Cá Sấu" bằng tiếng Nôm của đại học
sĩ Nguyễn Thuyên cũng có câu như sau:
"Ngạc ngư kia hỡi mày có hay,
Biển Đông rộng răi là nơi mày,
Phú Lương đây thuộc nơi Thánh vực,
Lạc lối đâu mà lại tới đây?"
Nhận xét như trên, chúng tôi mạnh dạn đề nghị các
sách báo của người Việt nên dùng danh xưng Biển Đông để
thay thế cho từ ngữ Nam Hải hay South China Sea. Đây không
những là một việc làm "danh chính ngôn thuận", mà c̣n nhắc
nhở chúng ta luôn luôn nhớ đến vùng biển thân thiết nằm về
phía Đông nước Việt đă gắn liền với vận mạng dân tộc qua
những thăng trầm của lịch sử.
2 . VỊ TRÍ
Trên bản đồ hàng hải, quần đảo Hoàng Sa là một
chuỗi gồm trên 100 đảo nhỏ nằm ngoài khơi Việt Nam, giữa
kinh tuyến 111 độ - 113 độ Đông và vĩ tuyến 15 độ 45 - 17
độ 05 Bắc. Nói khác đi, quần đảo này cách bờ biển Đà Nẵng
chừng 170 hải lư (khoảng 300 cây số) về hướng Đông và có
khoảng cách đều từ 400 hải lư đến 500 hải lư (720 cây số
đến 900 cây số) đối với các hải cảng Sài G̣n, Hải Pḥng,
Hương Cảng và Manila. Theo truyền thuyết, toán thám sát
dưới triều vua Gia Long báo cáo quần đảo này có nhiều băi
cát vàng, v́ vậy nên được đặt tên là Hoàng Sa.
3. ĐỊA THẾ
Trên các hải đồ quốc tế, quần đảo Hoàng Sa được gọi
là Paracel Islands hay Paracels. Có người cho rằng tên
Paracel bắt nguồn từ chữ Bồ Đào Nha "Paracel" có nghĩa là
"đá ngầm". Giả thuyết này nghe cũng khá hợp lư v́ mấy thế
kỷ trước đây, dân Bồ Đào Nha (Portugal) và Tây Ban Nha
(Spain) có rất nhiều hải thuyền nổi tiếng chu du thám hiểm
ṿng quanh thế giới. Đi tới đâu, họ dùng ngôn ngữ của nước
ḿnh để đặt tên cho những vùng biển hay đất lạ chưa được
ghi chép trên bản đồ. Hơn nữa, các đảo trong vùng Hoàng Sa
thường rất thấp, chỉ cao chừng vài ba thước trên mặt biển
nên trông như những băi đá ngầm khi thủy triều lên. Giả
thuyết thứ hai cho rằng "Paracel" là tên một thương thuyền
thuộc công ty Đông Ấn của người Anh bị mắc cạn và ch́m tại
vùng Hoàng Sa vào khoảng thế kỷ thứ 16. Chúng tôi thiết
nghĩ giả thuyết thứ hai này có vẻ hữu lư hơn, v́ trong
quần đảo Hoàng Sa c̣n có nhóm đảo Amphitrite lấy tên của
một tàu Pháp gặp nạn tại Hoàng Sa khi vượt biển buôn bán
với Trung Hoa vào thế kỷ thứ 17.
Theo các bản đồ cổ của Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa
mang tên băi Cát Vàng hay Cồn Vàng v́ cát tại đây thường
có màu vàng, nhất là tại đảo Quang Ḥa. Người Trung Hoa
gọi vùng Hoàng Sa là Hsisha hay Xisha Quandao tức là Tây
Sa quần đảo.
Quần đảo Hoàng Sa gồm có rất nhiều đảo lớn, đảo nhỏ,
cồn cát, băi cát, đá ngầm v.v... nên rất khó xác định tổng
cộng có bao nhiêu "đơn vị". Đảo cao nhất là Rocky Island
nhô cao khỏi mặt nước chừng 20 thước. Sách cổ Việt Nam cho
biết có cả thảy chừng 130 đảo, cồn, băi v.v... Tuy nhiên,
trên các hải đồ quốc tế chúng ta thấy chỉ ghi nhận vài ba
chục đảo lớn. Tưởng cũng cần nói thêm, ngoài các đảo, cồn
và đá nổi cao khỏi mặt nước, vùng Hoàng Sa c̣n có hai băi
ngầm (Bank hay Shoal) rất lớn luôn luôn ch́m dưới mực nước
biển, đó là Macclesfield và Scarborough Shoal nằm về hướng
Đông. Những băi ngầm hay vùng nước cạn giữa biển này rất
nguy hiểm cho các tàu bè qua lại v́ khi thời tiết tốt, mặt
biển trông rất phẳng lặng b́nh yên không có dấu hiệu de
dọa nào, chỉ khi trời nổi sóng gió mới thấy những lượng
sóng bạc đầu trên các vùng băi hay đá ngầm.
Nếu chỉ kể riêng những đảo (đá, đất, băi cát, cồn
... cao hơn mặt biển), quần đảo Hoàng Sa được các nhà hàng
hải chia thành hai nhóm chính: đó là nhóm Trăng Khuyết và
nhóm An Vĩnh.
A. Nhóm Trăng Khuyết (Crescent Group - xem bản đồ quần
đảo Hoàng Sa)
Những đảo thuộc nhóm này kết hợp lại thành một h́nh
cánh cung hay lưỡi liềm nên được đặt tên là Trăng Khuyết
hay Nguyệt Thiềm, tên quốc tế là Crescent hay Croissant.
Đây là nhóm đảo quan trọng nhất nằm về phía Tây của quần
đảo Hoàng Sa, tức là gần với đất liền Việt Nam nhất. Nhóm
này gồm 7 ḥn đảo chính và một số băi ngầm.
1. Đảo Hoàng Sa (Pattle Island)
Đây là ḥn đảo chính của quần đảo, nhưng lại không
phải là đảo lớn nhất. Đảo này h́nh bầu dục, chiều dài
khoảng 950 thước, rộng khoảng 650 thước. Các cơ sở quân
sự, đài khí tượng, hải đăng, cầu tàu ... được đặt trên ḥn
đảo này. Những cơ sở nói trên đa số được thiết lập từ thời
Pháp, đều thuộc quyền sở hữu của VNCH. Ngoài ra c̣n có các
kiến trúc khác như Miếu Bà, Nhà Thờ, bia chủ quyền Việt
Nam và đường xe gọng dẫn ra cầu tàu để chuyển vận phân
bón. V́ là đảo chính có nhiều cơ sở hành chánh nên được
dùng làm tên chung cho cả quần đảo.
Đảo Hoàng Sa đủ lớn để thiết lập một phi đạo ngắn
tầm. Vào đầu năm 1974, VNCH dự trù xây cất một phi trường
tại đây nhưng khi toán công binh thám sát được tàu Hải
Quân chở ra tới nơi th́ đảo bị Trung Cộng cưỡng chiếm.
Dưới thời VNCH, có một trung đội Địa Phương Quân thuộc chi
khu Ḥa Vang thuộc tiểu khu Quảng Nam đồn trú thường trực.
2. Đảo Cam Tuyền (hay Hữu Nhật - Robert Island)
Đảo mang tên một xuất đội dưới triều nhà Nguyễn tên
thật là Nguyễn Hữu Nhật. Diện tích đảo này chừng 0.32 cây
số vuông, nằm cách đảo Hoàng Sa chừng 3 hải lư về hướng
Nam. Đảo có một ṿng san hô bao chung quanh, có chỗ ăn
liền tới bờ đảo.
3. Đảo Duy Mộng (Drummond Island)
H́nh bầu dục, cao chừng 4 thước trên mặt biển, diện
tích chừng 0.41 cây số vuông. Nước tương đối sâu, tàu lớn
có thể vào sát bờ chỉ cách vài ba trăm thước. Trước trận
hải chiến tại Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974, đa số các
chiến hạm Trung Cộng tập trung quanh đảo này.
4. Đảo Quang Ảnh (hay Vĩnh Lạc - Money Island)
Quang Ảnh là tên một vị đội trưởng dưới triều Nguyễn
tên thật là Phạm Quang Ảnh. Vào thời vua Gia Long, vị đội
trưởng này thường đem hải thuyền ra Hoàng Sa để thu lượm
hải vật. Đảo cao chừng 6 thước, diện tích gần nửa cây số
vuông. Chung quanh đảo có nhiều đá ngầm và san hô rất nguy
hiểm cho tàu bè.
5. Đảo Quang Ḥa (Duncan Island)
Là ḥn đảo lớn nhất trong nhóm Trăng Khuyết với diện
tích chừng nửa cây số vuông. Quanh đảo là băi cát mầu
vàng, có lẽ v́ vậy mà cả quần đảo mang tên Hoàng Sa, băi
Cát Vàng hay Cồn Vàng. V́ có nhiều đảo nhỏ nối liền với
nhau bằng giải cát ch́m ngầm dưới biển khi nước lớn nên có
một số hải đồ chia đảo này thành hai đảo Quang Ḥa Đông và
Quang Ḥa Tây. Chung quanh đảo có ṿng san hô bao bọc.
Trong trận hải chiến giữa HQ/VNCH và Trung Cộng,
chiến hạm đôi bên đă đụng độ tại mặt Tây của đảo này, chỉ
cách mấy hải lư.
6. Đảo Bạch Quỷ (Passu Island)
Đảo cấu tạo bằng san hô, rất thấp, chỉ nhú lên khỏi
mặt nước khi thủy triều xuống. Đảo rất trơ trọi khiến
người khó có thể sinh sống.
7. Đảo Tri Tôn (Triton Island)
Gần với đất liền Việt Nam nhất. Đảo trơ trọi toàn đá
và san hô chết.
8. Các Băi Ngầm
Ngoài các đảo chính nêu trên trong vùng biển thuộc
nhóm Trăng Khuyết c̣n có một số băi ngầm đáng kể và rất
nguy hiểm cho tàu bè qua lại sau đây:
- Băi Antelope Reef: gồm toàn san hô ngầm, nằm về phía Nam
đảo Hữu Nhật và phía Đông đảo Quang Ảnh.
- Băi Vuladdore: nằm về hướng Đông Nam của nhóm Trăng
Khuyết, các chừng 20 hải lư.
- Băi Discovery Reef: là băi ngầm lớn nhất. Đây là một
ṿng rộng toàn san hô, chiều dài chừng 15 hải lư và rng
chừng 5 hải lư.
B. Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group)
Nằm về hướng Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa. An Vĩnh
nguyên là tên của một xă thuộc tỉnh Quảng Ngăi thời trước.
Sách Đại Nam Thực Lục Tiên Biên chép về xă này như sau:
"Ngoài biển xă An Vĩnh, huyện B́nh Sơn, Quảng Ngăi có hơn
100 cồn cát kéo dài tới không biết mấy ngàn dậm, tục gọi
là Vạn Lư Hoàng Sa Châu ... Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn
có đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xă An Vĩnh sung
vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm
th́ tới nơi ... "
Nhóm An Vĩnh c̣n có tên là Amphitrite hay Tuyên Đức,
gồm nhiều đảo tương đối lớn và cao. Sau đây là một số đảo
chính:
- Đảo Phú Lâm.
- Đảo Cây, c̣n gọi là đảo Cù Mộc.
- Đảo Lincoln.
- Đảo Trung.
- Đảo Bắc.
- Đảo Nam.
- Đảo Tây.
- Đảo Ḥn Đá.
Hải đảo quan trọng nhất trong nhóm An Vĩnh là đảo
Phú Lâm, c̣n gọi là Woody Island nằm cạnh đảo Ḥn Đá nhưng
diện tích lớn hơn nhiều.
Trước đệ nhị thế chiến, ngưới Pháp tại Đông Dương đă
khai thác những đảo thuộc nhóm An Vĩnh. Họ cũng thiết lập
tại đây một đài khí tượng giống như trên đảo Hoàng Sa. Sau
thế chiến thứ hai, người Pháp tại Đông Dương phái chiến
hạm Savorgnan de Brazza đến chiếm lại các đảo tại vùng
Hoàng Sa từ tay người Nhật vào tháng 6 năm 1946. Nhưng sau
đó v́ chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Pháp phải rút quân về
đất liền. Lợi dụng cơ hội Hoàng Sa bị bỏ trống, Trung Hoa
lấy cớ giải giới quân Nhật đă lén đổ quân lên đảo Phú Lâm
rồi chiếm đóng đảo này. Ngoài ra, họ cũng tiến xa hơn về
phía Nam, chiếm luôn đảo Thái B́nh (Itu Aba) thuộc quần
đảo Trường Sa của Việt Nam.
Vào ngày 13 tháng 1 năm 1947, người Pháp tại Đông
Dương chính thức phản kháng hành động chiếm đóng các hải
đảo bất hợp pháp của Trung Hoa và phái chiến hạm Le
Tonkinois ra Hoàng Sa. Thấy đảo Phú Lâm đă bị chiếm đóng
và pḥng thủ kỹ lưỡng, chiến hạm này quay về đảo Hoàng Sa
(Pattle Island) để đổ 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân
Việt Nam lên giữ đảo. Khi Trung Hoa Dân Quốc phải bỏ Hoa
Lục chạy sang Đài Loan, họ cũng rút quân ở đảo Phú Lâm và
Thái B́nh về. Măi tới 7 năm sau khi làm chủ được lục dịa,
Trung Cộng mới cho quân chiếm đóng Đảo Phú Lâm vào đêm 20
rạng ngày 21 tháng 2 năm 1956.
Trong nhóm An Vĩnh, ngoài Phú Lâm c̣n có một ḥn đảo
quan trọng khác, đó là đảo Lincoln, nằm về phía Đông của
nhóm. Đây là đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa với diện
tích chừng 1.6 cây số vuông hay tương đương 400 acres, bề
cao chừng 3 - 4 thước.
Hiện nay, dự đoán có chừng 4,000 quân Trung Cộng
chiếm đóng trên các đảo tại vùng Hoàng Sa.
4. CHỦ QUYỀN VIỆT NAM TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
Vào thế kỷ thứ 18, bộ sách "Phủ Biên Tạp Lục" của
ông Lê Quí Đôn đă đề cập tới Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn
sách này cũng kể việc người Việt Nam đă khai thác hai quần
đảo này ngay từ thời Lê mạt. Các tài liệu khác nói về chủ
quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa là bộ "Hoàng
Việt Địa Dư Chí" được ấn hành vào năm Minh Mạng thứ 16 tức
là năm 1834 và cuốn "Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí" của
Phan Huy Chú (1782 - 1840).
Hơn nữa, bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí" trong cuốn nói
về tỉnh Quảng Ngăi có kể việc Chúa Nguyễn cho thành lập
đội Hoàng Sa gồm 70 người cứ mỗi năm vào tháng 3 th́ ra
đảo thu lượm hải vật rồi trở về vào tháng 8. Vào năm Minh
Mạng thứ 16, nhà vua cũng sai quan quân dùng thuyền chở
gạch đá ra dựng một ngôi chùa và bia chủ quyền tại đảo
Hoàng Sa có khắc hàng chữ nôm "Minh Mạng năm thứ 16".
Ngoài các sử gia bản xứ, một số các tác giả người
Pháp cũng nói tới chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và
Trường Sa. Vào năm 1836 Đức giám mục Taberd đă viết trong
cuốn sách "Địa dư, lịch sử và mô tả mọi dân tộc cùng với
tôn giáo và phong tục của họ" (Universe, histoire et
description de tous les peuples, de leurs religion et
coutumes) như sau:
"Tôi không kể dài ḍng vềnhững đảo thuộc Nam Kỳ,
nhưng chỉ nhận xét rằng từ 34 năm nay, người Nam Kỳ đă
chiếm cứ nhóm quần đảo Paracels mà người An Nam gọi là Cát
Vàng hay Hoàng Sa, thực là những ḥn đảo nhỏ bí hiểm, gồm
những mỏm đá xen lẫn với các băi cát mà những người đi
biển đều kinh hăi. Tôi không rơ họ có thiết lập cơ sở ǵ ở
đó không, nhưng chắc chắn rằng Hoàng Đế Gia Long nhất định
muốn mở rộng lănh thổ của Hoàng Triều bằng cách chiếm quần
đảo này, và vào năm 1816, ngài đă long trọng trương lá cờ
tại đây".
Trong tác phẩm "Hồi kư về Đông Dương", ông Jean
Baptiste Chaigneau cũng ghi rằng vua Gia Long đă chính
thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816.
Khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cơi Đông
Dương, họ cũng tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa. Vào các
năm 1895 và 1896, có hai chiếc thương thuyền tên Bellona
và Iruezi Maru chở đồng cho người Anh bị đắm tại nhóm đảo
Tuyên Đức và bị người Trung Hoa đến đánh cướp. Đại diện
người Anh tại Bắc Kinh đ̣i nhà Thanh phải bồi thường v́ có
một số đồng được đem về bán tại đảo Hải Nam. Nhưng chính
quyền nhà Thanh không chịu bồi thường, viện cớ quần đảo
Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.
Các quốc gia trong vùng Đông Nam Á cũng mặc nhiên
công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Vào đầu thế
kỷ 20, một công ty Nhật tên Motsli Bussan Kaisha đă đệ đơn
xin chính quyền Pháp tại Đông Dương cấp quyền đặc nhượng
khai thác phosphate tại đây. Năm 1925, tàu Lanessan chở
phái đoàn nghiên cứu của Hải Học Viện Nha Trang ra thám
sát quần đảo Hoàng Sa. Phái đoàn này xác nhận Hoàng Sa là
một phần của lănh thổ Việt Nam v́ dính liền với thềm lục
địa Việt Nam.
Tại hội nghị San Francisco vào ngày 7 tháng 9 năm
1951, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Việt Nam
cũng đă lên tiếng xác nhận chủ quyền Việt Nam tại các hải
đảo thuộc Biển Đông. Ông tuyên bố trước hội nghị: "Chúng
ta cần phải lợi dụng mọi cơ hội để dập tắt mầm mống chiến
tranh, v́ vậy chúng tôi xác nhận chủ quyền của Việt Nam
trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đến nay
vẫn luôn luôn là những thành phần của lănh thổ Việt Nam".
Trong tổng số 51 quốc gia tham dự, không một quốc gia nào
- kể cả Trung Hoa - lên tiếng phản đối nên lời tuyên bố
này đă được ghi vào biên bản của hội nghị.
Dưới thời Pháp thuộc, Việt Nam đă thiết lập những cơ
sờ hành chánh tại Hoàng Sa qua nghị định số 156-SC ngày
15-6-1932 của Toàn Quyền Đông Dương. Trong đạo dụ số 10 kư
ngày 30-3-1938, Hoàng Đế Bảo Đại sát nhập quần đảo Hoàng
Sa vào tỉnh Thừa Thiên.
Ngày 5-5-1938, Toàn Quyền Đông Dương thiết lập hai
đơn vị hành chánh tại quần đảo Hoàng Sa. Đó làđơn vị Trăng
Khuyết và phụ cận (délégation du Croissant et dépendences)
và đơn vị Tuyên Đức và phụ cận (délégation de l'Amphitrite
et dépendences).
Ngày 13-7-1961 dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành sắc lệnh số 175-NV đặt quần
đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay v́ tỉnh Thừa Thiên
và đặt tên là xă Định Hải thuộc quận Ḥa Vang.
Dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, nghị định số 709-BNV-HC
ngày 21-10-1969 của Thủ Tướng Chính Phủ đă sát nhập xă
Định Hải vào xă Ḥa Long cũng thuộc quận Ḥa Vang, tỉnh
Quảng Nam.
IV. NHỮNG DIỄN BIẾN TRƯỚC
TRẬN HẢI CHIẾN
Vụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông đột ngột trở
nên sôi động vào ngày 11-1-1974 khi Trung Cộng ngang nhiên
tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang nằm trong
tay Việt Nam Cộng Ḥa là một phần lănh thổ của họ. Để làm
hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ,Trung Cộng (TC)
phái nhiều tàu đánh cá vơ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa
và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng
VNCH chiếm đóng.
Ngay ngày hôm sau 12-1-74, Ngoại Trưởng Vương Văn
Bắc của VNCH đă cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và
lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Cộng, đồng
thời Bộ Tư Lệnh HQ/VNCH cũng chuẩn bị tăng cường chiến hạm
tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa. Lúc đó, chỉ có một trung
đội Địa Phương Quân thuộc chi khu Ḥa Vang, tiểu khu Quảng
Nam gồm 24 người đóng tại đảo Hoàng Sa cùng với 4 nhân
viên đài khí tượng. Các đảo khác trong nhóm Nguyệt Thiềm
không có quân VNCH trú đóng.
Trong các ngày kế tiếp, TC tiếp tục đổ người lên các
đảo khác. Tính cho đến ngày 15-1-74, quân TC đă chiếm đóng
các đảo Cam Tuyền(Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Ḥa
(Duncan) và Duy Mộng (Drummond).
1. Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt (HQ-16) tới Hoàng Sa
Để bảo vệ chủ quyền chính đáng tại Biển Đông, ngày
15-1-74, BTL/HQ/V1DH ra lệnh cho HQ-16 trực chỉ Hoàng Sa
để tăng cường cho lực lượng trú pḥng, đồng thời dùng biện
pháp ôn ḥa yêu cầu lực lượng Trung Cộng rời khỏi lănh hải
VNCH. Tuần Dương Hạm (TDH) Lư Thường Kiệt c̣n chở thêm một
phái đoàn Công Binh 6 người thuộc BTL/Quân Đoàn I gồm 1
Thiếu Tá trưởng đoàn, 2 Trung Úy và 2 Trung Sĩ Công Binh.
Tháp tùng theo phái đoàn c̣n có 1 nhân viên dân sự thuộc
Toà Tổng Lănh Sự HK tại Đà Nẵng, và HQ Đại Úy Trần Kim
Diệp thuộc BTL/HQ/V1DH. Phái đoàn này có nhiệm vụ thám sát
địa thế để thiết lập một phi trường nhỏ trên đảo Hoàng Sa.
HQ-16 do HQ Trung Tá Lê Văn Thự (khóa 10 SQHQ Nha
Trang) làm Hạm Trưởng. Hạm Phó là HQ Thiếu Tá Trần Văn Hoa
Em (khóa 11 SQHQ Nha Trang) lúc đó nghỉ phép không có mặt
trên chiến hạm.Cơ khí trưởng là Đại Úy CK Hiệp (khóa 14
SQHQ Nha Trang). Đúng ra, HQ-16 đă măn hạn tuần dương tại
Vùng I, đang chuẩn bị trở về Sài G̣n nghỉ bến để ăn tết
Giáp Dần. Công tác phụ trội tại Hoàng Sa của HQ-16 được dự
trù sẽ chấm dứt trong ṿng 5 ngày. T́nh trạng khiển dụng
của chiến hạm tương đối khả quan, nhưng quân số không được
đầy đủ v́ gần Tết nên nhiều người đi phép, chờ chiến hạm
trở về Sài G̣n mới tŕnh diện.
Sáng ngày 16 tháng 1, HQ -16 tới Hoàng Sa, sau đó
thả một xuồng đổ bộ gồm 4 nhân viên cơ hữu để đưa 6 người
trong phái đoàn thám sát lên đảo Hoàng Sa. Công tác hoàn
tất tốt đẹp không có ǵ trở ngại. Sau đó, chiến hạm tiếp
tục công tác tuần dương và phát hiện một số tàu lạ đang
lảng vảng trong vùng đảo Cam Tuyền (Robert) về phía Nam.
HQ-16 liền đổi đường tới gần để điều tra. Đây là những tàu
tương đối nhỏ như loại tàu đánh cá sơn màu xanh đậm có bề
ngang và đài chỉ huy khá lớn như loại tàu quân sự. Chiến
hạm dùng đèn hiệu để liên lạc yêu cầu các tàu lạ cho biết
xuất xứ theo đúng qui luật hàng hải quốc tế nhưng không
được trả lời. Khi đến gần hơn mới nh́n rơ những chiếc tàu
này treo cờ Trung Cộng. TDH Lư Thường Kiệt một mặt lập tức
báo cáo sự phát hiện về BTL/HQ/V1DH tại Đà Nẵng, đồng thời
dùng cờ, đèn và cả máy phóng thanh bằng tiếng Trung Hoa
yêu cầu các tàu Trung Cộng phải lập tức rời khỏi lănh hải
Việt Nam. Nhưng các tàu Trung Cộng vẫn không trả lời, một
số nhân viên mặc quân phục mầu xanh nhạt đứng trên boong
c̣n buông những lời lẽ khiếm nhă và cử chỉ trêu chọc.
HQ-16 vẫn kiên nhẫn dùng loa phóng thanh liên lạc, sau
cùng phía tàu Trung Cộng cũng lên tiếng, đ̣i hỏi ngược
lại, yêu cầu HQ-16 rời khỏi lănh hải của họ! Cứ như vậy,
đôi bên dằng co suốt ngày 16-1, không bên nào chịu nhượng
bộ cho tới trời tối TDH Lư Thường Kiệt phải di chuyển xa
hơn ra ngoài khơi để tránh vùng đá ngầm nước cạn nguy hiểm
cho sự an toàn của chiến hạm.
Cùng ngày tại Sài G̣n, hăng thông tấn UPI loan tin
"chiến hạm và binh sĩ Việt Nam đă nổ súng vào một toán
người đang cắm cờ Trung Cộng tại đảo Cam Tuyền. Không rơ
phía Trung Cộng có bắn trả hay không". Trong lúc đó, các
giới chức cao cấp trong chính phủ cũng đang họp khẩn để
t́m cách đối phó với sự hiện diện đáng nghi ngờ của Trung
Cộng tại Hoàng Sa. Trong một cuộc họp báo, Ngoại Trưởng
Vương Văn Bắc cho biết tàu Trung Cộng đă xâm nhập hải phận
Hoàng Sa và đổ bộ người lên các hải đảo và "hành động này
đă mang đến sự đe dọa cho nền an ninh chung trong vùng".
Sáng sớm ngày 17-1, khi HQ-16 quay trở lại vùng đảo
Cam Tuyền thấy tàu Trung Cộng vẫn c̣n ở đó. Ngoài ra,gần
đảo Vĩnh Lạc (Money) lân cận cũng có thêm tàu Trung Cộng
xuất hiện với hàng trăm lá cờ mầu đỏ cằm rải rác ven bờ
biển dọc theo băi cát trắng. Có lẽ những chiếc tàu mới này
đă đổ người lên đảo cắm cờ trong đêm để mạo nhận chủ quyền
của Trung Cộng. Hai chiếc tàu dùng để chở quân của Trung
Cộng mang số 402 (tên Nam Ngư 1) và 407 (tên Nam Ngư 2).
Tại Sài G̣n, nguồn tin Reuters cho biết Trung Cộng
đă gửi hai chiến hạm đến Hoàng Sa sau khi các binh sĩ VNCH
bắn vào toán người Trung Cộng trên các hải đảo. Phát ngôn
viên quân sự, Trung Tá Lê Trung Hiền cũng cho biết Hải
Quân đă phái 6 chiến hạm lớn nhất ra Hoàng Sa để theo dơi
các chiến hạm Trung Cộng. Trung Tá Hiền tuyên bố tiếp
"Trong lúc này, chúng tôi chưa thể nói sẽ hành động ra sao
- gửi thêm lực lượng tăng viện hay chỉ đuổi toán Trung
Cộng ra khỏi đảo Cam Tuyền".
2. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) nhập vùng
Ngay khi nhận được báo cáo của HQ-16 về sự phát hiện
nhiều tàu Trung Cộng xâm nhập hải phận Hoàng Sa,
BTL/HQ/V1DH lập tức phản ứng. Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại,
Tư Lệnh HQ/V1DH chỉ thị KTH Trần Khánh Dư HQ-4 ra Hoàng Sa
tăng cường, đồng thời ra lệnh cho HQ-16 đổ bộ nhân viên cơ
hữu lên đảo Cam Tuyền để triệt hạ cờ Trung Cộng.
Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư do Hải Quân Trung Tá Vũ
Hữu San, xuất thân Khóa 11 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, làm
Hạm Trưởng. Tác phong đứng đắn, luôn luôn tuân hành và
hoàn tất chu đáo mọi chỉ thị của thượng cấp, Trung Tá San
không những là một sĩ quan hải quân tài giỏi, mà c̣n là
một hạm trưởng được xếp vào hàng xuất sắc của Hải Quân
Việt Nam. Hạm phó của KTH Trần Khánh Dư là Hải Quân Thiếu
Tá Nguyễn Thành Sắc, một Sĩ-Quan rất thâm-niên cấp-bậc.
Ông từng làm Hạm-trưởng tới 4 chiến-hạm trước khi về HQ.4.
Thiếu Tá Sắc là bạn cùng khóa 11 Sĩ Quan Hải-Quân với Hạm
Trưởng Vũ Hữu San.
Tại cầu tàu của bán đảo Tiên Sa, Đà Nẵng, lúc đó
HQ-4 đang nhận đạn-dược, dầu, nước ngọt cũng như thực
phẩm; được lệnh hoàn tất việc tiếp tế và lên đường càng
sớm càng tốt v́ theo báo cáo của HQ-16, t́nh h́nh tại
Hoàng Sa mỗi lúc một căng thẳng thêm. Mọi nhân viên trên
chiến hạm đều ráo riết chuẩn bị và làm việc không ngưng
nghỉ để kịp thời lên đường. Vào khoảng nửa đêm 16 rạng
ngày 17-1, KTH Trần Khánh Dư vận chuyển tách bến Đà Nẵng
trực chỉ Hoàng Sa, chở theo một trung đội Biệt Hải thuộc
Sở Pḥng Vệ Duyên Hải do Đại Úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy.
Tới xế trưa ngày 17-1, khoảng 2 giờ chiều, chiến hạm tới
vùng hành quân, hợp cùng với HQ-16 tuần-tiễu pḥng-thủ
Hoàng Sa. Trong thời gian này, Hạm-Trưởng HQ.4 là Trung Tá
San được Phó Đề Đốc TL/HQ/V1ZH chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng
cuộc Hành Quân Bảo Vệ Quần Đảo Hoàng Sa, chịu trách nhiệm
điều động tất cả lực-lượng thủy-bộ Việt-Nam, trên đảo cũng
như các chiến hạm.
Khi vừa nhập vùng, Hạm Trưởng HQ-4 đă có những hành
động tức thời để uy hiếp lực lượng Trung Cộng. HQ-16 được
lệnh vận chuyển từ phía Bắc (đảo Hoàng Sa) xuống, trong
khi HQ-4 từ hướng Nam (đảo Vĩnh Lạc) tiến lên tạo thành
thế gọng ḱm xiết chặt hai chiếc tàu Trung Cộng vào giữa.
Thấy lực lượng VNCH được tăng cường và nhất là có phản ứng
mạnh hơn so với mấy ngày hôm trước, nhưng hai chiếc tàu
Trung Cộng vẫn c̣n bám chặt vùng đảo Cam Tuyền. Đôi bên
lại dùng loa phóng thanh để trao đổi yêu sách, bên này đ̣i
bên kia phải rời khỏi hải phận của ḿnh. Thấy dằng co hồi
lâu vẫn không đạt được kết quả mong muốn, Trung Tá San
vận-chuyển HQ-4 húc mũi tàu của ḿnh vào ngư thuyền 407
của Trung Cộng, đẩy tàu này ra xa ngoài khơi để cảnh cáo.
V́ mũi tàu HQ-4 cao lớn hơn, đài chỉ-huy của tàu Trung
Cộng bị đè dẹp và pḥng lái thấp hơn bị bể một lỗ lớn.
Trước hành động quyết liệt đó, hai chiếc tàu Trung Cộng
đành phải nhượng bộ [2],
rời vùng chạy ṿng qua phía nam Cam Tuyền, sau đó chạy về
phía hai đảo Duy Mộng và Quang Ḥa ở hướng Đông Nam.
Sau khi đuổi được hai tàu Trung Cộng đi chỗ khác để
bảo đảm an ninh cho toán đổ bộ, chiến hạm VNCH tiến hành
việc đổ quân như đă dự trù.
Hai ngày trước đó, TDH Lư Thường Kiệt đă thành-công
trong việc đổ bộ một toán nhân viên cơ hữu gồm 14 người
lên đảo Vĩnh Lạc để dẹp cờ Trung Cộng và cắm cờ VNCH. Toán
nhân viên này đa số được lựa trong ngành trọng pháo quen
tác chiến, mang theo súng ống, đạn được và lương khô đủ
dùng trong ṿng ba ngày. Trưởng toán đổ bộ là Trung Úy Lâm
Trí Liêm xuất thân khóa 10 OCS được đào tạo tại Trường Hải
Quân Rhodes Island, Hoa Kỳ. Trung úy Liêm trước đây đă
từng phục vụ tại các giang đoàn chiến đấu trong các sông
rạch miền Nam nên tương đối có nhiều kinh nghiệm tác chiến
trên bộ.
Toán đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc không gặp sức kháng cự
nào, chỉ t́m thấy mấy ngôi mộ mới và vài lá cờ Trung Cộng.
Tất cả những dấu tích ngụy tạo này đều bị binh sĩ VNCH phá
hủy.
Tiếp đó, theo đúng lệnh hành quân,HQ-4 đổ bộ 14 nhân
viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền. Tại đây, Trung Cộng có 3
tàu neo gần đảo và mấy chiếc xuồng nhỏ để liên lạc với
những người trên đảo. Khi thấy lực lượng VNCH đổ quân,
những chiếc tàu Trung Cộng lặng lẽ thu quân rút lui không
chống trả. Toán đổ bộ lục soát t́m thấy một lá cờ Trung
Cộng mới cắm vài ngày trước. Các dấu tích cũ của VNCH vẫn
c̣n trên đảo gồm một tấm bia ghi ngày 5-12-1963 của Thủy
Quân Lục Chiến, 2 bể chứa nước mưa bằng xi măng và một
ngôi miếu nhỏ có hàng chữ đề ngày 31-11-1963.
Khoảng 6 giờ chiều ngày 17-1, hai chiến hạm của Hải
Quân Trung Cộng loại Kronstadt (viết tắt là K-) trang bị
hải pháo 100 ly và 37 ly mang số 271 và 274 xuất hiện. Có
lẽ những chiến hạm này xuất phát từ căn cứ hải quân Yulin
ở phía Nam đảo Hải Nam đến tăng cường theo lời cầu cứu của
mấy chiếc tàu chở quân. Hai chiếc Kronstadt từ đảo Quang
Ḥa xả hết tốc độ hướng về phía các chiến-hạm HQ-4 và
HQ-16 với thái độ khiêu khích thách thức. Tuy nhiên các
chiến hạm VNCH vẫn b́nh tĩnh và ôn ḥa dùng đèn hiệu yêu
cầu tàu Trung Cộng hăy rời khỏi hải phận Việt Nam. Phía
Trung Cộng cũng dùng quang hiệu trả lời, yêu cầu các chiến
hạm VNCH rời khỏi hải phận của họ. Đôi bên trao đổi tín
hiệu chừng một tiếng đồng hồ không có kết quả, nhưng trước
thái độ cương quyết của phía VNCH, hai chiếc Kronstadt
đành nhập đoàn với những tàu Trung Cộng khác lui về bố trí
tại hai đảo Quang Ḥa và Duy Mộng. Dường họ có ư định củng
cố lực lượng và bảo vệ toán quân đă được đổ bộ lên đảo.
Trước đó, thấy t́nh h́nh càng thêm căng thẳng v́
Trung Cộng có ư đồ nhất quyết chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa
bằng vơ lực, BTL/HQ/V1DH tại Đà Nẵng đă ban hành lệnh hành
quân Hoàng Sa 1 (số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74).
Nội dung được tóm tắt như sau:
a. Nhiệm vụ:
Chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Ḥa, Duy Mộng và Vĩnh
Lạc.
b. Thi hành:
- HQ-16 chiếm đảo Vĩnh Lạc bằng nhân viên cơ hữu.
- HQ-4 nhận 32 nhân viên Biệt Hải tại Đà Nẵng có nhiệm vụ
đổ bộ chiếm đảo Cam Tuyền, Duy Mộng và Quang Ḥa.
- HQ-5 chở toán Hải Kích từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa để phối
hợp và tăng cường cho toán Biệt Hải.
- Các đảo sau khi chiếm được sẽ giao cho Trung Đội Địa
Phương Quân trấn giữ.
- Toán đổ bộ phải cố gắng dùng biện pháp ôn ḥa nhưng cứng
rắn để yêu cầu người và tàu bè xâm nhập bất hợp pháp ra
khỏi lănh hải VNCH.
c. Chỉ huy: TL/HQ/V1ZH chỉ huy tổng quát. HQ Đại Tá Hà Văn
Ngạc là Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển. (Ghi
chú của người viết: trong suốt cuộc hành quân, TL/HQ/V1ZH
là Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ở tại bản doanh Đà Nẵng, c̣n
Đại Tá Ngạc tới trưa ngày 18-1 mới ra tới vùng hành quân.
Trước đó Hạm-Trưởng Vũ-Hữu-San được chỉ định làm SQ chỉ
huy công tác trên mặt biển như trên đă nói.)
3. Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-16 và Hộ Tống Hạm
Nhật Tảo HQ-10 ra Hoàng Sa
Được tin Hải Quân Trung Cộng gửi thêm nhiều chiến
hạm thuộc Hạm Đội Nam Hải đến Hoàng Sa, Hải Quân VNCH cũng
tăng cường thêm chiến hạm. Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng
HQ-5 được lệnh tiếp tế khẩn cấp tại Đà Nẵng và rời quân
cảng trong thời gian sớm nhất, c̣n Hộ Tống Hạm Nhật Tảo
đang tuần tiễu tại vùng Đà Nẵng cũng được lệnh tiếp ứng.
Hạm Trưởng HQ-5 là HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh,
cùng khóa 11 SQ/HQ Nha Trang với Hạm Trưởng HQ-4
Vũ-Hữu-San. Trung Tá Quỳnh là người rất mực thước, đứng
đắn, ngay từ khi c̣n thụ huấn tại quân trường đă tỏ ra có
nhiều đức tính tốt cần thiết để trở thành một vị Hạm
Trưởng thành công.
Trung Tá Quỳnh vừa nhận lănh quyền chỉ huy Tuần
Dương Hạm Trần B́nh Trọng tại Vũng Tàu. Khi được lệnh từ
BTL Hạm Đội. Ông trực chỉ Vùng I ngay v́ nhu cầu hành
quân. Chiến hạm ra tới Đà Nẵng và cập cầu Tiên Sa tại bán
đảo Sơn Chà vào ngày 17-1. Lúc đó, tại Hoàng Sa t́nh t́nh
đă rất khẩn trương v́ HQ-4 và HQ-16 đang phải đương đầu
với một lực lượng thủy bộ khá mạnh của Trung Cộng.
Về chiếc Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, Hạm Trưởng là HQ
Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, xuất thân khóa 12 SQHQ Nha Trang.
Thiếu Tá Thà là một vị Hạm Trưởng trẻ tuổi có nhiều kinh
nghiệm hành quân trong sông, xứng đáng là một cấp chỉ huy
gương mẫu trong Hải Quân. Hạm Phó của HQ-10 là HQ Đại Úy
Nguyễn Thành Trí, xuất thân khóa 17 SQHQ Nha Trang.
HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, được TL/HQ/V1DH chỉ
định làm Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển, đặt Bộ
Chỉ Huy trên HQ-5. Ông là một sĩ quan có kinh nghiệm hải
hành và đương nhiệm Chỉ Huy Hải Đội 3 Tuần Dương [3]
gồm các chiến hạm chủ lực như Hộ-Tống-Hạm, Tuần-dương-Hạm,
Khu-Trục-Hạm. Lúc bấy giờ, có lẽ Đại Tá Ngạc là người hợp
lư nhất để được tuyển chọn làm Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật
(OTC). BTL/HQ/V1DH c̣n chỉ định HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí
Toàn xuất thân Khoá 11 SQHQ Nha Trang đi theo HQ-5 để phụ
tá Đại Tá Ngạc. Ngày 18-1, hồi 11 giờ 30 đêm, từ soái hạm
HQ-5, ông gửi đi một công điện hành quân "Thượng Khẩn" tới
các chiến hạm HQ-4, HQ-16 và HQ-10 thuộc quyền, nội dung
được tóm tắt như sau:
a. Nhiệm vụ: Hành quân thủy bộ cấp tốc chiếm đảo Quang
Ḥa.
b. Thi hành: Hoàn tất nhiệm vụ bằng đường lối ôn ḥa.
Nếu địch khai hỏa kháng cự, tập trung hỏa lực tiêu diệt
địch.
c. Kế hoạch:
- Hai chiến hạm HQ-16 và HQ-10 có nhiệm vụ yểm trợ cho lực
lượng đổ bộ bằng cách bám sát hai chiến hạm Kronstadt mang
số 271 và 274 của Trung Cộng. Nếu địch khai hỏa, HQ-16 và
HQ-10 phải lập tức dùng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt.
- HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải vào mặt Tây đảo
Quang Ḥa và yểm trợ hải pháo cho lực lượng đổ bộ. Chiến
hạm cũng được lệnh canh chừng và sẵn sàng tiêu diệt các
tàu đánh cá vơ trang và tàu nhỏ của địch.
d. Ngày N là ngày 19/1/74; giờ H là 6 giờ sáng (0600H).
e. Qui luật khai hỏa: được căn cứ trên hai trường hợp
căn bản sau đây:
- Nếu địch khai hỏa trước: Ta phản ứng bằng hỏa lực cơ hữu
để tiêu diệt lực lượng địch càng nhiều càng tốt. Ưu tiên
hỏa lực nhắm vào các đơn vị quan trọng như Kronstadt hoặc
loại chiến hạm lớn hơn nếu có.
- Nếu địch tỏ vẻ ôn ḥa: Ta dè dặt và cảnh giác tối đa với
sự ôn ḥa tương ứng, đồng thời tiếp tục thi hành nhiệm vụ
chiếm đảo Quang Ḥa bằng cách thương lượng quyết liệt để
địch rút lui. Sau đó sẽ trương quốc kỳ Việt Nam và tổ chức
pḥng thủ trên đảo.
- Nếu địch không khai hỏa trước nhưng không chịu rút lui:
Đối với lực lượng hải quân địch, áp dụng qui luật quốc tế
để yêu cầu rời khỏi lănh hải. Nếu địch ngoan cố, áp dụng
những huấn thị căn bản về việc ngăn chận các chiến hạm và
chiến thuyền xâm nhập hải phận. Đối với lực lượng địch
trên đảo, phản ứng thích nghi tùy thuộc vào kết quả của
việc thương lượng.
Với Chỉ Huy Trưởng Hải Đội có mặt trên chiến hạm,
HQ-5 ráo riết chuẩn bị cho cuộc hành quân thủy bộ tái
chiếm Hoàng Sa. Sau đây là các hoạt động chính của Tuần
Dương Hạm Trần B́nh Trọng và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, một
thành phần của Phân Đoàn Đặc Nhiệm 213.7.1. Những hoạt
động này được căn cứ vào phúc tŕnh số 001/HQ.5/PT/K
ngày 21 tháng 2 năm 1974 của TDH Trần B́nh Trọng:
- Ngày 17-1: HQ-5 tới Đà Nẵng nhận tiếp tế dầu nước và đón
Đại Đội Hải Kích gồm có 49 người do Đại Úy Trần Cao Sạ
(khóa 16 SQHQ Nha Trang) chỉ huy.
- Nửa đêm 17 rạng ngày 18-1, hồi 180012H (sau nửa đêm 12
phút), HQ-16 khởi hành từ Đà Nẵng đi Hoàng Sa.
- Hồi 3 giờ 15 sáng (180315H), chiến hạm tới điểm hẹn với
HQ-10 tại vị trí cách hải đăng Tiên Sa 9 hải lư về hướng
Đông (ngoài khơi cửa biển Đà Nẵng). Theo báo cáo, t́nh
trạng kỹ thuật của HQ-10 không được khả quan: chỉ c̣n một
máy chánh, máy kia bị hư hỏng chưa kịp sửa chữa nên vận
tốc bị giảm trên 30%, radar hải hành cũng bị hư không xử
dụng được. Sau khi gặp nhau, hai chiến hạm đổi đường hướng
về Hoàng Sa, đội h́nh hàng dọc theo thứ tự HQ-10, HQ-5.
- V́ HQ-5 cần tới Hoàng Sa đúng giờ hẹn như đă dự trù, mà
vận tốc của HQ-10 quá chậm, nên vào hồi 0327H, Sĩ Quan Chỉ
Huy Chiến Thuật (OTC) ra lệnh cho HQ-5 tăng máy, tách khỏi
đội-h́nh trực chỉ đảo Cam Tuyền. Theo lời thuật lại của
Hạm Trưởng HQ-5, tuy bỏ lại HQ-10 phía sau, nhưng HQ-5 vẫn
dùng radar để hướng dẫn tàu bạn trên đường tới Hoàng Sa.
- Hồi 3 giờ chiều (1500H) ngày 18-1, HQ-5 tới Hoàng Sa.
Lúc đó, lực lượng hải quân đôi bên như sau: ta có 3 chiến
hạm là HQ-4, HQ-5 và HQ-16; phía Trung Cộng có hai tàu
Kronstadt mang số 271 và 274, hai tàu chở quân vơ trang
mang số 402 và 407, một tàu vận tải và một ghe buồm. Hai
chiến hạm Kronstadt chủ lực của địch di chuyển quanh các
đảo Quang Ḥa và Duy Mộng để bảo vệ lực lượng bộ binh đă
chiếm đóng đảo. Các chiến hạm ta vào nhiệm sở tác chiến
toàn diện vào lúc 3 giờ 15 chiều.
Sau khi HQ-5 tới Hoàng Sa, các chiến hạm ta lập tức
vận chuyển theo đội h́nh tác chiến để quan sát và thăm ḍ
phản ứng địch. Hồi 4 giờ chiều, khởi đi từ vị trí nằm về
hướng Đông Đông Nam và cách đảo Cam Tuyền chừng 3 hải lư,
ba chiến hạm vào đội h́nh hàng dọc theo thứ tự HQ-16, HQ-5
và HQ-4, trực chỉ phía Tây đảo Quang Ḥa là nơi các chiến
hạm Trung Cộng đang tập trung. Tới 4 giờ 16 chiều, thấy
các chiến hạm VNCH tới gần, lực lượng Trung Cộng cũng phản
ứng. Hai chiến hạm Kronstadt vận chuyển về hướng Tây Nam
đảo để nghênh cản và chận đường. Hai toán chiến hạm càng
tiến gần nhau, t́nh h́nh càng căng thẳng. Đôi bên đều vào
nhiệm sở tác chiến nhưng các hải pháo vẫn c̣n ở vị thế nằm
ngang, chưa nhắm thẳng vào nhau.V́ chỉ muốn thăm ḍ phản
ứng địch nên trước t́nh trạng gay cấn đó, các chiến hạm
VNCH tạm bỏ ư định tiến đến gần đảo Quang Ḥa và ngưng máy
thả trôi tại vùng giữa đảo Cam Tuyền và Quang Ḥa. Lực
lượng Trung Cộng cũng không giám gây hấn, trở lại quanh
quẩn tại chỗ cũ.
Hồi 5 giờ 15 chiều, theo lệnh của Sĩ Quan Chỉ Huy
Chiến Thuật, HQ-5 thả xuồng đưa một số hải kích qua HQ-16
và nhận lại toán thám sát Hoàng Sa thuộc Quân Đoàn I gồm 1
Thiếu Tá, 2 Trung Úy Công Binh, 2 binh sĩ Công Binh, 1
nhân viên thuộc Đài Khí Tượng Hoàng Sa và một người Mỹ.
Sau đó, chiến hạm tiếp tục tuần tiễu trong vùng trách
nhiệm thuộc phía Đông Đông Nam của đảo Cam Tuyền.
Khi lên HQ-5, thấy t́nh h́nh giữa các chiến hạm Việt
Nam đang ráo riết chuẩn bị đổ bộ tác chiến và t́nh h́nh
quá căng thẳng, nhân viên Hoa Kỳ trong nhóm thám sát yêu
cầu được rời chiến hạm, trở về đảo Hoàng Sa. V́ vậy, vào
lúc 9 giờ tối, Sĩ-Quan Chỉ-huy Chiến-Thuật (SQ/CHCT) ra
lệnh cho HQ-5 tới gần đảo Hoàng Sa rồi thả xuồng đưa 7
người trong nhóm thám sát lên đảo. Riêng HQ Đại Úy Trần
Kim Diệp thuộc BTL/V1DH ở lại chiến hạm. Có lẽ nhân viên
Hoa Kỳ trong nhóm thám sát đă được nguồn tin riêng thông
báo sẽ có đụng độ giữa hai lực lượng nên không muốn hiện
diện trên chiến hạm Việt Nam, có thể gây rắc rối về mặt
ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng.
Trong đêm 18 rạng ngày 19-1, các chiến hạm HQ/VNCH
thả trôi và tuần tiểu trong vùng biển phía Tây Hoàng Sa,
bên ngoài các đảo của nhóm Nguyệt Thiềm để tránh những khu
vực đá ngầm nguy hiểm và cũng để tránh sự quan sát của lực
lượng Trung Cộng. Lúc này, HQ-10 cũng đă tới khu vực hành
quân. Như vậy, lực lượng HQVNCH đă có 4 chiến hạm trong
vùng Hoàng Sa.
Sáng sớm ngày 19-1, vào lúc 3 giờ 50 sáng, SQ/CHCT
ra lệnh cho các chiến hạm VNCH chia làm hai cánh. Phân đội
1 gồm HQ-5 và HQ-4 di chuyển từ vùng biển bên ngoài ṿng
sâu về phía Nam đảo Vĩnh Lạc, trong khi Phân Đội 2 gồm
HQ-16 và HQ-10 trong vùng ḷng chảo, cùng hướng tới đảo
Quang Ḥa theo thế gọng ḱm. Phân đội 1 có nhiệm vụ đổ bộ
toán Biệt Hải và Hải Kích để chiếm lại đảo, trong khi phân
đội 2 lănh phần yểm trợ hải pháo cũng như ngăn chận các
chiến hạm Trung Cộng. V́ trời c̣n tối nên đội h́nh các
chiến hạm Việt Nam di chuyển rất thận trọng, dự trù sẽ tới
mục tiêu lúc trời vừa rạng sáng.
Tới 5 giờ sáng, các chiếm hạm tới vị trí Tây Bắc,
cách đảo Vĩnh Lạc chừng 3 hải lư. Nhiệm sở tác chiến toàn
diện được ban hành lúc 5 giờ 25 sáng khi đội h́nh bắt đầu
vào trở lại bên trong các hải đảo của nhóm Nguyệt Thiềm.
V. LỰC LƯỢNG ĐÔI BÊN
Lúc 6 giờ sáng, các chiến hạm tới vị trí Đông Nam,
cách đảo Vĩnh Lạc chừng 5 hải lư. Lúc này, trời đă rạng
sáng.
Lúc 6 giờ 40 sáng, hai phân đội đă vào vị trí được
ấn định trước như sau:
- Phân đội 1 (Nam) gồm 2 chiến hạm HQ-5 và HQ-4 ở phía Nam
đảo Quang Ḥa.
- Phân đội 2 (Bắc) gồm 2 chiến hạm HQ-16 và HQ-10 ở phía
Tây Tây Bắc đảo Quang Ḥa.
Lực lượng Trung Cộng lúc này đang tập trung tại phía
Đông đảo Quang Ḥa và đă được tăng cường thêm 2 Trục lôi
hạm (tàu vớt ḿn, viết tắt T-) loại T-43 mang số 389 và
396 trong đêm. Trên đảo, địch đă dựng 5 dăy nhà tiền chế
sơn màu xanh đậm để trú quân và các công sự pḥng thủ đă
được bố trí chu đáo để đề pḥng các cuộc đổ bộ. Ngoài ra,
sát bờ đảo c̣n có một số ghe nhỏ dùng để tiếp tế.
Tính tới ngày 19 tháng 1 là lúc xảy ra trận hải
chiến, lực lượng hải quân đôi bên tại Hoàng Sa được ghi
nhận như sau:
1. Lực lượng tham chiến
a. Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa: gồm 4 chiến hạm:
- Soái hạm Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-5.
- Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt HQ-16.
- Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4.
- Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10
Sau đây là đặc tính của mỗi chiến hạm
* Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-5
- Nguyên là tàu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ
(USCG - US Coast Guard) mang tên Castle Rock (WHEC 383).
- Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 21-12-1971.
- Đóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu
bang Washington
- Hạ thủy ngày 11/5/1944 và bắt đầu hoạt động kể từ
ngày 8/10/1944.
- Trọng tải: 1766 tấn tiêu chuẩn, 2800 tấn tối đa
- Kích thước: dài 310.75 ft, chiều ngang 41.1 ft,
tầm nước 13.5 ft.
- Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6080
mă lực, 2 chân vịt.
- Vận tốc tối đa: chừng 18 knots.
- Vũ khí: 1 khẩu 127 ly (5 inch) phía trước mũi, 1
đại bác 40 ly đôi cũng ở sân trước nhưng ở sân thượng phía
trên khẩu 127 ly, 2 khẩu 40 ly bên tả và hữu hạm tại sân
sau và 2 khẩu đại bác 20 ly đôi ở hai bên hông đài chỉ
huy. Nguyên thủy khi chuyển giao, HQ-5 chỉ có đại bác 127
ly, sau này Hải Quân Công Xưởng gắn thêm các ụ đại bác 40
ly để tăng cường hỏa lực tác chiến.
- Thủy thủ đoàn: chừng 200 người.
Tuần Dương Hạm là loại chiến hạm lớn nhất của HQVN
và có súng cỡ 127 ly cũng lớn nhất. Các loại vũ khí chống
tàu ngầm đă bị cắt bỏ khi chuyển giao cho HQVN.
* Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt HQ-16
- Nguyên thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ, trước
đây mang tên Chicoteague (WHEC 375).
- Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 21/6/1972.
- Đóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu
bang Washington.
- Hạ thủy ngày 15/4/1942 và bắt đầu hoạt động kể từ
ngày 12/4/1943.
- Đặc tính tương tự như HQ-5.
* Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4
- Nguyên là USS Foster DER 334 của Hải Quân Hoa Kỳ.
- Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 25/9/ 1971.
- Đóng tại thủy xưởng Consolidated Steel
Corporation, Orange tiểu bang Texas.
- Hạ thủy ngày 13/11/1943 và bắt đầu hoạt động kể từ
ngày 25/1/1944.
- Trọng tải: 1590 tấn tiêu chuẩn, 1850 tấn tối đa.
- Kích thước: dài 306 ft, ngang 36.6 ft, tầm nước 14
ft.
- Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6,080
mă lực.
- Vận tốc tối đa 21 knots
- Vũ khí : 2 đại bác 76 ly, một tại sân trước có
pháo tháp và một tại sân sau lộ thiên cùng một số đại bác
20 ly. [4]
- Thủy thủ đoàn: chừng 175 người.
HQ-4 nguyên là một Khu Trục Hạm thuần túy có nhiệm
vụ yểm trợ pḥng không và chống tàu ngầm, nhưng sau thế
chiến thứ hai đă được hoàn toàn tân trang và gắn loại
radar TACAN (Tactical Aircraft Navigation) để trở thành
loại chiến hạm chuyên dùng radar để phát hiện hỏa tiễn
địch (radar picket). Chiến hạm này đă từng tham dự chiến
dịch Market Times ngoài khơi Việt Nam để ngăn chận sự xâm
nhập của Cộng sản bằng đường biển.
* Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10
- Nguyên là USS Serene (MSF 300). Đây là loại tàu
chuyên được dùng để rà ḿn ngoài đại dương (MSF - Mine
Sweeper Fleet).
- Được chuyển giao cho HQVN vào tháng 1/1964 cùng
với Hộ Tống Hạm Chí Linh.
- Đóng tại thủy xưởng Winslow Marine & SB Co.,
Winslow, tiểu bang Washington.
- Trọng tải 650 tấn tiêu chuẩn, 945 tấn tối đa.
- Dài 184.5 ft, ngang 33 ft, tầm nước 9.75 ft.
- Máy chánh: 2 máy dầu cặn Cooper Bessemer 1710 mă
lực, 2 chân vịt.
- Vận tốc tối đa 14 knots.
- Vũ khí: 1 đại bác 76 ly lộ thiên ở sân trước, 2
đại bác 40 ly đơn bên tả và hữu hạm ở sân giữa, 4 đại bác
20 ly đôi ở hai bên đài chỉ huy và ở sân sau.
- Thủy thủ đoàn chừng 80 người.
Khi được chuyển giao cho HQVN, chiến hạm được biến
cải từ tàu vớt ḿn thành tàu hộ tống. Các dụng cụ rà ḿn
được cắt bỏ. Các vũ khí chống tàu ngầm được thêm vào gồm 2
giàn thả thủy lựu đạn (depth charge) ở sân sau và một giàn
phóng thủy lựu đạn loại Hedgehog ở sân trước.
b. Hải Quân Trung Cộng
Tổng cộng gồm 11 chiếc tàu đủ loại, trong số này có
2 Hộ Tống Hạm chống tàu ngầm (Submarine Chaser) loại
Kronstadt mang số 271 & 274 và 2 chiếc Trục Lôi Hạm (tàu
rà ḿn) loại T-43 mang số 389 & 396 trực tiếp tham chiến
là có hỏa lực đáng kể. Ngoài ra, c̣n có 2 Kronstadt mang
số 281 và 282 tới sau trận hải chiến. Những chiếc khác là
tàu chở quân hay ngư thuyền vơ trang.
Tài liệu của Trung Cộng cho biết về lực lượng của họ
tại Hoàng Sa như sau:
"Ngày 17 tháng 1, Quân Ủy Trung Ương ra lệnh Hạm
Đội Nam Hải lập tức phái chiến hạm tuần tiễu tại Hoàng Sa,
đồng thời ra lệnh Quân Khu Hải Nam gửi quân lính theo tàu
ra giữ đảo. Theo lệnh Quân Ủy Trung Ương, quân khu Quảng
Châu ra lệnh Hạm Đôi Nam Hải phái hai Trục Lôi Hạm 396 và
389 thuộc Phân Đội Trục Lôi 10 căn cứ tại Quảng Châu và
hai Hộ Tống Hạm loại Kronstadt 271 và 274 thuộc Phân Đội
chống Tiềm Thủy Đĩnh 73 căn cứ tại Yulin, lên đường ra
Hoàng Sa vào các ngày 17 và 18 để tuần tiễu. Ngoài ra,
Quân Khu Hải Nam c̣n phái 4 Đại Đội Bộ Binh để chiếm đóng
các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Quang Ḥa. Thêm vào đó, Căn
Cứ Hải Quân Quảng Châu c̣n phái 2 chiến hạm Kronstadt 281
và 282 thuộc Phân Đội Chống TTĐ 74 tới Hoàng Sa sau đó làm
lực thành phần tiếp ứng. Toàn thể lực lượng được đặt dưới
quyền chỉ huy của Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam Hải tên Wie Ming
Sen lúc đó có mặt tại can Cứ Hải Quân Yulin nằm vế phía
Nam đảo Hải Nam. Bộ Tư Lệnh Hành Quân được đặt trên soái
hạm Kronstadt 271 thuộc Phân Đội 73. Về không yểm, quân
khu Quảng Châu ra lệnh Phi Đoàn 22 thuộc Hạm Đội Nam Hải
cử 2 phi cơ túc trực bao vùng, đồng thời yêu cầu Không
Quân thuộc Quảng Châu sẵn sàng yểm trợ."
Sau đây là đặc tính của các chiến hạm Trung Cộng.
* Hộ Tống hạm Kronstadt
Sáu chiếc Kronstadt đầu tiên trong HQ Trung Cộng do
Nga chế tạo vào khoảng năm 1950 - 1953 và chuyển giao vào
năm 1956 -1957. Sau này Trung Cộng tự đóng thêm 12 chiếc
nữa tại các xưởng đóng tàu Thượng Hải và Quảng Đông, chiếc
sau cùng hoàn tất vào năm 1957. Đặc tính của loại
Kronstadt là ḿnh hẹp, lườn thấp và có vận tốc cao để săn
đuổi tàu ngầm. Trước năm 1974, loại tàu Kronstadt mang
chiến số từ 600 trở lên, sau này được đổi lại với chiến số
loại 200 sơn ngoài vỏ tàu.
- Trọng tải: 310 tấn tiêu chuẩn, 380 tấn tối đa.
- Kích thước: dài 170 ft, ngang 21.5 ft, tầm nước 9
ft (52 m x 6.5 x 2.7)
- Máy chánh: 2 máy dầu cặn 3,300 mă lực, 2 chân vịt.
- Vận tốc tối đa 24 knots.
- Vũ khí: 1 đại bác 100 ly (3.9 inch) ở sân trưóc và
2 đại bác 37 ly ở sân sau, 2 giàn thủy lựu đạn và 2 giàn
thả ḿn.
- Thủy thủ đoàn: chừng 65 người.
* Trục Lôi Hạm T-43
Hai chiếc đầu tiên do Nga chế tạo và chuyển giao vào
khoảng năm 1954 -1955. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm 18
chiếc nữa.
- Trọng tải: 500 tấn tiêu chuẩn, 610 tấn tối đa.
- Kích thước: dài 190.2 ft, ngang 28.2 ft, tầm nước
6.9 ft (58 m x 6.1 x 2.6)
- Máy chánh: 2 máy dầu cặn 2,000 mă lực, 2 chân vịt.
- Vận tốc tối đa 17 knots.
- Vũ khí: đại bác 85 ly (3.5 inch)
- Thủy thủ đoàn: chừng 40 người.
2. Lực lượng trừ bị ứng chiến
a. Hải QuânViệt Nam Cộng Ḥa
Gồm 2 chiến hạm:
- Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ-6.
- Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ-11.
Những chiến hạm này v́ được điều động từ xa tới nên
không thể có mặt tại Hoàng Sa trước ngày 19 tháng 1.
Về Không Quân, tuy có tin các phi đoàn phản lực cơ
F-5 và A-37 được lệnh túc trực tại phi trường Đà Nẵng
nhưng Không Quân cho biết những phi cơ này có tầm hoạt
động ngắn khó thể ra tới Hoàng Sa. Cũng có nguồn tin không
chính thức cho biết đă có ư định xử dụng các Dương Vận Hạm
(LST - Landing Ship Tank) như mẫu hạm tạm thời để chở các
trực thăng vơ trang ra Hoàng Sa nhưng kế hoạch này không
được thực hiện. Tóm lại, các chiến hạm HQ/VNCH không có
phi cơ trợ chiến.
b. Hải Quân Trung Cộng
Gồm nhiều chiến hạm đủ loại và phi cơ Mig đủ loại:
- 4 Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn loại Komar.
- Nhiều Khu Trục Hạm mang hỏa tiễn loại Kianjiang.
- 2 tiềm thủy đĩnh mang số 282 và 295.
- Phi cơ Mig.
* Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Komar
Chiếc Komar đầu tiên do Nga chuyển giao vào năm
1965, 2 chiếc khác vào năm 1967 và 7 chiếc nữa trong
khoảng năm 1968 -1971. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm
chừng 10 chiếc khác và đặt tên là "Hoku". Loại chiến hạm
này tuy nhỏ nhưng rất nguy hiểm v́ có vận tốc nhanh, dễ
vận chuyển nên là một mục tiêu rất khó bằn trúng. Ngoài
ra, loại hỏa tiễn Styx có thể bắn trúng mục tiêu cách xa
vài chục cây số. Ai Cập đă dùng hỏa tiễn loại này đánh
ch́m Khu Trục Hạm Eilat, chiếc tàu lớn nhất của Hải Quân
Do Thái trong trận chiến tranh năm 1967.
- Trọng tải: 70 tấn tiêu chuẩn, 80 tấn tối đa.
- Kích thước: dài 83.7 ft, ngang 19.8 ft, tầm nước 5
ft (25.5 m x 6 x 1.8)
- Hỏa tiễn: 2 giàn phóng hỏa tiễn loại Styx dùng để
bắn chiến hạm.
- Máy chánh: 2 máy dầu cặn 4,800 mă lực, 2 chân vịt.
- Vận tốc tối đa: 40 knots
- Vũ khí: 2 đại bác 25 ly (1 giàn đôi gắn đàng trước
mũi).
- Thủy thủ đoàn: chừng 10 người.
* Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Osa
Chiếc Osa đầu tiên do Nga chuyển giao vào tháng 1
năm 1965. Bốn chiếc khác chuyển giao vào năm 1966 - 1967
và 2 chiếc nữa vào năm 1968. Trung Cộng cũng tự đóng lấy
một số khác và đặt tên là "Hola"
- Trọng tải: 165 tấn tiêu chuẩn, 200 tấn tối đa.
- Kích thước: dài 128.7 ft, ngang 25.1 ft, tầm nước
5.9 ft (39.3 m x 7.7 x 1.8)
- Máy chánh: 3 máy dầu cặn, 13,000 mă lực.
- Vận tốc tối đa: 32 knots
- Vũ khí: 4 đại bác 30 ly (2 giàn đôi, 1 trước mũi
và 1 sau lái).
- Thủy thủ đoàn: chừng 25 người.
VI. TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG
Nếu chỉ so sánh về vũ khí, phía VNCH có phần trội
hơn v́ các Tuần Dương Hạm được trang bị hải pháo 127 ly,
trong khi các Kronstadt của Trung Cộng chỉ được gắn súng
cỡ 100 ly [5],
nhưng trong một trận hải chiến khi đôi bên gần nhau, cỡ
súng lớn chưa chắc đă chiếm được lợi thế v́ không tận dụng
được tầm bắn xa, hơn nữa nhịp bắn lại chậm. Phần các chiến
hạm Trung Cộng có vận tốc cao lại nhỏ nhẹ dễ vận chuyển
nên chiếm được ưu thế trong lúc cận chiến. Ngoài ra, các
chiến hạm VNCH không những vừa to, cao lại xoay trở tương
đối chậm nên là mục tiêu rất dễ dàng cho địch thủ nhắm
bắn. Chính Trung Tá San, Hạm Trưởng HQ-4 cho biết v́ các
chiến hạm Trung Cộng nằm rất thấp gần sát mặt nước nên rất
khó bắn trúng. Trong khi các khẩu hải pháo VNCH v́ nằm
trên cao nên phải xoay trở rất khó khăn, có khi phải hạ
cao độ xuống dưới đường chân trời (góc độ trừ) mới có thể
nhắm trúng mục tiêu nằm gần. Các chiến hạm Trung Cộng v́
thấp hơn nên dễ dàng nâng cao độ của những khẩu đại bác
chừng dăm ba độ là đă có thể tác xạ hữu hiệu.
So sánh những sở trường và sở đoản của từng loại
chiến hạm, trong trận hải chiến một chọi một tại Hoàng Sa,
lực lượng đôi bên có vẻ tương đồng, việc hơn thua phần lớn
sẽ do các cấp chỉ huy và tinh thần của thủy thủ đoàn quyết
định. Tuy nhiên, kể về lực lượng trừ bị ứng chiến, phía
Trung Cng chiếm ưu thế tuyệt đối, nhất là về mặt không
yểm. Có thể nói dù đánh ch́m hết các tàu Trung Cng trong
ngày 19/1, các chiến hạm HQ/VNCH cũng khó ở lại Hoàng Sa
v́ không thể đương đầu với lực lượng tăng viện của địch.
VII. TRẬN HẢI CHIẾN
Sáng sớm ngày 19 tháng 1, thấy các chiến hạm VNCH
bất thần bao vây và dàn đội h́nh tác chiến để uy hiếp đảo,
lực lượng TC cũng chia thành hai nhóm để nghênh cản. Hai
chiến hạm mới tới mang số 389 và 396 vận chuyển về hướng
Tây Tây Bắc đảo để chận đường phân đội Bắc, trong lúc 2
Kronstadt c̣n lại mang số 271 và 274 đối đầu với phân đội
Nam tại phía Nam đảo Quang Ḥa.
Mặc dù phía Trung Cộng phản ứng mạnh, lực lượng VNCH
vẫn tiến hành kế hoạch hành quân đổ bộ tái chiếm đảo Quang
Ḥa như đă dự trù. Hồi 6 giờ 48 sáng, toán đổ bộ cũng được
chia làm hai cánh: cánh Biệt Hải trên HQ-4 được đổ bộ lên
mặt Nam, trong khi cánh Hải Kích trên HQ-5 được đổ bộ lên
mặt Tây Tây Nam đảo Quang Ḥa. Tới 7 giờ 42 sáng, v́ gió
thổi quá mạnh khiến hai bè cao su chở toán Hải Kích bị dạt
ra ngoài khơi nên HQ-5 phải thả xuồng máy để phụ giúp kéo
tới điểm đổ bộ. Cũng trong lúc này, Trung Cộng cũng cho đổ
thêm quân từ 2 tàu vơ trang lên mặt Bắc đảo.
Tuy gặp khá nhiều khó khăn v́ gió mạnh và sóng lớn
sát bờ, cuối cùng toán Hải Kích cũng đổ bộ lên được mặt
Tây Tây Nam đảo Quang Ḥa vào lúc 7 giờ 45 sáng. Sau khi
hoàn tất nhiệm vụ đổ quân, hai chiến hạm HQ-5 và HQ-4
thuộc phân đội Nam di chuyển trong vùng từ Nam Đông Nam
tới Tây Tây Nam của đảo Quang Ḥa, có lúc vào sát bờ chỉ
cách chừng 1 hải lư để trợ chiến cho lực lượng đổ bộ.
Lực Lượng đổ bộ gồm những thành phần được huấn luyện
tinh thục, thiện chiến nhất của HQVN. Toán Biệt Hải do HQ
Đại Úy Nguyễn Minh Cảnh (khóa 16 SQHQ Nha Trang) chỉ huy,
gồm những quân nhân "người nhái" thuộc Sở Pḥng Vệ Duyên
Hải. Toán Hải Kích chuyên về phục kích và đánh bộ do HQ
Đại Úy Trần Cao Sạ (khóa 16 SQHQ Nha Trang) chỉ huy. Ngay
từ khi vừa đặt chân lên bờ đảo, cả hai toán bị quân Trung
Cộng trên đảo đông hơn đàn áp. Địch quân trang bị vũ khí
nặng dàn hàng ngang ngăn cản và uy hiếp, một số lớn khác
ẩn núp trong các gia thông hào và công sự pḥng thủ kiên
cố để yểm trợ khiến lực lượng đổ bộ không thể nào tiến sâu
vào trung tâm đảo. T́nh h́nh lúc bấy giờ rất nguy cấp và
thật bất lợi cho lực lượng VNCH, nhưng v́ tuân hành thượng
lệnh quyết tâm bảo vệ lănh thổ nên vào khoảng 9 giờ sáng,
SQ/CHCT ra lệnh cho toán Hải Kích vượt lên trước, di
chuyển về mặt Tây Nam đảo. Thấy quyết tâm chiếm lại đảo
của các chiến sĩ Việt Nam, quân Trung Cộng nấp trong các
công sự pḥng thủ nổ súng thượng liên vào toán Hải Kích
khiến 1 sĩ quan là Trung Úy Nguyễn Văn Đơn và 1 đoàn viên
tên Long bị tử thương và 2 đoàn viên khác bị thương. Toán
Hải Kích lập tức dùng hỏa lực cơ hữu gồm súng phóng lựu
M.79 và súng cá nhân M.16 bắn trả. C̣n toán Biệt Hải tuy
cũng bị lính Trung Cộng đông hơn uy hiếp nhưng hoàn toàn
vô sự. Lúc 10 giờ sáng, soái hạm HQ-5 ở vị trí cách đảo
Quang Ḥa 5000 yards (khoảng 3 hải lư) về hướng Tây Nam
(245 độ).
Vào khoảng 9 giờ 30 sáng, trước t́nh h́nh bất lợi và
áp lực địch quá mạnh có thể đưa tới nguy cơ toàn thể lực
lượng đổ bộ bị địch quân đông hơn tiêu diệt hết,
Chỉ-huy-trưởng Phân-đội 1 (gồm HQ-5 và HQ-4) quyết-định
rút tất cả hai toán Hải Kích và Biệt Hải kịp thời về chiến
hạm, [6]
với sự đồng-ư của SQ/CHCT. Lực lượng đổ bộ về tới chiến
hạm an toàn, không bị thêm một thiệt hại nào, mang theo
được cả xác sĩ quan tử-thương. Hai đoàn viên bị thương
được di tản qua HQ-4.
Trước những biến chuyển kém thuận lợi, SQ/CHCT ban
hành chỉ thị mới. Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 17 sáng
cho tới 10 giờ 24 sáng, các chiến hạm Việt Nam vận chuyển
chiến thuật để thiết lập một h́nh ṿng cung ở phía Tây đảo
Quang Ḥa. Phân đội Bắc gồm hai chiến hạm HQ-16 và HQ-10
di chuyển về phía Tây Tây Bắc đảo trong khi phân đội Nam
gồm hai chiến hạm HQ-5 và HQ-4 di chuyển từ Tây Nam tới vị
trí phía Tây Đảo. Khi thấy các chiến hạm Việt Nam khai
triển đội h́nh mới, bốn chiếc tàu Trung Cộng lập tức bám
theo, một đối một. Theo phúc tŕnh hậu hành quân của soái
hạm HQ-5, t́nh h́nh lúc đó đă hết sức căng thẳng. Chiến
hạm đôi bên có lúc chỉ cách nhau 300 hay 400 yards [7]
đều ở trong t́nh trạng nhiệm sở tác chiến toàn diện với
các nhân viên ngồi trong các ụ súng. Các khẩu hải pháo
chĩa thẳng vào tàu địch trong tư thế sẵn sàng tác xạ tiêu
diệt nhau.
H́nh Kronstadt 271 và 274 của Trung-Cộng, chụp từ HQ.4
trước trận hải-chiến chừng một giờ.
Lúc đó, vị trí các chiến hạm đều nằm về hướng Tây và
Tây Tây Bắc của đảo Quang Ḥa. Hải đội VNCH bao vây phía
ngoài, cách đảo khoảng 4-5 hải lư, các tàu Trung Cộng nằm
hơi chếch về phía bên trong, cách đảo chừng 3-4 hải lư. Vị
thế tác chiến của các chiến hạm Việt Nam thiết lập thành
h́nh ṿng cung phia bên ngoài, thứ tự từ Bắc xuống Nam
được ghi nhận như sau:
- HQ-16 chiếm vị trí cực Bắc của đội h́nh, sau đó là
HQ-10.
- Kế tiếp là HQ-4 và HQ-5 ở vị trí cực Nam.
Các chiến hạm Trung Cộng cũng ở vị thế nghênh cản
một chọi một như sau:
- Kronstadt 274 đối đầu HQ-5.
- Kronstadt 271 đối đầu HQ-4.
- MSF [8]
396 đối đầu HQ-10.
- MSF 389 đối đầu HQ-16.
Trên soái hạm HQ-5, SQ/CHCT chỉ định mục tiêu cho
từng chiến hạm, đó là những tàu địch đối đầu. Lệnh tác xạ
đồng loạt vào các chiến hạm địch được ban hành từ soái hạm
HQ-5 vào lúc 10 giờ 22 phút sáng. Trận hải chiến tại Hoàng
Sa khởi đầu.
Đến đây, cần mở một dấu ngoặc để t́m câu trả lời
đúng nhất cho nghi vấn quan trọng: chiến hạm VNCH hay
Trung Cộng đă khai hỏa trước mở đầu trận hải chiến?
Theo các tài liệu của VNCH trước năm 1975, các chiến
hạm Trung Cộng đă bắn trước, phía VNCH chỉ phản ứng để tự
vệ. Thí dụ như ngay sau khi xảy ra trận hải chiến vào ngày
thứ bảy 19 tháng 1, phát ngôn viên quân sự của VNCH là
Trung Tá Lê Trung Hiền đă tuyên bố trong một buổi họp báo
có các thông tín viên quốc tế tham dự rằng:" Hồi 10 giờ 22
phút sáng nay, một chiến hạm Trung Cộng đă nổ súng bắn vào
một tàu tuần dương (cutter) của VNCH tại Hoàng Sa. Chiến
hạm VNCH bắn trả để tự vệ khiến tàu Trung Cộng bị cháy.
Tàu VNCH chỉ bị hư hại nhẹ". (Sài G̣n - tin Reuter ngày 19
tháng 1 năm 1974). Chiếc tàu tuần dương của HQ/VNCH mà
Trung Tá Hiền nói tới là loại tàu "WHEC" (White High
Endurance Cutter) nguyên của Coast Guard Hoa Kỳ, khi
chuyển giao cho HQVN được gọi là "Tuần Dương Hạm" như HQ-5
Trần B́nh Trọng, HQ-16 Lư Thường Kiệt tham chiến tại Hoàng
Sa. Trong Bản Thông Tin (Communique) chính thức của Bộ
Ngoại Giao VNCH phát hành ngày 19/1/74 cũng loan báo
nguyên văn như sau: "Sáng nay, ngày 19/1/74, vào hồi 10
giờ 20 sáng, một hộ tống hạm Trung Cộng loại Kronstadt đă
nổ súng vào Khu Trục Hạm "Trần Khánh Dư" HQ-04 của VNCH.
Chiến hạm VN bắn trả để tự vệ khiến tàu Trung Cộng bị hư
hại" (Trích Bản Thông Tin của Bộ Ngoại Giao ngày 19/1/74
loan báo về việc Trung Cộng khơi mào những hành động quân
sự tại vùng Hoàng Sa). Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư đúng ra
mang chiến số "HQ-4" chứ không phải là "HQ-04" như đă đăng
trong bản tin. Trong HQVN, chiến hạm mang số "HQ-04" là Hộ
Tống Hạm (PC - Patrol Craft) Tụy Động lúc đó đă phế thải.
Chúng tôi chỉ muốn nói lại cho đúng v́ các vị phát ngôn
quân sự thường là sĩ quan bộ binh không mấy quen thuộc với
các loại chiến hạm của Hải Quân, c̣n vị phát ngôn viên dân
sự của Bộ Ngoại Giao lại càng dễ lẫn lộn hơn.
Nhưng những lầm lẫn "kỹ thuật nhỏ" như HQ-4 và HQ-04
hay chiến hạm VNCH bị tàu Trung Cộng bắn là Tuần Dương Hạm
hay Khu Trục Hạm đều không quan trọng. Ở đây, chúng tôi
chỉ muốn nhấn mạnh các nguồn tin chính thức của VNCH thời
đó đều cho biết các chiến hạm Trung Cộng đă nổ súng trước.
Tuy nhiên, những lời tuyên bố chính thức, nhất là về mặt
ngoại giao, lại chưa chắc đă là sự thật mà nhiều khi chỉ
nhằm mục đích tuyên truyền, t́m thêm hậu thuẫn cho ḿnh.
V́ vậy, tới đây, vẫn chưa dứt khoát trả lời được câu hỏi
"chiến hạm bên nào đă bắn trước?".
Gần đây, rất may, thay v́ sự thật mỗi ngày một mai
một với thời gian, chúng ta lại có câu trả lời chắc chắn.
Câu trả lời đó nằm trong bài nói chuyện mới đây vào ngày
17/1/1998 nhan đề "Sau 24 năm, nhớ về Hải Chiến Hoàng Sa,
tưởng niệm các Liệt Sĩ hy sinh v́ Tổ Quốc" của HQ Trung Tá
Vũ Hữu San, cựu Hạm Trưởng HQ-4. Trong bài nói chuyện rất
cảm động này, Trung Tá San đă cùng với Trung Tá Quỳnh "xác
nhận việc các chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 và HQ-10 chúng
tôi đă bắn trước vào kẻ xâm lăng". Trung Tá San và Trung
Tá Quỳnh, những Hạm Trưởng xuất sắc và quân nhân gương mẫu
thuần túy đă đưa ra lư do rất chính đáng và hùng hồn để
cần nói lên sự thật này rằng:" Sợ ǵ mà không nói Hải Quân
Việt Nam bắn trước? Giặc vào nhà, ta phải đẩy lui chúng!"
Lư do các vị Hạm Trưởng đáng kính này nêu ra cũng oai dũng
như khi họ đứng trên đài chỉ huy, ra lệnh cho chiến hạm
bắn thẳng vào tàu địch năm xưa tại Hoàng Sa. Để kiểm chứng
thêm, mới đây chúng tôi cũng nói chuyện khá nhiều lần với
cựu HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh và được ông xác nhận việc
các chiến hạm VNCH bắn vào tàu địch trước là đúng v́ chính
ông đă ra lệnh cho tàu Ông tác xạ mở đầu trận hải chiến
tại Hoàng Sa theo lệnh của SQ/CHCHT.
Đặc biệt, trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Phó Đề
Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, nguyên Tư Lệnh Hải Quân VNCH/V1DH
tiết lộ thêm chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă trao ông
một thủ bút cho phép toàn quyền quyết định, kể cả việc xử
dụng biện pháp quân sự. Phó Đề Đốc Thoại cho biết như sau:
"Tôi là người duy nhất và trực tiếp ra lệnh cho Đại tá
Ngạc "Khai Hỏa" và tôi làm việc này đúng chỉ thị của Tổng
Thống Thiệu trong một tài liệu do chính Tổng Thống viết
tay chỉ thị trực tiếp cho tôi."
Trở lại các diễn tiến của trận hải chiến Hoàng Sa.
Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ chuyển đi từ soái hạm
HQ-5, các chiến hạm VNCH đồng loạt khai hỏa vào mục tiêu
được chỉ định là các chiến hạm địch đối đầu. Các khẩu đại
bác 40 ly và 20 ly tác xạ rất chính xác và hiệu quả v́ có
nhịp bắn nhanh và mục tiêu lớn lại nằm trong tầm tác xạ
hữu hiệu. Các khẩu đại bác 76 ly trên Khu Trục Hạm Trần
Khánh Dư tác xạ cũng rất chính xác nhưng nhịp bắn không
được nhanh v́ hệ thống radar kiểm xạ viễn khiển bị hỏng từ
lâu. Những giàn đại pháo 127 ly trên các Tuần Dương Hạm
Trần B́nh Trọng và Lư Thường Kiệt có nhịp bắn chậm hơn
trong lúc các chiến hạm đôi bên vận chuyển với vận tốc cao
nên rất khó nhắm vào mục tiêu. Riêng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo
HQ-10 v́ chỉ c̣n một máy chánh nên xoay trở rất khó khăn
và chậm chạp, giàn radar bất khiển dụng, t́nh trạng kỹ
thuật không được khả quan nên lâm vào t́nh thế rất bất
lợi.
Với chiến thuật "tốc chiến, tốc thắng", các chiến
hạm VNCH chiếm được thượng phong v́ bắn trước với cỡ súng
lớn hơn. Các tàu Trung Cộng bị thiệt hại nhiều trong những
phút đầu tiên này nhưng cũng chống trả mănh liệt.
Trên Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt HQ-16 thuộc phân
đội Bắc, lệnh tác xạ của Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Lê Văn
Thự, được đáp ứng ngay bằng quả đạn đầu tiên của khẩu đại
pháo 127 ly do Trung Úy Đoàn Viết Ất làm trưởng khẩu. Sau
đó, các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly từ trước mũi đến sau
lái thi nhau bắn vào tàu địch. Giống như như HQ-5, vũ khí
chính của Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt là khẩu đại pháo
127 ly (5 inch) đặt tại sân trước. Cũng ở sân trước, đàng
sau của khẩu đại pháo là giàn đại bác 40 ly đôi (2 ṇng)
nằm một tầng cao hơn ngay dưới đài chỉ huy. Hai bên hông
đài chỉ huy là các khẩu đại bác 20 ly đôi (2 ṇng). Tại
sân sau có các khẩu đại bác 40 ly đơn, một bên tả hạm, một
bên hữu hạm. Sau đây là lời tường thuật của của một nhân
chứng, sĩ quan hải hành Đào Dân (khóa 18 SQ/HQNT?) có mặt
trên đài chỉ huy HQ-16 trong lúc xảy ra trận hải chiến:
"Cả chiến hạm như bị giật lùi v́ tiếng khai hỏa
của đại pháo 127 ly. Những người trên đài chỉ huy chú tâm
đến nỗi ai cũng có cảm tưởng ḿnh nh́n thấy được đường đi
của viên đại bác dầu tiên. Rồi tiếng nổ dồn dập của khẩu
đại bác 40 ly đôi trước mũi và khẩu 40 ly đơn sau lái hữu
hạm, cùng với tiếng nổ liên hồi của đại bác 20 ly làm
thành một ḥa âm khó tả. Khói thuốc súng từ trước mũi, sau
lái, boong trên phía sau và ngay đài chỉ huy phía dưới bay
lên làm mờ cả một vùng trời trên chiến hạm ... Từ lỗ tṛn
của ổ đại bác 127 ly trước mũi, Trung Úy Ất đă đứng hẳn
người lên, nhô cả thân ḿnh lên trên ụ súng để tận mắt
chứng kiến kết quả của những viên đạn đang nổ, điều chỉnh
những sai sót. Tiếng oang oang thường ngày của Ất được dịp
phát ra từ đó mà ở đài chỉ huy chúng tôi c̣n nghe được.
"Lên hai độ", "xuống một độ", "bên phải", "bên trái một
chút". Cả đài chỉ huy cùng chăm chú theo dơi từng viên đại
pháo phát nổ xung quanh tàu địch, bỗng ồ lên như ong vỡ
tổ:" Trúng rồi!" Tôi nh́n lên, chếch về phía bên phải mũi
tàu, một chiến hạm địch đang bốc khói. Có lẽ là khói của
viên đạn nổ tung ngay đài chỉ huy v́ sau đó, dường như
hoạt động của tàu này có phần chậm lại".
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 là một hành phần của phân
đội Bắc dưới quyền điều động của HQ-16. Trong lúc hải
chiến, HQ-10 nằm chếch về hướng Nam, cách HQ-16 chừng 1
hải lư. V́ là một tàu loại rà ḿn được biến cải nên là
chiến hạm chậm và nhỏ nhất trong số các đơn vị VNCH tham
chiến. Ngoài ra, ngay từ khi gia nhập Hải Đội Hoàng Sa,
t́nh trạng kỹ thuật của HQ-10 đă không được khả quan v́
chỉ c̣n một máy chánh, radar lại bị hư. Trước đây, trên
đường đi từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa vào ngày 18/1, soái hạm
HQ-5 đă phải rời đội h́nh, bỏ HQ-10 lại phía sau v́ chạy
quá chậm. Tuy cần đi trước cho kịp giờ hẹn với các chiến
hạm bạn tại Hoàng Sa, HQ-5 vẫn dùng radar của ḿnh để
hướng dẫn HQ-10 hải hành trong đêm. Vũ khí chính của HQ-10
là khẩu trọng pháo 76.2 ly đặt tại sân trước, 2 đại bác 40
ly đơn tại sân giữa và 4 đại bác 20 ly đặt hai bên hông
đài chỉ huy và sân sau.
Theo kế hoạch lúc ban đầu, phân đội Bắc có nhiệm vụ
yểm trợ hải pháo để phân đội Nam đổ quân chiếm đảo Quang
Ḥa. Nhưng sau khi cuộc đổ bộ bất thành v́ quân Trung Cộng
trên đảo quá đông và tàu yểm trợ của chúng cũng rất nhiều
- tổng cộng 11 chiếc đủ loại - nên sau khi thảo luận kỹ
càng, lực lượng VNCH quyết định tiêu diệt các chiến hạm
địch trước. Đây là một quyết định rất sáng suốt v́ nếu phá
được đoàn tàu yểm trợ, địch quân trên đảo sẽ bị cô lập và
sẽ bị đánh tan dễ dàng. Do đó, HQ-10 cũng được chỉ định
một mục tiêu tác xạ, đó là chiếc tàu Trung Cộng mang số
396. Theo lời tường thuật của các nhân chứng, chỉ trong
ṿng 5 phút đầu, các khẩu hải pháo trên HQ-10 đă bắn tê
liệt chiến hạm địch, pḥng lái và hầm máy bị cháy khiến
chiếc tàu này không c̣n điều khiển được nữa, cứ chạy ṿng
ṿng làm mồi cho hỏa lực chính xác của HQ-10. Tuy nhiên,
v́ chỉ c̣n một máy, xoay trở rất khó khăn nên HQ-10 cũng
bị trúng nhiều đạn địch. Hạm Trưởng, HQ Thiếu Tá Ngụy Văn
Thà bị tử trận, Hạm Phó là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí bị
thương nặng. Sau khi bắn hạ tàu địch, cuối cùng Hộ Tống
Hạm Nhựt Tảo cũng bị hy-sinh. Một số nhân viên xuống được
bè đào thoát mang theo vị Hạm Phó, nhưng chẳng bao lâu,
Đại Úy Trí cũng đền nợ nước v́ bị mất máu quá nhiều.
Về việc Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo bị ch́m, có một số tài
liệu nói rằng chiến hạm bị hỏa tiễn từ chiến hạm Trung
Cộng bắn trúng đài chỉ huy. Tuy hải quân Trung Cộng có
loại tàu Komar trang bị hỏa tiễn hải - hải (surface to
surface missile) Styx nhưng lúc đó chưa có mặt tại Hoàng
Sa, c̣n các loại tàu Kronstadt và T-43 tham chiến chỉ
trang bị hải pháo cổ điển thông thường, hỏa tiễn nếu có
cũng chỉ là loại cá nhân (rocket) cầm tay do toán bộ binh
đổ bộ mang theo. Vả lại, nếu có loại phi tiễn đĩnh Komar
tham chiến th́ có lẽ mục tiêu sẽ là những chiến hạm chủ
lực lớn hơn chứ không phải HQ-10 là chiếc nhỏ và kém quan
trọng nhất. Theo lời thuật lại của Trung Tá Vũ Hữu San,
sau khi trận hải chiến đă chấm dứt, các chiến hạm ta quan
sát thấy có 4 lượng sóng bạc đầu rất lớn đang từ hướng
Đông Bắc tiến lại rất nhanh. Rất có thể đây mới là các phi
tiễn đĩnh Komar hay khinh tốc định Swatow của Trung Cộng
từ căn cứ hải quân Yulin thuộc đảo Hải Nam kéo xuống trợ
chiến. Nói tóm lại, có nhiều phần v́ HQ-10 vận chuyển khó
khăn, bất lợi trong lúc hải chiến nên mới bị ch́m v́ trúng
đạn của tàu địch.
Trong số các tàu VNCH tham chiến, có lẽ chỉ Khu Trục
Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 mới xứng đáng mang danh "chiến
hạm". Trong khi các "chiến hạm" khác tuy được gọi là Tuần
Dương Hạm hay Hộ Tống Hạm, nhưng thật ra chỉ là loại tuần
duyên (Coast Guard) hay tàu rà ḿn của Hoa Kỳ. HQ-4 nguyên
là một Khu Trục Hộ Tống Hạm được trang bị radar pḥng
không tối tân (DER - destroyer Escort Radar). Vũ khí chính
là hai giàn đại pháo 76.2 ly có radar kiểm xạ (radar
control) với khả năng tự ḍ t́m góc độ và tầm xa để "khóa
chặt" (lock on) mục tiêu. Đó là nói về loại DER nguyên
thủy của Hải Quân Hoa Kỳ, nhưng khi chuyển giao cho Hải
Quân Việt Nam, những trang bị tối tân đều đă bị tháo gỡ
hay không c̣n xử dụng được nữa v́ thiếu bảo tŕ hoặc cơ
phận thay thế. Tuy hai khẩu đại pháo 76.2 ly, một tại sân
trước và một tại sân sau vẫn c̣n, nhưng hệ thống kiểm xạ
đă bất khiển dụng nên các vũ khí chính mất đi rất nhiều
hiệu quả. Nếu các khẩu súng 76.2 ly c̣n chính xác và bắn
nhanh như khi được đài kiểm xạ điều khiển giống như trong
hải quân Hoa Kỳ, HQ-4 dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiệm của
Hạm Trưởng Vũ Hữu San đă bắn hạ dễ dàng các chiến hạm
Trung Cộng. Nhưng rất tiếc, vào thời điểm năm 1974 khi Hoa
Kỳ đă phủi tay và cuộc chiến tại Việt Nam gần tàn, khả
năng tác chiến của HQ-4 đă giảm sút nhiều mặc dù thủy thủ
đoàn rất thiện chiến. Một điểm khá bất lợi nữa là HQ-4
ngoài hai khẩu 76.2 ly, không có đại bác 40 ly bắn nhanh.
Trong một trận hải chiến khi mục tiêu chỉ các trên dưới
một hải lư, một dàn 40 ly bắn nhanh sẽ có lợi thế hơn một
khẩu 76.2 ly bắn chậm.
Nhưng dù với những bất lợi nói trên, dưới quyền chỉ
huy sáng suốt, kinh nghiệm của Hạm Trưởng Vũ Hữu San cùng
sự quả cảm, gan dạ của thủy thủ đoàn, HQ-4 đă xứng đáng
mang danh Khu Trục Hạm. Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ
vào tàu địch, hai khẩu đại bác 76.2 ly đă chuẩn-bị từ lâu,
khai hỏa chính xác trúng ngay tàu địch lúc đó nằm trong
khoảng cách 1,600 yards. Chỉ trong ṿng vài phút đầu,
chiếc Kronstadt 271 là soái hạm của hải đội Trung Cộng đă
bị bắn cháy không c̣n khả năng tác chiến. Có nguồn tin nói
rằng chiếc tàu này sau đó phát nổ và đă bị ch́m. Nhưng
cũng như những chiến hạm đồng đội khác, HQ-4 là một mục
tiêu khá lớn cho tàu địch nên cũng bị trúng nhiều vết đạn.
Tuy-nhiên các máy móc chính, nhất là hệ thống truyền tin
vẫn trong t́nh trạng khiển dụng tốt. Đặc biệt, Trung Tá
San cho biết v́ HQ-4 là một chiến hạm khá lớn có nhiều
tầng nên được trang bị một hệ thống quạt hút khổng lồ để
các tầng bên dưới bớt nóng. Khi tác chiến, một viên đạn
địch khi phát nổ đă thổi bay hệ thống quạt hút khổng lồ
này. Tuy nhiên, những thiệt hại của HQ-4 được coi là nhẹ
so với các chiến hạm bạn khác và vẫn c̣n khả năng tác
chiến.
Trên soái hạm HQ-5, khi lệnh tác chiến được ban
hành, các ổ súng nổ ḍn dă hướng về tàu địch. Trong lúc
tác chiến, Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, lo
việc vận chuyển chiến hạm để vào vị trí tác xạ hữu hiệu
nhất cũng như để tránh các vùng san hô, đá ngầm nguy hiểm
trong khi Hạm Phó và Sĩ Quan Hải Pháo lo việc chỉ huy tác
chiến.Mục tiêu của HQ-5 là chiếc Kronstadt mang số 274 mặc
dầu chống trả mănh liệt nhưng bị hư hại nặng v́ trúng
nhiều đạn 40 ly và 20 ly nên bị loại ra khỏi ṿng chiến.
Để dễ bề lẩn tránh, tàu địch phun ra một màn khói ngụy
trang khiến HQ-5 khó nhận biết chính xác mục tiêu. Tuy
nhiên, bị trúng đạn quá nặng, chiếc Kronstadt này bắt buộc
phải ủi vô bờ san hô phía Nam đảo Quang Ḥa để tránh bị
ch́m. Tuy đă loại được đối thủ, nhưng t́nh trạng tác chiến
của HQ-5 cũng không mấy khả quan. Tới khoảng 10 giờ 50
sáng tức là vào phút thứ 25 của trận chiến, tất cả các ổ
súng lớn trên chiến hạm đều bị trở ngại tác xạ không bắn
được, ngoại trừ khẩu đại bác 40 ly bên tả hạm do Thượng Sĩ
Tài làm trưởng khẩu. Như vậy, nguyên hông phải của chiến
hạm không c̣n trọng pháo để bảo vệ. Nguy hiểm hơn nữa, các
chiến hạm c̣n lại của Trung Cộng tập trung lực lượng nhắm
vào HQ-5 như để trả thù cho đồng bọn. Tuy bị bao vây và
bắt đầu bị trúng nhiều đạn địch, khẩu đại bác 40 ly độc
nhất c̣n lại phản pháo ác liệt khiến địch phải chùn lại.
Trung Tá San cho biết cũng trong lúc đó, các chiến hạm
VNCH quan sát thấy có bốn lượng sóng lớn trắng xóa đang
tiến tới từ hướng Đông Bắc với vận tốc rất nhanh và có tin
các phi tiễn đĩnh loại Komar của địch đang trên đường đến
tiếp viện. Trước t́nh thế bất lợi, vả lại các chiến hạm
chính của địch tham chiến cũng đă bị hư hại, Đại Tá Hà Văn
Ngạc, SQ/CHCT đă ra lệnh cho các chiến hạm VNCH rời vùng
giao tranh để bảo toàn lực lượng.
Khi rời khỏi vùng giao tranh vào khoảng 11 giờ sáng
ngày 19/1, hải đội VNCH cũng chia làm hai cánh. HQ-16 v́
hoạt động ở khu phía Bắc và đă bị thiệt hại khá nặng có
nguy cơ bị ch́m nên đă đổi đường ngược lên phía Bắc, hướng
về đảo Hoàng Sa rồi sau đó di chuyển về hướng Tây nhắm về
Đà Nẵng. Trong khi đó phân đội Nam gồm HQ-4 và HQ-5 hải
hành về hướng Đông Nam. Phía Trung Cộng cũng không c̣n sức
để đuổi theo v́ tất cả các chiến hạm tham chiến đều đă bị
ch́m hay lên cạn. Theo Hải Đội Trưởng Hà Văn Ngạc sau này
cho biết, phân đội Nam đi về hướng Đông Nam để có thể đến
căn cứ Hải Quân Subic Bay yêu cầu Hoa Kỳ sửa chữa nếu cần.
Khoảng ba tiếng đồng hồ sau, vào lúc 2 giờ 15 phút,
phân đội Nam gồm HQ-4 và HQ-5 nhận được lệnh của Đề Đốc
Trần Văn Chơn, Tư Lệnh HQVNCH lúc đó có mặt tại Đà Nẵng,
quay trở lại cố thủ tại Hoàng Sa. Các chiến hạm liền đổi
đường về hướng Tây Bắc trở lại vùng đă xảy ra trận hải
chiến hồi sáng. khi đă gần tới Hoàng Sa, vào lúc 5 giờ 20
chiều, lệnh cố thủ được hủy bỏ, phân đội Nam được lệnh trở
về Đà Nẵng. Về lệnh "cố thủ" này, Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm
Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đă viết trong bài
nói chuyện kỷ niệm 24 năm trận hải chiến Hoàng Sa, đọc tại
San José vào ngày 17 tháng 1 năm 1998 nguyên văn như sau:
"Sau Hoàng Sa 24 năm, chúng tôi c̣n sống và vẫn
đi t́m trong mấy chục triệu sách thư viện nhưng cho đến
nay, đă không thể nào t́m thấy được cái lư tưởng nào cao
xa hơn được biểu lộ qua h́nh ảnh Khu Trục Hạm Trần Khánh
Dư HQ-4 và Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-5 tuân hành
quân lệnh chuẩn bị lên cạn phơi xác ḿnh. Quân lịnh như
núi! Lịnh này đúng hay sai cũng là lệnh! Đến chiều tối,
lệnh hải hành rời bỏ Hoàng Sa mới được ban ra và chúng tôi
các chiến hạm mang đầy vết thương vẫn c̣n đang rỉ máu,
được về Đà Nẵng để lo mai táng cho các bạn đă hy sinh, đưa
đồng đội bị thương vào quân y viện và sửa chữa chiến hạm .
. .".
Những lời nói hào hùng đầy khí tiết của Trung Tá San
tưởng đă diễn tả quá đủ tinh thần chiến đấu bảo vệ lănh
thổ, v́ nước quên ḿnh của các chiến sĩ HQ/VNCH. Mới đây,
chúng tôi được hân hạnh phỏng vấn vị cựu TL/HQ/VNCH. Đề
Đốc Chơn cho biết về lệnh "quay trở lại Hoàng Sa" như sau:
"V́ sau trận hải chiến, hệ thống truyền tin của các
chiến hạm không được toàn hảo nên tôi không biết rơ t́nh
h́nh tại Hoàng Sa do đó đă ra lệnh cho các chiến hạm trở
lại để bảo vệ lănh thổ. Khi hệ thống truyền tin được sửa
chữa xong, tôi biết rơ hơn về t́nh trạng các chiến hạm nên
đă ra lệnh trở về Đà Nẵng."
Đến ngày 20 tháng 1, các chiến hạm HQ/VNCH về tới Đà
Nẵng. HQ-4 và HQ-5 cập cầu Thống Nhất tại bến thương cảng
hối 7 giờ 30 sáng. Riêng Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt
HQ-16 được Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-6 hộ tống cập
cầu Tiên Sa thuộc BTL/V1DH vào lúc 10 giờ sáng.
VIII. TỔNG KẾT THIỆT HẠI ĐÔI BÊN
1. PHÍA VIỆT NAM CỘNG H̉A
Thiệt hại về phía HQ/VNCH được ghi nhận ở mức trung
b́nh, gồm 1 chiến hạm bị ch́m và 3 chiếc khác bị hư hại.
Về phần nhân mạng, số tử thương và bị thương tương đối
nhẹ.
Ngoài ra, c̣n một số binh sĩ và nhân viên dân chính
bị bắt giữ vào ngày 20/1/74 khi phi cơ và chiến hạm Trung
Cộng oanh, pháo kích rồi cho quân đổ bộ lên các đảo. Nhóm
tù binh này gồm 14 nhân viên thuộc HQ-4 được đổ bộ lên đảo
Cam Tuyền vào khoảng 10 giờ sáng ngày 18/1 và 34 binh sĩ
Địa Phương Quân cùng nhân viên khí tượng, trong số này có
một nhân viên dân chính Hoa Kỳ tên Gerald Emil Kosh. Những
người bị bắt bị đưa về đảo Hải Nam vào ngày 21/1 và sau
cùng b́ giam tại nhà lao Thu Dung thuộc tỉnh Quảng Châu.
Năm thương bệnh binh được trao trả vào ngày 31/1 tại cầu
Shumchum là ranh giới giữa Hồng Kông và tỉnh Quảng Đông.
Sau 27 ngày bị giam giữ, trước sự đ̣i hỏi hợp lư quả VNCH
và dưới áp lực của giới ngoại giao cũng như hội Hồng Thập
Tự quốc tế, Trung Cộng đă phải phóng thích toàn bộ số 43
tù binh c̣n lại.
Sau đây là chi tiết về những thiệt hại về phía
HQ/VNCH:
a. Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10
Đây là chiến hạm nhỏ nhất và có hỏa lực yếu nhất
trong số các chiến hạm VNCH tham chiến. Ngoài ra, t́nh
trạng kỹ thuật c̣n không được khả quan khiến HQ-10 lại
càng thêm bất lợi. Khởi đầu trận chiến, trong lúc hai
chiến hạm Trung Cộng 389 và 396 dồn hỏa lực vào HQ-16 là
chiến hạm lớn hơn, HQ-10 đă tận dụng hỏa lực cơ hữu bắn
cháy mục tiêu được chỉ định là chiến hạm Trung Cộng mang
số 396, sau đó c̣n bắn trúng đài chỉ huy và hầm máy khiến
chiếc 389 bị tê liệt không c̣n vận chuyển được nữa. Tuy
nhiên, HQ-10 cũng bị bắn trúng đài chỉ huy khiến Hạm
Trưởng bị tử thương, hệ thống truyền tin bị tê liệt và hầm
máy bị cháy. V́ vậy, đă có lúc Hộ Tống Hạm Việt-Nam HQ-10
và Trục-lôi-Hạm Trung-Cộng T-389 trôi nổi không kiểm soát
được trên mặt biển, đă đụng vào nhau. Khi các chiến hạm
VNCH rời trận chiến vào khoảng 11 giờ sáng, HQ-10 vẫn c̣n
trôi nổi trong vùng. Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, hai
chiến hạm Kronstadt của Trung Cộng mang số 281 và 282 vừa
nhập vùng, dùng hải pháo tác xạ dữ dội vào HQ-10 không c̣n
tự vệ được nữa. Măi tới khoảng 3 giờ chiều, HQ-10 mới bị
ch́m. Tài liệu của Trung Cộng nói rơ về trường hợp HQ-10
như sau: "Trong lúc hải chiến ác liệt, tuy Hộ Tống Hạm
(HTH) Nhựt Tảo của VNCH bị trọng thương, nhưng
Trục-lôi-hạm 389 (T-389) cũng bị chiến hạm VNCH bắn hư hại
nặng. Đài chỉ hủy hoàn toàn bị tiêu hủy, thủy thủ đoàn
nhiều người chết và bị thương. Tuy nhiên những nhân viên
c̣n lại vẫn không sợ chết, kiên tŕ giữ vững vị trí chiến
đấu. V́ hầm chứa đạn bị bắn trúng thủng một lỗ lớn, một
thủy thủ tuy đă bị thương nặng ở bụng và hai đầu gối nhưng
vẫn cởi quần áo nhét vào lỗ thủng và tiếp đạn cho tới lúc
chết tại chỗ. Hầm máy cũng bị bắn trúng nên bị cháy dữ
dội, khiến tàu vô nước bị nghiêng, không c̣n dưỡng khí
khiến cơ khí phó và 5 cơ khí viên tử trận tại chỗ. T-389
và HTH Nhựt Tảo đều bị thương nặng, không tự điều khiển
được nên trôi lại gần, có lúc đụng cả vào nhau. Dân quân
trên T-389 có lúc đă dùng đại liên và lựu đạn để tấn công
HTH Nhựt Tảo v́ khoảng cách đôi bên quá gần.
Trong lúc đó, TDH Lư Thường Kiệt ở phía bên ngoài
tác xạ dữ dội vào T-389. Tuy bị thương nặng, hầm máy bị
cháy có thể phát nổ bất cứ lúc nào, Trục-Lôi-Hạm (TLH) 389
vẫn chống trả mănh liệt. V́ sợ bị bắn trúng, TDH Lư Thường
Kiệt rời vùng hải chiến, vận chuyển ra hướng ngoài biển.
Thấy TDH Lư Thường Kiệt bỏ đi, các chiến hạm VNCH Trần
Khánh Dư và Trần B́nh Trọng cũng rời vùng. Riêng HTH Nhựt
Tảo v́ bị hư hại nặng chỉ c̣n trôi trên mặt biển nên bị bỏ
lại không c̣n đủ sức tự vệ. Lúc đó, hai chiến hạm TC tăng
viện là Kronstadt 281 và 282 thuộc phân đội chống tàu ngầm
74 do phân đội trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy cũng vừa tới
vùng vào hồi 11 giờ 49 liền mở cuộc tấn công. HTH 281 tiến
gần HTH Nhựt Tảo, tất cả mười họng súng đều khai hỏa vào
mục tiêu rơ ràng không c̣n tự vệ được. Đến 2 giời 52 phút
chiều ngày 19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo bị ch́m tại vị trí
chừng hai hải lư rưỡi về phía nam của băi san hô
Antelope."
Một số nhân chứng từ các chiến hạm bạn quan sát c̣n
cho biết chiếc máy chánh duy nhất c̣n lại có lẽ cũng bị hư
hại nên HQ-10 không thể vận chuyển được nữa, do đó chiến
hạm đă bị tàu địch bắn ch́m. Số nhân viên c̣n lại gồm 23
người, trong đó có Hạm Phó lúc đó bị trọng thương đă xuống
4 chiếc bè cấp cứu đào thoát. Trong lúc trôi dạt trên biển
cả, vị Hạm Phó và một nhân viên khác từ trần nên đă được
thủy táng. Sau bốn ngày ba đêm lênh đênh trên đại dương
không đồ ăn và nước uống, nhóm thủy thủ gặp nạn được chiếc
tàu dầu SKOPIONELLA của công ty Shell trên đường đi từ
Hồng Kông đến Singapore vớt tại vị trí các Đà Nẵng chừng
150 hải lư về hướng Đông.
b. Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt HQ-16
HQ-16 thuộc Phân Đội Bắc cùng với HQ-10 nên cũng bị
thiệt hại khá nặng. Trong lúc dùng các khẩu hải pháo 127
ly và 40 ly loại chiếc tàu Trung Cộng mang số 389 ra khỏi
ṿng chiến, HQ-16 cũng bị trúng đạn. Hầm đạn 127 ly phía
trước mũi bị trúng đạn khiến nước tràn vào mỗi khi mũi tàu
chúc xuống nên sau đó đă phải cô lập. Một máy điện bị bắn
hư và giây điện đứt làm hệ thống điện khiến hầm máy chỗ
nào cũng bị điện giật, do đó nhân viên cơ khí và điện khí
phải di tản. Nguy hiểm hơn cả là hông tàu ngang hầm máy
chánh tả bị thủng một lỗ lớn ngay tầm nước khiến nước biển
tràn vào như thác lũ. Chiến hạm mỗi lúc một nghiêng thêm
về bên trái và có nguy cơ bị ch́m nếu không bịt được lỗ
thủng. Nhưng sau cùng, nhờ sĩ quan cơ khí trưởng là Đại Úy
Trần Văn Hiệp điều động nhân viên pḥng tai và cơ khí cô
lập được hầm máy tả, chiến hạm vẫn tự vận chuyển được dù
chỉ c̣n máy chánh hữu. V́ hầm đạn đă bị cô lập khiến khẩu
127 ly không c̣n bắn được nữa, ngoài ra chỉ c̣n một máy và
v́ tàu bị mất điện hoàn toàn nên hệ truyền tin và tay lái
điện cũng bị tê liệt. V́ Các tàu địch lúc đó cũng đă bị
cháy hay bị ch́m, nên HQ-16 rời ṿng chiến, di chuyển về
hướng Bắc để giữ an toàn.
Riêng toán nhân viên 15 người thuộc HQ-16 do Hải
Quân Trung Úy Lâm Trí Liêm chỉ huy đổ b lên đảo Cam Tuyền
(Robert) vào ngày 17-1 đă bị mất liên lạc với chiến hạm
sau trận hải chiến nên phải tự rút khỏi đảo bằng xuồng cao
su. Sau 10 ngày lênh đênh trên biển cả, những người này đă
được ghe đánh cá cứu thoát đưa về Qui Nhơn nhưng có một
người bị chết v́ kiệt lực, đó là Hạ Sĩ Nhất Quản Kho
Nguyễn Văn Duyên. Toán đổ bộ 15 người này sau đó đă được
đặc cách thăng một cấp.
c. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4
Là chiến hạm có thủy-thủ-đoàn thiện-chiến với hai
đại bác 76 ly nên HQ-4 tiêu diệt mục tiêu không mấy khó
khăn. Theo báo cáo, soái hạm địch là chiếc chiếc Kronstadt
271 đă bị HQ-4 bắn cháy, sau đó phát nổ và ch́m ngay từ
những phút đầu của cuộc hải chiến. Tuy nhiên, trong
hải-chiến tương-đối ngắn ngủi đó, HQ-4 cũng bị trúng nhiều
phát đạn của địch quân. Thiệt hại về nhân mạng không đáng
kể; thiệt hại vật chất trên chiến hạm được ghi nhận tới
gần ngàn vết đạn đủ loại. Tưởng cũng nên nói thêm, v́ cấp
chỉ huy Trung Cộng và t́nh-báo Quân-Ủy Trung-Ương của họ
lầm tưởng HQ.4 là soái hạm của Hải Đội VNCH nên đă bị hai
chiến hạm TC 271 và 274 dùng toàn lực tấn công ngay từ
phút đầu.
Trong số các chiến hạm HQ/VNCH tham chiến, tuy về
mặt vỏ tàu bị nặng nhất nhưng về kỹ-thuật, HQ-4 chỉ thiệt
hại tương đối nhẹ nhàng nhờ nhân-viên pḥng-tai ưu-hạng
của chiến-hạm [9].
Hai khẩu trọng pháo 76 ly trở ngại v́ không có radar
khiển-pháo, vẫn tác xạ đều trong lúc tác chiến. Máy chánh,
máy điện và hệ thống truyền tin khiển dụng tốt. HQ-4 sau
khi hàn gắn vỏ tàu, coi như vẫn c̣n đầy đủ khả năng tác
chiến.
d. Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng HQ-5
HQ-5 là nơi HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, SQ/CHCT đặt bộ
tham mưu nên được coi là soái hạm. Theo bản báo cáo hậu
hành quân, tất cả hỏa lực của HQ-5 tập trung vào chiếc
Kronstadt mang số 274. Không bao lâu, mục tiêu bị bốc cháy
v́ trúng nhiều đạn 40 ly và 20 ly. Tàu địch phải ủi vào
băi san hô sát đảo Quang Ḥa để khỏi bị ch́m, do đó coi
như bị hư hại hoàn toàn. Về phần HQ-5 cũng bị trúng đạn
nhiều nơi, các ổ trọng pháo chính 127 ly và 40 ly đôi
trước mũi cũng bị trở ngại tác xạ, chỉ c̣n khẩu 40 ly bên
tả hạm xử dụng được. Chính khẩu súng này đă bắn chặn không
cho các tàu địch tới gần.
Thiệt hại về nhân mạng trên HQ-5 gồm 1 sĩ quan chết,
3 bị thương; hạ sĩ quan 2 chết 4 bị thương; đoàn viên 9 bị
thương. Tổng cộng 3 chết 16 bị thương. Về vật chất, nhiều
kho pḥng, máy móc và hệ thống giây, ống bị trúng đạn. Lửa
bốc cháy cũng như nước tràn vào tại nhiều nơi trên chiến
hạm. Nhân viên pḥng tai và toán hải kích tăng phái đă xử
dụng tối đa phương tiện cơ hữu để cứu thủy và cứa hỏa. Hạm
Trưởng đă ra lệnh làm ngập nước hầm đạn 127 ly để tránh
đạn phát nổ v́ kho điện tử và kho cơ khí bị bốc cháy. Tuy
bị hư hại khá trầm trọng nhưng HQ-5 không gặp nguy cơ bị
ch́m hay bị tiêu hủy v́ cơ khí trưởng là Thiếu Tá CK Trần
Đắc Nguyền là một sĩ quan nhiều kinh nghiệm đă đắc lực
điều động nhân viên dập tắt các đám cháy, bít các lỗ thủng
và sửa chữa cá máy móc hư hỏng. Do đó, chỉ sau một thời
gian ngắn, HQ-5 đă trở về t́nh trạng hoạt động gần như
b́nh thường.
2. PHÍA TRUNG CỘNG
Về thiệt hại, tài liệu Trung Cộng cho biết: "Tuy
nhiên, chiến thắng nào cũng phải trả giá. Về phía TC, tổng
cộng có 18 người tử trận trong số này 1 Hạm Trưởng và 67
người khác bị thương. T-389 bị hư hại nặng, nếu không kịp
ủi vào băi san hô chắc chắn sẽ bị ch́m. Ba chiến hạm khác
đều bị trúng đạn, thiệt hại trung b́nh".
Trên thực tế cả 4 chiến hạm Trung Cộng trực tiếp
tham chiến đều bị trúng đạn hư hại nặng, hoặc bị ch́m hoặc
phải ủi băi san hô để tránh bị ch́m. Bằng chứng là HQ-10
tuy nhân viên đă đào thoát hết, chỉ c̣n là một xác tàu
trôi nổi, nhưng các chiến hạm Trung Cộng tham dự trận đánh
đă không c̣n khả năng tác chiến, phải đợi đến 4 tiếng đồng
hồ sau, hai chiến hạm tăng viện là Kronstadt 281 và
Kronstadt 282 vừa tới mới bắn ch́m được chiến hạm VNCH. Về
phần nhân mạng, tài liệu của Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sĩ
(chưa được phối kiểm) cho biết cả 4 Hạm Trưởng các chiến
hạm TC gồm 3 Đại Tá và 1 Trung Tá đều bị tử thương. Ngoài
ra, BTL mặt trận gồm 1 Đô Đốc, 4 Đại tá, 6 Trung Tá, 2
Thiếu Tá và 7 sĩ quan cấp úy cũng bị tử thương. Chúng tôi
rất dè dặt khi loan tin này, v́ tác giả Trần Đại Sĩ không
cung cấp rơ ràng xuất sứ của nguồn tin trên. Hơn nữa, các
chiến hạm TC đều thuộc loại nhỏ, thủy thủ đoàn không quá
trăm người, nên Hạm Trưởng mang cấp bậc Đại Tá là điều hăn
hữu.
IX.THÁI ĐỘ VÀ PHẢN ỨNG CỦA HOA KỲ
Vào ngày 19 tháng 1, ngay sau khi xảy ra trận hải
chiến tại Hoàng Sa, một nhân viên giao tế thuộc Bộ Ngoại
Gia Hoa Kỳ là ông John F. King tuyên bố chính thức tại Hoa
Thịnh Đốn: "Hoa Kỳ không nghiêng về phe nào, tuy nhiên
chúng tôi rất muốn có một sự giàn xếp ôn ḥa". Khi trả lời
câu hỏi của các phóng viên, ông King nói tiếp: "Hoa Kỳ
không dính dáng ǵ đến việc tranh chấp tại Hoàng Sa". Như
vậy, ít nhất về mặt ngoại giao, Hoa Kỳ đă chọn thái độ
trung lập.
Sang ngày 21 tháng 1, Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ cho biết
đă chỉ thị cho Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đang hoạt động tại
vùng Thái B́nh Dương không được can dự vào các trận đánh
giữa VNCH và Trung Cộng để dành quyền kiểm soát quần đảo
Hoàng Sa. Trong lúc đó, nguồn tin UPI từ Sài G̣n cho biết
chính Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin cũng đă từ chối lời yêu
cầu của chính phủ VNCH, không chịu cung cấp chiến hạm và
phi cơ trực thăng tiếp cứu những thủy thủ Việt Nam và một
người Mỹ lâm nạn. Tại Hoa Thịnh Đốn, phát ngôn viên Bộ
Quốc Pḥng Hoa Kỳ, ông Jerry W. Friedman tuyên bố không
hay biết ǵ về lời yêu cầu trợ giúp này. Nguồn tin AP rơ
ràng hơn, cho biết chính phủ VNCH đă yêu cầu Đệ Thất Hạm
Đội cho chiến hạm và phi cơ trực thăng t́m kiếm thủy thủ
đoàn của một chiến hạm Việt Nam đă bị ch́m tại Hoàng Sa.
Khi được hỏi về việc có một người Mỹ cũng bị mất
tích tại Hoàng Sa, ông King giải thích: "người Mỹ này là
một nhân viên dân chính làm việc cho cơ quan DAO tại Sài
G̣n và đă ra Hoàng Sa theo lời mời của vị Tư Lệnh Hải Quân
tại Đà Nẵng. Cuộc hành tŕnh này là một chuyến viếng thăm
thông thường dự trù trong 3 ngày và đă được xếp đặt trước
khi có đụng độ". Ông cũng cho biết không có tin tức ǵ về
số phận của người Mỹ này.
Ngày 22 tháng 1, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger
chính thức lên tiếng từ chối không chịu bênh vực phe nào
trong cuộc tranh chấp tại Hoàng Sa. Ông Kissinger cũng nói
Hoa Kỳ "rất tiếc đă có vụ đụng độ quân sự tại Hoàng Sa".
Trong buổi họp báo. Ngoại Trưởng Hoa Kỳ cho biết ưu tiên
hiện tại chưa hẳn là vấn đề thiết lập quan hệ ngoại giao
với Bắc Kinh, nhưng là việc đôi bên cộng tác chặt chẽ và
cải thiện mối giây liên lạc trên nhiều lănh vực khác
nhau".
Sang ngày 23 tháng 1, giới chức Hoa Kỳ cho biết
người Mỹ bị mất tích tại Hoàng Sa thuộc nhóm nhân viên dân
chính là việc cho Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ. Đây là nhóm "quan
sát viên" có nhiệm vụ theo dơi và báo cáo những hoạt động
và hiệu năng của quân đội VNCH.
Phát ngôn viên Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ giải thích:" Họ
không phải là cố vấn mà chỉ là các quan sát viên có nhiệm
vụ báo cáo về việc xử dụng cũng như hiệu năng của các
chiến cụ". Nhóm này chỉ có vào khoảng trên dưới mười người
và c̣n được gọi là những "liên lạc viên". Giới chức ngoại
giao tin tưởng rằng Hoa Kỳ đă không vi phạm đạo luật của
Quốc Hội ngăn cấm việc xử dụng quân lực Hoa Kỳ tại Việt
Nam và cũng không vi phạm thỏa hiệp Paris.
Theo nguồn tin ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ, người Mỹ mất tích
tên là Gerald Emil Kosh, 27 tuổi, quê quán tại
Lafayetteville, tiểu bang Pennsylvania, cựu Đại Úy lục
quân đă từng tham chiến tại Việt Nam và được tưởng thưởng
một huy chương với ngôi sao bạc và chiến thương bội tinh.
Phát ngôn viên Ṭa Đại Sứ c̣n cho biết thêm:" Ông Kosh
hiện là một nhân viên dân chính đă có mặt trên một chiến
hạm VNCH tham chiến tại Hoàng Sa. Sau một trận hải chiến
dữ dội, HQVN đă đưa ông này lên đảo Hoàng Sa để được an
toàn hơn. Nhưng ngày hôm sau, phi cơ Mig và chiến hạm
Trung Cộng oanh kích đảo và số phận của ông Kosh không
được biết từ đó". Riêng Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ vẫn không
tiết lộ ǵ nhiều về nhiệm vụ của ông Kosh, chỉ nói rằng
ông là nhân viên dân sự làm việc cho pḥng tùy viên quân
sự của Ṭa Đại Sứ tại Sài G̣n. Nguồn tin này không được
chính xác. Ông Kosh không có mặt trên chiến hạm VNCH v́
ông đă yêu cầu HQ-5 đưa lên đảo Hoàng Sa vào tối 18/1, một
ngày trước khi xảy ra trận hải chiến.
Cuối cùng, sau 10 ngày bị bắt giữ, ông Kosh được
Trung Cộng thả vào ngày 31 tháng 1 tại cây cầu Lo Wu, ranh
giới giữa Hương Cảng và tỉnh Quảng Đông.
X. KẾT LUẬN
Trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa giữa HQ/VNCH và
HQ/TC diễn ra trong ṿng 30 phút, một thời gian tương đối
ngắn ngủi, nhưng hậu quả c̣n kéo dài cho tới ngày nay. Sau
khi chiếm được Hoàng Sa, lực lượng TC tiến sâu hơn về phía
Nam, chiếm thêm một số đảo thuộc vùng Trường Sa. Hiện nay,
các đảo tại Hoàng Sa đă được cải tiến thành những căn cứ
quân sự quan trọng, có phi trường và cầu tàu khá tối tân.
Ngoài ra, TC cũng đă có quân đồn trú thường trực và xây
cất công sự pḥng thủ rất kiên cố trên nhiều hải đảo khác
tại Biển Đông. Tham vọng của Trung Cộng c̣n biểu lộ trắng
trợn hơn khi họ đơn phương vẽ lại bản đồ, đ̣i chủ quyền
hầu như trọn Biển Đông, có nơi chỉ cách bờ biển Việt Nam
vài chục hải lư. Mới đây TC lại ép Việt Nam kư thỏa ước
biên giới, chiếm thêm một số đất vùng thượng du, và quan
trọng hơn, một phần lănh hải trong vịnh Bắc Việt.
Trước sự lấn lướt của TC chính quyền Việt Nam hiện
tại ở trong thế bị động v́ vẫn c̣n nằm trong quĩ đạo của
TC và nhất là trước đây đă lên tiếng công nhận chủ quyền
của "người anh em xă nghĩa" tại Biển Đông. Nếu TC đạt được
tham vọng bành trướng của họ, trong tương lai không xa,
Việt Nam sẽ bị hoàn toàn khống chế và nằm dưới quyền sinh
sát của kẻ thù truyền kiếp. Dưới áp lực nặng nề của người
láng giềng không lồ đầy dă tâm phương Bắc, Việt Nam bắt
buộc phải cựa quậy bằng đủ mọi cách, kể cả việc mong được
nương tựa vào "đế quốc Mỹ" để khỏi bị nghẹt thở. Chính v́
vậy mà cách đây không lâu, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Việt Nam
Trần Văn Trà đă chính thức thăm viếng Hoa Kỳ, và chiến hạm
Vandergrift của HQ Hoa Kỳ cũng ghé bến Sài G̣n. Đây là
những "đ̣n gió" của HK và VN ngầm nhắn TC hăy tự chế, nếu
không có thể đụng độ với liên minh quân sự Việt - Mỹ.
Tuy nhiên, chính sách "đi giây", ngả bên này nghiêng
bên kia để sống c̣n cũng không phải là kế lâu dài. V́ dựa
vào "đế quốc" hay "ông thầy vĩ đại" rút cục cũng vẫn phải
chịu thân phận tôi đ̣i, sớm muộn ǵ cũng bị chủ nhân bắt
nạt. Chỉ khi nào dân Việt được Tự Do làm chủ vận mệnh của
ḿnh, đất nước mới hy vọng tiến bộ phú cường khiến thế
giới kính nể, lúc đó Việt Nam mới có cơ hội nói chuyện
ngang hàng lân bang, đ̣i lại quyền lợi chính đáng của ḿnh
trên Biển Đông.
Trần Đỗ Cẩm
(Austin, Texas tháng 1/2004)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điạ Lư Biển Đông Với Hoàng Sa và Trường Sa (Vũ Hữu
San)
2. Hạm Đội Hải Quân QLVNCH (Bảo Biển)
3. Lướt Sóng số đặc biệt "Chiến Thắng Hoàng Sa"
4. Đặc San CQN/HQ/VNCH số đặc biệt Hoàng Sa
5. Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa (Hà Văn Ngạc)
6. Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt Và Trận Hải Chiến Hoàng
Sa (Đào Dân)
7. Lần Đào Thoát Ở Hoàng Sa (Nguyễn Đông Mai)
8. Tài Liệu từ các Websites Trung Cộng.
Đặc-tính Hộ-Tống-Hạm Kronstadt của TC.
Đặc-tính Trục-Lôi-Hạm T 43 của TC.
TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA
THEO TÀI LIỆU TRUNG CỘNG
Trần Đỗ Cẩm
- Kính tặng thủy thủ đoàn các chiến hạm
HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 HQ/VNCH
đă anh dũng tác-xạ vào tàu địch
trong trận hải chiến lịch sử lẫy lừng nhất
của quân sử HQ/VNCH.
- Kính dâng hương hồn các tử sĩ Hoàng Sa.
MỞ ĐẦU
Trận hải chiến giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa
(HQ/VNCH) và Hải Quân Trung Cộng (HQ/TC) tại quần đảo
Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19 tháng 1 năm 1974, t́nh đến nay
đă được tṛn 30 năm. Ngay sau đó, phát ngôn viên quân sự
VNCH đă công bố một số chi tiết liên quan tới trận hải
chiến. Báo chí tại Miền Nam Việt Nam cũng viết nhiều bài
tường thuật dựa theo nguồn tin chính thức. Riêng Bộ Tư
Lệnh Hải Quân VNCH đă dành riêng một số báo Lướt Sóng viết
về biến cố quan trọng này.
Gần đây tại hải ngoại, một số các nhân chứng trực
tiếp tham dự cũng đă viết nhiều bài khá trung thực và giá
trị. Tuy nhiên đa số những bài viết kể trên đều căn cứ vào
tài liệu và quan điểm của VNCH. V́ cần phù hợp với t́nh
h́nh chính trị và đường lối uyển chuyển trên lănh vực
ngoại giao vào thời điểm 1974, một số chi tiết quan trọng
đă không được tiết lộ chính xác. Điển h́nh, phát ngôn viên
quân sự VNCH trong một cuộc họp báo chính thức cho biết
các chiến hạm TC đă nổ súng trước nên phía VNCH phải bắn
trả để tự vệ. Thật ra, nhiều nhân chứng có mặt tại chỗ đă
xác nhận trong những bài viết sau này, chính các chiến hạm
VNCH đă nổ súng trước để đánh đuổi bọn xâm lăng. "Giặc đến
nhà th́ phải đánh", hành động đầy chính nghĩa, hợp lư và
hợp pháp này nếu chưa thích hợp để công bố vào năm 1974,
th́ bây giờ rất cần làm sáng tỏ để chứng minh người Việt
Nam, nhất là HQ/VNCH dù phải đối đầu với quân xâm lược
mạnh hơn gấp bội, vẫn không ngần ngại nổ súng để bảo vệ bờ
cơi.
Tuy nhiên, dù đă có nhiều bài viết về trận hải chiến
Hoàng Sa, thiết tưởng việc tường thuật trung thực vẫn
không thể đầy đủ nếu thiếu phần tài liệu của "phía bên
kia" tức là TC. Vào thời điểm 1974, v́ có sự cách biệt quá
lớn về ư-thức-hệ giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản nên những
tin tức trao đổi giữa đôi bên rất giới hạn. Hầu như những
tin tức từ phía Cộng Sản đều bị chế độ độc tài đảng trị cố
t́nh ngăn chặn bởi bức "màn sắt", "màn tre" nên khó lọt ra
ngoài. Thảng hoặc, nếu có chi tiết nào cố t́nh được "Đảng
và Nhà Nước" công bố th́ cũng chỉ thuộc loại tuyên truyền
quá lố như "dân quân TC ḅ tới gần các chiến hạm VNCH ném
lựu đạn vào lỗ châu mai", v́ vậy chẳng có một giá trị nào
trong việc truy nhận sự thật. Rất may mắn, trong ṿng mấy
năm gần đây, cao trào Tự Do Dân Chủ đă khiến các nước khối
Cộng hoặc tự động bị tan ră như Nga Sô và một số quốc gia
Đông Âu. TC và VN cũng bắt buộc phải "đổi mới" để sống
c̣n. Dân chúng TC nhờ thế, đỡ bị "bịt mồm, bóp miệng", có
thể nói lên phần nào sự thật.
Lại nữa, phương tiện truyền thông qua mạng lưới điện
tử toàn cầu đă khiến việc trao đổi tin tức trở nên dễ dàng
hơn. Vả lại, trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra đă khá lâu,
khía cạnh tuyên truyền không c̣n được đặt nặng bằng nhu
cầu t́m hiểu sự thật. V́ vậy trong khoảng thời gian gần
đây, chúng tôi đă may mắn t́m được một số các tài liệu TC
liên quan tới trận hải chiến do chính những nhân chứng
tham dự thuật lại. Nh́n chung, tuy vẫn c̣n nặng mang hơi
hướm "Mao Chỉ Tịch", nhưng nếu gạn bỏ khía cạnh tuyên
truyền như đề cao dân quân quá đáng, che dấu thiệt hại,
dành phần thắng về ḿnh v.v…, chúng ta vẫn có thể t́m được
một số chi tiết khá giá trị. Khi tổng hợp những chi tiết
này với những tài liệu đă được công bố từ trước, chúng ta
có thể nh́n được khá gần sự thật.
Do đó, mục tiêu của bài này không phải tường thuật
lại những chi tiết liên quan tới trận hải chiến Hoàng Sa
là điều các tác giả khác đă viết khá chi tiết và đầy đủ.
Chúng tôi chỉ muốn bổ túc một số chi tiết về trận hải
chiến Hoàng-Sa dựa theo các tài liệu của TC mới sưu tầm
được để t́m hiểu một số quyết định quan trọng của họ liên
quan tới trận hải chiến như: kế hoạch lấn chiếm Hoàng Sa,
các chiến hạm tham chiến, diễn-tiến trận hải chiến,
hệ-thống chỉ-đạo, chiến lược chiến thuật, trường hợp hy
sinh bi hùng của Hộ Tống Hạm (HTH) Nhựt Tảo… Ngoài ra
chúng ta cũng có thể suy đoán được khá chính xác về những
thiệt hại của phía TC.
Để dễ theo dơi, tưởng cũng cần nhấn mạnh đa số những
điểm chính nêu lên trong bài này đều là những ghi nhận và
quan điểm căn cứ vào tài liệu và nhăn quan của TC. Phụ
thêm vào đó là một số nhận định riêng của người viết.
Khi đề cập tới những chiến hạm VNCH, phía TC thường
dùng tên hiệu như Tuần Dương Hạm (TDH) Lư Thường Kiệt, Khu
Trục Hạm (KTH) Trần Khánh Dư v.v…, trong khi các bài viết
của chúng ta lại hay sử-dụng chỉ số như HQ-16, HQ-4 thay
v́ tên hiệu như họ. Đây là sự khác biệt khá quan trọng. V́
bài viết này căn cứ vào tài liệu TC nên chúng tôi cũng xử
dụng tên hiệu của các chiến hạm VNCH để phần tường thuật
được nhất quán.
KẾ HOẠCH LẤN CHIẾM HOÀNG SA
Sau khi cưỡng chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite
Group) vào ngày 21 tháng 12 năm 1956, đến năm 1974, dùng
chính sách ngoại giao "bóng bàn" bang giao được với Hoa
Kỳ, TC đă chuẩn bị khá kỹ càng kế hoạch bành trướng tại
Biển Đông. Ngoài tầm quan trọng về mặt quân sự, với dân số
quá đông trên 1 tỷ người, TC cần tận dụng các tài nguyên
về ngư sản và khoáng sản tại vùng biển chưa được khai thác
này để sống c̣n. Người Mỹ lúc đó đă rút quân khỏi Việt Nam
và cũng đă có kế hoạch triệt thoái khỏi toàn vùng Đông Nam
Á bằng cách đóng cửa các cơ sở quân sự quan trọng tại Phi
Luật Tân như căn cứ Không Quân Clark Air Base, căn cứ Hải
Quân Subic Bay. Lo ngại rằng sự vắng mặt của ḿnh sẽ tạo
cơ hội tốt cho Nga Sô bành trướng nên Hoa Kỳ cũng muốn có
một lực lượng tương đối mạnh khả dĩ có thể thay thế họ
ngăn chặn và cầm chân lực lượng đối thủ chiến tranh lạnh
hàng đầu. TC đang có tham vọng bành trướng tại Biển Đông,
c̣n Hoa Kỳ muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Nga Sô tại vùng
này nên chúng ta không ngạc nhiên khi "kẻ cắp bà già" bắt
tay nhau, Hoa Kỳ đă ngầm thỏa thuận để TC ngang nhiên lấn
chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH và sau này tiến xa hơn
tới tận Trường Sa, cách lănh thổ TC cả ngàn cây số.
Để mở đầu kế hoạch lấn chiếm, trên mặt ngoại giao,
Bộ Ngoại Giao TC đột nhiên lên tiếng đ̣i chủ quyền tại
Hoàng Sa, đồng thời lén lút cho ngư thuyền vơ trang chở
quân lính giả dạng dân đánh cá đổ bộ lên một số đảo do
VNCH kiểm soát từ lâu trong vùng Hoàng Sa. Dự đoán thế nào
phía VNCH cũng phản ứng mạnh mẽ, chính phủ TC từ các giới
chức cao cấp nhất như Chủ Tịch Mao Trạch Đông đến Đặng
Tiểu B́nh, Châu Ân Lai và toàn bộ Quân Ủy Trung Ương đă
đồng thanh quyết định sẽ dùng biện pháp quân sự để đánh
chiếm Hoàng Sa từ tay VNCH nếu cần. Khởi đầu, họ đổ quân
lên các đảo, đồng thời cho tàu bè và chiến hạm khiêu khích
lực lượng VNCH. Nếu các chiến hạm VNCH lặng lẽ cúi đầu bỏ
đi như lời một viên chứa Hoa Kỳ tại Việt Nam đe dọa "nếu
các chiến hạm Việt Nam nổ súng tại Hoàng Sa, HQ/VNCH sẽ bị
xoá tên ngay", TC sẽ ngang nhiên chiếm Hoàng Sa theo chiến
thuật tiệm tiến "tầm ăn dâu" lấy từng đảo một như họ làm
tại Trường Sa sau này. Ngược lại, nếu VNCH tham chiến, dù
các HQ/VNCH có chiến thắng đánh ch́m tất cả các chiến hạm
TC tại chỗ nhưng vẫn không thể giữ được Hoàng Sa v́ lực
lượng tăng viện TC gồm nhiều chiến hạm tối tân và có cả
phi cơ tham chiến sẽ kéo tới đánh ch́m các chiến hạm VNCH
dễ dàng. V́ vậy, khi TDH Lư Thường Kiệt được phái ra Hoàng
Sa vào ngày 15 tháng 1 năm 1974 để thám sát, chính phủ TC
liền lập tức xử dụng phương tiện quân sự. Tài liệu TC tóm
lược kế hoạch lấn chiếm này như sau:
"Lo ngại VNCH điên cuồng khiêu khích để chiếm
Hoàng Sa, quân trên đảo báo cáo về Trung Ương và lập tức
được tŕnh lên thượng cấp. Các đồng chí Zhou Enlai và Phó
Chủ Tịch nhà nước Ye Jianying đệ tŕnh một kế hoạch phản
công bằng quân sự và được chủ tịch Mao Zedong mau chóng
chấp thuận. Kế hoạch này bao gồm việc tăng cường chiến hạm
tuần tiễu và dùng biện pháp quân sự để giữ đảo. Đồng chí
Đặng Tiểu B́nh cùng giới lănh đạo quân sự thảo kế hoạch
đánh chiến hạm địch, tái chiếm các đảo bị VNCH xâm lấn,
đồng thời kiểm soát hoàn toàn vùng Hoàng Sa."
Như vậy, chúng ta thấy rơ sách lược bành trướng tại
Biển Đông đă được TC chuẩn bị kỹ càng, khởi đầu bằng việc
gây hấn tiến chiếm Hoàng Sa. Đây là một quốc sách quan
trọng đă được hoạch định từ lâu nên trận hải chiến tại
Hoàng Sa đă được cố ư dự trù, tiên liệu, chuẩn bị và thiết
kế chu đáo. Về phía VNCH, trong lúc phải đối đầu trong
trận chiến một mất một c̣n với Việt Cộng trong nội địa,
việc tham chiến tại Hoàng Sa chỉ là một sự t́nh cờ, cũng
như TDH Lư Thường Kiệt HQ-16 ra Hoàng Sa với nhiệm vụ
chính chở phái đoàn Công Binh thám sát thiết lập phi
trường, t́nh cờ phát hiện ngư thuyền và quân TC trong
vùng. Sau đó, VNCH mới hối hả phái các chiến hạm khác ra
tăng cường. Đến đây tưởng cũng nên ghi nhận một điểm son
về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đă đích thân thăm
viếng BTL/HQ/V1DH để duyệt xét t́nh h́nh và ra lệnh bằng
thủ bút cho phép Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, TL/HQ/V1DH
được toàn quyền hành động, kể cả việc xử dụng vơ lực để
bảo vệ Hoàng Sa. Phó Đề Đốc Thoại đôi lúc cũng cảm thấy
đơn độc, đă thi hành đúng đắn chỉ thị của thượng cấp khi
ra lệnh "Khai Hỏa". Trong lúc chiến trường quốc nội gay go
sôi động, ngoài biển TC đe dọa lấn chiếm Hoàng Sa; hành
động "quyết chiến" đối đầu với kẻ thù truyền kiếp để bảo
vệ lănh thổ của vị nguyên thủ VNCH phải được coi là quyết
định lịch sử, có thể đem so sánh với thời "Hội Nghị Diên
Hồng". Sau đó, TL/HQ/V1DH và các chiến sĩ HQ/VNCH nhất
nhất tuân-hành quân lệnh do vị Tổng Tư Lệnh ban-hành,
chiến đấu rất anh dũng tại Hoàng Sa theo đúng truyền thống
chống ngoại xâm của tiền nhân Việt-tộc.
CÁC CHIẾN HẠM THAM CHIẾN
Khi các chiến hạm VNCH được phái tới Hoàng Sa, phía
TC cũng tăng cường lực lượng hải quân của họ. Lúc đầu chỉ
có 2 ngư thuyền vơ trang 402 và 407, sau đó thêm nhiều
chiến hạm nhập vùng.Về tổng số chiến hạm tham chiến, tài
liệu của TC ghi rất rơ ràng. Họ cho biết như sau:
"Ngày 17 tháng 1, Quân Ủy Trung Ương ra lệnh Hạm
Đội Nam Hải lập tức phái chiến hạm tuần tiễu tại Hoàng Sa,
đồng thời ra lệnh Quân Khu Hải Nam gửi quân lính theo tàu
ra giữ đảo. Theo lệnh Quân Ủy Trung Ương, quân khu Quảng
Châu ra lệnh Hạm Đôi Nam Hải phái hai Trục Lôi Hạm 396 và
389 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là T-396 và
T-389) thuộc Phân Đội Trục Lôi 10 căn cứ tại Quảng Châu và
hai Hộ Tống Hạm loại Kronstad 271 và 274 (ghi chú của
tác giả: tạm gọi tắt là K-271 và K-274) thuộc Phân Đội
chống Tiềm Thủy Đĩnh (TTĐ) 73 căn cứ tại Yulin, lên đường
ra Hoàng Sa vào các ngày 17 và 18 để tuần tiễu. Ngoài ra,
Quân Khu Hải Nam c̣n phái 4 Đại Đội Bộ Binh để chiếm đóng
các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Quang Ḥa. Thêm vào đó, Căn
Cứ Hải Quân Quảng Châu c̣n phái 2 chiến hạm K-281 và K-282
thuộc Phân Đội Chống TTĐ 74 tới Hoàng Sa sau đó làm lực
thành phần tiếp ứng. Toàn thể lực lượng được đặt dưới
quyền chỉ huy của Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam hải tên Wie Ming
Sen lúc đó có mặt tại can Cứ Hải Quân Yulin nằm vế phía
Nam đảo Hải Nam. Bộ Tư Lệnh Hành Quân được đặt trên soái
hạm K-271 thuộc Phân Đội 73. Về không yểm, quân khu Quảng
Châu ra lệnh Phi Đoàn 22 thuộc Hạm Đội Nam Hải cử 2 phi cơ
túc trực bao vùng, đồng thời yêu cầu Không Quân thuộc
Quảng Châu sẵn sàng yểm trợ. Nếu nh́n vào lực lượng Hải,
Không và Lục quân được phái ra Hoàng Sa, mọi người đều
thấy chúng ta chỉ đưa ra một lực lượng quân sự rất hạn chế
với mục đích bảo vệ Hoàng Sa chứ không phải tiêu diệt hạm
đội địch."
Khi phân đội K-271 và K-274 trên chở một Trung Đội
Bộ Binh tới vùng Hoàng Sa cũng là lúc hai KTH Trần Khánh
Dư và TDH Lư Thường Kiệt của VNCH đang săn đuổi và đe dọa
các ngư thuyền 402 (Nam Ngư 1) và 407 (Nam Ngư 2) của TC.
Các chiến hạm TC lập tức phản ứng bằng cách gửi tín hiệu
yêu cầu chiến hạm VNCH rời vùng. Tối 17 tháng 1, TDH Trần
B́nh Trọng (HQ-5) và HTH Nhựt Tảo (HQ-10) rời quân cảng Đà
Nẵng và tới Hoàng Sa vào buổi chiều ngày 18 tháng 1. Phía
TC dùng chiến thuật "khiêu khích", cho các ngư thuyền bám
sát chiến hạm VNCH để cản đường. Về những vận chuyển cắt
đường và những hành động khiêu khích trên biển, tài liệu
TC tường thuật như sau:
"Sáng ngày 18 tháng 1, sau khi tuần tiễu vùng
Hoàng Sa, các chiến hạm VNCH một lần nữa lại có những hành
động thù nghịch, tiến gần ngư thuyền 407 và dùng loa phóng
thanh đuổi ngư thuyền này ra khỏi vùng. Tuy phải đối diện
với tàu lớn và đại pháo, thuyền trưởng ngư thuyền 422 vẫn
không sợ hăi trả lời: “Đây là lănh hải Trung Quốc, các anh
phải rời xa ngay”. Phía VNCH có một sĩ quan đe dọa: “Nếu
các anh không lập tức rời vùng sẽ bị đánh ch́m”. Khi thấy
ngư thuyền 407 vẫn không bỏ đi, chiến hạm Trần Khánh Dư
trở nên giận dữ, dùng hết tốc lực đụng vào khiến pḥng lái
ngư thuyền 407 bị thủng một lỗ lớn. Lúc này toán chiến hạm
K-271 cũng nhập vùng, lại gửi tín hiệu yêu cầu các chiến
hạm VNCH rời khỏi vùng biển Hoàng Sa. Tới đêm 18 tháng 1,
t́nh h́nh rất căng thẳng, đôi bên canh chừng lẫn nhau
nhưng không có đụng độ."
Phía TC đă tả lại khá rơ ràng biến cố KTH Trần Khánh
Dư cố ư đụng vào ngư thuyền 407 khiến đài chỉ-huy bị
phá-hủy, pḥng lái bị thủng một lỗ lớn, nhưng chi tiết
"dùng hết tốc lực" có vẻ hơi quá đáng. Theo HQ Trung Tá Vũ
Hữu San, Hạm Trưởng KTH Trần Khánh Dư, cho biết lúc đó
, t́nh h́nh rất căng thẳng, các ngư thuyền TC cố ư vận
chuyển chận đường các chiến hạm VNCH, ngăn cản không cho
lại gần hải-đảo để bảo vệ quân TC trên đó. Thoạt đầu HQ.4
đă dùng mọi biện pháp "ḥa b́nh" đúng theo luật đi biển
yêu cầu họ rời khỏi lănh hải VNCH nhưng các ngư thuyền này
vẫn không bỏ đi.
Muốn t́m hiểu thêm về quyết định cố ư “đụng tàu” có
tính toán này, chúng ta cần biết rơ nhiệm vụ của
Hạm-Trưởng HQ.4 lúc bấy giờ. Theo đúng lệnh Hành-Quân, cho
tới ngày 18 tháng 1, Hạm Trưởng HQ-4 vẫn c̣n kiêm nhiệm
chức vụ Chỉ-Huy-Trưởng Hành Quân bảo-vệ quần-đảo Hoàng-Sa.
Để chu toàn trọng trách, chiến hạm VNCH phải đổ quân để
lấy lại các đảo đă bị quân TC chiếm đóng bất hợp pháp. V́
tàu TC đang tuần tiễu quanh các đảo có thể liều lĩnh đụng
ch́m hay bắn vào các xuồng đổ bộ nên trước hết phải t́m
cách cô lập hóa lực lượng yểm trợ này để bảo đảm an toàn
cho toán đổ bộ. Thượng cấp lại đă ra lệnh “chiếm lại các
đảo bằng biện pháp ḥa b́nh” trước khi xử dụng vũ lực. Do
đó Hạm Trưởng HQ-4 chỉ có thể biểu lộ quyết tâm hoàn thành
nhiệm vụ bằng cách ủi vào ngư thuyền TC như một hành động
cảnh cáo có tính toán buộc chúng phải rời vùng, trong lúc
hải pháo sẵn sàng yểm trợ cho toán đổ quân nếu TC nổ súng
trước.
V́ vậy, Hạm Trưởng San mới ra lệnh dùng mũi tàu "ủi
nhẹ" vào ngư thuyền 407 thấp hơn để cảnh cáo và cũng tượng
trưng việc "đẩy" ngư thuyền TC ra khỏi hải phận VNCH. Nếu
bị KTH Trần Khánh Dư cao lớn "dùng hết tốc lực" đụng vào,
chắc ngư thuyền 407 đă về với hà bá, đâu c̣n cơ hội để kể
lại chuyện này. Theo lời các thủy thủ trên các chiến hạm
VN, các thủy thủ trên tàu TC đều có những cử chỉ khiêu
khích thô tục, chửi bới khiến nhân viên VN rất tức giận,
nhưng v́ tuân lệnh "chạm trán ḥa b́nh" nên buộc phải tự
chế. Việc KTH Trần Khánh Dư đụng vào ngư thuyền 407 đă
khiến các thủy thủ VN "lên tinh thần", hăng hái như đă trả
được thù.
Về biến cố "đụng tàu" này, tác giả Đào Dân hiện diện
trên TDH Lư Thường Kiệt được chứng kiến tận mắt, thuật lại
như sau: "Bốn chiếc tàu, 2 lớn ở ngoài, 2 nhỏ ở giữa
vẫn thả trôi b́nh yên để mặc cho con người đấu khẩu. Có lẽ
không c̣n kiên nhẫn được nữa, HQ 4 nổ máy đâm thẳng ngang
hông tàu địch, đẩy nó ra khơi. v́ vận tốc chậm, có lẽ
khoảng 2 máy tiến 1, nên không có thiệt hại nào cho bên
địch, nếu có, có lẽ bát đũa nồi nêu cơm nước bị đổ bể tùm
lum trong pḥng ăn và nhà bếp. Trước thái độ quyết liệt
của HQ 4, tàu Trung Quốc đành nhượng bộ, mở máy, từ từ
tăng tốc độ chạy về phía Nam của 2 đảo Duy Mộng và Quang
Ḥa, để lại chiến trường một vùng nước bọt trắng xóa.
Chúng tôi toàn thắng mà không tốn một viên đạn (chỉ tốn
một cái húc của Trung Tá Vũ Hữu San). Đến đây người viết
cần phải ngừng lại một chút vừa để hoan nghênh Hạm-Trưởng
San …"
Riêng đối với Hạm Trưởng San, chuyện đụng tàu trên
biển này chắc cũng đă gây ra không ít suy-tư, v́ theo công
pháp quốc tế, chiến hạm hay thương thuyền của một quốc gia
được coi như lănh thổ của quốc gia đó. Như trước đây, Hoa
Kỳ đă buộc Nhật Bản kư văn bản đầu hàng vô điều kiện chấm
dứt thế chiến II tại Thái B́nh Dương trên Thiết Giáp Hạm
Missouri bỏ neo trong vịnh Tokyo, một hành động tượng
trưng coi như Nhật Bản đă phải kư ḥa ước trên đất Hoa Kỳ.
Làm Hạm Trưởng, việc để chiến hạm mắc cạn hay đụng vào tàu
khác là điều tối kỵ thường đưa tới việc mất chức. Hạm
Trưởng San đă cố ư đụng tàu TC, chẳng khác nào tự ư "xâm
lăng" Trung Quốc có thể đưa tới những hậu quả nghiêm
trọng. Trong trường-hợp có đối-thoại hay dàn-xếp
thương-thuyết Việt-Hoa, Ông rất có thể trở thành “vật
hy-sinh” và bị cả hai quốc-gia kết tội là kẻ gây nên
chiến-tranh.
Thiết tưởng đây là một hành động can đảm tuy tự chế,
chẳng khác danh tướng Trần Quốc Toản đời Trần đă v́ tức
giận giặc Tàu xâm lăng đă bóp nát quả cam trong tay lúc
nào không biết!
Một chi tiết khác khá quan trọng là TC cũng gửi 2
tiềm thủy đĩnh tham dự chiến dịch Hoàng Sa, nhưng sau khi
trận chiến đă kết thúc. Tác giả Lu Qi Minh trong bài viết
nhan đề "Tiềm Thủy Đĩnh TC Đầu Tiên Tham Dư Chiến Dịch"
cho biết như sau: "V́ lo ngại Hoa Kỳ và VNCH không chịu
rút lui dù đă bị thất bại, nên Hạm Đội TC vẫn phải gửi
chiến hạm tăng cường lực lượng tại Hoàng Sa. Lúc đó trời
băo, biển động mạnh nên các chiến hạm không rời bến được,
do đó hai tiềm thủy đĩnh được lệnh công tác tại Hoàng Sa.
Đây là lần đầu tiên tiềm thủy đĩnh dược dùng vào công tác
chiến đấu nên phải có sự chấp thuận đặc biệt của chủ tịch
Mao Trạch Đông. Hai tiềm thủy đĩnh dùng trong công tác
mang số hiệu 282 và 289."
Tóm lại về lực lượng tham chiến, phía TC có 2 ngư
thuyền vơ trang mang số 402 và 407, hai TLH mang số 389 và
396, hai Kronstadt mang số 271 và 274 và hai Kronstadt 281
và 281 tăng viện. Trong số này, chỉ có 4 chiến hạm T-389,
T-396, K-271 và K-274 trực tiếp tham chiến. C̣n K-281 và
K-282 tới Hoàng Sa vào hồi 11 giờ 49 ngày 19 tháng 1, lúc
đó trận hải chiến đă kết thúc (vào hồi 11 giờ). Chính hai
chiến hạm mới đến này đă bắn ch́m HTH Nhựt Tảo. Hai tiềm
thủy đĩnh mang số 282 và 289 cũng tới Hoàng Sa sau đó để
tăng cường tuần tiễu và đề pḥng lực lượng VNCH trở lại
tái chiếm quần đảo.
TRẬN HẢI CHIẾN
Tài liệu TC nói về trận hải chiến được tóm lược như
sau:
"Rạng sáng ngày 19 tháng 1, các chiến hạm VNCH
chia thành hai phân đội. TDH Lư Thường Kiệt và HTH Nhựt
Tảo hoạt động trong vùng ḷng chảo, từ phía Bắc gần đảo
Hoàng Sa tiến về hướng Nam gần đảo Quang Ḥa. Trong khi
đó, KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần B́nh Trọng bọc từ phía
ngoài biển cũng tiến về đảo Quang Ḥa từ hướng Tây Nam.
Nếu nh́n vào tầm cỡ và trọng tấn, phía VNCH gồm 3 chiến
hạm lớn, trọng tấn khoảng 1,770 tấn mỗi chiếc và một chiến
hạm nhỏ trọng tấn khoảng 650 tấn, như vậy tổng cộng trọng
tấn phía VNCH khoảng 6,000 tấn, trong khi phía TC có hai
chiến hạm loại Kronstad trọng tấn 570 tấn và hai Trục Lôi
Hạm (TLH) loại T-43 trọng tấn 300 tấn, tổng cộng khoảng
1760 tấn. Về vũ khí, phía TC cỡ súng lớn nhất là 85 ly đôi
trong khi VNCH có súng cỡ 127 ly. Như vậy về hỏa lực, phía
VNCH cũng trội trội hơn. Các chiến hạm VNCH với hải pháo
lớn chiếm vị trí bên ngoài lợi thế hơn, trong khi các
chiến hạm TC ở phía trong gần các đảo.
Trước ư đồ gây hấn của VNCH, theo chỉ thị của
Quân Ủy Trung Ương, quân khu Quảng Châu đă đặt các đơn vị
trực thuộc trong t́nh trạng báo động khẩn cấp, đồng thời
ra lệnh cho các chiến hạm tại Hoàng Sa sẵn sáng đối phó
nếu bị tấn công. Các chiến hạm TC được lện phối trí tại
vùng đảo Quang Ḥa để bám sát các chiến hạm VNCH. Trước
các họng đại pháo của chiến hạm VNCH, các chiến hạm TC tuy
nhỏ hơn nhưng không hề nao núng.
Hai TLH T-396 và T-389 có nhiệm vụ bám sát TDH Lư
Thường Kiệt. Mặc dù nhỏ hơn với trọng tấn chỉ bằng một
phần tư, T-396 vẫn không giảm tốc độ khi cản đường. TDH Lư
Thường Kiệt ỷ vào súng lớn và vỏ tàu dầy hơn, chẳng những
không đổi hướng mà c̣n dùng mũi đụng vào T-389 khiến sườn
tàu và pháo tháp bị hư hại, sau đó c̣n cắt ngang đội h́nh
TC. Các chiến hạm VNCH c̣n tiến về phía đảo Quang Ḥa thả
xuống 4 xuồng cao su trên chở khoảng 40 quân VNCH để đổ
bộ. Tuy lần đầu tiên đụng độ, nhưng dân quân TC vẫn nổ
súng khiến VNCH bị chết 1, bị thương 3 khiến toán đổ bộ
VNCH phải rút lui. Khi thấy cuộc đổ bộ bị thất bại, phía
VNCH đổi chiến thuật, lợi dụng ưu thế về hỏa lực và vị trí
thuận lợi để tấn công các chiến hạm TC.
Trước hỏa lực hùng hậu của phía VNCH, các chiến
hạm TC lần lượt bị trúng đạn. Phía TC lập tức phản công.
Các HTH K-271 và K-274 tấn công các KTH Trần Khánh Dư và
TDH Trần B́nh Trong của VNCH, trong khi các TLH T-396 và
T-389 đối đầu TDH Lư Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Các
chiến hạm VNCH khai triển đội h́nh cố giữ khoảng các lớn
hơn hầu tận dụng hải pháo tầm xa, nhưng các chiến hạm TC
có vận tốc cao hơn nên khoảng cách đôi bên mỗi lúc càng
giảm, có lúc gần như sát vào nhau. V́ vậy, các chiến hạm
TC tuy cỡ súng nhỏ, nhưng có nhịp bắn cao hơn nên chiếm
được lợi thế. Sau mười ba phút giao tranh, hàng ngũ chiến
hạm VNCH đâm ra rối loạn.
KTH Trần Khánh Dư là Soái Hạm của Hải Đội VNCH
nên bị hai HTH K-271 và K-274 dồn nỗ lực vây đánh. Mặc dầu
KTH Trần Khánh Dư đă tận dụng hỏa lực dữ dội để mong làm
chủ chiến trường, nhưng vẫn bị yếu thế v́ hỏa lực TC tập
trung vào các giàn hải pháo chính và bị trúng đạn hư hại
nhiều nơi khác, khói đen tỏa ra nhiều nơi, v́ vậy phải rời
ṿng chiến. K- 274 không bỏ lỡ cơ hội, theo sát KHT Trần
Khánh Dư. Thấy vậy TDH Trần B́nh Trọng vội chận đánh K-274
ngay bên ngang hông để cứu nguy cho Soái Hạm. Bị hỏa lực
của hai chiến hạm VNCH tấn công cả hai phía trước và sau,
K-274 bị trúng đạn nhiều nơi, tay lái bị bất khiển dụng
phải dùng hệ thống lái tay, nhưng vẫn chạy hết tốc lực,
cuối cùng chiếm lại được thế thượng phong. Tuy được lợi
thế trong lúc cận chiến, nhưng cũng dễ bị trúng đạn đại
pháo của các chiến hạm VNCH. K-274 bị một viên đạn bắn
trúng đài chỉ huy khiến nhiều người chết và bị thương nên
hệ thống truyền tin bị rối loạn nên phải dùng thủ lệnh.
Tuy vậy, chiến hạm vẫn phản công khiến KTH Trần Khánh Dư
bị trúng đạn tại nhiều chỗ, hiệu kỳ bị bằn đứt bay xuống
biển.
Xa hơn về phía Bắc, các TLH T-396 và T-389 nghênh
cản TDH Lư Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Lúc đầu, chiến hạm
TC tập trung hỏa lực vào mục tiêu lớn hơn là TDH Lư Thường
Kiệt, nhưng bị HTH Nhựt Tảo chận bắn dữ dội. Các chiến hạm
TC chuyển xạ nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến kho đạn phát nổ,
hầm máy bị cháy không c̣n vận chuyển được nữa. TDH Lư
Thường Kiệt cũng bị trúng đạn nên rời ṿng chiến. Thấy
vậy, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và Trần B́nh Trọng
cũng hối hả rời vùng."
Phần tường thuật của TC về cuộc hải chiến, tuy có
đôi chút trung thực, nhưng nặng hơn về mặt tuyên truyền.
KTH Trần Khánh Dư đă không rời vùng dù bị hai chiến hạm TC
vây đánh gây thiệt hại, có tới 912 vết đạn trên vỏ tàu.
KTH Trần Khánh Dư là loại chiến-hạm tấn-công, kiến-trúc
khoẻ nhất trong hải-đội với 4 pḥng hầm máy chánh và nhiều
pḥng kín nước khác, sức chịu-đựng rất cao. Khi tàu
Trung-Cộng bắt đầu rút về hướng Tây, rơi vào đúng ngay tầm
bắn hữu-hiệu của hải-pháo 76.2 ly, các chiến hạm TC, đặc
biệt K-274 bị trúng thêm mấy trái đạn lớn nữa, đến độ tê
liệt.
CHIẾN LƯỢC CHIẾN THUẬT
Để đối đầu với hai phân đội chiến hạm VNCH, phía TC
cũng chia các chiến hạm thành hai phân đội. Các HTH K-271
và K-274 phối trí tại vùng Tây Nam đảo Quang Ḥa để đối
đầu với các KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần B́nh Trọng,
trong khi các TLH T-389 và T-386 chiếm vị trí xa hơn về
phía Bắc để ngăn chặn các TDH Lư Thường Kiệt và HTH Nhựt
Tảo. Nh́n chung, các chiến hạm VNCH chiếm vị trí h́nh cánh
cung bên ngoài đảo Quang Ḥa, trong khi các chiến hạm TC
cũng dàn h́nh cánh cung đối đầu, nhưng nằm bên trong, gần
đảo hơn. Các chiến hạm TC tuy nhỏ, nhưng có vận tốc cao và
nhịp bắn nhanh hơn nên đă xử dụng chiến thuật "cận chiến".
Tài liệu TC mô tả như sau:
"Chiếm được lợi thế v́ phối trí ở ṿng ngoài và
lợi dụng hải pháo có thể bắn xa hơn[10],
các chiến hạm VNCH khai triển đội h́nh, gia tăng khoảng
cách. Các chiến hạm TC nhỏ và hỏa lực yếu hơn lại ở vào vị
thế bên trong bất lợi nên phải thu hẹp chiến trường bằng
cách mở hết tốc lực tiến về phía chiến hạm địch nhiều khi
như cập vào nhau nên cỡ súng tuy nhỏ nhưng bắn nhanh nên
các loạt đạn đều trúng mục tiêu."
Trong lúc cận chiến, các chiến hạm TC cũng "Tuân
hành chiến thuật và lời dạy của Mao Chủ Tịch “Dồn sức mạnh
để tiêu diệt bộ phận đầu năo địch”, các chiến hạm 271 và
274 tập trung hỏa lực vào KTH Trần Khánh Dư là soái hạm
địch, trong lúc các TLH 396 và 389 hướng mọi họng súng vào
TDH Lư Thường Kiệt. Do đó, hai chiến hạm VNCH bị thiệt hại
nặng nề."
Đến đây, chúng ta thấy rơ cấp chỉ huy TC đă sai lầm
khi xác quyết "KTH Trần Khánh Dư là soái hạm địch" nên đă
tập trung hỏa lực quyết tiêu diệt chiến hạm này. Thực tế,
chúng ta đều biết soái hạm của hải đội VNCH là TDH Trần
B́nh Trọng. V́ sự nhận định không chính xác nói trên nên
lúc khởi đầu trận chiến, các chiến hạm TC đă bám sát "soái
hạm" Trần Khánh Dư và "tập trung hỏa tiêu diệt các giàn
hải pháo chính và thượng tầng kiến trúc khiến hệ thống
truyền tin bị hư hại ."
V́ bị hai chiến hạm TC dồn nỗ lực chặn đánh
nên KTH Trần Khánh Dư bị trúng đạn khá nặng bên tả hạm.
Theo báo cáo chính thức của BTL/Hành Quân Biển, tổng cộng
KTH Trần Khánh Dư đếm được 37 lỗ đạn đường kính 4 tấc hay
lớn hơn và 44 lỗ đạn khác nhỏ hơn 4 tấc. Giàn radar
pḥng-không bị suy-giảm năng-lực phát-thâu và radar hải
hành tạm thời bất khiển dụng trong ṿng hai giờ sau đó.
Đổi lại, soái hạm K-271 của TC cũng bị trúng đạn tại đài
chỉ huy gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Theo tài liệu
chưa được phối kiểm của Trần Đại Sỹ, Tư Lệnh mặt trận và
toàn bộ tham mưu của TC bị tử thương. K-274 c̣n lại coi
như không c̣n khả năng tác chiến.
TRƯỜNG HỢP HTH NHỰT TẢO (HQ-10)
Tài liệu TC cho biết:
"Xa hơn về hướng Bắc, thừa lúc các TLH T-396 và
T-389 dồn nỗ lực tấn công TDH Lư Thường Kiệt, HTH Nhựt Tảo
tương đối rảnh rang liền bắn dữ dội vào hai chiến hạm TC.
Bị tấn công ác liệt, hai chiến hạm TC chuyển xạ, tập trung
hỏa lực nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến hầm đạn bị phát nổ.
T-389 liền bám sát và tác xạ dữ dội vào chiến hạm đă bị
thương này, không để chạy thoát. Tưởng cũng nên nói T-389
vừa được sửa chữa xong tại thủy xưởng ngày hôm trước th́
đêm sau đă nhận được ra Hoàng Sa nên chưa đủ th́ giờ để
thử máy đường trường cũng như bắn thử hải pháo. V́ vậy,
trong lúc hải chiến ác liệt, tuy HTH Nhựt Tảo của VNCH bị
trọng thương, nhưng T-389 cũng bị chiến hạm VNCH bắn hư
hại nặng. Đài chỉ hủy hoàn toàn bị tiêu hủy, thủy thủ đoàn
nhiều người chết và bị thương. Tuy nhiên những nhân viên
c̣n lại vẫn không sợ chết, kiên tŕ giữ vững vị trí chiến
đấu. V́ hầm chứa đạn bị bắn trúng thủng một lỗ lớn, một
thủy thủ tuy đă bị thương nặng ở bụng và hai đầu gối nhưng
vẫn cởi quần áo nhét vào lỗ thủng và tiếp đạn cho tới lúc
chết tại chỗ. Hầm máy cũng bị bắn trúng nên bị cháy dữ
dội, khiến tàu vô nước bị nghiêng, không c̣n dưỡng khí
khiến cơ khí phó và 5 cơ khí viên tử trận tại chỗ. T-389
và HTH Nhựt Tảo đều bị thương nặng, không tự điều khiển
được nên trôi lại gần, có lúc đụng cả vào nhau. Dân quân
trên T-389 có lúc đă dùng đại liên và lựu đạn để tấn công
HTH Nhựt Tảo v́ khoảng cách đôi bên quá gần.
Trong lúc đó, TDH Lư Thường Kiệt ở phía bên ngoài
tác xạ dữ dội vào T-389. Tuy bị thương nặng, hầm máy bị
cháy có thể phát nổ bất cứ lúc nào, TLH 389 vẫn chống trả
dữ dội. V́ sợ bị bắn trúng, TDH Lư Thường Kiệt rời vùng
hải chiến, vận chuyển ra hướng ngoài biển. Thấy TDH Lư
Thường Kiệt bỏ đi, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và
Trần B́nh Trọng cũng rời vùng. Riêng HTH Nhựt Tảo v́ bị hư
hại nặng chỉ c̣n trôi trên mặt biển nên bị bỏ lại không
c̣n đủ sức tự vệ. Lúc đó, hai chiến hạm TC tăng viện là
HTH 281 và 282 thuộc phân đội chống tàu ngầm 74 do phân
đội trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy cũng vừa tới vùng vào hồi
11 giờ 49 liền mở cuộc tấn công. HTH 281 tiến gần HTH Nhựt
Tảo, tất cả mười họng súng đều khai hỏa vào mục tiêu rơ
ràng không c̣n tự vệ được. Đến 2 giời 52 phút chiều ngày
19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo bị ch́m tại vị trí chừng hai hải
lư rưỡi về phía nam của băi san hô Antelope."
HTH Nhựt Tảo lên đường ra Hoàng Sa cùng với TDH Trần
B́nh Trọng vào tối 17 tháng 1. Theo lời kể lại của Hải Đội
Trưởng Hà Văn Ngạc trong bài "Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng
Sa "HTH HQ-10 Nhựt Tảo được chỉ định xung vào Hải Đoàn
Đặc Nhiệm, với lư do chính là chiếc HTH này đang tuần
dương ngay khu vực cửa khẩu Đà Nẵng nên giảm bớt thời gian
di chuyển, chiến hạm chỉ có một máy chánh khiển dụng mà
thôi." Như vậy, HTH Nhựt Tảo không những là chiến hạm
nhỏ, có hỏa lực yếu nhất trong Hải Đội Đặc Nhiệm mà t́nh
trạng kỹ thuật cũng kém khả quan, chỉ c̣n một máy chánh.
Trong phúc tŕnh "Diễn Tiến Hành Quân Hoàng Sa" ngày 21
tháng 2 năm 1974 của TDH Trần B́nh Trọng cũng ghi rơ
"Ngày 18-01-1974 lúc 0315H (chi chú của người viết:
3 giờ 12 phút sáng), chiến hạm đế điểm hẹn với HQ.10 tại
vị trí 083 độ đèn Tiên Sa 090 (ghi chú của người viết:
hướng đông của hải đăng Tiên Sa, cách 9 hải lư). Hồi 0327H
v́ t́nh trạng kỹ thuật của HQ.10 kém và để đúng giờ hẹn
tại Hoàng Sa theo như đă dự trù, chiến hạm đươc lệnh của
Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (Đại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy
Trưởng Hải Đội 3) cho tăng máy, tách khỏi đội h́nh với
HQ.10, trưc chỉ đảo Cam Tuyền." Trong một trận hải
chiến, ngoài hỏa lực hải pháo, việc vận chuyển mau chóng
vào vị trí thích hợp là yếu tố vô cùng quan trọng. T́nh
trạng kỹ thuật kém "chỉ c̣n một máy" của HTH Nhựt Tảo gây
khó khăn trong việc vận chuyển có lẽ đă là nguyên nhân
chính khiến chiến hạm này bị đánh ch́m. Chúng ta tự hỏi
nếu HTH Nhựt Tảo c̣n đủ hai máy chánh, dù bị bắn thiệt hại
c̣n một máy vẫn có thể tự vận chuyển được, biết đâu có thể
tới vùng an toàn, v́ lúc đó các chiến hạm TC đều đă bị hư
hại nặng, không c̣n khả năng truy kích.
Tuy là chiến hạm yếu nhất, nhưng HTH Nhựt Tảo đă
chiến đấu hăng hái và dũng cảm nhất. Khi thấy hai TLH
T-389 và T-396 dồn nỗ lực tấn công TDH Lư Thường Kiệt, HTH
Nhựt Tảo lập tức can thiệp, dùng hải pháo tác xạ chính xác
chiến hạm TC khiến T-389 bị trúng đạn vào đài chỉ huy, Hạm
Trưởng tử thương, pḥng máy bị cháy. T-389 cũng bị hư hại
nặng, trôi nổi trên mặt biển tương tự như HTH Nhựt Tảo, có
lúc hai đối thủ đụng vào nhau như Trung Úy Nguyễn Đông Mai
thuộc HTH Nhựt Tảo diễn tả trong bài viết "Lần Đào Thoát
Tại Hoàng Sa: "Rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va chạm
mạnh khiến chúng tôi té nhào trên sàn tàu. Tôi chợt nghĩ
đến chuyện tàu lên cạn v́ v́ vùng này có nhiều san hô. Sau
này khi đào thoát tôi mới biết HQ.10 đâm vào tả hạm chiếc
396".
Tài liệu TC cũng xác nhận thêm "Nếu T-389 không
dạt vào một băi san hô, chắc chắn cũng sẽ bị ch́m".
Như vậy HTH Nhựt Tảo tuy bị ch́m, nhưng đối thủ cũng bị
thiệt hại tương tự, coi như một đổi một.
Trận hải chiến khởi đầu lúc 10 giờ 23 phút, khoảng
nửa giờ sau đó các chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ c̣n lại
HTH Nhựt Tảo bị hư hại nặng trôi nổi trên mặt biển, nhân
viên đă xuống bè đào thoát, không c̣n ai trên tàu. Về
những giây phút cuối của HTH Nhựt Tảo, tài liệu TC ghi rơ:
"Tới 11 giờ 49 phút, hai HTH K-281 và K-282 do Phân
Đoàn Trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy từ căn cứ hải quân
Shantou tăng viện đến vùng Hoàng Sa. K-281 tập trung hỏa
lực bắn vào xác HTH Nhựt Tảo. Măi đến 14 giờ 52 phút ngày
19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo mới bị ch́m tại vị tri Nam băi
san hô Antelope, khoảng cách chừng 2.5 hải lư."
Sau này một số bài viết cho rằng HTH Nhựt Tảo bị
trúng hỏa tiễn TC vào đài chỉ huy khiến Hạm Trưởng hy
sinh. Tuy nhiên, các chiến hạm TC tham chiến cũng không
được trang bị hỏa tiễn hải - hải và tài liệu TC cũng nói
rơ không có Phi Tiễn Đĩnh (PTĐ) Komar tại Hoàng Sa. Dĩ
nhiên, chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào lời nói của
họ, nhưng có thể suy đoán t́m câu trả lời hợp lư. Trước
hết, PTĐ Komar trang bị hỏa tiễn hải - hải Styx là loại Ai
Cập đă dùng để bắn ch́m Khu Trục Hạm Eilat của Do Thái vào
tháng 10 năm 1967 gần cảng Port Said. Nếu hỏa tiễn Styx có
thể đánh ch́m một chiến hạm lớn nhất và cũng là soái hạm
của HQ Do Thái th́ đối với HTH Nhựt Tảo là chiến hạm nhỏ
hơn, bị trúng hỏa tiễn Styx chắc không trôi nổi trên mặt
biển, măi mấy tiếng đồng hồ sau mới bị chiến hạm tăng viện
của TC bắn ch́m. Ngoài ra, nếu có hỏa tiễn, theo đúng sách
lược "đánh vào chỗ mạnh nhất của Mao Trạch Đông",
chắc chắn TC sẽ nhằm vào chiến hạm VNCH lớn và quan trọng,
như "soái hạm" Trần Khánh Dư hoặc các TDH, hơn là HTH Nhựt
Tảo nhỏ. Hơn nữa, mỗi Phi Tiễn Đĩnh Komar được trang bị 2
hỏa tiễn Styx, nếu tham chiến có lẽ sẽ bắn cả 2 hỏa tiễn
vào các chiến hạm VNCH, gây thiệt hại nhiều hơn, thay v́
chỉ bắn HTH Nhựt Tảo. Về mặt chiến thuật, hỏa tiễn cũng
như pháo binh, chỉ hiệu quả khi mục tiêu được xác định rơ
ràng, chính xác. Trong trận hải chiến Hoàng Sa, chiến hạm
đôi bên đều trong thế "cận chiến" trộn lẫn vào nhau, việc
xử dụng hỏa tiễn có thể gây thiệt hại cho chính lực lượng
ḿnh. V́ những lư do trên, cộng thêm lời xác nhận về phía
TC, chúng tôi nghĩ rằng TC đă không có hỏa tiễn hải - hải
trong trận hải chiến Hoàng Sa. Rất có thể, bộ binh theo
tàu để đổ bộ xử dụng một số hỏa tiễn “cầm tay” mang theo
hoặc bất cứ vũ khí nào khác khi khoảng cách đôi bên quá
gần.
THIỆT HẠI
Về phần thiệt hại, tài liệu TC cho biết: "Tuy nhiên,
chiến thắng nào cũng phải trả giá. Về phía TC, tổng cộng
có 18 người tử trận trong số này 1 Hạm Trưởng và 67 người
khác bị thương. T-389 bị hư hại nặng, nếu không kịp ủi vào
băi san hô chắc chắn sẽ bị ch́m. Ba chiến hạm khác đều bị
trúng đạn, thiệt hại trung b́nh".
Theo tài liệu của Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sĩ (chưa
thấy Trung-Cộng phản-đối) cho biết cả 4 Hạm Trưởng các
chiến hạm TC gồm 3 Đại Tá và 1 Trung Tá đều bị tử thương.
Ngoài ra, BTL mặt trận gồm 1 Đô Đốc, 4 Đại Tá, 6 Trung Tá,
2 Thiếu Tá và 7 sĩ quan cấp úy cũng bị tử thương. Chúng
tôi rất dè dặt khi loan tin này, v́ tác giả Trần Đại Sĩ
không cung cấp rơ ràng xuất sứ của nguồn tin trên. Hơn
nữa, các chiến hạm TC đều thuộc loại nhỏ, thủy thủ đoàn
không quá trăm người, nên Hạm Trưởng mang cấp bậc Đại Tá
là điều hăn hữu.
Nếu c̣n một số nghi vấn về thiệt hại nhân mạng,
chúng ta có nhiều bằng cớ khá xác đáng về mặt các chiến
hạm TC. Trận hải chiến kết thúc vào khoảng 11 giờ sáng
ngày 19 tháng 1 năm 1974 sau chừng 30 phút giao tranh khi
ba chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ c̣n lại 4 chiến hạm TC và
HTH Nhựt Tảo bị hư hại không tự vận chuyển được, các nhân
viên đă xuống bè đào thoát. Nếu chưa bị ch́m hoặc lên cạn
hết, chắc chắn chiến hạm TC sẽ lại gần HTH Nhựt Tảo, bắt
sống những người trên bè đào thoát và đánh ch́m đối thủ.
Nhưng thực tế cho thấy không một chiến hạm TC nào ngăn
chận được các bè đào thoát và phải chờ hơn 3 tiếng đồng hồ
sau, lực lượng tăng viện vừa tới gồm các K-281 va K-282
mới bắn ch́m HTH Nhựt Tảo. Điều này cho thấy cả 4 chiến
hạm TC trực tiếp tham chiến hoặc đă bị ch́m, hoặc ủi băi
san hô hay hư hại nặng, không c̣n vận chuyển được nữa.
Qua lời tường thuật của TC về trường hợp các chiến
hạm của họ bị trúng đạn hư hại ra sao, gặp những khó khăn
nào, cộng với bằng chứng chỉ c̣n 2 chiến hạm tăng viện
hoạt động sau trận hải chiến, chúng ta có thể khá chắc
chắn t́m ra sự thật. Đó là cả 4 chiến hạm TC trực tiếp
tham chiến đều bị bắn hư hại nặng, nếu không ch́m hay lên
cạn cũng sẽ bị phế thải.
KẾT LUẬN
Trận hải chiến tại Quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19
tháng 1 năm 1974 đă trở thành lịch sử. Việc thành bại, hơn
thua không c̣n được đặt nặng so với nhu cầu t́m hiểu sự
thật và vinh danh các chiến sĩ HQ/VNCH tham dự trận đánh
bảo vệ quê cha đất tổ, đă chết hay c̣n sống. Dù phải đối
đầu với kẻ thù mạnh hơn nhiều lần, nhưng các chiến sĩ
HQ/VNCH đă tận dụng mọi khả năng, phương tiện hiện có và
nhất là tinh thần chiến đấu, truyền thống hào hùng ngang
nhiên bắn vào tàu địch, khiến đối phương cũng phải kiêng
sợ và thán phục. Các yếu tố "Thời, Thế và Cơ" cần thiết
cho chiến thắng đều không nằm trong tay Hải Đội VNCH. Giả
sử chúng ta có đánh ch́m hết các chiến hạm TC tại Hoàng
Sa, thu được thành quả tuyệt đối về mặt chiến thuật, nhưng
cũng sẽ phải rời bỏ vùng hải đảo thân yêu này để bảo toàn
lực lượng, v́ dù có vận dụng hết khả năng cũng khó bề
đương cự với Hải Quân TC.
Để kết thúc, chúng tôi mạn phép tác giả Ngô Minh
Hằng, mượn bài thơ rất cảm động của nữ sĩ để vinh danh các
chiến sĩ Hoàng Sa, đồng thời bày tỏ kỳ vọng "Sẽ Có Một
Ngày…"
Sẽ Có Một Ngày…
(Kính dâng hương hồn các chiến sĩ Hải Quân VNCH đă hy
sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa)
Việt Nam xưa, Đức Thánh Trần
Bạch Đằng cưỡi ngọn sóng thần tuốt gươm
Giặc Mông Cổ t́m đường tháo chạy
Tướng như quân hết thảy rụng rời
Tàn binh cọc nhọn thây phơi
Một phen thủy chiến muôn đời sử xanh (1287)
Mộng xâm lấn tranh giành bờ cơi
Vẫn âm mưu dẫn lối quân Tàu
Sáu trăm tám bảy năm sau (1974)
Hoàng Sa máu lại đỏ ngầu biển Đông
Trận hải chiến hào hùng, khốc liệt
Với kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa
Đây, trang chiến sử Hoàng Sa
Chỉ huy Hải đội, họ Hà điều binh (1)
Bốn chiến hạm hải tŕnh tham chiến (2)
Những người con của biển kiên cường
Trong ṿng lửa đạn đau thương
Lưu danh muôn thuở tấm gương anh hùng
Và chiến đấu vô cùng dũng liệt
Dù địch quân ứng chiến đông hơn
Đạn bay súng nổ từng cơn
Bốn tàu Trung Cộng chiến trường lâm nguy
Cái bị pháo ch́m đi mất dấu
Cái nước theo phía hậu tuôn vào
Địch quân hoảng hốt xôn xao
Và quân ta cũng bước vào khó khăn
Gương chiến đấu Bạch Đằng bỗng hiện
Sáng như sao trên phiến linh hồn
Biển xanh đỏ máu oan hờn
Chiến hạm Nhật Tảo trong cơn nguy nàn (3)
Đă anh dũng chặn làn sóng địch
Để đoàn quân rời đích an toàn
Ḷng tàu nước ngập, máu loang
Nhưng ḷng thủy thủ hiên ngang trên tàu
Ngay cả lúc ch́m sâu đáy biển
Vẫn một niềm tận hiến, hy sinh
Trong ḷng biển mẹ mông mênh
Trái tim bất khuất đau t́nh quê hương!
Sẽ một ngày trùng dương sóng nổi
Về Hoàng Sa rửa mối hận này
Chủ quyền Hoàng đảo trong tay
Xanh reo ngọn sóng, vàng bay sắc cờ
Sẽ một ngày cơi bờ dân Việt
Thoát qua hồi nạn kiếp đau thương
Có anh đứng giữa đại dương
Hát mừng bốn cơi quê hương thanh b́nh
Ngô Minh
Hằng
Chú Thích của Trần Đỗ Cẩm
(1). Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng Hải
Đội VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa.
(2). Bốn chiến hạm HQVNCH tham chiến trong trận Hoàng
Sa gồm:
- Tuần Dương Hạm Lư Thường Kiệt (HQ-16) do HQ Trung Tá
Lê Văn Thự (Khóa 10 SQHQ/Nha Tran)g làm Hạm Trưởng.
- Tuần Dương Hạm Trần B́nh Trọng (HQ-5) do HQ Trung Tá
Phạm Trọng Quỳnh (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm Trưởng.
Đây là Soái Hạm. Đại Tá Hà Văn Ngạc ở trên chiến hạm này
chỉ huy trận đánh.
- Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do HQ Trung Tá Vũ
Hữu San (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm Trưởng.
- Hộ Tống Hạm Nhật Tảo (HQ-10) do HQ Thiếu/Tá Ngụy Văn
Thà (Khóa 12 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm Trưởng.
(3). Hạm Trưởng HQ-10, Th/T Ngụy Văn Thà bị thương,
quyết ở lại trên tàu. Ba đoàn viên tên Lê Văn Tây, Đinh
Hoàng Mai và Phạm Anh Dũng đă hy sinh ở lại bắn chặn tàu
Trung Cộng để đồng đội an toàn rời khỏi chiến hạm. HQ
Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và ba đoàn viên đă can đảm trong
truyền thống "chết theo tàu" và để lại bao nhớ tiếc đau
thương cho những người ở lại.
Trần Đỗ Cẩm
(Austin, Texas tháng 1/2004)
|