T́m về bản
sắc lễ nhạc Phật giáo Việt Nam
qua lăng kính âm
nhạc Phật giáo thế giới
GSTS. Nguyễn Thuyết Phong (*)
(Bài tham luận tại Hội thảo khoa học: “Sư Nguyệt Chiếu với
sự nghiệp nhạc lễ cổ truyền Nam Bộ” do Tỉnh hội Phật giáo
Bạc Liêu tổ chức từ ngày 26-27-9-2007 )
Hơn hai ngàn
năm trăm năm qua, đạo Phật đă đem đến thế giới một cái
nh́n chân xác về con người
với mục đích giải quyết những vấn đề của con người. Có
nhiều pháp môn giúp giải quyết vấn đề này. Một trong những
pháp môn ấy là việc sử dụng âm thanh. Trong đạo Phật, âm
thanh là một khoa học. Nó không thiếu vắng trong bất cứ
môi trường nào có Phật tử thực hành việc tu tập. Âm thanh
được thể hiện qua vô số những “tín hiệu” với quy định khác
nhau, khởi đầu là quy định về ngôn ngữ.
Thế
giới âm thanh của đạo Phật mang những sắc thái huyền nhiệm
mà khuôn khổ của tham luận này không thể hàm chứa hết. Một
âm “Om” (như trong Om mani padme hum”), một tiếng “Mamô”
hùng tráng trong tiếng Sanskrit (Phạn) mà nay đă trở thành
một dấu ấn Phật giáo ở khắp năm châu (ở nước ta, trở thành
“úm” hay “án” và “Nam mô”). Biến thiên của thanh điệu Phật
giáo nương theo nhiều môi trường sống của người Phật tử và
trở thành những nền “âm nhạc” Phật giáo, dị biệt đến mức
độ một Phật tử ở các nước không thể dễ dàng ḥa chúng,
thậm chí không thể nhận biết là âm nhạc Phật giáo của
ḿnh. Trong quá tŕnh nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở Nhật
Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Nam Á, cũng như các nước
châu Âu, châu Mỹ, tôi nhận ra được một điều, đó là: Yếu
tính “phi giáo điều” của âm nhạc Phật giáo. Không thể có
một mẫu số chung về âm nhạc nghi lễ Phật giáo. Nh́n theo
quan điểm phổ thông hiện nay, Phật giáo không mạnh như các
tôn giáo khác, v́ không có trung ương tập quyền. Người
Phật tử (Tăng, Ni, và cư sĩ) lại nhận định một cách khác.
Phật giáo là một văn minh, văn hóa, là một nếp sống của
chính con người (way of life). Cho nên, trong tự nhiên cái
đạo từ bi ấy sẽ lan tỏa khắp nơi! Hiểu được điểm chủ yếu
này mới thấy được lư do tại sao âm nhạc Phật giáo, nhận
định theo quan điểm dân tộc nhạc học (Ethnomusicology), có
nhiều hệ thống (systems), đa dạng và đa năng đến thế!
Âm nhạc Phật giáo mang tính quốc tế
Thật
vậy, trên con đường truyền bá đạo Phật đến khắp nơi trên
thế giới (sớm nhất là châu Á, chậm nhất là châu Âu, châu
Mỹ, châu Phi) đă đem đến những động cơ sáng tác ngay thời
buổi đầu, đóng góp cho nền âm nhạc dân tộc đó với một sắc
thái riêng và, đương nhiên, không phải là sự đồng nhất của
một tôn giáo cho một thế giới. Nhiều Phật tử quên rằng Đức
Phật đă không sử dụng tiếng nói và âm thanh địa phương
(như tiếng Việt chẳng hạn). Trong nghiên cứu mang đầy đủ
tính khoa học lịch sử đều phải nh́n nhận điểm này. Nhưng
tư tưởng Phật giáo đă được truyền đạt đến khắp nơi bằng
nhiều thứ tiếng, v́ Phật giáo không phải là đạo của một
dân tộc duy nhất. Ngôn ngữ của các dân tộc Phật giáo trên
thế giới đều khác nhau. V́ thế, ngôn ngữ sử dụng để truyền
đạt “thông tin” về tư tưởng, triết học, giáo lư, cũng như
thực hành giới luật và nghi lễ Phật giáo đều phải sử dụng
ngôn ngữ riêng. Nói rằng pháp môn Thiền không cần sử dụng
đến ngôn ngữ và tín hiệu âm thanh, điều này tôi không nhất
trí. V́ ngay từ đầu các thiền sư bắt buộc phải ít nhiều
dùng ngôn ngữ và âm điệu trong nghi lễ để chuyển tải ư
thức (qua một thời kinh, chẳng hạn) và phương thức hành
đạo. Do đó, nhu cầu âm nhạc phải có.
Âm
nhạc, theo định nghĩa thủ cựu của các tôn giáo lớn trên
thế giới gồm cả Phật giáo, đều cho rằng không có mặt trong
sinh hoạt của họ. Khi tôi hỏi, các mục sư trong nhà thờ
Baptist, họ trả lời rằng âm nhạc là thể hiện biểu diễn
nhạc cụ, nên không thể có mặt trong nghi lễ Thiên Chúa
giáo. Trong các nhà thờ Hồi giáo, người ta đă cách ly,
phân biệt âm nhạc rất rơ, không cho hoặc không gọi là “âm
nhạc” trong nghi lễ. Trong giới luật Sa di Phật giáo cũng
có ghi: “Không được nghe đàn ca xướng hát hoặc cố t́nh đi
xem nghe. V́ cố đi xem nghe sẽ khơi động mối tâm sinh ra
các tội lỗi và làm mất giống trí tuệ”. Tôi có dịp phỏng
vấn nhiều sư tăng trên thế giới về vấn đề và rút ra một
câu hỏi này: Nếu nghe cái điều gọi là “âm nhạc” mà không
làm “mất giống trí tuệ” th́ có thể nghe hay không?
Trong một buổi thuyết tŕnh tại Đại học Harvard vào mùa
Xuân năm 2005, tôi đă khẳng định đạo Phật có một nền âm
nhạc thâm thúy và đóng góp rất to lớn cho thế giới, và có
mặt lâu đời hơn tất cả các tôn giáo lớn hiện nay. Nền âm
nhạc ấy nhắm đến mục đích chính là sự giải thoát, trí tuệ.
Nền âm nhạc ấy hết sức phong phú và mang bản sắc độc đáo
của một dân tộc, một địa phương. V́ thế, các Phật tử có
thể xem, nghe, thậm chí thực hành âm nhạc, như đă làm từ
mấy ngàn năm qua! Chúng ta thường đặt định (consensus) một
ư nghĩa nào đó cho âm nhạc, chứ tự thân âm thanh, âm sắc,
âm hưởng, âm bậc tạo ra nhạc điệu có tính hồn nhiên và rơi
vào ư niệm thể hiện nào đó là tùy của con người, Tăng hay
tục. Để tránh dùng từ “âm nhạc”, người ta có thể nói “lễ
nhạc”; tuy nhiên đây chỉ là một ư nghĩa nối dài của âm
nhạc dành cho nghi lễ mà thôi. Chúng ta có thể bật ra một
định nghĩa vững chắc rằng “âm nhạc” là âm thanh được cấu
tạo một cách có tổ chức và có ư niệm rơ rệt về mặt văn hóa
con người. Âm nhạc Phật giáo là một thể hiện cụ thể trong
môi trường văn hóa Phật giáo và có chủ trương và mục đích
riêng.
Thật
vậy, âm nhạc Phật giáo có mặt khắp các chùa chiền quanh
trái đất. Đạo Phật hiện nay mở rộng ra cho cả nhân loại.
Trước đây người ta thường định nghĩa về Phật giáo Đại thừa
hay Nguyên thủy và nét đặc trưng theo vùng địa lư (Đông Á,
Đông Nam Á, Tây Tạng, v.v…). Trong thời kỳ toàn cầu hóa
hiện nay, định nghĩa ấy hầu như vô hiệu. Người Tăng sĩ Mỹ,
Pháp, hay Đức có thể thực hành đạo Phật theo Đại thừa
(Mahayana), Tiểu thừa (Theravada), Kim Cương thừa
(Vajrayana), hoặc tổng hợp các tông phái trên. Đó là chưa
kể đến các trường phái Phật giáo mang tính địa phương
chẳng hạn như Nichiren, Shokagakkai, Ḥa Hảo, Cao Đài,
hoặc Tenrikyo ở Nhật. Thậm chí đạo Mẫu (chầu văn) Việt Nam
cũng mang rơ rệt sắc thái của đạo Phật.
Như
vậy, lấy trường hợp âm nhạc của các Phật tử Âu Mỹ, chúng
ta sẽ hiểu như thế nào? Các nghi lễ có thể dùng âm nhạc
xuất phát từ một chùa theo truyền thống Nhật, Hoa, Hàn,
Thái, Việt, hay Tây Tạng do các di dân châu Á mang đến.
Đây là những Tổ đ́nh, nơi truyền thừa văn hóa và giáo lư
Phật giáo đầu tiên. Có nhiều yếu tố hỗn hợp tạo thành âm
nhạc trong nghi lễ Phật giáo. Điều này đ̣i hỏi sáng tạo
rất nhiều vất vả cho Phật giáo Mỹ cũng như Pháp, Đức, Tây
Ban Nha, v.v… nơi có truyền thống lâu đời của Thiên Chúa
giáo. Dù vậy, những bài thuyết pháp (Dharma teaching) tạo
sự thu hút rất lớn, nhất là trong giới trí thức như học
giả, nghệ sĩ. Đặc biệt hơn nữa là giới tu sĩ cấp tiến của
các tôn giáo khác như linh mục Công giáo, mục sư Tin lành,
các giáo sĩ Do Thái và Hồi giáo cũng đều t́m về với đạo
Phật như một kinh nghiệm học hỏi, lối thoát để mở rộng tầm
nh́n của họ. Ở Hoa Kỳ, Giáo hội Tin lành Unitarian nhận
các buổi thuyết pháp và nghi lễ Phật giáo vào ngày trong
buổi thánh lễ Chủ nhật. Trong chiều hướng ấy, tôi cũng
thường được mời thực hiện các khóa lễ này. Thỉnh thoảng
tôi cũng được sự hỗ trợ nghi thức tụng niệm của đoàn thánh
ca tại nhiều nhà thờ ở Mỹ. Nghi thức này được điều chỉnh
để thích nghi vào môi trường âm nhạc sở tại.
V́
Phật giáo xuất phát từ cái nôi châu Á, việc truyền bá âm
nhạc qua phương thức đọc tụng kinh điển Phật giáo trên thế
giới trước nhất mang nhiều sắc thái châu Á. Các truyền
thống âm nhạc Phật giáo trên thế giới v́ thế phải quy vào
cơ sở trước tiên là văn bản kinh điển rồi sẽ đọc tụng, hát
những bài kinh này với âm hưởng địa phương, hoặc hỗn hợp
cả hai. Về mặt ngôn ngữ, tiếng Sanskrit và Pàli của Ấn Độ
thường dễ được áp dụng v́ gần gũi với tiếng Ấn - Âu, rồi
sau đó là tiếng Hoa, Nhật, Hàn, Việt, v.v… hay tiếng Anh,
Pháp, Đức. Những câu kinh ngắn dịch sang tiếng Anh từ Kinh
Pháp Cu (Dharmapada) là cách đọc tụng dễ nhất cho Phật tử
quốc tế. Về mặt nhạc điệu, trường hợp ở Hoa Kỳ hiện nay Ủy
ban Nghi lễ của Amercan Buddhist Congress (Giáo hội Phật
giáo Mỹ) c̣n đang trong ṿng tổ chức ấn định nghi lễ và
yêu cầu các Phật tử gồm nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ đóng góp
công sức vào công tŕnh này, thậm chí có thể phần nào tùy
duyên dựa vào kiến thức Thiên Chúa giáo họ sẵn có. Nhiều
Phật tử ở Mỹ thường là những nhà âm nhạc và nghệ thuật
(thi ca, điện ảnh, v.v…) nổi tiếng trên thế giới như John
Cage, Philip Glass, Harrison Ford, Richard Gere, Laurie
Anderson, Allen Ginsberg, v.v… Đây là nền tảng để có thể
kết hợp hài ḥa các yếu tố âm nhạc châu Á vào trong ấy và
kiến tạo âm nhạc Phật giáo Mỹ khả dĩ có thể đứng độc lập.
Tại
châu Á, chúng ta cũng phải nhận ra rằng âm nhạc nghi lễ
Phật giáo đă thấm sâu từ hàng ngàn năm và mang màu sắc đặc
trưng ở mỗi quốc gia. Trong mỗi quốc gia lại có nhiều dị
bản tùy vào vùng, miền. Có ba hệ thống kinh điển và nghi
lễ chủ yếu xuất phát từ ba tông phái lớn: Đại thừa, Nguyên
thủy, và Kim Cương thừa. Nghi lễ Đại thừa và Kim Cương
thừa (Tây Tạng và Trung Á) có chủ trương giống nhau là hội
nhập hầu như toàn diện vào bản sắc địa phương. Ngược lại
Phật giáo Nguyên thủy ở Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào,
và Việt Nam thể hiện phần nào tính xuyên quốc gia qua h́nh
thức đọc tụng tiếng Pàli và Sanskrit. Một phần trong nghi
lễ thể hiện nhạc điệu dân tộc qua các thơ, kệ được dịch ra
tiếng địa phương. Phần này rất nhỏ. Các sư tăng ở Thái Lan
gọi âm nhạc nhà chùa là “thét” (giảng kinh). Có thể v́
quan niệm như thế, mục tiêu đọc tụng gần với âm vận b́nh
thường như tiếng nói (Pàli) nên âm quăng bị rút ngắn lại
trong phạm vi ba âm.
Chính đây
là điểm khác biệt với truyền thống âm nhạc Phật giáo Đại
thừa và Kim Cương thừa, nơi các kinh điển Sanskrit được
dịch ra từ hơn ngàn năm và đă được dân tộc hóa trong âm
nhạc. V́ thế, các nền âm nhạc này thể hiện rơ rệt tính
cách của âm nhạc Kim Cương thừa ở Tây Tạng và Trung Á cũng
như Đại thừa ở Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật
Bản.
Bản sắc của âm nhạc Phật giáo Việt Nam
T́m
về bản sắc âm nhạc Phật giáo Việt Nam đ̣i hỏi phải có sự
đối chiếu với các truyền thống có dạng biểu hiện liên kết
tương tự về mặt lịch sử và văn hóa, trong bối cảnh truyền
bá đạo Phật từ khởi nguyên, về mặt ngôn ngữ, chữ Hán đóng
vai tṛ quan trọng ở Đông Á và Việt Nam. Kinh điển Đại
thừa chủ yếu cho các nghi lễ đă được chuyển dịch từ tiếng
Sanskrit sang tiếng Hán ở Giao Châu rồi từ đó mới đến
tiếng của mỗi dân tộc Hán - Hoa, Hàn, Nhật. Đó là do tại
sao chữ Hán cổ bị đồng hóa vào tiếng ở mỗi địa phương với
cách đọc chữ Hán của các sư tăng. Ngay ở Trung Quốc rộng
lớn cũng có nhiều phương ngữ khác nhau, hệ thống nhạc điệu
khác nhau. Sự đánh mất vai tṛ trọng yếu của ngữ âm Hán
này đă làm rơ nét tính dân tộc trong thanh nhạc nghi lễ
Phật giáo tại Việt Nam rất sớm, v́ âm đọc tụng đi trước
khí nhạc. Có ba vấn đề cần đặt ra: lịch sử truyền bá Phật
giáo, hệ thống âm nhạc, và địa bàn hoạt động của âm nhạc.
Chúng ta có thể giả định rằng từ ba thế kỷ thứ đầu Tây
lịch khi 15 bộ kinh đă được dịch cùng lúc với việc xây
dựng 20 ngôi chùa, Tăng đoàn gồm 500 vị (theo Thiền uyển
tập anh) qua sự hiện diện của Mâu Tử, Tăng Hội, Đạo Thanh,
lúc ấy Nê hoàn bối, Pháp Hoa Tam Muội kinh được dịch. Dù
sao, sách nhạc Nê hoàn bối nước ta thời đó dù “thanh điệu
phù mỵ, buồn bă nhưng thanh cao làm khuôn mẫu cho một
thời” (thanh mỵ ai lượng, nhất đại mô thức) (Cao tăng
truyện). Chúng ta có thể hiểu phải chăng đây là những bài
tán mang hơi ai thời cổ (?). Thật khó có thể khẳng định
được yếu tố âm nhạc Ấn Độ hoặc Trung Hoa trong ấy ngay từ
thời buổi đầu với một khi tư tưởng Đại thừa phóng khoáng.
Tư tưởng này phát triển rất mạnh ở hai trung tâm Phật giáo
Gandhara và Amaravatti cho phép tiếp nhận yếu tố địa
phương làm nền tảng văn hóa tiến đến sáng tạo âm nhạc nghi
lễ riêng.
Chúng ta không thể bàn về Phật giáo Nguyên thủy để so
sánh, dù nó đang có mặt trong nhiều quốc gia Đông Nam Á.
Lư do là v́ Phật giáo ở Thái Lan, Lào, Campuchia, và
Myanmar có mặt rất muộn (khoảng một ngàn năm sau Việt Nam)
và Indonesia và Philippines đă bị tiêu diệt bởi những
người Hồi giáo hồi thế kỷ XIII đến nay chỉ c̣n lại 2%
trong dân số. Hai quốc gia Đông Nam Á này thành lập cũng
khá muộn so với Việt Nam. Trước đó các dân tộc bản địa hẳn
nhiên tiếp nhận tư tưởng Đại thừa (chứ không phải Tiểu
thừa), c̣n tàn ích t́m thấy ở trung tâm Phật giáo
Borobudur.
Như
thế, về mặt lịch sử, đạo Phật đă đến Việt Nam (trước đây
có nhiều tên gọi khác như Giao Châu, Nam Việt, Đại Nam,
v.v…) sớm nhất ở vùng Cực Đông. Căn cứ vào nghiên cứu đă
được cập nhật, chúng ta được biết con đường thủy sớm nhất
đă đưa Phật giáo Ấn Độ đến Trung Quốc xuyên qua Việt Nam.
Dù rất thông suốt chữ Hán, trong lịch sử ngôn ngữ Việt Nam
chưa bao giờ ghi nhận việc người Việt hay các thiền sư
Việt phải nói tiếng Hán. Nhưng việc học để đọc được tiếng
Hán bằng cách phát âm Việt là chuyện hiển nhiên. Điều này
có liên quan đến việc tụng, tán trong âm nhạc Phật giáo ở
nước ta từ thời cổ đại vẫn có truyền thống sử dụng tiếng
Hán - Việt.
Phật
giáo Đông Á dùng danh từ “Thanh minh” (Shengming, tiếng
Hán; Shômyô, tiếng Nhật) để chỉ “âm thanh {tiếng tụng
kinh} trong suốt” được hiểu như thanh nhạc Phật giáo. Phạn
bối (Trung Quốc: fanpai, Hàn Quốc: pomp’ae, Nhật Bản:
bombai) là một chuyên ngữ thông dụng với ư nghĩa “Lễ nhạc
Phật giáo” ở Đông Á. Chuyên ngữ này không áp dụng trong
Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra có một từ ngữ chung là tán
bài tỏ sự ca ngợi. Nhưng ư nghĩa và cơ cấu nhạc điệu không
đồng nhất. Ở Nhật Bản, từ tán không chỉ nhạc điệu mà chỉ
sự phân loại văn bản như wasan (ḥa tán) là tụng kinh theo
văn bản Nhật (Ḥa, bonsan (Phạn tán) là những thần chú
phiên âm ra từ tiếng Sanskrit sang âm Hán rồi đến âm Nhật,
và hansan (hán hán) là văn bản kệ tụng sử dụng ở Trung
Quốc với chữ Hán (dĩ nhiên, phát âm theo cách Nhật). Ở Hàn
Quốc, pomp’ae (phạn bối) chia thành hai thể loại: pomp’ae
hitsori và pomp’ae chitsori để chỉ hai thể tụng đơn giản
và thể tán phức điệu.
Ở
Việt Nam chúng ta không dùng một từ duy nhất để chỉ âm
nhạc Phật giáo. Các nghi lễ có thể được gọi đọc canh
(kinh) ở Bắc Bộ, tụng niệm hoặc tụng tán ở Trung và Nam
Bộ. Nhưng v́ không thể nói lên hết được âm nhạc, Phật giáo
Việt Nam có một hệ thống thuật ngữ riêng để chỉ thanh nhạc
với ư nghĩa trực tiếp (nhạc điệu của bài hát như thế nào?)
và khá phức tạp với 10 thể nhạc như đọc, tụng, tán, niệm,
tŕ, xướng, bạch, thỉnh, kệ, và sám pháp. Qua nghiên cứu
âm nhạc học, mỗi thể nhạc này đều có một định nghĩa riêng,
một quy luật về điệu thức (mode) riêng gồm thang âm
(scale), cách luyến láy (ornament), đẳng cấp cung bậc
(hierachy of pichthes), mô thức giai điệu đặc trưng
(melodic pattern), môi trường ứng dụng (medium) và đặc
biệt là t́nh cảm của nét nhạc (emotion). Để hiểu nét đặc
trưng của mỗi thể nhạc này, chúng ta có thể lấy một ví dụ
đi ngược tiến tŕnh bằng môi trường diễn xướng của một bài
kệ khai chuông khác với môi trường diễn xướng của tŕ chú
(Lăng Nghiêm, Thập chú, v.v…). Hai địa điểm tŕnh bày này
không giống nhau. Một nơi có đại hồng chung, ở một vị trí
riêng, và đơn ca (tức kệ chuông một ḿnh). Văn bản của một
bài kệ của các thiền sư Việt Nam sáng tác khác với bài
chú. Bài kệ chuông (hoặc gọi là “hô” chuông) được diễn tả
dưới dạng phi tiết tấu (non-metric). Bài chú được hiểu như
hát tập thể, văn bản phiên âm Phạn - Hán - Việt, phương
pháp tiến hành giai điệu và tempo (nhịp tiết đều) sẽ khác
với bài kệ chuông.
Âm điệu
Việt phong phú là nhờ ở ngôn ngữ Việt áp dụng triệt để các
ngữ âm rất giàu có, đậm đà, phức thể so với nhiều ngôn ngữ
khác trên thế giới. Một già Tán lư hương cũng đủ nói lên
điều ấy. Phát âm rơ ràng trong mỗi thể nhạc, chỉ có người
“trong nghề” mới nhanh chóng nhận ra. Ở Nam Bộ, nghi công
phu khuya cũng đă nói lên đầy đủ các thể nhạc đi từ bài Kệ
khai chuông đến tụng và tŕ chú Lăng Nghiêm (khó đối với
giới cư sĩ), đến Tán tứ thánh, Tam tự quy. Đây là môi
trường diễn xướng âm nhạc Phật giáo đặc trưng thiền dành
riêng cho sư tăng nhà chùa, khác với những thời Tịnh độ
dành cho đông đảo Phật tử cư sĩ tham gia. Sự thanh tịnh
của đêm khuya, lúc người trần đang say ngủ, đó chính là
thời khắc tọa thiền rồi đến công phu. Sự kết hợp giữa
Thiền tông và Tịnh Độ tông cũng là nét tiêu biểu của Phật
giáo ở Việt Nam.
Những trai đàn chẩn tế đ̣i hỏi việc đào tạo Tăng tài ứng
phú ở các tổ đ́nh lớn một chuẩn mực và vô cùng khít khao.
Các Tăng sinh phải trải qua một quá tŕnh học tập rất
nhiều năm, đặc biệt phải có năng khiếu âm nhạc cao để vừa
tụng vừa tán hay, vừa đối tác với dàn nhạc lễ từng giây
từng phút thật khít khao. Truyền thống Ứng phú có ít ra từ
thời Trần (th.k. 13-15) cùng lúc với Tọa thiền và Du
phương. Ba trường phái chuyên môn này đă giúp tinh lọc,
hướng khả năng người tu học về phần chuyên để phục vụ đạo
pháp một cách cụ thể và hữu hiệu. Những danh sư thường
được nhắc đến ở miền Tây (Cần Thơ, Bạc Liêu, Sa Đéc), và
miền Đông v́ họ nổi tiếng qua âm nhạc nghi lễ hoành tráng.
Đi
đến đất Nam Bộ, âm nhạc Phật giáo đă xuyên suốt, rút tỉa
nhiều kinh nghiệm nghi lễ của phía Bắc và Trung. Mặc dù
thống kê của tôi có thể chưa hoàn hảo, ít ra hơn 350 bài
kinh kệ và hơn 100 nghi lễ lớn nhỏ từ trong thiền môn ra
đến tư gia Phật tử là một kho tàng đồ sộ để thực hành và
tham khảo mà khó có một nước Phật giáo nào có thể so sánh.
Những trai đàn chẩn tế kéo dài nhiều ngày quy tụ các bậc
tài năng từ thanh nhạc đến khí nhạc. Những nghi lễ Khai
chung cổ, Đàn quang, Đàn tŕnh, Kinh đàn, những Khoa Mông
sơn, Thí thực, v.v… kết hợp với hát bội (tục gọi “trong
chay, ngoài bội”). Thủy lục chư khoa là một tập kinh quan
trọng phổ biến trong Phật giáo Bắc tông. Từ Trung Quốc vào
tay của các kinh sư Việt Nam, tức khắc thích nghi và trở
thành “bài hát” và phối dàn nhạc lễ dân tộc.
Dàn
nhạc lễ có một cấu trúc độc đáo về hai mảng khí nhạc: dây
(văn) và bộ gơ (vơ), không giống bất cứ dàn nhạc Phật giáo
nào trên thế giới. Nó theo sát những bài kệ, tụng, tán
trong nhà chùa. Đặc trưng của “phe văn” là theo thanh nhạc
và “phe vơ” là động tác di chuyển gồm lễ lạy hay “chạy”
kinh đàn. Đây là một cấu trúc tinh vi, có ư nghĩa về mặt
tâm lư, xă hội, triết lư giữa tĩnh và động. Nhạc công theo
dơi và đáp ứng ngay một khi bài tán Hương huê thỉnh, Dương
chi, Nguyện tiêu… Nguyện sanh, v.v… bất chợt nghỉ, chuyển
qua lễ lạy, rồi trở lại bài tán hoặc chấm dứt. V́ thế, có
thuật ngữ “quăng bắt” giữa kinh sư và ban nhạc chứng tỏ sự
nhanh nhẹn tài t́nh để theo kịp trong mọi t́nh huống.
Nhiều thuật ngữ “nhà nghề” chỉ có trong giới kinh sư và
dàn nhạc lễ hiểu nhau. Những ai đă từng chơi trong một dàn
nhạc giao hưởng Tây phương sẽ có thể nhận ra nét cực kỳ tế
nhị trong môi trường diễn tấu này.
Kết luận
Tóm lại,
t́m về bản sắc lễ nhạc Phật giáo dân tộc, chúng ta lại
thấy hiển lộ những nét độc đáo qua nhiều góc độ lịch sử,
nhân văn, và âm nhạc. Nghiên cứu khoa học trong nhiều thập
niên qua đă cho thấy sự hiện diện của âm nhạc Phật giáo
rất dài lâu đến hàng hai ngàn năm qua. Đó là sự kiện hiển
nhiên. Đến những đại lễ trong cung đ́nh thời Lư, thời Trần
đă ghi nhận sự có mặt của âm nhạc đạo Phật. Một ngàn năm
trước đây, Đại Việt sử kư toàn thư đă ghi lại đại lễ khánh
thành chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột hiện nay) dàn đại
nhạc tấu với hàng trăm nhạc công đi ṿng quanh hồ sen. Đó
là một trong những chứng cứ về sự hiện diện của dàn nhạc
lễ. C̣n có biết bao những nghi lễ khác với tầm cỡ lớn như
thế. Đó cũng chính cho thấy tổ chức dàn nhạc “giao hưởng”
theo kiểu Việt Nam đă xuất hiện rất sớm so với bao nhiêu
nước trên thế giới. Về mặt cấu trúc thể h́nh, phối khí và
bài tán, dàn nhạc Phật giáo c̣n đa dạng rất nhiều tùy theo
vùng địa lư trên đất nước ta với tên gọi bát âm (miền
Bắc), đại nhạc - tiểu nhạc (Huế), nhạc lễ (miền Nam).
Truyền
thống âm nhạc Phật giáo rất to lớn. Đó là do công lao đóng
góp của các kinh sư bậc Tổ. Các vị Tổ này có tấm ḷng cao
cả v́ sự nghiệp âm nhạc dân tộc mà sáng tạo, phát triển để
ǵn giữ bản sắc Việt. Một trong những vị ấy hôm nay đáng
trân trọng trên đường t́m hiểu, ghi nhớ công ơn, và chúng
ta thành tâm đảnh lễ trong Hội thảo này là ngài Nguyệt
Chiếu.
(*) GS-TS
Nguyễn Thuyết Phong, Viện Đại học Kent (Hoa Kỳ), giảng
viên thỉnh giảng Nhạc viện TP. HCM: