|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU
PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG III
Các Vị Đại Đệ Tử của
Đức Phật Thầy Tây An
GS Nguyễn Văn
Hầu.
IV. ÔNG BÙi
VĂN TÂY (1802-1890)
A. Thân Thế
Theo mộ bia và bài vị hiện giờ c̣n thấy tại làng Thới Sơn
(Quận Tịnh Biên, Châu Đốc) th́ ông Đ́nh Tây chính danh là Bùi
Văn Tây, sanh năm Nhâm Tuất (1802), nhằm niên hiệu Gia Long
nguyên niên.
Sinh quán ông ở nơi nào chưa t́m được người biết rơ. Có người
nói ông gốc ở Nhơn Hoà, có kẻ lại cho ông ở Năng Gù (hai nơi
đều thuộc tỉnh Châu Đốc). Nếu căn cứ theo lời người rễ của ông
là ông Hồ Văn Hạnh (tục gọi Năm Hạnh), năm nay 86 tuổi, th́
ông xưa kia có một người chú ruột ở tại Năng Gù. Như vậy,
thuyết Năng Gù có phần đúng hơn.
V́ theo ở làm con nuôi cho người bác là ông Bùi Thiền Tăng
Chủ, và được ông này giao cho coi sóc ngôi đ́nh Xuân Sơn, cho
nên người đời quen gọi là ông Đ́nh chứ không phải chữ lót là
Đ́nh, hay ông giữ chức Hương Đ́nh như nhiều người đă tưởng.
Ông có hai đời vợ. Bà trước (không biết tên) sanh được có một
trai tên là Bùi Văn Vẹt (ở Năng Gù và đă chết). Khi vợ trước
mất, ông cưới bà sau tên là Trần Thị Của ở làng Thới Sơn. Bà
sau sanh hạ được một trai, ba gái. Trưởng là Bùi Văn Sửu, rồi
đến Bùi Thị Lư, Bùi Thị Cơ, Bùi Thị Nhẫn, đều có chồng con
quanh vùng Thới Sơn.
Ông dáng người mạnh mẽ, không cao lắm, có bề ngang, gương mặt
tṛn mà trắng, lúc tuổi già th́ râu tốt, mặt trổ đồi mồi và
lưng hơi c̣m.
Hồi nhỏ ông có học chữ Nho, lớn lên th́ chuyên nghề ruộng rẫy.
Thích ăn trầu, tánh ôn hoà nhưng quả cảm, không ưa những điều
tà vạy.
Ông quy y với Đức Phật Thầy hồi năm nào không ai rơ được nhưng
khi Ngài lập trại ruộng ở Thới Sơn, người ta thấy ông có đến ở
đó cùng với ông Tăng Chủ và ông Phạm Văn Lăng rồi.
B. Chữa Bịnh
Giúp Đời.
Là môn sinh của Đức Phật Thầy, ông cũng
như các vị đại đệ tử khác biết
phát phù trị bịnh và lại c̣n có tài đặc biệt về
cách cắt nẻ nữa. Ông cắt bằng miểng chén bể, băm xuống rất
sâu, và bất luận bịnh ǵ cũng trị được. Nhiều bịnh tà quái đem
đến, ông chỉ cắt cho một người rồi mấy người khác xem thấy
phải khiếp sợ, trốn về mà hết bịnh.
C. Việc Bắt
Sấu Thần.
Nói đến tiểu sử ông Đ́nh mà không kể qua việc ông vưng lịnh
Đức Phật Thầy đi bắt sấu thần tưởng là một điều khuyết điểm
lớn.
Theo như những người ở vùng Láng Linh đă nghe biết và kể lại
th́ Đức Phật Thầy một đêm kia th́nh ĺnh kêu ông Đ́nh đến mà
bảo rằng: "Hiện giờ ở dưới Láng có một người đang sanh sản mà
không ai tiếp giúp, vậy ông mau tới đó mà cứu hộ người ta."
Vâng lịnh Thầy, ông Đ́nh bôn ba t́m riết đến nơi th́ quả thật,
có một người đàn bà đang chuyển bụng rên la trong một cái lều
con giữa đồng, trong lúc chồng con không thấy một ai ở nhà
hết. Ông Đ́nh lớp nào lo chặt lau làm giường, đốn đưng dựng
vách để gấp rút giúp cho người đàn bà kia kịp có chỗ nơi sanh
đẻ.
Trời rạng đông, người chồng mới về đến nhà. Anh ta hay vợ đă
sanh rồi và may nhờ có người đến kịp giúp đỡ th́ chi xiếtvui
mừng, bèn lạy tạ ơn ông Đ́nh và kể rơ đầu đuôi rằng y tên là
Xinh, v́ nghèo quá nên phải đi bắt rùa, bắt rắn để bán kiếm
tiền mà độ nhật.
Thoắt trông trong giỏ của Xinh, thấy có một con sấu con ḿnh
mẫy đỏ hết xem rất đẹp, ông Đ́nh liền tỏ ư muốn mua con sấu ấy
về nuôi chơi. Xinh v́ cảm ơn rất hậu nên không bán, xin biếu
đứt cho ông Đ́nh. Khi trở về, ông Đ́nh thuật lại công việc đi
làm phước xong và đem khoe con sấu với Đức Phật Thầy một cách
sung sướng.
Xem qua con sấu, Đức Phật Thầy biết vật ấy là con sấu thần,
Ngài bảo ông Đ́nh hăy đem mà giết đi, nếu để th́ sau này nó sẽ
gây tai hại cho trần gian vô kể. Ông Đ́nh nghe vậy cũng có
ḷng lo, song xem đi xem lại thấy sấu đẹp quá nên không đành
giết, bèn lén Thầy, đem giấu sấu vào một nơi, cột dây nơi
chưn chắc chắn rồi nuôi dưỡng cẩn thận.
Được ba năm săn sóc như vậy, con sấu trở nên to lớn. Bỗng một
hôm đứt dây ḅ đi mất. Ông Đ́nh chẳng dám dấu Đức Phật
Thầy, nên đem đầu đuôi mà bạch lại cho Ngài rơ. Nghe xong Đức
Phật Thầy than thở vô cùng, Ngài mới cấp cho ông Đ́nh một lưỡi
câu, một sợi dây, một lưỡi mun và hai cây lao, dặn hăy giữ ǵn
pḥng khi trừ con sấu ấy (1).
Trải một thời gian, gặp mùa nước nổi, con sấu ấy có trườn lên
ở vùng Láng Linh, rượt bắt người vật làm cho dân chúng quanh
đấy đều kinh khủng. Người ta đến báo với ông Đ́nh, nhưng cứ
mỗi lần ông mang bửu bối đến th́ sấu ấy mất tăm, không
t́m đâu được.
Thấy sấu sợ uy ông Đ́nh như vậy cho nên hễ cứ mỗi lần nó trườn
lên toan làm dữ, th́ dân chúng hè nhau vừa chạy vừa hô lên:
- Bớ ông Đ́nh ơi! Ông Năm Chèo dậy (2).
Mà lạ thay! Hễ nghe được bấy nhiêu lời kêu gọi th́ sấu lại lặn
mất, chừng như nó hết sức ghê sợ pháp thuật của ông Đ́nh.
Đă nhiều phen tới lui như thế mà không lần nào gặp được sấu
thần. Lần chót, ông Đ́nh lưu lại Láng Linh chờ đợi ngót nửa
tháng mà sấu vẫn bặt tăm, ông bèn kêu nói giữa thanh không
rằng:
- Nếu sấu thần nhà ngươi chưa tới số th́ từ nay hăy yên lặng,
đừng nổi lên phá hại xóm làng nữa. C̣n như nếu mạng ngươi đă
tận th́ nên sớm chịu lịnh Trời, đừng để ta phải lâu ngày nhọc
công chờ đợi!
Thế rồi từ ấy trở đi, sấu không c̣n trườn lên nhiễu hại lương
dân nữa.
Có người nói khi Đức Cố Quản bại trận tại vùng Bảy Thưa,
nhằm mùa nước nổi, quân Pháp sau lưng bắn phá rất gấp mà trước
mặt th́ đế sậy dày đặc, ghe chống đi không được. Lúc ấy sấu
thần bỗng nổi lên đi trước, rẽ đường rạp sậy cho thuyền của
Ngài ḍ theo, nhờ vậy mà Ngài và binh sĩ trận ấy thoát thân
mới kịp.
Sấu thần hiện giờ ở đâu và bổn phận ông Đ́nh c̣n phải làm ǵ
đối với sấu ấy nữa chăng, đại đa số quần chúng đang đánh một
con dấu hỏi to tướng về vấn đề này.
D. Lúc Trở Về
Già.
Để cho tiện việc ở ăn của gia quyến, ông Đ́nh có tạo riêng một
nếp nhà tranh gần đ́nh Xuân Sơn (kế chỗ mộ phần của ông ngày
nay), cách xa trại ruộng Thới Sơn độ tám trăm thước.
Lúc tuổi già, ông giao lại công việc ruộng rẫy cho các con coi
sóc để chuyên lo tu luyện và cứu độ người đời. Khi Pháp đến
đánh chiếm tỉnh An Giang, ông đă ngoài sáu mươi tuổi, ḷng tuy
nhiều phen sôi nổi với cái nghĩa tấc đất ngọn rau, nhưng nghĩ
lại sức mỏn hơi tàn nên ông đành ôm hận mà gởi hồn vào mấy
đoạn Kim Cang, mấy thiên sách mọt.
Ngày 23 tháng 2 năm Canh Dần (1890), ông đang mạnh, bỗng ăn
uống không được trong bốn năm ngày rồi tịch, thọ được 88 tuổi
(3). Trước khi tịch, ông có dặn người nhà chỉ trải một chiếc
đệm trên tấm ván rồi để linh thể ông gói lại mà chôn, chứ
không được tẩn liệm vào quan quách chi hết. Hiện nay mộ phần
của ông c̣n tại làng Thới Sơn, có dựng bia và khắc những chữ:
Đại Nam quốc, An Giang tỉnh, Tịnh
Biên phủ, Qui Đức tổng,
Thới Sơn thôn.
Nguyên Bùi húy Tây, hưởng thượng thọ
bát thập bát tuế.
Canh Dần niên, nhị ngoạt, nhị thập tam nhựt nhi chung.
GS Nguyễn Văn
Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) Hiện giờ những vật ấy c̣n để ở nhà ông Năm Hạnh (rễ thứ tư
của ông Đ́nh). Lưỡi câu dài một tấc bốn phân rưỡi (đo bề
ngang), ngạnh bén và dài năm phân ba ly. Lưỡi mun th́ bị mẻ
một góc ở đít, bề dài ba tấc sáu phân, có lỗ ở hậu như cây đục
tông để tra cán. Hai mũi lao nhọn và dài mỗi mũi năm tấc. Tất
cả đều rèn bằng sắt. C̣n sợi dây th́ se tơ bằng đầu đủa ăn, bề
dài hồi trước 16 thước, nhưng bây giờ đă đứt và mất đi nhiều.
(2) Người đời quan gọi "ông Năm Chèo" là ư nói sấu ấy có năm
gị, nhưng hỏi ra hầu hết các bậc phụ lăo ở vùng Thới Sơn và
Láng Linh th́ chỉ nói có ba chèo mà thôi. Bởi xưa kia ông Đ́nh
cột dây vào chân sấu chặt quá cho nên lâu ngày dây ấy siết
lần, rồi đến sau đút hẵn đi một chưn, nên sấu mới thoát được.
Vậy ba chèo hay năm chèo, thuyết nào đúng hơn?
(3) Có người nói ông tịch ở ngoài sân, trong khi đang săn sóc
mấy dây trầu.
|