VUA TRẦN NHÂN TÔNG
VÀ TINH THẦN "BỤT Ở TRONG NHÀ"
HT. Thích Hải Ấn
Nói đến tinh thần "Ḥa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong ḷng thế tục, ḥa ánh sáng của ḿnh trong cuộc
đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lư tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xă hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đă làm được
điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
Thực hiện đạo đức Phật giáo vào nếp sống cá nhân và xă hội
Nh́n xuyên suốt đối với quá tŕnh lịch sử phát triển của dân tộc, không ai có thể phủ nhận sự đóng góp to lớn của các thiền sư như Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh, Măn Giác và Không Lộ… trong sự nghiệp cố vấn chính
trị cho các triều đại trước thời nhà Trần.
Theo Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, năm 1055, trời đông giá rét, vua Lư Thánh Tông bảo các quan rằng:
“Trẫm ở trong cung nào ḷ sưởi, ngự bào mà c̣n rét thế này, nghĩ đến người giam trong ngục, khổ sở gông cùm, chưa biết rơ ngay gian, mà ăn không no bụng, áo không kín ḿnh, gió rét khổ thân, hoặc có kẻ chết không nơi nương tựa,
trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày cho ăn hai bữa cơm.” Năm 1065, vua lại truyền lệnh cho quan cai ngục rằng:
“Ta yêu dân như con. Dân không biết mà phải tội h́nh pháp, ta rất thương. Từ nay về sau, tội nặng nhẹ nhất luật đều tha thứ.”
Đến vua Lư Nhân Tông đă ra lệnh không cho giết trâu v́ sợ không có trâu cày. Thái hậu Ỷ Lan lấy của kho chuộc những người đàn bà con gái v́ nghèo phải đem thân trả thuế nợ, không thể lấy chồng, sợ t́nh trạng có đất mà không
có dân…
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư c̣n cung cấp rất nhiều tư liệu tương tự, chứng tỏ thời Lư là một triều đại hùng cường – b́nh Chiêm, phạt Tống – làm cho dân giàu, nước mạnh.
Trong sách Lư Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân Hăn viết: “Đời Lư có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là nhờ ảnh hưởng đạo Phật.” Đạo đức xă hội thời Lư đă như
vậy, chắc chắn đời sống cá nhân và xă hội lúc bấy giờ đă trở thành nếp sống lành mạnh, tạo được sức mạnh đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Nghĩa là,
thời Lư tạo nền tảng luân lư đạo đức xă hội vững chắc, làm cơ sở cho triều đại nhà Trần phát triển sau này.
Đến đời Trần, chúng ta vẫn c̣n thấy vấn đề an sinh xă hội rất ổn định, không có nhiều sự mâu thuẫn đối kháng trong tầng lớp nhân dân. Thậm chí cuộc cách mạng phế Lư lập Trần cũng diễn ra rất đằm
thắm, hợp ư dân và không có sự tạo phản, nổi loạn hay bạo động (trường hợp tự phát của Nguyễn Nộn không thuận theo triều đ́nh là rất hiếm), được kết quả như vậy chắc phải có sự ảnh hưởng
của Phật giáo trong đời sống chính trị và dân sự lúc bấy giờ.
Hơn nữa, không phải Trần Thái Tông ưa làm vua mà bị buộc phải làm vua khi mới 8 tuổi, lại được dân chúng và tướng sĩ đồng t́nh ủng hộ. Bên cạnh ư chí tự học rất chuyên cần, thỉnh thoảng vua học đạo với
các thiền sư như: Phù Vân, Ứng Thuận, Đại Đăng, nên cả thế học lẫn Phật học đều tinh thông, sau này có đủ tài đức lănh đạo đất nước[2] một cách sáng suốt, nhân từ và rất hiệu quả.
Những sự kiện như vua Trần Thái Tôn 30 tuổi đă viết nhiều sách Phật giáo rất phổ biến: Thiền Tông Chỉ Nam; Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi; Khoá Hư Lục; Chú giải kinh Kim Cương… 40 tuổi vua nhường ngôi cho con, làm vua 32 năm, Thái thượng
hoàng 20 năm và tu học theo Phật ít nhất 40 năm.
Vua đă được nhân dân tôn kính như vị Bồ Tát sống, đă có công phát thảo kế hoạch biến núi Yên Tử thành thánh địa tâm linh Phật giáo đầu tiên, làm nền tảng cho trung tâm Phật giáo Trúc Lâm h́nh thành sau này.
Chắc chắn, vua đă thấy rơ vấn đề sinh hoạt Phật giáo là cần thiết cho nhân dân và xă hội, nếu không như vậy th́ đạo Phật Đại Việt vẫn phải lệ thuộc tinh thần vào đạo Phật Trung Hoa. Trong khi đó Nguyên Mông
vẫn c̣n là mối đe dọa xâm lấn nước ta bất cứ lúc nào. Do đó, Yên Tử phải là điểm tựa tinh thần và là trung tâm tín ngưỡng cho toàn dân hướng về.
Kế tiếp, vua Thánh Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ là hai vị cư sĩ tu tại gia, kết bạn và chơi thân với nhau như huynh đệ và đều chứng ngộ giải thoát. Tuy tu hành nhưng không rời xa công việc thế tục, vua tu Phật để độ
ḿnh và cứu đời, một vị vua sáng suốt, vạch ra đường lối xă hội, chính trị, quân sự và ngoại giao vô cùng ôn ḥa nhưng mạnh mẽ và có kết quả.
C̣n Tuệ Trung Thượng sĩ mặc dù tu hành rất tinh tấn, giảng đạo khắp nơi, từng làm thầy vua Trần Nhân Tông, nhưng đă từng hai lần chống giặc ngoại xâm thành công và làm quan Tiết độ sứ tỉnh Thái B́nh. Điều đáng nói
là cả hai đă đóng góp vai tṛ Bồ Tát cư sĩ của ḿnh cho tiến tŕnh tổ chức xă hội hoá Phật giáo bên cạnh Giáo hội Tăng lữ.
Đến triều đại Trần Nhân Tông, tinh thần "ḥa quang đồng trần" của Phật giáo được phát huy một cách toàn diện, cũng có thể nói Phật giáo lúc bấy giờ đă trở thành quốc giáo. Điểm cần lưu ư, từ nhỏ
đến 16 tuổi, vua Trần Nhân Tông đă học thông tam giáo và tinh tường giáo lư Phật đà, ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ ǵ là không biết (Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ) và là học tṛ của Tuệ
Trung Thượng sĩ.
Do đó, khi lên ngôi (1278) vua tiến hành một lúc hai việc: 1) Thống nhất các thiền phái Phật giáo, như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Lâm Tế, Vô ngôn Thông và Thảo Đường thành một phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, người sáng lập không phải ai khác mà chính là
vua Trần Nhân Tông.
Đây là việc làm vô cùng ư nghĩa, tạo được sức mạnh đoàn kết trong hàng ngũ đồng bào Tăng Ni Phật tử, gây dựng được ư thức đạo Phật Việt Nam trong ḷng dân tộc. Nói rơ hơn, vua đă khéo léo vận dụng đạo
Phật Ấn Độ và đạo Phật Trung Hoa thành đạo Phật Việt Nam. Dĩ nhiên, đạo Phật Việt Nam phải có tư tưởng độc lập phù hợp với văn hoá và truyền thống của người Việt Nam.
Kế thừa được nền tảng đạo đức Phật giáo trong xă hội thời Lư, vua Trần Nhân Tông thực hiện 10 điều thiện và Bồ Tát giới của Phật giáo trong mọi sinh hoạt xă hội, vận dụng tinh thần từ bi, cứu khổ,
độ sinh của đạo Phật vào chiến lược chính trị, phát huy được sức mạnh đoàn kết và yêu nước của toàn dân, đánh tan chủ nghĩa xâm lược của Nguyên Mông, xây dựng đất nước Đại Việt độc
lập, hùng cường và hưng thịnh.
Chính sách của vua Trần Nhân Tông khéo léo và tài t́nh ở chỗ thống nhất được các thiền phái Phật giáo thành một để đất nước Đại Việt của vua có được một đạo Phật đủ tiềm lực tôn giáo, phát
triển nội lực cá nhân và tập thể, có thể làm lợi ích cho bản thân ḿnh và đồng loại, trong đó có lợi nhiều mặt cho quốc gia và xă hội.
Ví dụ: đạo Phật khuyên con người từ bỏ tham, sân, si được chừng nào th́ bớt khổ được chừng ấy, giảng dạy thuyết nhơn quả, nghiệp báo, luân hồi, tái sinh, tu sửa theo 10 thiện nghiệp, nêu cao lư tưởng Bồ-tát
cứu khổ độ sanh… Sạch giới ḷng, dồi giới tướng, nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm; Ngay thờ vua, thảo thờ cha, thế mới thật trượng phu trung hiếu. (Cư Trần Lạc Đạo phú)”
Chưa nói thành Phật - Thánh, nhưng nếu có bất kỳ ai làm được những điều khuyên ấy, đều là người có ích cho ḿnh và mọi người, nếu xă hội thực hiện những lời khuyên ấy th́ xă hội ổn định và phát triển.
Có lẽ nhờ vậy nên nhân dân ta đă đánh thắng quân Nguyên chăng…? Đây là vấn đề đạo đức và luân lư xă hội hết sức nhạy cảm trong xă hội ngày nay.
Dùng đạo Phật trong chính trị để phụng sự dân tộc
Chúng ta thường nghĩ: đạo Phật là đạo xa lánh cuộc đời, ẩn ḿnh nơi sơn lâm cùng cốc, làm ǵ có can dự vào chính trị. Đó là sự nhầm lẫn đáng tiếc. Cần phải biết rằng, trước khi đức Phật đi tu Ngài cũng
là một Thái tử tại vị 29 năm. Sau khi tu hành đắc đạo, Ngài quy y cho hai vị vua của hai nước lớn là Kô-sa-la và Ma-kiệt-đà và các vị vua của 14 nước chư hầu. Một hôm có hai nước đánh nhau v́ tranh giành nước tưới
ruộng từ ḍng sông Rohini.
Khi trận chiến sắp xảy ra, quần chúng Phật tử kéo nhau đến cầu cứu đức Phật, xin Phật giải quyết. Đức Phật bảo dân trở về mời hai vị vua của hai nước tới đây. Hai vị vua tới, đức Phật khuyên
họ: Bây giờ hai vua thấy nước sông Rohini quư hay máu của con người quư ? Cả hai vua đều trả lời: máu của con người quư.
Phật dạy: thế th́ bỏ cái quư để giành cái không quư là dại dột, điên đảo vô cùng. Do đó, hai bên phải biết chia nước cho thật đồng đều, hoặc mỗi bên ngăn sông một ngày th́ cả hai bên đều có nước tưới
mà dân không có ai phải chết.
Những lời khuyên như vậy quả là rất chính trị và trong kinh điển c̣n có nhiều lời tương tự như vậy. Chắc chắn vua Trần Nhân Tông đă học được rất nhiều ở trong giáo lư nhà Phật.
Hơn nữa, vào thế kỷ 13-14 nước ta phải đương đầu với sự đe doạ của quân xâm lược, không ǵ hơn vua Trần Nhân Tông phải củng cố ḷng dân bằng niềm tin tôn giáo, v́ tôn giáo là sản phẩm của tập thể, là
kết tinh tinh thần của xă hội.
Nhưng Đại Việt lúc bấy giờ có 3 tôn giáo, cần phải chọn một. Khổng giáo hay Nho giáo bắt nguồn từ Trung Hoa, nếu vua chọn th́ lại sợ ư thức hệ dân tộc sẽ dần dần mất gốc. Phật giáo tuy của Ấn Độ nhưng
không chủ trương cố chấp, biến tinh thần vô ngă – vị tha thành hành động Bồ-tát, lấy lư tưởng từ bi để phụng sự cho con người. Một tôn giáo tốt như vậy không dùng không được.
Bên cạnh đó, dùng Phật giáo như để tuyên bố điểm tựa tinh thần cho nhân dân vào lúc này là việc làm rất chính trị. V́ công việc đối ngoại của triều đ́nh đều thuận lợi. Đứng về mặt đối nội, đạo
Phật rất phù hợp với truyền thống tín ngưỡng dân gian của mọi dân tộc (thiểu số) trên đất nước ta thời ấy.
Ai ai cũng tôn sùng và thờ tự tổ tiên ông bà, thần hoàng, tiền hiền, tiền bối hữu công .v.v… Đạo Phật không những không mâu thuẫn với dân tộc mà c̣n đồng hành cùng dân tộc giữ ǵn và phát huy truyền thống tốt đẹp ấy.
Về mặt đối ngoại, đạo Phật giúp cho triều đ́nh dễ dàng giao hảo với nhân dân phương bắc, quan hệ ngoại giao với triều đ́nh nhà Nguyên, đồng thời cũng rất thuận lợi về mối quan hệ với Chiêm Thành và Ai Lao.
Vua Trần Nhân Tông chọn đạo Phật là đă có lập trường chính trị, vừa đủ sức thuyết phục đối phương, vừa có cơ sở tin cậy của quần chúng nhân dân.
Điểm nổi bậc là vào thời Đinh, Lê và Lư th́ vua rất cần các vị cao Tăng cố vấn các công việc triều chính, nhiều khi lập chùa ngay trong nội phủ để tiện cho Sư tăng lui tới giúp vua tu học, đàm đạo Phật pháp, bàn
luận chính sự…
Nhưng đến đời Trần, các vị vua và tướng sĩ đều là những người Phật tử thuần thành, không những tinh thông về Phật học mà c̣n giỏi thế học; không những tu thân rèn đức để trở thành những bậc lănh
đạo tốt của nhân dân mà c̣n là những nhà chính trị và quân sự rất tài t́nh xuất chúng.
Như vua Trần Nhân Tông cũng lo phát huy Khổng giáo và Nho giáo, vẫn tiếp tục giáo dục đào tạo theo h́nh thức Tam Giáo Đồng Nguyên, tổ chức thi cử tại Quốc Học Viện bằng chữ Hán, chữ Nôm, Nho học, Đạo học và Phật học,
chọn được nhiều người tài đức ra giúp dân giúp nước.
Trong Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quư Đôn đă viết: “Bởi v́ nhà Trần đăi kẻ sĩ một cách khoang dung, không hẹp ḥi, hoà vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm
cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với đất trời, há phải dễ đời sau sánh kịp.”
Đức Phật dạy: “Muốn bảo vệ chân lư, các ngươi chỉ được nói rằng: Đây là sự thật. Và không được nói: chỉ có đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm (Trung Bộ kinh).”
Tinh thần này được các người con Phật áp dụng một cách triệt để, nhờ đó mà tính độ lượng, khoang dung, không cố chấp trở thành nếp sống của Phật giáo Đại Việt, trong đó có vua Trần Nhân Tông.
Hơn nữa, cái nh́n về đạo Phật của vua Trần Nhân Tông rất rơ ràng: Bụt không nên cầu ở ngoài mà chính phải t́m ngay ở chính ḿnh, nếu biết “tích nhân ngh́, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca.”, làm theo 10 nghiệp lành, ai bảo đó không
là Bồ Tát, không phải là Phật Thích ca. Trong Cư Trần Lạc Đạo phú, vua viết:
“Ḿnh ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm,
muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính…
Dứt trừ nhân ngă, th́ ra tướng thật Kim cương;
dứt hết tham sân, mới lảu ḷng màu viên giác.
Tịnh độ là ḷng sạch,
Chớ c̣n ngờ hỏi đến Tây phương… ;
Vậy mới hay! Bụt ở trong nhà; chẳng phải t́m xa.
Nhân khấy bản (quên gốc) nên ta t́m Bụt,
Đến cốc hay chỉn (chính) Bụt là ta…
Đối với vua Trần Nhân Tông, tịnh độ là ḷng sạch năo phiền, nghiệp chướng th́ Tây phương Phật cảnh hiện tiền. Sống ngay nơi trần thế mà t́m ra cái vui của Bụt, tâm thể an nhàn, các nghiệp được thanh tịnh (muôn
nghiệp lặng) ngay giữa cuộc đời rối ren này.
Đây cũng là tư tưởng chủ chốt để thống nhất Thiền - Tịnh - Mật thành một, lănh đạo Phật giáo đi cùng với đồng bào Phật tử Việt Nam, trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thời cuộc và vẫn
tồn tại cho tới ngày nay.
Ngay cả lúc đang làm vua hoặc sau khi đi tu, vua vẫn thường tinh tấn tu tập nhưng không bao giờ xao lăng công việc triều chính, lo cho dân cho nước tới giờ phút cuối cùng.
Cụ thể nhất là vua đă đi khắp nơi để dẹp bỏ quan dâm, quan tham khiến dân đói rách, lầm than cực khổ, đem 10 điều thiện và giới Bồ Tát giảng bày cho dân chúng làm theo, gia đ́nh và xă hội nhờ đó được yên,
bằng chứng là vua Anh Tông, con của vua Trần Nhân Tông, được truyền ngôi nhưng chỉ có một hôm lỡ uống rượu quá chén vẫn bị vua trừng phạt.
Một vị vua đang tại vị, chỉ hơi quá chén một chút, ngủ qua đêm và ngày mai th́ mọi chuyện b́nh thường, có ǵ tội lỗi đâu? Nhưng đối với vua Trần Nhân Tông th́ không phải như vậy. Vua là cha của thiên hạ, cha say th́ con cũng
say, quan say th́ dân cũng say, người lớn say th́ con nít cũng say, cả nước mọi người đều say là tại vua quan say trước, do đó mất gia đ́nh, mất dân tộc, và cuối cùng mất nước. Nếu điều này là chuyện nhỏ th́ sách
sử ghi lại để làm ǵ ?
Ngoài ư nghĩa giáo dục như một bài học chính trị quí giá, chúng ta thấy đạo đức Phật giáo đă ngấm sâu vào ḷng dân tộc, nếu bất cứ ai, dù là vua mà đi ngược lại đạo đức dân tộc, đều bị dân tộc lên án.
Càng rơ hơn nữa, nếu triều đ́nh coi thường dân đen th́ làm ǵ có chuyện Hội nghị Diên Hồng, nếu xem thường tuổi trẻ th́ làn ǵ có chuyện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam để xin vua can dự vào việc nước. Kết quả
cuối cùng, đánh đuổi xâm lăng ra khỏi bờ cơi, xây dựng nước nhà hưng thịnh, nhân dân an lạc, vui hưởng thái b́nh. Ấy không phải là cảnh tịnh độ tại thế gian này hay sao…!
Đạo đức học dân tộc, thể chế chính trị và đạo Phật triều Trần là ba cạnh của một tam giác. Muốn nghiên cứu Lịch sử tư tưởng về tam giác này phải có một công tŕnh nghiên cứu khoa học độc lập.
Những trang sử tốt đẹp và vẻ vang của dân tộc cần phải được truyền dạy thấu đáo cho giới trẻ bởi tương lai của đất nước này nằm trong tay những người như thế!
Thích Hải Ấn
Ghi chú:
[1]. Tuệ Trung Thượng Sĩ Hành Trạng.
[2]. Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam ghi lời của thiền sư Phù Vân dạy lúc vua bỏ triều chính đi tu: “Đă làm vua th́ không c̣n có thể theo ư thích riêng ḿnh được nữa. Phải lấy ư muốn của dân làm ư muốn của ḿnh, phải lấy ḷng dân làm
ḷng của ḿnh. Nay dân đă muốn vua về th́ vua không về làm sao được?...”
|